Xem Nhiều 11/2022 #️ Cổng Điện Tử Công An Tỉnh Vĩnh Phúc / 2023 # Top 20 Trend | Ruybangxanh.org

Xem Nhiều 11/2022 # Cổng Thông Tin Điện Tử Công An Tỉnh Vĩnh Phúc / 2023 # Top 20 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Cổng Điện Tử Công An Tỉnh Vĩnh Phúc / 2023 mới nhất trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Value cannot be null. Parameter name: input

Cổng thông tin điện tử Công an Tỉnh Vĩnh phúc – TIN AN NINH TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG

Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa / 2023

Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hoá là một tỉnh lớn của Bắc Trung Bộ có toạ độ địa lý:

Thanh Hoá có lãnh thổ rộng lớn: 11.129,48 km 2, là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 trong cả nước. Về vị trí địa lý, Thanh Hóa tiếp giáp với các tỉnh và nước bạn như sau:

– Phía Bắc: giáp 3 tỉnh, gồm: Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình với đường ranh giới dài 175km.

Phía Tây: giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDCND Lào với đường biên giới dài 192km.

Thanh hoá nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nước ta. Trong lịch sử nơi đây từng là căn cứ địa vững chắc chống ngoại xâm, là kho nhân tài vật lực phục vụ tiền tuyến.

Tỉnh Thanh Hoá nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Với 102 km đường bờ biển ở đây có thể phát triển hoạt động du lịch, khai thác cảng biển; có đường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt xuyên Việt và sân bay Thọ Xuân. Thêm vào đó, Thanh Hóa có quy mô diện tích lớn với nhiều vùng sinh thái khác nhau.

Đặc điểm về vị trí địa lý trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Thanh Hóa.

Các chấn động uốn nếp làm nảy sinh hiện tượng tạo sơn mãnh liệt. Đoạn uốn nếp Tam Điệp là mốc kết thúc giai đoạn “biển tiến” tạo ra bán đảo Đông Dương. Do vận động địa chất lãnh thổ Thanh Hoá nâng lên thành núi, đồi uốn nếp, xếp nếp, chia khối phân tầng… phức tạp và đa dạng. Trải qua 120 triệu năm chịu ảnh hưởng của chấn động tạo sơn Himalaya, lục địa Thanh Hoá có hiện tượng nâng lên, lún xuống và tiếp tục bị phong hoá. Kết quả là một số núi biến thành đồi, một số vùng biển được lấp đi thành châu thổ phì nhiêu như hiện nay. Cũng do hiện tượng nâng lên lún xuống, mắc ma trào lên mặt đất và đáy biển hình thành nên những loại đá quý, những dãy núi granit.

Địa hình Thanh Hoá khá phức tạp, chia cắt nhiều và thấp dần theo hướng Tây – Đông. Từ phía Tây sang phía Đông có các dải địa hình núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Trong tổng diện tích 11.129,48 km 2 thì địa hình núi, trung du chiếm 73,3% ; đồng bằng 16% và vùng ven biển 10,7%.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành phát triển của địa hình.

Địa hình núi trung du gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn ở phía Nam. Đó là dải địa hình nằm ở rìa ngoài của miền Tây Nam Bắc Bộ đang được nâng lên, tiếp giáp với miền sụt võng là các đồng bằng châu thổ. Đây là những khu vực núi thấp uốn nếp được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau, từ các đá trầm tích (đá phiến, đá vôi, cát kết, cuội kết, sỏi kết…) đến các đá phun trào (riolit, bazan), đá xâm nhập (granit), đá biến chất (đá hoa). Chúng nằm xen kẽ với nhau, có khi lồng vào nhau và điều đó làm cho phong cảnh thay đổi không ngừng.

Địa hình đồng bằng được hình thành bởi sự bồi tụ của các hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên.

Còn dải địa hình ven biển như sau: với các đảo đá vôi rải rác ngoài vụng biển, dòng phù sa ven bờ được đưa ra từ các cửa sông đã tạo nên những trầm tích dưới dạng mũi tên cát cô lập dần những khoảng biển ở phía trong và biến chúng thành những đầm nước mặn. Những đầm này về sau bị phù sa sông lấp dần, còn những mũi tên cát thì ngày càng phát triển rộng thêm, nối những cồn cát duyên hải thành những chuỗi dài chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam dạng xoè nan quạt.

Bao gồm có 3 dạng địa hình: núi và trung du; đồng bằng ven biển.

– Địa hình núi có độ cao trung bình 600 -700m, độ dốc trên 25 0; ở đây có những đỉnh núi cao như Tà Leo (1560 m) ở hữu ngạn sông Chu, Bù Ginh (1291m) ở tả ngạn sông Chu.

– Địa hình trung du có độ cao trung bình 150 – 200m, độ dốc 12 – 20 0, chủ yếu là các dạng đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải. Dạng địa hình này rất đặc biệt, chỉ nhấp nhô lượn sóng và rất thoải.

Dạng địa hình núi và trung du phân bố ở 11 huyện miền núi của tỉnh; là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nông – lâm nghiệp với các loại cây lâm sản và các cây như đậu, chè, lạc, mía… các cây trồng nói trên là cơ sở để phát triển ngành chế biến nông – lâm sản của Thanh Hoá.

– Đồng bằng châu thổ Thanh Hoá được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải dài trên một bề mặt rộng hơi nghiêng về phía biển ở mé Đông Nam. Rìa Bắc và Tây Bắc là dải đất cao được cấu tạo bởi phù sa cũ của sông Mã, sông Chu, cao từ 2 – 15m. Trên đồng bằng nhô lên một số đồi núi có độ cao trung bình 200 – 300m được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau. Còn vùng ven biển phân bố chủ yếu ở các huyện, thị xã: Sầm Sơn, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia. Trên địa hình này có các vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Mã, sông Yên… Vùng đất cát ven biển nằm ở phía trong các bãi cát, có độ cao trung bình từ 3 – 6m, ở phía Nam Tĩnh Gia, chúng có dạng sống trâu do các dãy đồi kéo dài ra biển. Bờ biển của đồng bằng Thanh Hoá là bờ biển phẳng với thềm lục địa tương đối nông và rộng. Trên địa hình ven biển này có nhiều bãi tắm nổi tiếng, như: Sầm Sơn, Hải Hòa, Hải Tiến. Đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Về địa hình của Thanh Hoá rất phong phú, đa dạng; là điều kiện để Thanh Hoá phát triển các ngành nông – lâm – ngư nghiệp toàn diện và cho phép chuyển dịch cơ cấu dễ dàng trong nội bộ từng ngành. Nhiều cảnh quan đẹp kết hợp giữa rừng – biển – đồng bằng là điều kiện để phát triển du lịch, dịch vụ. Độ cao chênh lệch giữa các vùng miền núi, trung du, đồng bằng với nhiều hệ thống sông suối, tạo ra tiềm năng thuỷ điện khá phong phú…

