Xem Nhiều 2/2023 #️ 1000 Tap But Truyen Ngan # Top 6 Trend | Ruybangxanh.org

Xem Nhiều 2/2023 # 1000 Tap But Truyen Ngan # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về 1000 Tap But Truyen Ngan mới nhất trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mặc dù cái tiêu đề là như thế, song tôi chưa thể bắt đầu ngay với Vũ Ngọc Tiến và những tác phẩm viết về chiến tranh của ông được. Có lẽ phải (mào đầu) hơi dài dòng một chút. Tôi nhớ đến mấy câu thơ trong một bài “chân dung” của văn nhân kiêm thi sĩ Xuân Sách: “Tôi hát chiến tranh như trẩy hội / Đừng nên xấu hổ khi nói dối…”. Vâng! Trên giá sách nhà tôi phơi phới những tác phẩm viết về chiến tranh. Sách in có, sách giáo khoa phủ đầu cho học trò từ bậc tiểu học đến bậc đại học có. Thơ, văn, nhạc, họa… đủ các kiểu tưng bừng. Tất cả đều đẹp đẽ, trơn tru, đều ngợi ca hết mực phía bên này và căm thù, ghê tởm phía bên kia… Và chung nhất, đó là những cái kết có hậu mà nếu căn cứ vào đó, thì cuộc đời bây giờ hẳn phải tươi đẹp không biết đến nhường nào. Tiếc thay đó chỉ là những ảo tưởng. Hãy chịu khó đọc đi. Rồi bạn sẽ thấy hiện lên cả một sự mê muội, nếu không thì cũng là dối trá có chủ ý, từ những chữ đầu tiên, cho đến tận con chữ cuối cùng. Kí ức của một thời “Đường ra trận mùa này đẹp lắm…” vẫn còn hằn rõ trong tôi. Năm ấy, chú ruột tôi ra đi và không bao giờ trở về nữa. Ông bà nội tôi trước khi trút hơi thở cuối cùng mới được con cháu ghé tai báo cho biết cái nỗi đau xé lòng ấy. Nỗi đau ập xuống như một phát súng ân huệ để ông bà tôi lìa bỏ cõi đời này. Không biết bây giờ, xương cốt chú tôi đang bị chôn vùi lạnh lẽo nơi đâu, và chắc chắn còn hàng triệu, hàng triệu người như chú tôi nữa…

Sẽ có bao nhiêu thế hệ học trò chỉ biết đến chiến tranh thông qua những sách giáo khoa lịch sử, văn thơ, triết học… ? Lịch sử ấy sẽ ra sao? Văn chương ấy sẽ ra sao? Các nhà phê bình chính thống, hưởng học tước, bổng lộc của chế độ từng có chung nhận định, rằng văn học chiến tranh ở xứ ta đến giờ vẫn chưa có tác phẩm ngang tầm với những cuộc chiến mà dân tộc vừa mới trải qua. Tóm lại là chưa có tác phẩm vĩ đại xứng với những cuộc chiến vĩ đại. Chà! Ngợi ca thế vẫn còn chưa đủ chăng? Hay là họ muốn có những tác phẩm kiểu như “chiến tranh và hòa bình” của Lép Tônxtôi? Họ không hiểu nguyên nhân tại sao, trong khi nhà văn ta đông thế, tài thế, lại “trưởng thành” từ những cái nôi chiến tranh nhiều thế, được học tập, rèn dũa “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” kĩ thế… Nhiều lúc tôi tự hỏi, rằng không hiểu sao cái nền văn học gọi là “lọt sàng xuống… sông” này vẫn còn cần đến những tác phẩm như thế để làm gì nhỉ? Chẳng phải văn học xưa nay chỉ dùng để tuyên truyền, giáo dục (theo một chiều duy nhất đúng) đấy thôi?

Thì ra, để chuẩn bị cho “hội nhập”, người ta cũng cần phải “rửa mặt” một tí với văn chương thế giới. Dạo ấy, người ta (nghiến răng) trao giải thưởng, rồi lu loa rầm rĩ về một cuốn tiểu thuyết được coi là “giọng điệu lạ”, “cái nhìn lạ”… về cuộc chiến tranh(?). Đến nỗi bác hàng xóm thương binh cụt chân của tôi sống bằng nghề đan sọt để hót phân nghe đồn, sang nhờ tôi tìm mua cho bằng được. Vậy mà đọc xong, bác thương binh ấy chỉ thở dài buông một nhận xét kinh hồn: “Những kẻ ca ngợi chiến tranh là không có lương tâm. Riêng cái này không thấy ca ngợi. Nhưng viết như thế này thì cũng chỉ mới thấy có lương mà chưa hẳn đã có tâm”. Lời nhận xét càng về sau càng thấy nghiệm. Té ra “nó” chẳng qua chỉ là một chén nước xà phòng, dùng để (tạm) “rửa mặt” cho một nền văn học lối mòn, chuyên nghề nói a dua mà thôi. Cái gọi là “lạ” ấy đã nhanh chóng tan biến vào biển cả của sự quên lãng. Tóm lại là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mồ côi tác phẩm lớn ấy ở chỗ nào, văn tài trốn ở đâu đây hở giời? Than ôi! Bạn cứ đọc lại những “tác phẩm” lớp lớp đang hiện hữu trên giá sách kia đi, đọc bằng cái đầu đích thực, không cần ai phải “định hướng” cho mình, cái đầu biết xót xa trước mỗi thây rơi, bất kể thây rơi đó thuộc về bên nào, thì bạn khắc “ngộ” ra nguyên nhân. Té ra rất đơn giản. Làm sao có thể có được những tác phẩm vĩ đại theo đúng nghĩa của mĩ từ đó, khi mà sự dối trá đã ngự trị, đã “vĩ đại” sẵn rồi.

Cũng may là văn chương muôn đời, văn chương tồn tại không chỉ nằm trong số những tác phẩm được cấp giấy phép lưu hành, không chỉ của các “nhà…” trong hội nhà văn… (nếu tôi nhớ không nhầm thì thời các cụ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, các cụ thuộc Ngô gia văn phái… ở xứ ta chưa hề có một cái hội kiểu này). Trong không khí thơm phưng phức của văn chương từ trong hội nhà văn tiết ra, tôi lại phải dẫn ra đây một nhận xét khác của bác thương binh cụt chân đan sọt ở trên. Bác trỏ tay vào cái chân cụt mà nói, nguyên văn như sau: “Tôi không những là nhân chứng của cuộc chiến, mà còn là độc giả, và là người đóng thuế nuôi những nhà văn, nhà thơ viết ra những thứ giả dối, ca ngợi sự đểu giả, ca ngợi chiến tranh theo một chiều duy nhất ấy đấy. Là nhân chứng, tôi khinh bỉ. Là độc giả, tôi thất vọng. Là người đóng thuế, tôi căm giận (!). Chung quy cho đến giờ, tôi chỉ có chừng ấy cảm giác mà thôi”. Ôi! Bác thương binh đáng kính, vị độc giả đáng trọng, người đóng thuế đáng thương của tôi ơi, may mà còn nhiều người khác tuy không có lương nhưng có tâm, vẫn ngày đêm miệt mài viết về sự thật, dù những sự thật ấy còn ở trong bóng tối, còn phải cất dưới hầm sâu. Cái gọi là văn chương chính thống, các nhà phê bình chính thống ăn bổng lộc có thể quên, hoặc cố tình lờ đi, không một dòng nhắc đến. Song văn chương đích thực, văn chương của muôn đời chắc chắn sẽ ghi công những con người như thế. Bởi sự thật bao giờ cũng là cái mà muôn đời cần đến biết bao. Tác giả mà tôi sắp nói tới đây với những tác phẩm viết về chiến tranh của ông, hy vọng sẽ mang lại cho bác những cảm giác khác hẳn.

Tác giả đó là Vũ Ngọc Tiến. Tôi tình cờ được đọc ông trên mạng internet. Tác phẩm đầu tiên tôi muốn kể đến là truyện ngắn có cái tên: “Vị phồn thực”. Bỏ qua những vòng vo dẫn truyện, điều đầu tiên đập thẳng vào trái tim người đọc là sự tuyên chiến với cái giả dối. Ông bắt đầu viết về cái đói của những người lính như thế này: “Trên hồ sơ báo tử từ mặt trận gửi về Bộ Quốc phòng chỉ ghi lạnh lùng hai chữ sốt rét, nhưng xin các ông bố bà mẹ, những người vợ hiền ở hậu phương thời ấy biết cho, lũ lính chúng tôi sốt rét ít thôi, đa phần là chết đói. Đói vì mấy ông chỉ huy hám thành tích, vững lập trường “tự lực cánh sinh”, chỉ nhận người và vũ khí, còn lương thực xin cấp trên cho được tự túc…”. Vâng! Đúng thế đấy tác giả Vũ Ngọc Tiến ạ. Những ông bố, bà mẹ, những người vợ hiền ở hậu phương thời ấy, nào có ai được biết đến sự thật này đâu. Câu chuyện xoay quanh hai cái đói, đói bụng và đói tình. Những thanh niên, trí thức cùng nòi giống mũi tẹt da vàng bị giằng khỏi cuộc sống, ném thẳng vào cái cối xay thịt của chiến tranh, Một bên thì tàn nhẫn, dã man với đồng loại, một bên bị hai cái đói đó hành hạ. Người chết biến thành những con ma không đầu vĩnh hằng, đói vĩnh hằng. Kẻ sống biến thành lũ man rợ, thèm khát phụ nữ, thèm khát máu người. Những người lính chứng kiến cảnh người vợ đối phương gào khóc bên xác chồng vừa bị họ giết như thế nào? Hãy đọc đoạn đối thoại sau đây:

“- Giết nốt con đĩ này thôi, anh em ơi!

– Cho nó đi chầu Diêm vương với thằng chồng ác ôn!

– Lột quần áo nó ra ngắm cho sướng mắt rồi hãy làm thịt!

– Phải đấy, xem thử cái lồn người Sài Gòn nó đen-trắng, dày-mỏng thế nào rồi hãy giết!

Hơn chục thằng lính H. N. đang cơn say máu, nhao nhao quát thét, ánh mắt man dại. Riêng hắn lặng đi, trán vã mồ hôi, mặt tái mét, trân trối nhìn thiếu phụ…”

Chả cứ gì nhân vật “hắn” lúc đó phải tái mặt. Cho đến tận bây giờ, khi mà cuộc chiến ấy đã lùi xa hơn ba mươi năm, những thế hệ học trò chỉ được “học” văn học viết về chiến tranh trong các sách giáo khoa, hẳn cũng phải tối tăm mặt mũi khi đọc đến đoạn này. Đây chính là những điều mà cả một nền văn học chính thống, hùng hậu vì nhiều lý do phi nhân bản, đã luôn phải né tránh(!). “Hắn” là nhân vật trung tâm của tác phẩm, kẻ thuộc phe thắng trận còn sót lại chút lương tri. “Hắn” về sau được chính người thiếu phụ ấy cứu sống bằng những dòng sữa của mình, dòng sữa của người mẹ. Nhân vật thiếu phụ, vợ người sĩ quan đối phương tử trận ấy như một vầng hào quang sáng lòa giữa cuộc chiến khốc liệt, tối tăm. Nàng đã vượt lên trên cuộc chiến, thành Phật ngay giữa cuộc chiến. Tôi phải xin cám ơn tác giả Vũ Ngọc Tiến, bởi văn chương của ông đã thẳng thắn, dũng cảm nhận ra và mô tả điều kì diệu đó của cuộc sống. Đã là nỗi đau thì không phân biệt địch, ta nữa, chỉ biết rằng đó là một nỗi đau hóa Phật, khiến những kẻ man rợ, súng ống đầy mình và đói khát tình dục kia không thể phạm tới nàng được. Và nàng đã ban ân cho “hắn”. Phật Bà đã ban cho “hắn” được lần đầu tiên nếm trải mùi đời. Đây là đỉnh điểm, là cao trào của cốt truyện, dẫn đến một tư tưởng đã chứng ngộ, đã “siêu thăng” cho nhân vật “hắn”, tư tưởng: “Vị Phồn thực”.