Thanh Hóa có 14 nhóm đất chính với 28 loại đất khác nhau, đặc điểm các nhóm đất chính được giới thiệu trong bảng sau:

CÁC NHÓM ĐẤT CHÍNH CỦA THANH HÓA

Do sự tác động của các nhân tố: vĩ độ địa lý, quy mô lãnh thổ, vị trí trong hệ thống hoàn lưu gió mùa trong á địa ô gió mùa Trung – Ấn, hướng sơn văn, độ cao và vịnh Bắc Bộ mà Thanh Hoá có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với mùa hè nóng, mưa nhiều có gió Tây khô nóng; mùa đông lạnh ít mưa có sương giá, sương muối lại có gió mùa Đông Bắc theo xu hướng giảm dần từ biển vào đất liền, từ Bắc xuống Nam. Đôi khi có hiện tượng dông, sương mù, sương muối làm ảnh hưởng không nhỏ tới cây trồng nông nghiệp.

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22 – 23 0C, song phân hóa rất khác nhau theo từng tháng và giữa các vùng. Chênh lệch về cực trị của nhiệt độ trong năm cũng rất lớn: mùa hè, nhiệt độ tối cao có thể đạt tới 41 0C, song về mùa đông, nhiệt độ có thể hạ thấp xuống dưới 2 0 C ở vùng núi, kèm theo sương giá, sương muối.

Lượng mưa trung bình phổ biến là 1.700mm, song có một số vùng đồi núi, lượng mưa lại rất cao. Ở vùng đồi núi, tốc độ gió tương đối đều trong năm, dao động trung bình từ 1 – 2m/s. Còn ở vùng đồng bằng ven biển, tốc độ gió có thể có sự chênh lệch ở các huyện ven biển vào mùa bão lụt từ tháng 6 đến tháng 11. Do sự chi phối của địa hình và những tương tác với các vùng lân cận mà Thanh Hoá có sự phân dị về khí hậu theo vùng, với 3 vùng khí hậu đặc trưng:

bao gồm các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, phần Tây Bá Thước, Yên Khương của Lang Chánh, Yên Nhân, Bát Mọt, Xuân Khao của Thường Xuân. Nền nhiệt độ nói chung thấp, mùa đông khá rét, nhiệt độ thấp nhất có thể dưới 0 0 C, sương muối nhiều và một số nơi có sương giá với tần suất 1 ngày/1 năm. Khi có sương giá, sương muối làm cho một số cây ăn quả có thể bị chết hàng loạt. Vào mùa hè, lũ có thể xuất hiện vào thời gian tháng 7 – 8.

Mùa hè dịu mát, ảnh hưởng của gió tây khô nóng không lớn, biên độ nhiệt năm nhỏ, lượng mưa, số ngày mưa, mùa mưa khác biệt khá nhiều theo các tiểu vùng. Mùa đông ít mưa. Độ ẩm không lớn lắm (trừ khu vực cao trên 800m mới có độ ẩm lớn và mây mù nhiều). Gió nói chung yếu, tốc độ trung bình từ 1,3 – 2m/s.

Lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm ngư nghiệp. Với chế độ nhiệt ẩm như vậy, đồng thời do sự phân dị phức tạp về địa hình mà Thanh Hoá có nhiều vùng có chế độ vi khí hậu khác nhau, tạo điều kiện phát triển các cây trồng nhiệt đới và cả các cây trồng á nhiệt đới, tạo nên sự đa dạng của hệ thống cây trồng. Tuy nhiên, cũng như các tỉnh vùng núi phía Bắc có mùa đông lạnh, khí hậu vùng núi Thanh Hoá cũng thường xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối, sương giá vào mùa đông, bão, lụt, áp thấp nhiệt đới về mùa mưa và hạn hán về mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Vì vậy, việc lựa chọn cây trồng thích hợp với từng tiểu vùng khí hậu là điều cần thiết.

3.1. Tài nguyên nước

Tài nguyên nước của Thanh Hoá khá phong phú. Tổng lượng nước mưa rơi xuống lãnh thổ hàng năm là 19 tỷ mét khối, lượng bốc hơi trung bình là 9 tỷ mét khối, còn lại 9,7 tỷ mét khối nước sinh ra dòng chảy mặt và 0,3 tỷ mét khối sinh ra dòng chảy ngầm. Hàng năm hệ thống sông đổ ra biển 20 tỷ mét khối nước, trong đó có 9,7 tỷ mét khối nước sinh ra trên lãnh thổ Thanh Hoá còn lại là nước sinh ra ở Tây Bắc và Lào.

Modul dòng chảy mặt trung bình 20,4 – 38 lít/s/km2. Vùng đồng bằng biến thiên từ 20 – 30 lít/s/km2, ở miền đồi núi trên 30 lít/s/km2, lớn nhất là tại lưu vực sông Âm: 38 lít/s/km2. Chất lượng nước mặt khá tốt, trừ vùng hạ lưu vào mùa kiệt do chịu ảnh hưởng của thuỷ triều.

Modul dòng chảy ngầm biến thiên từ 2 lít/s/km2 đến 20 lít/s/km2. Khu vực trung lưu sông Mã có modul dòng ngầm trên 20 lít/s/km2. Nhìn chung, chất lượng nước ngầm tốt, trừ một số khu vực ngoại vi thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn, nước ở tầng mặt đã bị ô nhiễm. Các khu vực cửa sông, ven biển nước ngầm bị nhiễm mặn.

Do nằm ở vị trí trung gian giữa các hệ thực vật Himalaya, Hoa Nam, Ấn Độ – Myanmar, Malaysia – Indonesia và sự tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa trên nền thổ nhưỡng và địa hình khác nhau, Thanh Hoá có hệ thực vật rất phong phú. Rừng Thanh Hoá tập trung một số loại thảm thực vật tiêu biểu sau:

Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng, thường xanh, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài… Gỗ quý hiếm có lát, pơ mu, trầm hương. Gỗ nhóm II có sa mu, lim xanh, táu, sến. Gỗ nhóm III, IV có vàng tâm, dổi, de, chò chỉ… Các loại thuộc họ tre, nứa có luồng, nứa, vầu, giang, bương, tre. Ngoài ra, còn có mây, song, dược liệu, cánh kiến đỏ…

Những kết quả điều tra cho thấy ở Thanh Hoá hệ động vật rừng rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả động vật trên cạn lẫn động vật dưới nước, cả động vật bản địa lẫn động vật di cư đến, cả động vật tự nhiên lẫn động vật do con người tạo ra, v.v.. Thanh Hoá có một số dạng quần cư động vật chính như: quần cư động vật đồng ruộng đồng bằng và đồi thấp; quần cư động vật ở rừng tre, nứa, vầu, giang; quần cư động vật ở rừng cây bụi, trảng cỏ; quần cư động vật ở rừng gỗ và trảng cây; quần cư động vật nước ngọt…

Thanh Hoá có nhiều loài động vật đã được ghi vào sách Đỏ, bao gồm:

– Các loài đang bị tiêu diệt như: nhóm thú voọc mông trắng, voọc vá, voọc đen tuyền, vượn đen bạc má, gấu đen, gấu ngựa, báo mai hoa, hổ, voi, hươu sao, bò tót, sơn dương, trâu rừng; nhóm chim có trĩ, gà lôi; nhóm bò sát, lưỡng cư có rắn hổ mang chúa.

– Các loài sắp bị tiêu diệt: nhóm thú cu li nhỏ, khỉ mặt đỏ, khỉ mốc, khỉ đuôi lợn, voọc xám, báo lửa, báo gấm, cheo cheo nam dương, tê tê, sóc bay; về chim có cò chìa, hồng hoàng; về bò sát lưỡng cư có kỳ đà nước, thằn lằn, rắn hổ trâu, rùa híp, rùa núi vàng, giải. Nhóm động vật không xương sống có trai cóc hình tai, cà cuống; về thú có cầy mực, dơi thuỳ frit, sóc bay lông tai; về chim có bồ nông chân xám, choắt chân vàng lớn, mòng biển mỏ đen; về động vật không xương sống có cua Kim Bôi, cua Cúc Phương. Một số loài khác như tắc kè, rắn cạp nong, rắn hổ mang cũng có nhiều song cũng đang bị săn bắt quá mức nên số lượng suy giảm nhanh chóng…

Tài nguyên Khoáng sản Thanh Hóa

Thanh Hoá là một trong số ít các tỉnh ở nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú và đa dạng, có những tiền đề địa chất khá thuận lợi cho các quá trình tạo khoáng. Kết quả điều tra đến nay cũng đã cho thấy lãnh thổ Thanh Hoá có nhiều loại hình khoáng sản khác nhau, bao gồm:

Ngoài ra, Thanh Hoá còn một số loại khoáng sản khác: thạch anh tinh thể ở Thường Xuân; đá quý như topa, canxedoan, berin ở Thường Xuân; graphit ở Quan Hoá; nước khoáng ở một số điểm thuộc các huyện Thường Xuân, Bá Thước, Lang Chánh và Quan Hoá.

Bản đồ tài nguyên biển Thanh Hóa

Vùng biển Thanh Hoá có diện tích 17.000 – 18.000km2, gấp 1,6 lần diện tích đất liền. Đường bờ biển có dạng cánh cung dài 102km. Bờ biển tương đối phẳng, nhưng bị chia cắt bởi 7 cửa lạch. Các cửa sông đều là những khu vực tự nhiên rất nhạy cảm và có năng suất sinh học cao. Từ Nam Sầm Sơn đến Quảng Xương có inmenhit, trữ lượng 73.500 tấn. Đây là loại nguyên liệu quan trọng để sản xuất que hàn, men sứ. Bờ biển Tĩnh Gia có trữ lượng lớn cát trắng để sản xuất thuỷ tinh. Các bãi triều rộng ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương… là nơi nuôi trồng thuỷ sản. Ven bờ cũng có nhiều đồng muối ở Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia.

Ven biển Thanh Hoá có đảo hòn Nẹ cao, đảo hòn Mê, cụm đảo Nghi Sơn và hàng loạt đảo nhỏ như: hòn Đót, hòn Miệng, hòn Vạt, hòn Góc, v.v.. Diện tích đảo của tỉnh khoảng 800ha. Về mặt tài nguyên và môi trường, có thể xây dựng các khu bảo tồn biển xung quanh các đảo nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học biển đồng thời cũng là cơ sở cho hoạt động du lịch. Với vị trí của mình các đảo này có vai trò tiền tiêu trong việc bảo vệ đất liền song các đảo này cũng chính là điểm tựa để phát triển kinh tế hướng ra biển.

Dải ven bờ biển Thanh Hoá có diện tích bãi triều trên 8.000ha (chưa tính bãi triều 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc mỗi năm bồi tăng thêm từ 10 – 50m) là nguồn tài nguyên lớn về nuôi trồng thuỷ sản nước lợ như tôm sú, tôm he, cua và rong câu… Diện tích nước mặn khoảng trên 5.000ha, phân bố chủ yếu ở vùng đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, cá cam, trai ngọc, tôm hùm dưới hình thức nuôi lồng bè. Ngoài ra với hàng ngàn hecta vùng nước mặn ven bờ, thuận lợi nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ngao, sò, ngán… Đặc biệt là với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, khu kinh tế Nghi Sơn đã và đang được xây dựng (theo Quyết định 102/2006 của Thủ tướng Chính phủ) với nhiều hạng mục công trình lớn như: cảng nước sâu, nhà máy xi măng, sân bay… sẽ mở ra nhiều hướng phát triển mới cho dải ven biển nói riêng cũng như cho cả tỉnh nói chung./.

(Ban Biên tập – Sưu tầm và biên soạn)

Danh Nhân Xứ Thanh Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa / 2023

Tự là Bá Đạt, hiệu Mai Phong, quê làng Phủ Lý, nay thuộc huyện Thiệu Hóa, làm quan đời nhà Trần đến chức Thượng thư (1366).