Trước khi bước vào cuộc chiến ấy, chắc hẳn “hắn” đã được tuyên truyền, “giác ngộ”, rằng cuộc chiến này sở dĩ phát động là nhằm “vị” một cái gì đó, một lý tưởng… chẳng hạn. Song đến lúc ấy thì những điều đó trở nên vô nghĩa, mọi lý thuyết đều là màu xám. Nếu có “vị”, thì hãy “vị” chính những thứ “phồn thực” kia kìa. Vũ Ngọc Tiến quả đã chạm đến cái “đạo” của cuộc đời khi để cho tư tưởng “vị phồn thực” ấy thoát thai từ chính sự tàn bạo và man rợ của chiến tranh. Cái “phồn thực” ấy mới vĩ đại, tuyệt vời làm sao. Tác giả đã dụng công mô tả nó tương đối kĩ ở phần đầu câu chuyện, thông qua những tác phẩm hội họa của người họa sĩ – kiếp sau của nhân vật “hắn”. Tôi hiểu cái thâm ý của ông. Người xưa quan niệm những “phồn thực” trên thân thể người phụ nữ như những huyệt đạo nằm trên… long mạch. Bao gồm hai huyệt lồi (gọi là Âm lai – Dương thụ) nằm chính giữa hai bầu vú, một huyệt lõm (gọi là Dương lai – Âm thụ) nằm đúng giữa âm đạo(…). Đó là những huyệt (cực quý) do các long mạch kết thành. Trên mặt đất bao la này, nếu ai may mắn tìm được những huyệt đạo tương tự mà để hài cốt ông cha, hẳn con cháu sẽ được phồn thịnh, đông đúc không biết đến thế nào. Bức tranh mà tác giả mô tả, do “hắn” vẽ hai nhánh sông Trà Khúc kẹp lấy một bãi bồi hình tam giác lún phún lau sậy, và hai đỉnh hòn Nghiên, hòn Bút của núi Ấn… hẳn là muốn nói đến những huyệt đạo phồn thực của hai thế giới tương đương Linh Địa – Nữ Nhân đó vậy. Chính nơi ấy, “hắn” chẳng đã thụ hưởng (Dương thụ) những dòng sữa đến từ hai bầu vú (Âm lai) của người mẹ đó sao? Và nàng chẳng đã đón nhận (Âm thụ) từ “hắn” cái tinh khí đàn ông (Dương lai) trong lần ban ân “giữa trời mây sông nước bao la” đó sao? Câu chuyện không có gì tục cả, bởi đây là lẽ huyền cơ, là việc giao nhau giữa Âm với Dương, là công việc của Càn, Khôn, công việc giữa Đất và Trời…

Tiếp tục đối lập với sự dối trá, tác phẩm tiếp sau đây của Vũ Ngọc Tiến cũng là một truyện ngắn, nhưng theo tôi, nó chính là một tiểu thuyết, một tiểu thuyết dồn nén, được viết theo nghệ thuật biến hoá không gian và thời gian. Trữ lượng của nó không thua kém một tiểu thuyết bởi đó là cả một cuộc chiến tranh với không biết bao nhiêu sự khốn nạn và tang tóc của những kiếp người. Truyện có cái tựa: “Chù Mìn Phủ và Tôi”. Tôi đã cố vật vã tóm tắt lại câu chuyện dã man, rùng rợn thời Trung cổ ấy, song lại diễn ra vào cuối thế kỉ hai mươi này mà không tóm tắt nổi, bởi sự căm giận và cảm giác ghê tởm cứ không ngớt dâng trào. Đối với lương tri của nhân loại, có lẽ đó là một cuộc chiến tranh đểu cáng nhất trong lịch sử, do một truyền thống ngạo mạn cố hữu gây ra, một cuộc chiến mà sau này những kẻ gây ra nó đã cố tình lờ đi. Song những đau thương, mất mát giáng xuống những thường dân vô tội ở cả hai bên thì làm sao có thể xóa nổi. Càng đểu cáng hơn khi người ta lờ đi không phải vì xấu hổ hay ân hận, mà chỉ vì những mục đích bẩn thỉu và khốn kiếp nào đó. Đọc xong câu chuyện, tôi rùng mình với một ý nghĩ, rằng nếu không có những tác phẩm như thế này, thì cái sự tảng lờ bất lương và vô liêm sỉ đến độ khủng khiếp kia sẽ đạt được mục đích của nó, và lịch sử sẽ bị một lỗ hổng toang hoác. Một lần nữa xin được cám ơn tác giả Vũ Ngọc Tiến với bản luận tội lạnh lùng, một trang sử đẫm máu, không tiền khoáng hậu này của ông.

Câu chuyện xuyên suốt từ lúc bắt đầu cho đến mãi thời hậu chiến. Chính điều đó đã tạo nên sự toàn bích của tác phẩm và đồng thời, cũng là sự tố cáo đanh thép cái cuộc chiến tội lỗi, vô nghĩa lý ấy. Hai nhân vật chính người Mông trong tác phẩm và số phận của họ, của con gái họ thật khủng khiếp. Nhân vật nữ Thào A Máy đã phát điên khi chứng kiến người con gái bị cưỡng hiếp, bị giết dã man trong đoạn văn trên chính là bạn gái của mình. Tác giả đã rất nhân bản khi để cho nhân vật Chù Mìn Phủ bỏ trốn khỏi cuộc chiến tranh cùng với Thào A Máy, để hai người thành vợ, thành chồng. Song ông cũng chỉ làm được đến thế mà thôi, bởi cái cuộc đời chó má đã gây ra cuộc chiến chó má ấy đâu có buông tha họ, dù họ đã mang nhau trốn vào tận rừng sâu. Chù Mìn Phủ bị cướp đất, cướp nhà, bị đi tù. Thào A Máy đi tìm chồng bị lạc đường rồi kiệt sức mà chết. Điều khủng khiếp là cái chết của kiếp người ấy vẫn chưa phải là đã hết. Lại một đoạn văn làm tôi lợm giọng trước sự khốn nạn của con người: “Cô đi tìm chồng bị tù, lạc đường, kiệt sức nằm chết ở bờ ruộng ngô, phân cách đất của hai nhà người La Chí. Nhà này bế con cô về nuôi, nhưng lén hắt xác cô sang ruộng bên cạnh vì sợ chôn ở ruộng mình con ma sẽ về bắt mất đứa bé. Nhà kia thấy vậy chửi bới một hồi, hắt xác cô sang ruộng của người nhận nuôi con cô. Cứ thế cái xác hắt qua hắt lại, kiến bu đầy, áo quần tơi tả.” Tôi đã đọc đi đọc lại câu chuyện nhiều lần, lần nào đọc đến đoạn này, nước mắt tôi cũng nhòa hết bàn phím. Ôi! Thào A Máy ơi! Thế kỉ hai mươi ơi! Những tuyên ngôn bánh vẽ và bịp bợm ơi! Trước những cái chết như thế này, con người khó mà có thể ngẩng mặt lên được nữa.

Rất may là rốt cuộc, kiệt tác về sự đau đớn, mất mát của những kiếp người(?) này cũng kết thúc có vẻ có hậu, song những vết thương thì không bao giờ lành được nữa. Nhân vật “tôi” trong truyện đã tìm thấy Chù Mìn Phủ, thiên thần có tên là Chúc (Chù Thào Mỷ) kia rồi sẽ được đoàn tụ với cha đẻ của mình. Nhưng hình như đó chỉ là một kiểu hy vọng, bởi tôi cứ nghi ngờ việc tác giả để cho nhân vật Chù Mìn Phủ ấy, trải qua bao nhiêu đau đớn của cuộc đời, cuối cùng thành một ông già bán phong lan. Hình ảnh: “Một ông già tóc bạc trắng phau, buông xõa ngang vai, râu dài chấm ngực” đeo gùi phong lan đi bán ở chợ cứ ám ảnh tôi mãi. Cái giống hoa đẹp nhất, tinh khôi nhất của núi rừng biên giới ấy được đặt vào tay kiếp cùng khổ đó, nếu không phải là thông điệp của một niềm hy vọng thì là cái gì? Chẳng lẽ lại là sự bắt đầu của một tấn bi hài? Tôi lo ngại điều đó lắm. Bởi văn chương trong truyện nhiều lúc đạt tới trạng thái chông chênh như đang đứng sát bên miệng vực thẳm, ví dụ đoạn kể về cái đêm cô bé Chúc (Chù Thào Mỷ) lên cơn khát tình với chính nhân vật “tôi”; ví dụ câu hỏi cuối cùng của ông già bán phong lan, một câu hỏi không có câu trả lời: “Con của tao, con bé Chù Thào Mỷ vẫn còn sống thật ư? Đời nó liệu có đỡ khốn nạn hơn tao với mày không, hở giời?…”

Tác phẩm thứ ba của Vũ Ngọc Tiến mà tôi muốn nói đến trong bài viết này là một truyện ngắn tưởng chừng không hề viết về chiến tranh, nhưng chính là viết về chiến tranh, còn hơn thế nữa, bởi nó vượt lên trên mọi cuộc chiến. Truyện ngắn có tên: “Gà Ô tử mỵ”. Ở bài viết này, tôi cố ý đặt nó ở vị trí sau cùng vì hai nhẽ. Thứ nhất, nếu “Vị phồn thực” và “Chù Mìn Phủ…” là hai tác phẩm nói về cái “thực” đến độ ghê gớm của những cuộc chiến, thì “Gà Ô tử mỵ” chính là đã nói lên cái “đạo” của chiến tranh vậy. Thứ hai, nếu bạn đã có đủ sức lực và sự bình tĩnh để đọc một mạch hai sự thật trần trụi và rùng rợn ở trên, thì tưởng cũng nên đọc tiếp câu chuyện này để lấy lại cho mình một chút gì thư thái, nhưng là sự thư thái của một cảm giác siêu thoát. Câu chuyện xoay quanh một trận chiến giữa… hai con gà chọi.