Tác phẩm ông chỉ còn lại 7 bài thơ, và một bài văn bia. Ông cực lực công kích Phật giáo, đề cao Nho học.

Đương thời, và cả sau này nữa, ông và ông Phạm Sư Mạnh rất được đề cao. Phong cách và tài năng Lê Quát và Phạm Sư Mạnh khiến mọi người ca ngợi.

Con trai Lê Quát là Lê Giốc đỗ Tiến sĩ năm 1334, đánh trận Chiêm Thành, bị bắt, chửi giặc mà chết, được phong là Mạ tặc Trung Vũ hầu.

Có hiệu là Mai Trai, người làng Hải Lịch, huyện Lôi Dương, nay là thôn Đông Phương Hồng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Xuất thân là một thầy giáo nông thôn, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu, có tên trong 18 người dự hội thề Lũng Nhai. Ông cùng với Nguyễn Trãi, là mưu thần của Lê Lợi, có công trong sự nghiệp giải phóng đất nước, được phong tước Khánh Thượng hầu, giữ chức Nhập nội Thiếu phó. Ông có tham gia chiến dịch, cùng Lê Bôi đi đánh Cầm Quí ở châu Ngọc Ma (1435) được toàn thắng.

Lê Văn Linh là người cứng cỏi, thẳng thắn làm quan ba đời vua Lê Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông. Khi Lê Sát bị giết, chỉ có ông dám can ngăn, mặc dầu vì thế mà bị giáng chức. Sau này, ý kiến của ông là đúng.

Gia đình Lê Văn Linh có truyền thống văn học và tham gia chính sự. Các con ông: Lê Hoằng Dục là một nhà thơ, là bạn xướng hoạ với Lê Thánh Tông, có đi sứ Trung Quốc. Lê Cảnh Huy và Lê Năng Nhượng đều làm quan đến Quốc công.

Nhân dân địa phương vẫn truyền tụng về Lê Văn Linh với tư cách là một thầy giáo. Đa số thanh niên được ông dạy dỗ đã trở thành tướng tài hoặc binh sĩ trong trại Lam Sơn. Vào Như Áng với Lê Lợi, ông cũng được giao việc dạy dỗ con cháu các gia đình nghĩa sĩ. Khi nhà Lê mở nước, tổ chức khoa thi, ông được cử làm Đề điệu (chủ khảo) cùng chấm với Nguyễn Trãi, lấy Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên (1442). Văn bia viết về ông còn cho biết là Nguyễn Trực, Lương Thế Vinh (?) đều là học trò của ông cả.

Có lẽ ông thuộc dân tộc Mường, người thôn Dựng Tú, nay là xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tham gia khởi nghĩa với Lê Lợi, đã tự nguyện thay Lê Lợi ra trận và hy sinh.

Lê Thánh Tông gọi gia đình Lê Lai là “toàn gia trung hiếu”. Ba người con trai của ông đều hy sinh: Lê Lư tử trận ở Nghệ An (1425), Lê Lộ ở Trà Lân (1424), con út là Lê Lâm đánh Ai Lao bị trúng tên. Cháu nội của ông (con trai Lê Lâm) là Lê Niệm là một trọng thần, tài kiêm văn võ.

Ông là người anh thứ hai của Lê Lợi, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, là một dũng tướng xuất sắc. Suốt ba triều vua, đi đánh dẹp từ Thái Nguyên đến Đồ Bàn đều khải hoàn rực rỡ.

Ông còn là một nhà chính trị có biệt tài. Năm 1430, được cử vào trấn ở Châu Hoá, bãi trạm gác, bỏ sự nghiêm ngặt, chiêu mộ dân lưu tán, khuyên bảo làm ruộng, trồng dâu. Năm 1443, làm Đốc trấn Nghệ An, dân chúng đều mừng xem việc ông đến là trời giáng phúc cho dân. Năm 1447, vào đánh Đồ Bàn, khi tiến đến cửa Thi Nại, quân Chiêm hỏi: “Có phải ông Tư Mã đấy chăng?”. Ông tiến ra, cất mũ cho tướng Chiêm nhìn rõ mặt, thì tất cả tướng tá và binh sĩ đối phương đều hạ khí giới đầu hàng.

Ông là cháu nội của Lê Lai, con của Lê Lâm, do chân ấm tử được làm việc trong triều, dần dần đảm đương nhiều việc lớn. Năm 1449, làm an phủ phó sứ An Bang, giữ gìn biên trấn vững vàng. Ông cũng có công, đánh Chiêm Thành, bắt được Trà Toàn ở Đồ Bàn, Trà Toại ở Quảng Nam. Năm 1480, lại đi đánh Bồn Man, đuổi Cầm Công, thanh thế lẫy lừng.

Ông có công lật đổ Nghi Dân, tôn Lê Thánh Tông lên ngôi, rồi được làm quan đến Bình chương quân quốc trọng sự (1468).

Lê Niệm có trình độ học vấn uyên bác, thường xướng hoạ thơ với Lê Thánh Tông. Năm 1463, phụ trách trường Quốc Tử giám; năm 1464, là đề điệu (Chánh chủ khảo) kỳ thi Hội.

Ông cũng được dân chúng ngoài tỉnh Thanh thờ làm thành hoàng (như ở làng Phượng Trì – Ninh Bình, quê hương của Vũ Phạm Khải).

Ông người làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương, nay là huyện Thọ Xuân. Không rõ công phu học hành, chỉ biết là từ lúc trẻ đã ra giúp Trịnh Kiểm để khôi phục nhà Lê, làm quan đến Thị lang. Năm 1570, lại giúp Trịnh Tùng chống lại Trịnh Cối, chuyển sang chức Đô ngự sử khi đánh thắng Mạc, ông được thăng Thượng thư bộ Lại rồi thiếu phó Quỳnh quận công.

Ông có tài chính sự, phụ trách nhiều bộ: Công, Hộ, Lại, Binh, giải quyết được nhiều việc khó khăn cho triều đình. Ông đã chủ trì kỳ thi Hội, lấy Nguyễn Thực đỗ đình nguyên hoàng giáp, cùng với 5 người đồng khoa, được dư luận khen là biết chọn nhân tài.

Quê làng Bột Thái, nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, Bùi Khắc Nhất là con trai cả giám sinh Bùi Doãn Hiệp và mẹ là bà Đỗ Thị Sy.

Mồ côi cả cha mẹ từ sớm, ông được học trò của cha nuôi nấng. Cả hai anh em chăm chỉ học tập, đỗ Hương cống, rồi đỗ Bảng nhãn năm 33 tuổi. Được vua Lê tín nhiệm, ông giữ nhiều trọng trách trong triều, lên đến Hộ bộ rồi Binh bộ Thượng thư. Có câu đối khái quát được cuộc đời và sự nghiệp:

Bốn mươi năm làm quan, trải ba triều, sáu bộ, ở con người ông luôn rạng toả một nhân cách lớn. Ông ghét thói xu nịnh nạn tham nhũng, hối lộ, luôn giữ cho mình một cuộc sống trong sạch. Nhiều việc làm của ông còn để tiếng thơm.

Ông nổi tiếng vì đức tính thanh liêm: trả lại đôi hoa tai người cùng huyện đem đến hối lộ, khước từ vàng lụa quà cáp, rất công bình xét đoán không để nạn nhân bị hàm oan. Ông có câu nói rất hay: “Mệnh con người rất trọng, phép nước không được để tư tình mà can thiệp vào công lý”.

Ông được nhân dân địa phương thờ làm phúc thần. Đầu thế kỷ, truy tặng là thượng đẳng thần.

Người xã Cổ Định, nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn. Đỗ Hoàng giáp (1598), làm quan đầu đời Lê Trung Hưng, có đi sứ Trung Quốc (1608), rồi làm đến Thượng thư bộ Binh. Khi mất tặng tước Thái bảo, Diễm quận công.

Ông có tài chính sự, luôn luôn đưa ra những phương sách, đề nghị nhà vua, nhà chúa (lúc này là Trịnh Tùng) chấn chỉnh việc cai trị. Liên tiếp nhiều năm, ông có các bản điều trần. Năm 1610, đề nghị chính sách đối với các tù trưởng vùng biên giới, không cho chuyên quyền. Năm 1615, cùng với Lưu Đình Chất, dâng khải xin không tuyển thêm binh lính để yên lòng dân. Năm 1618, lại cùng Ngô Tri Hoà đề xuất 6 vấn đề với nhà Chúa:

Người làng Quỳ Chử, huyện Hoằng Hoá. Đỗ Đình nguyên Hoàng Giáp (1607), làm chánh sứ sang Trung Quốc, tước Phúc quận công, khi mất, truy tặng Thiếu sư.

Ông có tài chính sự, thường đề xuất ý kiến với nhà Chúa định kế hoạch yên dân. Năm 1615, cùng với Lê Bật Tứ dâng khải xin đình chỉ việc tuyển binh. Năm 1618, lại dựa vào nhiều tai dị để phê bình những người cầm quyền cay nghiệt, vơ vét hết của cải của nhân dân. Năm 1623, ông phát hiện được âm mưu của nhóm Trịnh Xuân, Trịnh Đỗ toan gây bạo loạn, nên đã giúp cho Trịnh Tráng ổn định được tình hình.

Người làng Thượng Cốc, huyện Lôi Dương, nay là vùng Cốc, huyện Triệu Sơn. Đỗ chế khoa hàng nhất giáp (1577) làm quan đời Lê Trung Hưng, dần dần đến Thượng thư bộ Lại, tước Vân Dương hầu.

Ông giúp Vua, Chúa dẹp loạn, giữ gìn pháp độ trong triều. Với tính tình ngay thẳng, nổi tiếng là cương trực, được người đương thời ca ngợi.

Ông còn là người thanh liêm đức độ. Làm quan tể tướng mà khi về hưu, nhà vẫn thanh bần, không có của dư. Gia đình ông cũng được khen là một gia đình văn hoá. Ông nội và chú ruột cũng đỗ Tiến sĩ đồng khoa (1499).

Quê làng Vạn Hà, huyện Thụy Nguyên, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá. Đỗ Tiến sĩ (1667) làm quan thời Lê Trịnh, trải các chức Ngự sử, Thị lang rồi đến chức Tham tụng (Tể tướng). Khi mất, tặng tước Quận công.

Ông nổi tiếng là người giản dị, khoan hoà đức độ, được nhân dân quí mến. Nên đã có câu:

Dân gian cũng đồn đại câu hát:

Là chỉ vào lòng ái mộ của dân chúng đối với ông, khi ông từ nơi trị nhậm trở về nghỉ ở quê nhà.

Người làng Vàng, huyện Yên Định. Đỗ Bảng nhãn (1724) làm quan cả hai ban văn võ đến chức Tham tụng. Ông có tài chính sự, đã làm Đốc đồng Sơn Nam, Đốc trấn An Bang, phòng sát sứ Tây đạo, Nam đạo. Đã giữ chức Đại tướng, dẹp loạn ở biên trấn Thanh Hoá, lại về phụ trách các bộ Hộ, bộ Binh, kiêm coi việc ở Quốc tử giám.

Ông còn nổi tiếng về đức độ, là người có “bụng dạ thản nhiên, rộng rãi, không câu nệ việc nhỏ nhặt”. Năm 65 tuổi (1760) về hưu, dạy học trò đỗ đạt rất nhiều. Ông dựng nhà ở bến sông, ngày ngày đọc sách, uống rượu đàm đạo với bạn già, không nghĩ gì đến chức tước cao sang của mình. Người đương thời ca ngợi ông: “Là bậc nguyên lão nhưng vẫn nhường bọn tuổi trẻ. Mọi việc làm xong cả, nhưng đến lúc thịnh, thì nhường cho người sau”.

Cuối đời, ông lại được chúa Trịnh mời ra, đặt vào bậc Ngũ lão trong nước. Khi mất, tặng hàm Thái phó. Học trò ông có người nổi tiếng như Thám hoa Phan Kính.

Tài liệu cũ cho biết ông là người ở huyện Cẩm Thuỷ, theo chúa Nguyễn vào lập nghiệp ở Đàng Trong, có mơ ước được thành thạo nghề kim hoàn. Ông xin với chúa Nguyễn Phúc Khoát, giả dạng là người Hoa chạy theo làn sóng di cư, để được làm một người hầu hạ trong nhà một chủ hiệu kim hoàn người Tàu. Một thời gian bí mật học được kỹ thuật rồi, ông trở về với Chúa Nguyễn.