Nếu như ở truyện ngắn “Chù Mìn Phủ…”, tôi biết Vũ Ngọc Tiến rất am hiểu ngôn ngữ cũng như phong tục, tập quán của người Mông thì ở truyện “Gà ô tử mỵ” này, tôi lại phải bái phục những kiến thức về xem tướng gà của ông. Người xưa chịu chơi, chơi công phu, chơi có đạo nên mới sáng tạo ra “kinh” cho các việc… chơi. Ví như chơi chó thì có “cẩu kinh”, chơi mèo thì có “miêu kinh”, chơi đá thì có “thạch kinh”… Ở đây là chơi gà nên phải có “kê kinh”. Đã gọi là “kinh” thì chẳng phải chuyện đùa. Đó là một khoa học “thông suốt mọi huyền cơ”, vận dụng cả Dịch lẫn thuyết âm dương, ngũ hành… Tôi đọc những đoạn này mà cảm thấy cực kì thú vị. Ví dụ đoạn tả con gà Ô tử mỵ:

“Bác nhìn kỹ sẽ thấy gà ô nhà mình có nhiều tướng ẩn. Khi nó ngủ, đầu và cổ thả xuống đất thõng mềm như con rắn. Đó là tướng gà tử mỵ, ngủ mà như chết. Nếu nhìn kỹ, bác sẽ thấy, chỉ lúc nó phơi nắng hay đập cánh, ta mới nhìn rõ mỗi cánh chỉ có một chiếc lông trắng muốt. Đó là tướng ẩn thứ hai, gọi là gà ô điểm bạch. Gà tướng ẩn nhiều khi mới vào trận có vẻ ngu ngơ chịu đòn để thăm dò hoặc khích tướng đối phương. Vào lúc bất ngờ nó bùng lên, xuất những chiêu thức lạ và đối thủ có khi chết ngay tại trận. Điều đáng quý và đó là tướng ẩn thứ 3 như bác vừa trông thấy. Gà ô nhà mình là giống gà chiến lẫy lừng nhiều chiêu độc thủ vậy mà khi nãy vừa ăn vừa cúc cúc gọi mấy chú gà con đến ăn cùng. Dáng điệu nó lúc ấy thật hiền từ, âu yếm thương quý đám gà con như cha thương con. Có nhiều con gà chọi khác đang ăn thấy gà con sán đến liền giương mắt mổ một nhát toét cả đầu. Bác đã gặp ai trên đời độc ác, thiếu tình yêu với trẻ con mà hậu vận được tốt đẹp không?…”.

Hay là đoạn tả con gà tía sau đây:

“Con gà này đúng là linh kê. Đã lâu lắm ngoài con ô nhà này, hôm nay tôi mới gặp được một con gà quý tướng. Các bác xem: con tía này thuộc loại tầm đại, lực lưỡng hơn con ô tầm trung. Nó nặng hơn con ô ít nhất 4 lạng, cao hơn sáu phân. Đầu nó nhỏ, theo xuôi với cần cổ. Mỏ ngắn và chắc, hàm lại rộng, mổ vào đối phương cứ là dứt từng miếng thịt. Gò má cao, da mỏng, đỏ tươi. Mi mỏng, mắt sâu, con ngươi nhỏ, quầng mắt lầm cát. Ức nhỏ, mình dài, phao câu lớn. Lông nó mượt và chặt lông, nếu ngã xuống nước chỉ cần lắc mình vài cái là khô liền. Đôi chân con tía này mới thực tuyệt. Đùi dài hơn cẳng, kheo treo, bắp cơ nổi rắn như tảng đá. Ống chân đã có vẩy phủ địa, lại thêm vẩy liên giáp thành nội ở ngang tầm cựa. Bàn chân vuông vức, ngón chúa dài và bóng láng…”

Đọc những đoạn ấy, cứ tưởng tác giả cố ý phô diễn những kiến thức “kê học” của mình té ra không phải. Ông nói về gà nhưng thực ra là để nói về người, về “triết lý nhân sinh” hẳn hoi đấy. Đoạn này chính là để chuẩn bị cho một tư tưởng huyền diệu về sự thắng bại của bất cứ cuộc chiến nào mà tác giả sẽ nói đến ở phần sau. Con người vốn là cha đẻ của các loại chiến tranh. Từ mấy nghìn năm nay, nhân loại chẳng đã không ngừng nghiên cứu, sáng tạo ra bao nhiêu thứ vũ khí, binh pháp, trận đồ… cốt tiêu diệt nhau cho thật nhiều, thật nhanh, thật gọn… đó sao? Đạo… gà chọi kia nào có kém gì. Đọc cả một đoạn triết lý uyên thâm về gà, nhắm mắt lại, mở mắt ra thấy té ra toàn nói về đạo… con người cả. Cái lối dương đông kích tây như thế này, những người viết văn lương thiện thỉnh thoảng cũng chẳng ngại ngùng gì mà không sử dụng đến.

Tôi vừa nói những đoạn đàm đạo về “kê học” giữa hai nhân vật cụ Huy và Cường trong truyện cực kì thú vị. Nhưng là thú vị về chính những kiến thức “kê học” ấy thôi. Còn xét riêng về cách viết đối thoại thì có chỗ hơi gợn đấy. Tôi đã đọc một số tác phẩm khác của Vũ Ngọc Tiến. Hơi tiếc một điều là ông hình như chưa được “khéo” lắm trong lúc viết các đoạn đối thoại. Văn đối thoại của ông hơi bị thiếu tự nhiên. Đối thoại trong truyện là bản ghi âm khẩu ngữ của những nhân vật, giống như chuyện xảy ra ngoài đời, ngoài chợ… Thế thì nó phải có biến hóa, chưa kể còn phải xây dựng tính cách nhân vật thông qua giọng điệu, cách nói… Người viết văn chẳng lẽ lại như đạo diễn phân phối lời thoại cho các diễn viên lồng tiếng của mình? Vũ Ngọc Tiến thỉnh thoảng rơi vào trường hợp này. Ông nghĩ sẵn nội dung (tất nhiên rồi, nhưng…) rồi “gắn” các nội dung ấy vào mồm các nhân vật, để các nhân vật tuôn ra cho đến khi nào… xong thì thôi. Thỉnh thoảng cũng có dừng lại để biến hoá chút đỉnh (ví dụ cụ Huy xin Cường rót cho hớp rượu “rồi ta bàn tiếp”…), song chừng đó là chưa đủ “liều lượng”. Thế là “vai” thì thao thao bất tuyệt (như nhân vật cụ Huy trong truyện), “vai” thì chỉ làm phụ họa, đưa đẩy (ví dụ nhân vật Cường)…

Tất cả những công phu “kê học” kể trên của tác giả nhằm chuẩn bị cho một cuộc chiến giữa hai con “linh kê”. Song thực chất là cuộc chiến của tư tưởng, của đạo lý, cân não giữa hai phe “chủ” của chúng. Một bên là cụ Huy – một hiền sĩ, triết gia “kê học” và Cường. Đó là phe “đá” vì đạo. Một bên là Mão Sếch và đám lâu la của hắn. Đó là phe “đá” vì tiền. Song bất luận chủ của chúng là ai, thì hai kẻ trực tiếp chiến đấu trên chiến trường ấy cũng đều là “linh kê”, đều là những anh hùng cả. Và anh hùng cũng có lúc sa cơ, “anh hùng bất kiến minh quân”. Cái triết lý “quý vật tầm quý nhân chứ quý nhân không tầm quý vật” được triển khai cao độ ở thiên truyện này. Con gà tía mà cụ Huy hết lời thán phục ở cái tướng “linh kê” kinh điển của nó, bị gã Mão Sếch vừa mua vừa cướp giật từ tay cụ giáo Hợi đất Kinh bắc – một “minh quân” đích thực của nó chính là một anh hùng gặp bước sa cơ. Đọc đến câu nói của cụ Huy: “Tôi đã nghe trong tiếng gáy hùng dũng oai phong của gà tía ở đoạn ngân cuối cùng ẩn chứa một nỗi u hoài…” làm cho tôi rợn cả người. Viết về con vật mà đến mức như thế, tưởng trên đời không dễ gặp được nhiều tác giả như vậy.

Cuộc chiến chưa diễn ra thì cái lẽ thắng bại đã hiện ra rồi. Những quy luật tương xung tương hợp, luật nhân quả… may thay, vẫn ngự trị trên cõi đời này. Con gà tía ở với cụ giáo Hợi thì bách chiến bách thắng. Nhưng về tay Mão Sếch thì thậm chí biến thành con gà đạp mái. Vũ Ngọc Tiến đã đẩy cái ý tưởng này lên cao đến nỗi phải viện cả lẽ âm dương ra đây. Tôi lại xin trích câu nói của cụ Huy bàn về con gà tía khi nó phải ở trong tay Mão Sếch:“Sự buồn nản của gà tía đã dồn xuống đôi chân có vẩy quý tướng rồi, bác chưa biết đấy thôi. Hai mặt âm dương của chân gà đã mất cân bằng, âm đang thịnh lên, dương bắt đầu suy…” Than ôi! Làm hèn đến cả bậc anh hùng lừng danh thì cái gã Mão Sếch kia và lũ lâu la của hắn thuộc loại người như thế nào? Sự thật còn sờ sờ ra đấy, những nhà văn như ông nào có muốn ẩn ý gì đâu? Tôi không bàn đến chi tiết cuộc chiến ấy nữa mặc dù tác giả đã tả rất kĩ, rất hay, kể cả những tay đá gà chuyên nghiệp đọc đến chắc cũng phải bái phục. Chỉ biết rằng tôi đã không cầm được nước mắt khi đọc đến đoạn cụ giáo Hợi xô cửa chạy vào khóc con gà tía: “Ôi tía ơi! Tía ơi! Đường xa, xe kẹt, ta đến muộn, đã hại chết con rồi tía ơi là tía ơ… ơi…”. Một anh hùng đã phải ôm hận nghìn thu. Hình ảnh lũ Mão Sếch kia lủi thủi ôm đầu, chuồn khỏi bãi chiến trường mây đen vần vũ… khiến tôi chợt nghĩ tới những “cái đầu lạnh” trong câu chuyện “Chù Mìn Phủ…” ở trên. Quả không phải là một cuộc đá gà nữa rồi…

Và đó mới thực sự là những tác phẩm văn học viết về chiến tranh, văn học chiến tranh của nhà văn Vũ Ngọc Tiến.

Tháng 6/2006

                           

PHẠM LƯU VŨ

© Tác Giả Giữ Bản Quyền.

Các Truyen Ngan Ve Trang Quynh Trang Quynh Tap Truyen Ngan Doc

Ông bố thấy con nói thế, lạ lắm, nhưng nghĩ bụng: “Ta thử nghe trẻ con xem sao!” mới đánh liều ra nhận với làng, làm tờ cam đoan, đem tiền về bảo con đi mua. Sáng sớm, hai bố con khăn gói, cơm nắm, vác chục quan tiền ra Thăng Long mua dê. Ðến nơi, Quỳnh nói với bố hỏi dò xem hôm nào vua ngự chơi phố. Hôm đó, Quỳnh dậy thật sớ m, lén xuống dưới cổng cửa Ðông nằm chực. Ðợi đến quá ngọ, nghe tiếng xe ngựa quan quân đi xình xịch trên cổng, Quỳnh liền khóc oà lên. Vừa lúc xa giá đi qua, vua nghe tiếng trẻ khóc mà không thấy người, sai lính đi tìm, lôi được Quỳnh ở dưới cống lên. Vua hỏi:

– Không thể đợi được nữa! T rong nhà có thức gì khác cứ dọn lên cho ta ăn qua loa một miếng đi! Quỳnh vâng dạ rồi sai gia nhân dọn cơm lên phản cho vua xơi. Vua nhìn thấy mâm cơm rõ là xoàng xĩnh: chỉ có vỏn vẹn đãi rau luộc! Trong mâm có cái hũ sành nhưng vua chả biết đó là cái chết tiệt gì! Lúc chuẩn bị ăn, vua chỉ vào cái hũ rồi hỏi :

Một hôm, cô ta đang đứng trên bờ ruộng, tay chống nạnh, đầu có nón quai thao, quan sát các nông dân làm thuê gặt lúa thì có một chàng thiếu niên dáng vẻ nho sinh đi ngang qua. Nho sinh thấy cảnh đó liền dừng lại hỏi thăm một bác nông dân về cô gái kia. Bác nông dân bảo cô ta là con gái của chủ ruộng, ngày nào cũng ra đứng đây để mà đôn đốc v iệc đồng áng, nói là thế nhưng thật ra ai làm lụng chậm chạp một tí là cô ta ngoác miệng ra chửi chẳng tiếc lời. Có lắm người tuy đói nhưng ráng chịu chứ không làm thuê cho cô ta để khỏi bị nhục. Nghe kể xong, chàng thiếu niên liền tiến đến gần bờ ruộng nơi cô kia đang đứng. Thiếu niên bảo cô nàng mình là học trò lỡ độ đường, nhịn đói đã hai ba bữa nay, xin cô gia ân bố thí cho ít lúa thổi cơm.