Chúa cho ông mở một cửa hàng kim hoàn ở làng Kế Môn (Phong Điền) thuộc tỉnh Thừa Thiên ngày nay. Vừa là cửa hàng buôn bán, vừa là nơi dạy nghề cho người dân Đàng Trong. Từ đó nghề này mới được mở mang.

Nhà Tây Sơn nổi lên. Vua Quang Trung lập ngành ngân tượng. Cao Đình Độ theo về, được phong chức Lãnh binh. Người Phó lãnh binh lại là con trai ông, tên là Cao Đình Hương. Khi Gia Long lên ngôi, hai cha con ông vẫn được thu dụng, cho đến khi ông Độ mất năm 1810, thọ 75 tuổi. Năm 1821, ông Hương cũng qua đời.

Học trò của hai ông ở khắp các tỉnh miền Nam, thờ các ông làm đệ nhất, đệ nhị tổ sư. Nhà thờ tổ sư gọi là nhà thờ Kim Hoàn, hiện nay ở phường Phù Cát (Huế).

Người xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, đỗ Hương cống (1809), làm quan nhiều nơi, rồi về triều lên đến chức Thượng thư. Ông cũng có quân công, làm chức Tham tán dẹp loạn Quách Tất Công ở Ninh Bình. Từ đời Thiệu Trị là Cơ mật viện đại thần, kiêm Tổng tài Quốc sử quán. Khi mất truy tặng Thiếu bảo, Văn minh điện đại học sĩ.

Người làng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, đỗ Thám hoa (1843), là vị Thám hoa đầu tiên của triều Nguyễn.

Nhiều người thương tiếc ông. Phạm Văn Nghị làm thơ điếu, có câu:

Người xã Lộc Tiên (nay là Hải Lộc) huyện Hậu Lộc. Có học chữ Hán, sớm giác ngộ, đi ra nước ngoài từ thời còn trẻ, hoạt động nhiều năm ở Trung Quốc thuộc nhóm yêu nước tiến bộ trong Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Bị địch bắt giam nhiều lần ở nhiều nhà tù khác nhau.

Nét văn hoá nơi ông là ông sáng tác nhiều thơ ca yêu nước và cách mạng. Ông có vinh dự là được nhà cách mạng Hồ Chí Minh làm thơ tặng ở Trung Quốc (1943), nói lên tình đồng chí và ý thức cách mạng nhất trí giữa hai người. Sau Cách mạng 8-1945 ông là đại biểu Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ 1954, vì già yếu, về an dưỡng ở Hà Đông.

Ông tiêu biểu cho lớp nhà Nho tân tiến, từ chủ nghĩa yêu nước và tư tưởng Khổng giáo đến với chủ nghĩa xã hội, đóng góp nhiều cho sự nghiệp hoạt động Cách mạng Việt Nam ở nước ngoài. Có những mẩu chuyện về ông lưu hành như giai thoại. Người ta trầm trồ về một nhà Nho cách mạng, có tên là ông Tú Đắc, để lại đôi guốc và bộ quần áo bên bờ Sông Mã, đánh lạc hướng kẻ thù và thoát hiểm an toàn. Người ta vẫn nhắc với nhau những câu thơ kêu gọi đoàn kết được mệnh danh là “Lời kèn thân ái”:

Ông gây được tín nhiệm lớn với các đồng chí, đồng sự, rất có ý thức xây dựng quê hương, không muốn đặt mình vào vị trí cao, mà luôn luôn bám sát cơ sở. Ông có phong độ ung dung, hoà hợp được với mọi người, thể hiện nhân cách văn hoá đằm thắm, gây được cảm tình.

Điều khá đặc biệt là ông không thực chuyên về mặt văn hoá, không đi vào nghiên cứu, làm thơ ít, mà đều là những lời thơ chân thật, bộc lộ sự trung thành và những câu ca dao xuất sắc, gây ấn tượng dồi dào:

Trong giới tuồng chèo, người ta thường dùng tiếng Cả để chỉ vào những người diễn xuất sắc trong gánh hát. Nguyễn Ốn khi mới 26 tuổi đã được gọi là anh Cả, và vào 30 tuổi đã được gọi là bác Cả. Vì vậy tiếng tăm Cả Ốn trở nên quen thuộc khắp vùng. Ông thân sinh ra Cả Ốn là cụ Hai Lý, làng Quỳ Chử, xã Hoằng Quỳ (Hoằng Hoá) dẫn đầu một gánh hát riêng ở làng, đi biểu diễn khắp nơi trong huyện. Cậu bé Ốn học được nghề cha và được nhiều người bạn của cha bày vẽ, sớm đóng được những vai tuồng hát hay, múa dẻo. Ông trở thành một diễn viên Tuồng, tham gia nhiều gánh hát trong các huyện như gánh ông Bát Liễn, ông Ba Vân rồi vào các rạp lớn ở Thanh Hoá. Sau đó đi nhiều nơi ngoài tỉnh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông vào đội tuồng chèo Liên khu IV phục vụ bộ đội; đã được Thiếu tướng Nguyễn Sơn rất trân trọng khuyến khích. Từ 1954, ông vào đội văn nghệ trực thuộc Ty Văn hoá Thanh Hoá rồi làm Phó đoàn kiêm đạo diễn đoàn Tuồng Thanh Quảng (1963) đến năm 1967 thì về hưu. Năm 1993, ông được phong tặng là Nghệ sĩ Ưu tú (sau khi đã mất).

Cả Ốn ham học, ham diễn, rất tâm huyết với nghề, đã đóng nhiều vở xuất sắc, thành công với những kép trắng, kép đỏ, kép xéo của tuồng. Ông nắm vững các tuồng thầy, tuổng cổ và cũng có khả năng xử lý ứng diễn trong những vở diễn. Ông có công đào tạo nhiều diễn viên tuồng chèo cho các đoàn văn công chuyên nghiệp và nghiệp dư trong tỉnh.

Tên thật là Nguyễn Đắc Giới, quê ở Bút Sơn, Hoằng Hoá. Đỗ Thành chung, làm thợ, được kết nạp Đảng, hoạt động ở Hà Nội. Năm 1944, bị bắt giam ở nhà lao Hoả Lò rồi vượt ngục. Phụ trách in ấn báo Hồn Nước của Thanh niên cứu quốc. Sau 1945, công tác ở báo Sự Thật rồi vào quân đội, là người sáng lập báo Thủ Đô, báo Vệ quốc quân. Tham gia các chiến dịch ở mặt trận Việt Bắc từ năm 1947 đến 1950. Bị máy bay địch bắn ngày 16 – 12 – 1950.

Cùng với cách mạng những hình ảnh mới, con người và nét sống mới đã xuất hiện trong xã hội Việt Nam. Nhà văn của thời đại mới phải nhạy cảm, nắm bắt được yêu cầu ấy. Lúc này, văn học Việt Nam dồi dào nhất là thơ và ca dao. Thôi Hữu xuất hiện, trung thành với sự phản ánh cuộc sống kháng chiến, với người bộ đội, người dân thường ở các làng mạc, xóm thôn, không đi vào các mảng đề tài khác. Những việc, những người, những tâm trạng của anh bộ đội cứ hiện ra, giản dị mà thấm thía. Thôi Hữu cứ nói sự thực, chân thành và thiết thực, không có cái say sưa bát ngát của xúc cảm lãng mạn.

Và vì thế ta thấy con người bình thường trong thơ Thôi Hữu: những cô lái đò, những người dân công cũng hiện ra một cách thực thà và cảm động. Ông đã xuất phát từ lòng thương mến và niềm thông cảm, nên đã nói thực, không cần hoa lá gì. Thôi Hữu không gây ngạc nhiên, không tìm mơ mộng, là con người thật đi vào cuộc sống thật. Thôi Hữu chưa vươn lên được tầm cao. Ông mất sớm, nhưng đã là một nét mới trong Văn hoá Việt Nam lúc bấy giờ.

Ai cũng biết, những huyền thoại và cả các giai thoại nữa, chủ yếu là những tư liệu không thể đem giám định theo phương pháp lịch sử. Nhưng phần lớn chính các loại tác phẩm này thường cung cấp cho chúng ta những ấn tượng sinh động nhất về xã hội và về con người. Có thể đây là những hiện tượng có cái lõi sự thật nào đó, được cảm quan nghệ thuật tôn vinh và có một giá trị phản ánh nhất định. Ở Thanh Hoá, những gương mặt lấp lánh sau các huyền thoại và giai thoại rất nhiều. Xin tạm kể ra một số gương mặt quen thuộc nhất.

Không biết bà là vị thần như thế nào. Chỉ thấy làng Triều Dương (nay thuộc xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương và Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn thờ làm thành hoàng tôn là Thánh tổ (hay Thánh mẫu). Truyền thuyết nói bà có nhiều phép mầu, đã thi tài với thần Độc Cước, được thắng lợi. Thần Độc Cước phải nhận bà là chị. Khi làng tổ chức hội xuân, kiệu bà bao giờ cũng đi trước.

Bà đã dạy cho dân làng biết kéo sợi, dệt súc. Dệt súc trở thành nghề chính, nghề truyền thống của dân làng.

Hoàng Quang Hưng là người Trung Quốc. Từ đời Triệu Đà (?) ông sang Việt Nam, đến đất Cửu Chân dạy cho người địa phương là Trương Trung Ái làm nghề gốm. Các ông có kỹ thuật làm bàn xoay, cối xay để luyện đất và dập chum vại. Sau đó, hai ông lại ra vùng huyện Thanh Lâm (Hải Dương) mở lò. Dân Lò Chum (ở thành phố Thanh Hoá) thờ hai ông làm tổ nghề.

Thần tích làng Mai Động (thành phố Hà Nội) nói là ông sinh năm Canh Dần (năm 22 trước Công Nguyên), chính quê ở Cửu Chân, có tài võ nghệ. Ông đến Mai Động mở lò võ dạy dân, rồi thầy trò cùng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Làng thờ ông làm Thành hoàng. Các thế hệ sau tôn ông làm tổ ngành Vật ở Việt Nam.

Người họ La ở huyện Nga Sơn, tôn La Viện là thuỷ tổ, nhưng chưa rõ ông sống vào thời gian nào. Có ý kiến cho ông ở dưới triều nhà Lý, đã có tài dẹp sóng giúp vua. Vua Lý hành quân đường biển bị sóng to gió lớn, có cơ nguy đến binh thuyền. La Viện đã xuất hiện lướt mình trên biển cả. Tay áo trắng của ông phất lên, những đợt sóng hung dữ đều phải nép rạp cả xuống. Nhà vua đã phong ông là Áp lãng chân nhân (vị tiên có tài dẹp sóng).

Ông không phải là người chính quán xứ Thanh, nhưng tên ông đã gắn bó vĩnh viễn với Thanh Hoá.

Ông được xem là xuất hiện vào cuối đời Trần, làm quan đến chức Tri huyện nhưng lại bỏ đi sống cuộc đời thoát tục. Ông đã đến một cái động ở huyện Nga Sơn bây giờ, được gặp và kết hôn với tiên nữ Giáng Hương, sống một năm hạnh phúc. Nhưng khi nhớ nhà, ông đòi về làng cũ thì quê hương đã đổi khác, vì một ngày trên tiên bằng một trăm năm dưới trần. Ông muốn trở về cõi tiên thì không được nữa, đành đi phiêu bạt rồi mất tích trong núi Hoàng Sơn. Câu chuyện phổ biến cả miền Bắc và tỉnh Thanh Hóa. Tại Bắc Ninh có núi Tiên Sơn, tại Thanh Hoá có động Bích Đào, tên nôm là hang Từ Thức. Câu chuyện đã trở thành đề tài cho nhiều nguồn cảm hứng. Có cả những ca dao về ông, được lưu hành đến bây giờ:

Nhưng các nhà thức giả lại lấy hiện tượng này làm một bài học nhân sinh quan. Lê Quí Đôn có ý kiến rất sâu sắc:

Những gương mặt huyền thoại và giai thoại như vậy, còn có thể kể được nhiều hơn, nhất là khi ta tìm trong kho tàng Folklore phong phú. Song ta có thể lưu ý về một số gương mặt đậm nét hơn, sắc thái Thanh Hoá có phần rõ rệt hơn tất cả. Theo dòng thời đại, có thể nhận ra 6 gương mặt sau đây.

Không thể khẳng định Lang Cun Cần là con người có thực, hay là một nhân vật huyền thoại, một nhân vật cổ tích. Nhưng Lang Cun Cần đã luôn luôn là một hình tượng đậm đà, được trìu mến và được tôn vinh trong lòng nhân dân Mường ở Thanh Hoá. Ở vùng dân tộc Kinh, ta thờ phụng Lạc Long Quân, Hùng Vương, dù biết chắc đó là huyền thoại, nhưng ta vẫn trân trọng là vị tổ của dân tộc, của quê hương Việt. Ở Thanh Hoá, Lang Cun Cần cũng được giành niềm trọng thị như vậy.