Một hôm, Quỳnh ở kinh đô về thăm nhà, nghe kể về bọn ấy, liền sai gia nhân gọi bọn vô công dồi nghề đó đến, bảo: – Ta đang có thời cơ giúp được các ông trở thành ông nọ bà kia đấy. Nếu muốn thì mau mau về thu xếp chập tối lại đây cùng ta đánh chén rồi sáng mai cùng chẩy kinh luôn thể.

Trong số quan lại ở phủ Chúa có rất nhiều hoạn quan tham lam, nịnh hót. Chúa tin dùng chúng vì chúng giỏi gièm pha, tâng bốc. Có tên hoạn quan cấp trên ghét Quỳnh lắm, hễ có dịp là hắn rình mò Quỳnh rồi tâu xấu với chúa, xúi chúa làm tội Quỳnh. Quỳnh biết điều đó nhưng làm ngơ, xem hắn như cỏ rác. Một hôm, Quỳnh quắp nách một quyển sách rất đẹp, đi lơn tơn qua các hành lang, mặt vẻ nghiêm trọng rồi lại giấu giấu, giếm giếm… Tên hoạn quan kia đang rình mò Quỳnh, thấy vậy sinh nghi, bèn chạy theo níu áo đòi mượn sách xem. Hai bên giằng co một hồi thì tên quan giật được. Hắn lật từng trang, chỉ thấy toàn giấy trắng, đến trang cuối cùng có chữ, nhưng hắn cố căng mắt ra đọc cũng chả hiểu gì cả. Túng quá, hắn bảo Quỳnh đọc xem là gì, Quỳnh lại ra vẻ qu an trọng bảo:

Nghe xong Chúa cười phào nhẹ nhõm: đúng là chẳng có gì đáng nghe cả, chỉ là một câu lằng nhằng về ý tứ, nhưng Chúa lại cho rằng Quỳnh có ý khen tặng ngài là bậc anh minh, bèn thưởng mười nén bạc cho Quỳnh! Thấy không làm gì được Quỳnh, chiều hôm ấy, tên hoạn quan mò tới nhà Quỳnh, vỗ về :

Trước lý lẽ đó, các quan trường cứng họng, không còn biết đối chất ra sao. Bí quá , quan đốc thị bèn cáo: -Khải Chúa, không phải Quỳnh chôn văn. Chính hắn đã đem chôn ống quyển chứa toàn thứ dơ bẩn và châu chấu đấy ạ!

– Sách ấy là sách nhảm nhí của tiểu thần chỉ xem khi buồn, sợ cắt nghĩa ra rác tai Chúa! Chúa nhất định không nghe, bắt Quỳnh cắt nghĩa cho được.

Quỳnh ra, quan thị chạy theo trách Quỳnh nhạo cả Chúa, thực là người vô phu, vô quân. Quỳnh đáp lại rằng:

Nghề kéo nặng thì phải reo hò, không dô ta, không hò khoan đố ai kéo được. Bọn lính phải chịu về không. Lại một lần nữa, Chúa sai lính đến ỉa giữa nhà Quỳnh. Quỳnh cầm dao ra bảo lính:

110 Bai Tap Doc Hieu Chon Loc Co Loi Giai Chi Tiet

Published on

110 bai tap doc hieu chon loc co loi giai chi tiet

2. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! ĐỀ SỐ 02. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỒ CHÍ MINH Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận cảu những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.” [Theo A.L.Ghec-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997] Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. [0,25 điểm] Câu 2: Nêu nội dung chính của văn bản trên. [0,5 điểm] Câu 3: Chỉ ra tác dụng của việc dùng phép so sánh trong văn bản trên. [0,5 điểm] Câu 4: Theo quan điểm riêng của anh/ chị, cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình gây ra những tác hại gì? [Trả lời ít nhất 2 tác hại trong khoảng 5-7 dòng] [0,25 điểm] Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: NƠI DỰA Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ? Khuôn mặt trẻ đẹp chim vào những miền xa nào.. Đứa bé đang lẫm chẫm muôn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ. Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có. Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống. Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia? Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết. Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước tìmg bước run rẩy. Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời. Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơii dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách. (Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983) Câu 5: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên. [0,25 điểm]

3. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! Câu 6: Hãy chỉ ra nghịch lí trong hai câu in đậm của văn bản trên. [0,25 điểm] Câu 7: Qua văn bản trên, anh/ chị hiểu thế nào là nơi dựa của mỗi con người trong cuộc đời? [0,5 điểm] Câu 8: Xác định các dạng của phép điệp trong văn bản trên và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng. [0,5 điểm] ĐÁP ÁN Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản: phương thức nghị luận/ nghị luận. Câu 2. Nội dung chính của văn bản trên: khẳng định cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống sai lầm/bác bỏ một quan niệm sống sai lầm: sống bó hẹp trong ngưỡng cửa nhà mình. Câu 3. Tác giả đã so sánh cuộc sống của mỗi người (cuộc sống đầy đủ tiện nghi; cuộc sống biệt lập;cuộc sống lúc sóng gió; …) với một mảnh vườn (mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng; mảnh vườn có lớp rào bao quanh; mảnh vườn lúc dông tố nổi lên;…) Tác dụng: việc sử dụng pháp so sánh khiến đoạn văn trở nên sinh động, truyền cảm, dễ hiểu, có sức thuyết phục cao chứ không khô khan như khi chỉ sử dụng lí lẽ thuần túy. Câu 4. Nêu ít nhất 02 tác hại của cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình theo quan điểm riêng của bản thân, không nhắc lại quan điểm của tác giả trong đoạn trích đã cho. Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục. Câu 5. Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/ văn chương. Câu 6. Nghịch lí trong hai câu in đậm của văn bản: Thông thường người yếu đuối tìm nơi dựa ở người vững mạnh. Ở đây ngược lại. Người mẹ trẻ khỏe dựa vào đứa con mới biết đi chập chững. Anh bộ đội dạn dày chiến trận dựa vào cụ già bước từng bước run rẩy trên đường. Câu 7. Nơi dựa của mỗi người trong cuộc đời mà bài thơ đề cập đến là nơi dựa tinh thần, nơi con người tìm thấy niềm vui, ý nghĩa sống, … Câu 8. Các dạng của phép điệp trong văn bản: điệp từ (đứa bé, bà cụ, …), điệp ngữ (ai biết đâu, lại chính là nơi dựa, …), điệp cấu trúc (câu mở đầu của 2 đoạn có cấu trúc giống nhau, câu kết của 2 đoạn cũng vậy), điệp kết cấu giữa hai đoạn. Hiệu quả nghệ thuật: tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa giữa hai đoạn thơ, góp phần khẳng định nơi dựa của mỗi người trong cuộc sống chính là nơi ta tìm thấy

4. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! niềm vui và hạnh phúc. ĐỀ SỐ 03. CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LẦN 1 “Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì Xanh xanh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay” (Trích “Bên kia sông Đuống” – Hoàng Cầm) 1/ Chủ đề đoạn thơ trên là gì? 2/ Phân tích giá trị biện pháp tu từ trong đoạn thơ 3/ Theo anh/chị, thể thơ mà nhà thơ sử dụng có ý nghĩa như thế nào trong việc biểu đạt nội dung tư tưởng của đoạn thơ trên? ĐÁP ÁN Đọc đoạn thơ trong bài “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm và thực hiện các yêu cầu: Yêu cầu chung: – Câu này kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu một văn bản văn học thuộc thể thơ trữ tình để làm bài. – Đề không yêu cầu đọc hiểu mọi phương diện của đoạn trích, chỉ kiểm tra một số khía cạnh. Cảm nhận của thí sinh có thể phong phú, nhưng cần nắm bắt được tâm tình của tác giả, hiểu được giá trị biểu đạt của tiếng Việt, thấy được tác dụng của biện pháp nghệ thuật được dùng trong đoạn trích. Yêu cầu cụ thể: Câu 1. Chủ đề đoạn thơ: Niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương và nỗi đau khi quê hương yêu dấu bị giày xéo Câu 2. * Biện pháp tu từ: – Biện pháp so sánh: “Sao xót xa như rụng bàn tay”: gợi nỗi đau máu thịt. Mỗi con người là một phần của Tổ quốc, coi Tổ quốc là máu thịt của mình. Đất nước bị giàu xéo thì con người cũng xót xa như chính bản thân mình phải chịu đau đớn. – Câu hỏi tu từ: “sao nhớ tiếc”, “sao xót xa như”… thể hiện sự nuối tiếc, đau đớn đến tột cùng. * Cách sử dụng các từ láy: “lấp lánh”, “xanh xanh”, “biêng biếc”, “nghiêng nghiêng” góp phần gợi vẻ đẹp trù phú, tươi đẹp của quê hương bên dòng sông Đuống duyên dáng, thơ mộng. Câu 3. Thê thơ tự do giúp tác giả thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình một cách chân thành,

5. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! xúc động mà không bị gò bó, cảnh đẹp quê hương cũng hiện lên tự nhiên, sống động. ĐỀ SỐ 04. CHUYÊN CHU VĂN AN LẦN 1 Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn Hai đứa ở hai đầu xa thẳm Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây. Một dãy núi mà hai màu mây Nơi nắng nơi mưa, khí trời cùng khác Như anh với em, như Nam với Bắc Như Đông với Tây một dải rừng liền. (Trường Sơn Đông, Trường SơnTây – Phạm Tiến Duật) Đọc đoạn thơ trên và trả lời câu hỏi : a/ Đoạn thơ trên được viết bằng thể loại nào?Nhận xét về giọng điệu của đoạn thơ. b/ Trong đoạn thơ trên tác giả đã thể hiện những cảm xúc gì ? c/ “Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây” Hãy tìm trong bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính một câu thơ có cách diễn đạt tương tự với câu thơ trên của Phạm Tiến Duật. Cách diễn đạt của hai câu thơ này có gì đặc biệt? ĐÁP ÁN Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: Câu a. – Đoạn thơ trên được viết bằng thể loại thơ tự do, xen kẽ các câu 7 chữ và 8 chữ. – Đoạn thơ có giọng điệu tự nhiên như lời chuyện trò, tâm tình thân mật của tác giả với người yêu ở nơi xa. Đây là ngôn ngữ thơ ca bước ra đời sống, từ chiến trường. Câu b. Trong đoạn thơ, tác giả đã thể hiện hai cảm xúc chủ đạo: – Sự thích thú, yêu mến những vẻ đẹp của rừng Trường Sơn trên con đường ra trận. – Nỗi nhớ thương sâu lắng hướng về “em”. Câu c. – Câu thơ có cách diễn đạt tương tự là Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. – Hai câu thơ của Nguyễn Bính và của Phạm Tiến Duật đều nói về nỗi nhớ và đều sử dụng các địa danh để thể hiện nỗi nhớ của mình. Cách diễn đạt này khắc họa rõ sự chia cách ở những miền không gian xa nhau, vừa thể hiện nỗi nhớ thiết tha sâu nặng lan tỏa tâm tư tâm hồn của con người mà bao

6. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! trùm cả không gian. Câu thơ vì thế có sự biểu cảm và lay động sâu sắc đối với người đọc. ĐỀ SỐ 05. CHUYÊN THÁI NGUYÊN LẦN 1 Đọc văn bản: Ôi quê hương xanh biếc bóng dừa Có ngờ đâu hôm nay ta trở lại Quê hương ta tất cả vẫn còn đây Dù người thân đã ngã xuống đất này Ta gặp lại những mặt người ta yêu biết mấy Ta nhìn, ta ngắm, ta say Ta run run nắm những bàn tay Thương nhớ dồn trong tay ta nóng bỏng Đây rồi đoạn đường xưa Nơi ta vẫn thường đi trong mộng Kẽo kẹt nhà ai tiếng võng đưa Ầu ơ…thương nhớ lắm! Ơi những bông trang trắng, những bông trang hồng Như tấm lòng em trong trắng thủy chung Như trái tim em đẹp màu đỏ thắm Con sông nhỏ tuổi thơ ta đã tắm Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng Hoa lục bình tím cả bờ sông (“Trở về quê nội” – Lê Anh Xuân) Thực hiện các yêu cầu sau: 1. Hai dòng thơ đầu có sử dụng những thành phần biệt lập nào? Dùng để diễn tả tâm trạng gì của nhà thơ? 2. Điệp từ “ta” được điệp lại nhiều lần kết hợp với một loạt những động từ “gặp lại”, “yêu”, “nhìn”, “say”, “ngắm”…có tác dụng gì? 3. Những hình ảnh nào trong đoạn thơ đã thể hiện được vẻ đẹp và sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của quê hương? 4. Âm thanh “kẽo kẹt…tiếng võng đưa”, “Ầu ơ…” đánh thức điều gì trong cái tôi trữ tình của tác giả? 5. Chữ “tím” trong câu thơ “Hoa lục bình tím cả bờ sông” có sự chuyển đổi từ loại như thế nào? Tác dụng của sự chuyển đổi ấy trong việc biểu đạt nội dung? ĐÁP ÁN Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Hai dòng thơ đầu có sử dụng các thành phần biệt lập: – Thành phần cảm thán: “Ôi”

8. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều a, Hãy viết 1- 3 câu giới thiệu về tác giả bài thơ? b.Chủ thể trữ tình trong bài thơ là ai? c, Chỉ ra biện pháp nghệ thuật được sử dụng ở khổ thứ hai và ý nghĩa các biện pháp nghệ thuật đó? d, Chỉ ra sự đổi mới trong cách sử dụng thanh điệu so với thể lục bát truyền thống ở các câu thơ sau đây và nêu ý nghĩa của sự đổi mới đó? ” Như hôm em đi lễ chùa/ Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh”; ” Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” e, Qua bài thơ, nhân vật trữ tình muốn nhắn nhủ điều gì với em? ĐÁP ÁN Đọc bài thơ và thực hiện yêu cầu: Yêu cầu chung: – Câu này kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của thí sinh, đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu một văn bản trữ tình để làm bài – Đề không yêu cầu đọc hiểu mọi phương diện của cả văn bản, chỉ kiếm tra một số khía cạnh. Cảm nhận của thí sinh có thể phong phú nhung cần có những nét hiểu cơ bản về tác giả, tâm tình của tác phẩm, tác dụng của các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn trích Yêu cầu cụ thể Câu a. Giới thiệu tác giả của bài thơ: Nguyễn Bính (tên thật là Nguyễn Trọng Bính; 1918-1966) là một trong “ba đỉnh cao” của phong trào Thơ. Ông được coi là “nhà thơ quê mùa nhất” bởi những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc, mang đậm hồn quê. Câu b. Chủ thể trữ tình trong bài thơ: chàng trai Câu c. Các biện pháp tu từ: – Khổ 2 của bài thơ sử dụng các biện pháp tu từ: + Liệt kê: “cái yếm lụa sồi”, ” cái dây lưng đũi”, ” cái áo tứ thân”, ” cái khăn mỏ quạ”, “cái quần nái đen” nhằm nhấn mạnh những trang phục của thôn quê, trong sự đối lập trước sự thay đổi của người yêu ở khổ 1; thể hiện sự nuối tiếc, muốn níu kéo

9. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! những nét đẹp truyền thống, sự thân thuộc, giản dị của người yêu dù không thể thay đổi được. + Câu hỏi tu từ cùng điệp ngữ. Khổ thơ có 4 câu là 4 câu hỏi tu từ qua cấu trúc câu hỏi ” Nào đâu” lặp lại 2 lần khiến lời thơ bộc lộ rõ sự trách móc, nuối tiếc, xót xa, đau khổ của chàng trai trước sự thay đổi của người yêu. Câu d. – Thông thường, trong thơ lục bát truyền thống, mô hình khái quát của thanh điệu là: 1 2 3 4 5 6 7 8 Câu lục 1: + B + T + B Câu lục 2: + T T + + B Câu bát 1: + B + T + B + B Câu bát 2: + T + B + T + B Nghĩa là: – Các từ 2, 4, 6, 8 phải luôn đúng luật bằng trắc – Các từ 2, 4 câu lục phải niêm với các từ 2, 4 câu bát. – Phân tích cụ thể sự đổi mới: có sự thay đổi trong luật bằng trắc Như hôm em đi lễ chùa B B B Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh B T B B Hôm qua em đi tỉnh về B B B Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều B T B B – Ý nghĩa sự đổi mới: Việc sử dụng nhiều thanh bằng góp phần tạo nên giọng điệu trầm lắng, diễn tả tâm trạng xót xa nuối tiếc của chàng trai trước sự thay đổi bất ngờ đầy thành thi của cô gái Câu e. Qua bài thơ, nhân vật chàng trai muốn nhắn nhủ với “em” điều: Hãy giữ gìn những nét đẹp truyền thống, đừng chạy theo vẻ hào nhoáng bên ngoài, đừng khoác lên mình những thứ xa lạ, phù phiếm.

10. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! ĐỀ SỐ 06. CHUYÊN NGUYỄN HUỆ LẦN 1 Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu: “Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên toàn cầu hóa với tất cả sự phức tạp của thời cơ và nguy cơ, vận hội và thách thức đan xen, chuyển hóa khôn lường; hoặc là tụt hậu, tức là bị bỏ rơi hoặc là bứt phá, vươn lên để bắt nhịp cùng thời cuộc, làm chủ vận mệnh của mình, mà nếu dừng lại chính là tụt hậu. Mà tụt hậu, nhất là về kinh tế, đó là nguy cơ mà tròn hai mươi năm trước, tháng 1-1994, Đảng ta đã cảnh báo và suốt hai thập niên cả dân tộc nỗ lực không ngừng để vượt qua. Do đó, hơn bao giờ hết, con đường duy nhất đúng đắn là chúng ta phải vươn lên, đưa đất nước phát triển bền vững, khi nhịp chân nhân loại không chờ đợi bất cứ ai, cuộc cạnh tranh toàn cầu luôn tiềm ẩn nguy cơ “mất còn”, không quốc gia, dân tộc nào là ngoại lệ, làm cho tương quan lực lượng giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới thường xuyên thay đổi. Tụt hậu là bị toàn cầu hóa lướt qua, nhấn chìm, tất yếu khó tránh khỏi rơi vào lệ thuộc, trở thành “sân sau” của người khác, sẽ không thể nào cải thiện, nâng cao được đời sống của nhân dân. “Thực túc, binh cường”, nếu tụt hậu thì khó có thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền của đất nước, khó có thể có được chỗ đứng xứng đáng trên trường quốc tế, huống chi là vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu.” a, Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ chức năng nào? Chỉ ra câu văn có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa (1,0 điểm) b, Giải thích khái niệm toàn cầu hóa trong văn cảnh trên? (1,0 điểm) c, Viết đoạn văn khoảng 20 dòng giải thích vì sao: “tụt hậu thì khó có thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền đất nước” ( 2,0 điểm) ĐÁP ÁN Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu: Yêu cầu chung: Câu này kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của thí sinh, đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu một văn bản để làm bài Yêu cầu cụ thể Câu a. – Phong cách ngôn ngữ chính luận. – Câu văn sử dụng nghệ thuật nhân hóa: “Tụt hậu là bị toàn cầu hóa lướt qua, nhấn chìm, tất yếu khó tránh khỏi rơi vào lệ thuộc, trở thành “sân sau” của người khác, sẽ

12. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! 2. Nêu hiệu quả, ý dụng của những thủ pháp nghệ thuật ấy? 3. Từ những câu tríc trên, anh (chị) hãy viết một đoạn văn quy nạp ( khoảng 10-12 câu) nói về tình cảm, thái độ của nhà văn với đối tượng miêu tả? ĐÁP ÁN Đọc và trả lời các câu hỏi: Câu 1. Những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng là: so sánh ( bằng, hơn, kém), điệp, vật hóa. Câu 2. Hiệu quả, tác dụng: – So sánh Mị với con trâu, con ngựa, con rùa để làm nổi bật nỗi khổ về cả thể xác lẫn tinh thần của cô gái Mèo này. – Điệp để nhấn mạnh nội dung diễn đạt đồng thời tọa nhịp điệu cho câu văn. – Vật hóa ( ngược với nhân hóa) tạo nên ý nghĩa kiếp người chỉ bằng, thậm chí không bằng kiếp vật. Câu 3. Yêu cầu về đoạn văn: – Hình thức: 10-12 câu theo phương pháp quy nạp. – Nội dung: Sự thấu hiểu và cảm thông sâu sắc của nhà văn đối với nỗi khổ đua bất hạnh của nhân vật Mị trong tác phẩm nói riêng và những người phụ nữ miền núi nói chung. Qua đó, ta thấy Tô Hoài là một nhà văn vừa am hiểu đời sống, vừa có tấm lòng nhân đạo đáng quý. ĐỀ SỐ 08. CHUYÊN HƯNG YÊN LẦN 1 “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời” (Chiều xuân – Anh Thơ ) a, Đoạn thơ trên chủ yếu được viết theo phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm) b, Bức tranh chiều xuân hiện lên trong đoạn thơ có đặc điểm gì? ( 0.5 điểm) c, Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thứ hai và thứ ba của đoạn thơ? ( 0.5 điểm) d, Anh/chị thấy được những điều gì trong tâm hồn tác giả qua đoạn thơ trên? ( 0.5 điểm)

13. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! ĐÁP ÁN Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi: Yêu cầu chung: – Câu này kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của thí sinh, đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu một văn bản trữ tình để làm bài – Đề không yêu cầu đọc hiểu mọi phương diện của cả văn bản, chỉ kiếm tra một số khía cạnh. Cảm nhận của thí sinh có thể phong phú nhưng cần có những nét hiểu cơ bản về tác giả, tâm tình trong văn bản, tác dụng của các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đó. Câu a. Đoạn thơ trên chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt: miêu tả Câu b. Bức tranh chiều xuân hiện lên có những đặc điểm là: – Bức tranh thuỷ mặc chấm phá những nét đầy thi vị về một buổi chiều quê mưa xuân. – Cảnh đẹp, bình yên nhưng gợi buồn. Câu c. – Biện pháp tu từ nhân hóa: “đò- biếng lười- mặc”, ” quán tranh- đứng im lìm” – Tác dụng biện pháp tu từ: + Biến những vật vô tri, vô giác thành sống động có hồn, gợi hình, gợi cảm. + Góp phần khắc họa hình ảnh thiên nhiên, làng quê vắng lặng, im lìm, bình yên nhưng cũng đượm buồn. Câu d. – Tâm hồn của tác giả trong đoạn thơ: + Tấm hồn nhạy cảm, tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời buổi chiều xuân. + Tấm lòng yêu thiên nhiên, quê hương sâu sắc. ĐỀ SỐ 09. CHUYÊN CAO BẰNG LẦN 1 Đọc văn bản sau rồi trả lời các câu hỏi: Con yêu quí của cha, suốt mấy tháng qua con vùi đầu vào mớ bài học thật là vất vả. Nhìn con nhiều lúc mệt ngủ gục trên bàn học, lòng cha cũng thấy xót xa vô cùng. Nhưng cuộc đời là như thế con ạ, sống là phải đối diện với những thử thách mà vượt qua nó. Rồi con lại bước vào kì thi quan trọng của cuộc đời mình với biết bao nhiêu khó nhọc. Khi con vào trường thi, cha chỉ biết cầu chúc cho con được nhiều may mắn để có thể đạt được kết quả tốt nhất. Quan sát nét mặt những vị phụ huynh đang ngồi la liệt trước cổng trường, cha thấy rõ được biết bao nhiêu là tâm trạng lo âu, thổn thức, mong ngóng…của họ. Điều đó là tất yếu vì những đứa con luôn là niềm tự hào to lớn, là cuộc sống của bậc sinh thành.

14. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! Con đã tham dự tới mấy đợt dự thi để tìm kiếm cho mình tấm vé an toàn tại giảng đường đại học. Cái sự học khó nhọc không phải của riêng con mà của biết bao bạn bè cùng trang lứa trên khắp mọi miền đất nước. Ngưỡng cửa đại học đối với nhiều bạn là niềm mơ ước, niềm khao khát hay cũng có thể là cơ hội đầu đời, là bước ngoặt của cả đời người. Và con của cha cũng không ngoại lệ, con đã được sự trải nghiệm, sự cạnh tranh quyết liệt đầu đời. Từ nay cha mẹ sẽ buông tay con ra để con tự do khám phá và quyết định cuộc đời mình. Đã đến lúc cha mẹ lui về chỗ đứng của mình để thế hệ con cái tiến lên. Nhưng con hãy yên tâm bên cạnh con cha mẹ luôn hiện diện như những vị cố vấn, như một chỗ dựa tinh thần vững chắc bất cứ khi nào con cần tới. (Trích “Thư gửi con mùa thi đại học”, trên chúng tôi a) Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? b) Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản. c) Khái quát nội dung của đoạn văn bản trích trên. d) Hãy tìm nhan đề phù hợp để đặt tên cho đoạn trích. ĐÁP ÁN Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi: Câu a. Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Câu b. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: tự sự, miêu tả và biểu cảm. Câu c. Khái quát nội dung của đoạn văn bản trích: – Đoạn trích là sự thấu hiểu và tình yêu thương, sẵn sàng sẻ chia của người cha trước những vất vả của con trước ngưỡng cửa thi đại học. – Đồng thời, đó cũng là lời động viên, khích lệ, tin tưởng của cha dành cho những nỗ lực của con. Câu d. Nhan đề phù hợp là nhan đề ngắn gọn, hàm súc, khái quát được nội dung của đoạn trích và có tính hấp dẫn. Ví dụ: Mùa thi bên con,… ĐỀ SỐ 10. CHUYÊN BẮC GIANG LẦN 1 Đoc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi ở phía dưới: “…Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không còn sợ nó nữa. Tối hết cả. con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa. Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cả cái bếp lửa của bác Siêu, chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hang, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. Tất cả phố xá trong huyện bây giờ đều thu nhỏ lại nơi hang nước của chị Tí. Thêm được một gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe…” (Trích “Hai đứa trẻ” – Thạch Lam)

15. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! 1. Đoạn văn trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? 2. Nội dung miêu tả của đoạn văn là gì? 3. Xác định thủ pháp nghệ thuật chính trong đoạn văn? Nêu tác dụng của thủ pháp đó. 4. Phân tích ngắn gọn hiệu quả của cách sử dụng từ ngữ trong vế câu “thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa” ĐÁP ÁN Đoc đoạn văn và trả lời các câu hỏi: Câu 1. Đoạn văn trên sử dụng các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm. Câu 2. Đoạn văn miêu tả khung cảnh và cuộc sống con người phố huyện khi đêm xuống. Câu 3. Thủ pháp nghệ thuật chính được sử dụng trong đoạn văn là thử pháp đối lập giữa ánh sang và bong tối và biện pháp liệt kê. Tác dụng: miêu tả cuộc sống tăm tối, nhịp sống tẻ nhạt, đều đều, quẩn quanh của con người phố huyện lúc đêm xuống. Câu 4. Hiệu quả của cách sử dụng từ ngữ trong vế câu “thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa”: Cách nói đảo ngữ và các từ “thưa thớt” “hột sáng” “lọt” gợi tả thứ ánh sáng leo lét, yếu ớt, như những kiếp người phố huyện bé nhỏ, vật vờ trong cái màn đêm mênh mông của xã hội cũ. ĐỀ SỐ 11. CHUYÊN THÁI BÌNH LẦN 1 Đọc đoạn thơ và trả lời câu hỏi: Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên. Cây me ríu rít cặp chim chuyền Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, Thu đến nơi nơi động tiếng huyền. Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu, Lả lả cành hoang nắng trở chiều. Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn, Lần đầu rung động nỗi thương yêu. [Thơ duyên – Xuân Diệu] a. Nội dung đoạn thơ trên là gì? b. Từ láy “ríu rít” và “xiêu xiêu” có tác dụng gì?

16. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! c. Chỉ ra và nêu tác dụng của phép đảo ngữ ? ĐÁP ÁN Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi: Câu a. Đoạn thơ là bức tranh thu dưới con mắt của một chàng thanh niên trẻ tuổi – tâm hồn đang tràn ngập yêu thương. Bức tranh ấy tràn đầy sức sống với âm thanh, ánh sáng tươi vui, rộn rã, vạn vật gắn bó, hòa quyện với nhau thật tự nhiên, đẹp đẽ! Câu b. Từ láy “ríu rít” và “xiêu xiêu” chỉ sự sóng đôi, hòa hợp, sự hòa điệu của thiên nhiên. Cặp chim chuyền ríu rít tình tự, gió nương theo con đường nhỏ, cũng dịu dàng, duyên dáng. Tất cả đã làm nên một bức tranh thu rất thơ, rất mộng. Câu c. – Phép đảo ngữ ở các câu: + Cây me ríu rít cặp chim chuyền (Cặp chim chuyền ríu rít trên cây me) Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, (Trời xanh ngọc đổ qua muôn lá) + “Lả lả cành hoang nắng trở chiều” (Cành hoang lả lả…) – Tác dụng: Các từ láy “ríu rít” “lả lả” và động từ “đổ” được đặt ở đầu câu vừa nhấn mạnh được sự gắn bó, hòa hợp giữa các sự vật [cặp chim chuyền], đường nét, dáng vẻ mềm mại của cây, của nắng và màu sắc của cảnh vật. Đồng thời cũng tạo nên nhạc điệu quyến luyến, êm dịu, một vẻ duyên dáng, tinh tế cho các câu thơ. ĐỀ SỐ 12. CHUYÊN THÁI BÌNH LẦN 2 Mẹ và quả Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng. Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi. Và chúng tôi một thứ quả trên đời Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

17. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! – Nguyễn Khoa Điểm – Đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi: a/ Từ “quả” trong những câu thơ nào được dùng với ý nghĩa tả thực? Từ “quả” trong những câu thơ nào được dùng với ý nghĩa tượng trưng? b/ Tìm và chỉ ra ý nghĩa của các biện pháp tu từ được dùng trong hai câu thơ sau: “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏiMình vẫn còn một thứ quả non xanh” c/ Ở khổ thơ thứ 2, hình ảnh mẹ hiện lên như thế nào? Qua đó, anh/chị hiểu gì về tình cảm của nhà thơ đối với mẹ? ĐÁP ÁN Câu a. – Từ “quả” có ý nghĩa tả thực trong các câu thơ 1,3 – Từ “quả” có ý nghĩa tượng trưng trong các câu thơ 9 và 12, chỉ những đứa con lớn lên bằng tình yêu và sự săn sóc ân cần của mẹ. Câu b. – Các biện pháp tu từ trong 2 câu thơ là: + Hoán dụ “bàn tay mẹ mỏi”, lấy bộ phận chỉ toàn thể, nói bàn tay mỏi để nói đến sự già yếu của mẹ. + Ẩn dụ so sánh “một thứ quả non xanh” – chỉ người con, ý nói vẫn chưa trưởng thành. – Tác dụng: + Tăng sức gợi hình và biểu cảm cho câu thơ + Bộc lộ tâm tư sâu kín: Tác giả tự kiểm điểm chính mình chậm trưởng thành mà lo sợ ngày mẹ mẹ già yếu đi vẫn chưa thể nở một nụ cười mãn nguyện với “vườn người” mẹ đã vun trông suốt cả cuộc đời, lòng mẹ sẽ buồn đau. Tác giả sợ mình chưa thể báo đáp công ơn to lớn của mẹ cho trọn đạo hiếu. Qua đó, ta thấy ở nhà thơ tấm lòng yêu thương và biết ơn mẹ chân thành và vô cùng sâu sắc. Hai câu thơ cũng là nỗi lòng của biết bao kẻ làm con nên giàu sức ám ảnh, khiến người đọc không khỏi trăn trở, tự nhìn lại chính mình! Câu c. – Khổ thơ thứ hai, với các hình ảnh “giọt mồ hôi mặn” “lòng thầm lặng mẹ tôi”, tác giả đã khắc họa hình ảnh một người mẹ tảo tần, lam lũ, nhọc nhằn nhưng giàu đức hi sinh. Mẹ vẫn âm thầm chăm sóc, vun trồng cho những bầu, những bí như chăm sóc chính những đứa con của mẹ, dẫu gian truân không một chút phàn nàn. Nhà thơ đã có một hình ảnh so sánh độc đáo – dáng hình của bầu bí như dáng giọt mồ hôi, hay giọt mồ hôi mẹ cứ dài theo năm tháng, như những bí những bầu. Qua đó, hình ảnh mẹ hiện lên bình dị mà đẹp đẽ biết bao!

18. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! – Nhà thơ đã thấu hiểu những vất vả, sự hi sinh thầm lặng của mẹ đều vì con. Câu thơ “Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên” giọng ngậm ngùi chất chứa biết bao thương cảm, thành kính, biết ơn. ĐỀ SỐ 13. CHUYÊN SƠN TÂY LẦN 1 Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa… Chiều nay con chạy về thăm Bác Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa! Con lại lần theo lối sỏi quen Đến bên thang gác, đứng nhìn lên Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa? Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn! Bác đã đi rồi sao, Bác ơi! Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội Rước Bác vào thăm thấy Bác cười! Trái bưởi kia vàng ngọt với ai Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài! Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm Quanh mặt hồ in mây trắng bay… (Bác ơi – Tố Hữu, ngữ văn 12 Tập 1, NXB Giáo dục VN trang 167 – 168) Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: a/ Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ. b/ Cảm xúc của tác giả trong đoạn thơ trên là gì? Cảm xúc đó được bộc lộ như thế nào? c/ Giữa khung cảnh bên ngoài và lòng người có điểm gì tương phản với nhau. Sự tương phản ấy có tác dụng gì trong việc biểu đạt cảm xúc của nhà thơ? ĐÁP ÁN

19. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! Câu a. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ: tự sự, miêu tả, biểu cảm. Câu b. – Cảm xúc của tác giả trong đoạn thơ trên: Nỗi đau xót lớn lao và niềm tiếc thương vô hạn của nhà thơ trước sự kiện Bác Hồ qua đời. – Nỗi đau ấy được diễn tả bằng những từ ngữ, hình ảnh thơ xúc động: + Khi nghe tin Bác mất, Tố Hữu đã tìm về ngôi nhà sàn thân yêu của Bác. Nhà thơ không đi nổi mà phải “lần” từng bước vì quá bàng hoàng, đau đớn, không thể tin là Bác đã mất. + Trước sự ra đi của Bác, không gian, thiên nhiên như hòa điệu với tâm trạng của con người: “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”. Mọi sự vật xung quanh cũng trở nên hoang vắng như mất hết linh hồn: vườn rau, gốc dừa ướt lạnh, gian phòng lặng yên, chuông không reo, rèm không cuốn, đèn không sáng. Không còn bóng dáng của Người dạo bước bên hồ vào mỗi sớm mai. Vì thế trái bưởi vàng kia, bông hoa nhài kia còn biết ngọt, biết tỏa mùi thơm cho ai nữa. Tất cả đều chìm lắng trong nỗi đau mất mát khôn tả. + Nỗi đau này quá lớn khiến nhà thơ không thể tin đó là sự thật nên thảng thốt tự hỏi: Bác đã đi rồi sao, Bác ơi! Câu c. Giữa khung cảnh bên ngoài và lòng người có sự tương phản với nhau: Lòng người thì đau đớn xót xa, còn ở ngoài kia đang là những ngày mùa thu tươi đẹp, bầu trời trong xanh, ánh nắng lung linh chiếu rọi. Miền Nam tràn ngập niềm vui, niềm hy vọng vì những chiến thắng lớn. Nhân dân miền Nam đang mơ đến ngày mở hội toàn thắng để được đón Bác vào thăm, để được nhìn thấy nụ cười rạng rỡ của Người. Sự tương phản giữa khung cảnh bên ngoài và lòng người gợi bao nỗi day dứt về tính chất phi lí không thể chấp nhận được của sự mất mát. Cuộc đời càng đẹp đẽ, hấp dẫn thì sự ra đi của Bác càng gợi bao nỗi đau xót nhức nhối tâm can. ĐỀ SỐ 14 . CHUYÊN NGUYỄN TẤT THÀNH LẦN 1 Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi: “… Có gì đâu, có gì đâu Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều Rễ siêng không sợ đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm Bão bùng thân bọc lấy thân

21. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! 2.Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? Chỉ ra những biểu hiện đặc trưng của phong cách ngôn ngữ đó? (1,0 điểm) 3.Những biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn? Tác dụng? (1,0 điểm) 4.Đoạn văn nói về vấn đề gì? (0,5 điểm) ĐÁP ÁN Câu 1. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn: miêu tả, tự sự, biểu cảm. Câu 2. – Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. – Những biểu hiện đặc trưng của phong cách ngôn ngữ đó: + Đoạn văn đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống tươi mới, giàu âm thanh và màu sắc thông qua việc sử dụng tài tình, hiệu quả biện pháp tu từ liệt kê, so sánh. + Nhịp điệu nhịp nhàng, giọng văn mượt mà, giàu cảm xúc. Hình ảnh phong phú, sinh động, đầy màu sắc. Các câu văn như những nét vẽ mau lẹ, thanh thoát, tạo thành một bức tranh đầy sức sống. + Sử dụng các câu văn đặc biệt “Tiếng cười the thé,… những mong ước.” Câu 3. – Những biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn: so sánh, liệt kê, điệp. – Tác dụng: Tái hiện sự hồi sinh của cảnh vật và cuộc sống con người. Câu 4. Đoạn văn nói về vấn đề: Miêu tả sự hồi sinh của mảnh đất Điện Biên vào mùa xuân, cả thiên nhiên và con người đều bừng lên sức sống mới. ĐỀ SỐ 16. CHUYÊN ĐẠI HỌC VINH LẦN 1 1/ Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi ở dưới: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. a. Đoạn văn trên thuộc văn bản nào? Tác giả của văn bản đó là ai? Viết trong thời gian nào?(0,25 điểm) b. Đoạn văn nói về vấn đề gì? Cách diễn đạt của tác giả có gì đặc sắc? (0,5 điểm) c. Anh/chị hiểu như thế nào về bề rộng và bề sâu mà tác giả nói đến ở đây? (0,25 điểm) d. Nội dung của đoạn văn giúp gì cho anh/chj trong việc đọc-hiểu các bài thơ mới trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông? (0,5 điểm) 2) Đọc văn bản: “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

22. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 144) Trả lời các câu hỏi: a. Xác định phương thức biểu đạt của văn bản (0,25 điểm) b. Văn bản sử dụng biện pháp tu từ gì? Cách sử dụng biện pháp tu từ ấy ở đây có gì đặc sắc? (0,5 điểm) c. Anh/chị hiểu như thế nào về cụm từ “con gặp lại nhân dân” ở văn bản? (0,25 điểm) d. Hãy nói rõ niềm hạnh phúc của nhà thơ Chế Lan Viên thể hiện trong văn bản. (0,5 điểm) ĐÁP ÁN Câu 1. Đọc hiểu một đoạn văn: Câu a. Đoạn văn được trích từ bài Một thời đại trong thi ca, là bài tổng luận cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, được viết năm 1942. Câu b. – Đoạn văn đề cập đến cái tôi cá nhân – một nhân tố quan trọng trong tư tưởng và nội dung của thơ Mới (1932-1945), đồng thời, nêu ngắn gọn những biểu hện của cái tôi cá nhân ở một số nhà thơ tiêu biểu. – Tác giả đã có cách diễn đạt khá đặc sắc, thể hiện ở: + Cách dùng từ ngữ giàu hình ảnh (mất bề rộng, tìm bề sâu, càng đi sâu càng lạnh, phiêu lưu trong trường tình, động tiên đã khép, ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta…) + Câu văn ngắn dài linh hoạt, nhịp nhàng, thể hiện cảm xú của người viết. Hình thức điệp cú pháp thể hiện ở một loạt vế câu (ta thoát lên tiên…ta phiêu lưu trong trường tình…ta điên cuồng…ta đắm say…) tạo nên ấn tượng mạnh ở người đọc. + Nghệ thuật hô ứng: ta thoát lên tiên – động tiên đã khép, ta phiêu lưu trong trường tình – tình yêu không bền; ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử – điên cuồng rồi tỉnh, ta đắm say cùng Xuân Diệu – say đắm vẫn bơ vơ. Nghệ thuật hô ứng làm cho các ý quấn bện vào nhau rất chặt chẽ. Câu c. – Bề rộng mà tác giả nói đến ở đây là cái ta. Nói đến cái ta là nói đến đoàn thể, cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Thế giới của cái ta hết sức rộng lớn. – Bề sâu là cái tôi cá nhân. Thế giới của cái tôi là thế giới riêng tư, nhỏ hẹp, sâu kín. Thơ Mới từ bỏ cái ta, đi vào cái tôi cá nhân bằng nhiều cách khác nhau. Câu d. Trước hết, đoạn văn nhắc ta một điều quan trọng: Thơ mới là tiếng nói trữ tình của cái tôi cá nhân. Không nắm vững điều này, khó mà hiểu sâu sắc một bài thơ lãng mạn. Cũng qua đoạn văn trên, ta sẽ biết rõ hơn về nét nổi bật của một số nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới như: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, từ đó, có định hướng đúng trong việc đọc hiểu

24. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! + Biện pháp so sánh: “…là một thanh âm trong trẻo” – Hiệu quả nghệ thuật: khắc họa, ngợi ca nhân cách cao quý của quản ngục. Đây không phải là một cai ngục bình thường, chỉ là do hoàn cảnh mà bị đẩy vào chỗ cặn bã, thực chất ở con người ấy vẫn ngời lên những phẩm chất tốt đẹp. Câu c. Những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân được thể hiện trong đoạn văn: – Cái nhìn đầy lãng mạn nhưng cũng là cái nhìn mang tính thẩm mĩ cao cả của Nguyễn Tuân đối với con người. – Xây dựng nhân vật bằng bút pháp lãng mạn, độc đáo. – Ngôn ngữ trang trọng, mực thước. ĐỀ SỐ 18. CHUYÊN SƠN LA LẦN 1 Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời khi như mặt trăng Lũ chúng tôi từ bàn tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Nhỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi (Mẹ và quả – Nguyễn Khoa Điềm) Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: 1. Đoạn thơ thể hiện suy tư, tình cảm gì của người con? 2. Điệp ngữ “những mùa quả” kết hợp với những hình ảnh “lặn rồi lại mọc” gợi tả điều gì? 3. Hai câu thơ “Lũ chúng tôi từ bàn tay mẹ lớn lên/Còn những bí và bầu thì lớn xuống” được triển khai theo hình thức nghệ thuật nào và có ý nghĩa gì? 4. “Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn…” là một trong những hình ảnh tài hoa nhất của bài thơ. Hãy xác định thủ pháp nghệ thuật mà nhà thơ dùng để xây dựng hình ảnh và ý nghĩa thẩm mĩ của nó. ĐÁP ÁN Đọc đoạn thơ trong bài “Mẹ và quả” và thực hiện các yêu cầu: Yêu cầu chung – Câu này kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu một văn bản thuộc thể thơ trữ tình để làm bài.

25. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! – Đề không yêu cầu đọc hiểu mọi phương diện của đoạn trích, chỉ kiểm tra một số khía cạnh. Cảm nhận của thí sinh có thể phong phú, nhưng cần nắm bắt được tâm tình của tác giả, hiểu được giá trị biểu đạt của tiếng Việt, thấy được tác dụng của biện pháp nghệ thuật được dùng trong đoạn trích. Yêu cầu cụ thể 1. Bài thơ thể hiện suy tư về mẹ đặc biệt là về mối quan hệ mẹ và con (mẹ và quả), mẹ là người gieo trồng trên mảnh vườn cây, “vườn người”; quả và con là thứ thành quả chắt chiu bao công sức của mẹ; Tiếng nói ân tình, bày tỏ niềm biết ơn với công lao, tâm đức của người mẹ 2. Điệp ngữ “những mùa quả” kết hợp với hình ảnh “lặn rồi lại mọc” đồng hiện mùa hoa trái theo thời gian và hình ảnh người mẹ như người gieo trồng, hái lượm tảo tần, chịu thương chịu khó qua năm tháng. 3. Hai câu thơ “Lũ chúng tôi từ bàn tay mẹ lớn lên…” tổ chức theo hình thức đối vừa tương đồng và tương phản (Lớn lên và lớn xuống), tạo ra sự chuyển nghĩa liên tưởng thú vị: Chúng tôi – con cái chính là một thứ quả mà mẹ cũng gieo trồng, chăm sóc tận tụy, hy sinh lặng thầm. Hóa ra mẹ không chỉ là người trồng vườn mà còn là người chăm sóc “cây người ” 4. Hình ảnh “chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn” là kiểu hình ảnh so sánh, ví von dáng bầu bí như giọt mồ hôi mặn của mẹ. Đó là cách hình tượng hóa giọt mồ hôi nhọc nhằn, giọt mồ hôi xanh kết tụ từ những vất vả, hi sinh của mẹ. Câu thơ thầm ca ngợi công lao mà cũng là bày tỏ lòng biết ơn của con với mẹ. ĐỀ SỐ 19. CHUYÊN THÁI BÌNH LẦN 3 Đọc đoạn văn bản rồi trả lời các câu hỏi: Ông đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc sông Đà đã 10 năm liền và thôi làm đò cũng đã đôi chục năm nay. Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy cái cuống lái tưởng tượng. Giọng ông nói ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông. Nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào trong sương mù. Quê ông ở ngay chỗ ngã tư sông sát tỉnh. Ông chở đò dọc, chở chè mạn, chè cối từ Mường Lay về Hòa Bình, có khi chở về đến tận bến Nứa Hà Nội. Ông bảo: Chạy thuyền trên sông không có thác, nó sẽ dễ dại tay chân và buồn ngủ. Cho nên ông chỉ muốn cắm thuyền ở Chợ Bờ, cái chỗ biên giới thủy phận cuối cùng của đá thác sông Đà… Trên dòng sông Đà, ông xuôi ngược hơn trăm lần rồi. Chính tay ông giữ lái đò độ sâu chục lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sâu mái chèo. Trí nhớ ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước, những con thác hiểm trở sông Đà, với người lái đò ấy, như thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc lòng từ dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm than, chấm xuống dòng…

26. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! (Người lái đò sông Đà – Tuyển tập Nguyễn Tuân – NXBVH 2008) 1. Xác định thể loại văn bản và những phương thức biểu đạt của đoạn văn trên. Việc kết hợp nhiều phương thức biểu đạt như thế mang lại hiệu quả gì? 2. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất, có hiệu quả nhất trong đoạn văn. 3. Vì sao ông đò Lai Châu chỉ muốn cắm thuyền ở chỗ biên giới thủy phận cuối cùng của đá thác Sông Đà? Điều đó chứng tỏ ông đò là người như thế nào? 4. Viết từ 3- 5 câu về tình cảm của tác giả với ông đò qua đoạn văn trên? ĐÁP ÁN Đọc đoạn văn bản rồi trả lời các câu hỏi: Câu 1. – Thể loại văn bản: tùy bút. – Những phương thức biểu đạt của đoạn văn: tự sự, miêu tả, biểu cảm. – Việc kết hợp nhiều phương thức biểu đạt giúp nhà văn vừa tái hiện chân thực, sinh động đối tượng, sự việc vừa bày tỏ tư tưởng, tình cảm một cách dễ dàng, hiệu quả, giúp người đọc dễ hiểu, dễ tiếp cận. Câu 2. – Biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất, có hiệu quả nhất trong đoạn văn: biện pháp so sánh. – Tác dụng: Khắc họa ông lái đò với vẻ đẹp từng trải, hiểu biết, thành thạo nghề lái đò và nắm chắc đối tượng chiến đấu của mình. Câu 3. – Ông đò Lai Châu chỉ muốn cắm thuyền ở chỗ biên giới thủy phận cuối cùng của đá thác Sông Đà là vì “Chạy thuyền trên sông không có thác, nó sẽ dễ dại tay chân và buồn ngủ” – Điều đó chứng tỏ ông đò là người gan dạ, quen với việc đối mặt với hiểm nguy, biến những thử thách khó khăn trở thành thuận lợi. Câu 4. Tình cảm của tác giả với ông đò: Nguyễn Tuân khắc hoạ hình tượng người lái đò sông Đà với vẻ đẹp bình dị mà phi thường, như một biểu tượng đẹp của con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước. Đó là một cách nhìn, một cách khám phá và khẳng định vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời đại mới. Ca ngợi hình tương người lái đò sông Đà chính là một cách tôn vinh tài năng, ý chí, nghị lực của con người trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. ĐỀ SỐ 20. CHUYÊN HÒA BÌNH LẦN 2 Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới:

27. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! DẶN CON (Trần Nhuận Minh) Chẳng ai muốn làm hành khất Tội trời đày ở nhân gian Con không được cười giễu họ Dù họ hôi hám úa tàn Nhà mình sát đường, họ đến Có cho thì có là bao Con không bao giờ được hỏi Quê hương họ ở nơi nào Con chó nhà mình rất hư Cứ thấy ăn mày là cắn Con phải răn dạy nó đi Nếu không thì con đem bán Mình tạm gọi là no ấm Ai biết cơ trời vần xoay Lòng tốt gửi vào thiên hạ Biết đâu nuôi bố sau này… a. Hãy cho biết thể thơ và cách gieo vền của bài thơ. b. Ý nghĩa của cách gọi “hành khất” mà không phải “ăn mày” ở câu thơ mở đầu? c. Việc lặp lại: “Con không…Con không…” ở khổ 1,2 thể hiện thái độ gì của nhân vật trữ tình” d. Hãy thử lí giải tại sao người cha lại dặn con: Con không bao giờ được hỏi: Quê hương họ ở nơi nào. e. Những lời chia sẻ trong khổ cuối gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì? f. Đọc bài thơ này, anh/chị có liên tưởng đến bài thơ nào đã học? Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 dòng) bàn về những lời dạy quý giá của cha. ĐÁP ÁN

30. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! b. Chỉ ra phép liên kết được sử dụng trong đoạn văn sau: (0,25 điểm) [1] Có thể nói từ khi cây xanh được trồng trên các tuyến phố, nơi công cộng, vườn hoa, khuôn viên công sở cho đến năm 1945 không chỉ giảm bớt cái nóng mùa hè, không khí thêm trong sạch mà còn làm cho Hà Nội đẹp và lãng mạn hơn. Tuy nhiên, trong 9 năm thành phố bị thực dân Pháp tạm chiếm, các quy định về cây xanh bị chính quyền sao nhãng do chiến tranh, ngân sách bị cắt giảm nên chính quyền đã “xã hội hóa” trồng cây. Nhà nào thích trồng cây gì thì mua về báo cho nhân viên lục lộ đến trồng. Và cây xanh Hà Nội đã không còn như trước… c. Nội dung của văn bản trên đề cập đến vấn đề gì? (0,5 điểm) d. Từ văn bản anh/chị có suy nghĩ gì về giá trị của cây xanh đối với thủ đô Hà Nội? (0,5 điểm) 2. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: Hà Nội và cây… Lê Thống Nhất Hà Nội không còn tiếng ve Không tán cây che hè phố Hà Nội không mùi hoa sữa Ban trưa đổ lửa lên đầu Hà Nội sấu chẳng còn đâu Ngẩn ngơ nỗi sầu con gái Hà Nội gió xe trống trải Nơi đâu sót lại phượng hồng Hà Nội lạnh ngắt đêm đông Con gió chạy không gì cản Hà Nội mùa thu sạch lắm Lá vàng cũng chẳng hề rơi Bao bài hát hay một thời “Xào xạc” thành lời khó hiểu Bao vần thơ vương nhịp điệu Hương thầm vắng thiếu trên tay Bao bức tranh vẽ hôm nay Chẳng còn bóng cây quen thuộc Con hè chỉ còn hàng cột Trên đầu dây buộc ngổn ngang Hà Nội cây non xếp hàng Đồng phục là vàng tâm đấy Tiện lợi và hay biết mấy Khỏi treo biển nói cây gì… Thời gian rồi cũng trôi đi Cây non sẽ thành cổ thụ Đời chắt học theo sách cũ

31. Tài li u ôn thi 10, 11, 12 và k thi THPT Qu c gia: chúng tôi Truy cập http://onthi360.com để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh tốt nhất! Chặt cây mọi phố, lại trồng… (Nguồn: Facebook Lê Thống Nhất) a/ Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm) b/ Ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên có đặc điểm gì? (0,25 điểm) c/ Trong văn bản trên có sự lặp lại nhiều lần của hai từ “không” và “chẳng”. Anh/chị hãy nêu ý nghĩa của hai từ này trong việc thể hiện cảm xúc của tác giả. (0,5 điểm) d/ Từ hai văn bản đã cho, anh/chị hãy viết đoạn văn ngắn trình bày quan điểm của mình về sự kiện cây xanh Hà Nội bị đốn chặt trong thời gian vừa qua. (0,5 điểm) ĐÁP ÁN Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: Câu a. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm. Câu b. Phép liên kết được sử dụng trong đoạn văn: + Phép nối bằng các quan hệ từ: Tuy nhiên, và. + Phép lặp: Lặp lại các từ cây, trồng cây, cây xanh, Hà Nội, quy định,… + Phép thế: Dùng từ “thành phố” thay cho “Hà Nội” Câu c. Nội dung của văn bản trên đề cập đến vấn đề cây xanh ở thành phố Hà Nội xưa và nay: những quy định về việc trồng cây xanh, ưu nhược điểm của từng loại cây, tác dụng của việc trồng cây. Câu d. Suy nghĩ về giá trị của cây xanh đối với thủ đô Hà Nội: + Giảm bớt cái nóng mùa hè. + Làm cho không khí trong lành, góp phần bảo vệ môi trường. + Làm cho Hà Nội đẹp và lãng mạn hơn, làm nên nét riêng, ấn tượng riêng cho đường phố Hà Nội. ĐỀ SỐ 22 . CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH LẦN 1 Phân tích những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ báo chí trong bản tin sau: Cận cảnh khu chung cư sinh viên hiện đại giá 200 nghìn đồng /tháng ở Hà Nội Đây là căn phòng kiểu mẫu có diện tích 45m vuông, trong đó, phòng ở chính 28,5 mét vuông, còn lại là nhà tắm và nhà vệ sinh có thể bố trí cho 6 sinh viên. Mỗi sinh viên chỉ phải trả 215 nghìn một tháng, chưa tính tiền điện nước và phí dịch vụ… Khu nhà ở sinh viên Mỹ Đình nằm trong khu đô thị Mỹ Đình II gồm có 03 tòa nhà cao 21 tầng và 01 tầng hầm, có thể phục vụ nơi ăn ở cho hơn 7 nghìn sinh viên. Đối tượng được thuê gồm học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, không phân biệt công lập hay ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội. (Báo Dân trí, 13/1/2015) ĐÁP ÁN

Mô Tô Điện Cho Bé S1000Rr Tay Ga

Khi nói về dòng mô tô điện trẻ em không thể không nhắc đến mẫu S1000RR thiết kế vô cùng hiện đại. Dựa trên mẫu xe phân khối lớn của người lớn của các tay đua chuyên nghiệp. Một mẫu tay ga chuyên nghiệp được nâng cấp từ các mẫu chân ga trước đây.

Các điểm nổi bật của mô tô điện S1000RR trẻ em:

– Thiết kế theo mẫu xe moto thể thao phân khối lớn với các chi tiết tỉ mỉ và sắc nét. Một sự mới la ấn tượng của mẫu xe này đem lại cho bé và cả người lớn khi vừa nhìn thấy.

– Thiết kế khung nhưa cao cấp và đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng về lâu về dài. Loại nhựa được lựa chọn là nhựa không gây độc hai cho bé trong quá trình dài tiếp xúc với trẻ.

– Yên rộng rãi thoải mái cho bé dòng xe 2 bánh lớn và hỗ trợ 2 bánh nhỏ để giữ cân bằng tuyệt đối. Một trong những điều cần thiết để đem lại một bố cụ hoạt động tốt nhất.

– Cũng giống như các mẫu moto điện trẻ em cơ bản trước. Thì mẫu S1000RR có các nút điều khiển, bật tắt chế độ tiến lùi dễ dàng di chuyển. Mẫu còn trang bị thêm thiết bị âm thanh ngay trên chiếc xe để bé thư giãn kết nối như thẻ nhớ, USB, Mp3…

– Một trong những điều đặt biệt khác đó là mẫu có hỗ trợ đèn Led trước sau để có thể chiếu sáng ở như nơi thiếu sáng. Và cũng đảm bảo được mẫu giống như thật từ mẫu mô tô phân khối lớn người lớn.

– Sở hữu 2 động cơ xe mạnh mẽ với bình sạc lớn 12V cho bé thời gian trải ngiệm trong thời gian lâu dài hoat động mượt hơn.

– Thiết kế mô tô điện trẻ em S1000RR là mẫu mà được nhiều gia đình kỳ vọng với thiết kế tay ga đổi mới hiện nay. Cũng là mẫu xe điện tay ga có giá rẻ dành cho mọi gia đình muốn mua cho đứa trẻ của mình.

Bạn đang xem bài viết 1000 Tap But Truyen Ngan trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!