– Ông hỏi kinh nghiệm của con Rùa để làm nên nhà cửa.

– Ông cho người đi tìm lửa. Chuyện những bề tôi của ông gặp Thần Lửa phản ánh rất đúng nhu cầu cần lửa của thời cổ đại.

– Ông nhờ được nữ thần Nàng Dặt cái Dành xin được các giống lúa nhà, lúa rẫy, mở mang việc canh nông, ruộng rẫy cho dân chúng. Vị nữ thần này còn gặp các bà tổ nuôi lợn, nuôi gà, xin giống về cung cấp cho mường.

– Ông cho người đi tìm được trâu, thuần hoá trâu rừng thành trâu nhà.

Bấy nhiêu hành động, sáng kiến cho ta cảm tưởng rằng Lang Cun Cần là một ông tổ văn hoá của dân tộc Mường. Có ông mới có ruộng vườn, có chăn nuôi, có sự sống. Ông phải trải qua nhiều chặng đường gay go, gặp những khó khăn nhất định, nhưng dần dần đã ổn định được một cuộc sống có văn hoá. Tiếp đó Sử thi còn cho thấy Lang Cun Cần đã cùng các con cháu giải quyết những vấn đề hôn nhân, những bất hoà trong nội bộ. Khi mọi việc yên ổn, đã dựng được lâu đài nguy nga tráng lệ, dẹp yên được những phản ứng giữa dân chúng với nhà Lang hoặc trong nội bộ anh em nhà Lang, thì Lang Cun Cần qua đời. Con ông là Lang Cun Khương được nối nghiệp, được lo xống áo, kiệu ngai và thành vua. Dân chúng rước vua về Đồng Chì Tam quan Kẻ chợ.

Trước hết là ở ý thức về bản thân mình: tin tưởng về khả năng của mình có thể tự tạo nên cuộc sống. Người xưa không dám nghĩ đến điều đó, nên đã ghép cho An Tiêm cái lý luận về thuyết tiền thân và thuyết thượng đế, khiến cho nhà vua tức giận, nghe lời ton hót mà đày chàng ra biển khơi. Thực ra thì vấn đề không phải là tiền thân, mà là tự thân. Phải chăng ở xứ Thanh này, ngay từ thời Hùng Vương (hãy cứ tin như thế) đã lộ ra một quan niệm nhân sinh như thế.

Mai An Tiêm còn có công khai phá ra được một vùng quê mới. Vùng đất ấy là một đảo hoang. Truyện cổ tích không cho biết được nhiều chi tiết, sử sách cố nhiên không thể nói đến, nhưng ta có thể hình dung, tưởng tượng đến cái quá trình làm sao cho miền sương cát mù khơi này có thể biến thành xóm làng trù phú xanh tươi, và nhất là thành một cảng thị sầm uất. Với vợ chồng An Tiêm, cuộc sống ở đây đã kết trái nở hoa và rất đặc biệt là đã tạo nên được sự giao lưu thông thương trên biển cả. Trong kho tàng văn hoá dân gian Việt Nam, chỉ có hai câu chuyện cho ta một số tín hiệu về việc đổi chác hàng hoá, thông thương bằng con đường biển. Ấy là chuyện vợ chồng Chử Đồng Tử và đây là vợ chồng An Tiêm. Rõ ràng hai cặp vợ chồng này đã là những anh hùng văn hoá sớm nhất của đất nước ta trong lĩnh vực này. Dù họ không có thực, thì họ vẫn là những biểu tượng đẹp đẽ và đầy ý nghĩa. Vợ chồng Chử Đồng Tử, còn có sự trợ giúp của Phật, của Tiên, chứ vợ chồng Mai An Tiêm thì có bàn tay khối óc của mình. Đó là thêm một nét độc đáo nữa.

Tiểu sử hành trạng của Lê Phụng Hiểu ai cũng đã rõ. Và chắc có người ngạc nhiên khi thấy xem ông là một gương mặt văn hoá của xứ Thanh. Thực ra, ông rất xứng đáng với danh hiệu ấy.

Đến khi đi vào huyền thoại, Lê Phụng Hiểu lại trở thành một nhân vật, một hình tượng đặc sắc. Ông xuất hiện ở thế gian này vào thế kỷ thứ XI, lúc thần thoại đã lùi vào dĩ vãng. Vậy mà dân gian đã tô điểm cho ông thành một hình tượng thần thoại mới, một nhân vật khổng lồ như ở thời kỳ tiền sử, cổ sử xa xôi:

– Ông có tài ăn khoẻ như Thánh Gióng ngày xưa. Cơm cà giành cho hàng trăm người mà một mình ông ăn hết.

– Ông có tài nhổ cây, đánh cọp như các chàng dũng sĩ có thần lực ngày xưa.

– Ông đã chiến thắng một thần núi ở bên Trung Quốc sang. Đó là ông thánh Cưu Sơn. Thánh Cưu thua phải nhận ông Bưng là anh. Ông lại đánh ngã một lực sĩ tên là Vồm chết hoá thành núi Vồm ở huyện Thiệu Hoá bây giờ.

Như vậy, rõ ràng là Lê Phụng Hiểu đã được đi vào truyền thuyết dân gian và giữ một vị trí quan trọng. Đây là thần tượng khổng lồ, hào quang của thời cổ đại, lóe lên như ngọn đèn cạn dầu trước khi tắt hẳn.

Chính vì vậy, mà Lê Phụng Hiểu đã trở thành một vị thánh. Tại Hoằng Sơn quê ông, người ta gọi là Thánh Bưng. Ở Hoằng Quỳ cách đó không xa, người ta gọi là Thánh Tến. Hàng năm, đền Thánh Tến mở hội. Loại hình nghệ thuật được sử dụng để thờ thần là một hình thức diễn xướng đặc sắc: Chèo Chải. Chèo chải chủ yếu gắn với ông Bưng; Có rất nhiều điệu hát, điệu múa và các bài thơ để “mừng công đức Thánh Tến”.

Cho đến hôm nay vẫn chưa xác định được Phương Hoa là người có thực hay chỉ là một nhân vật truyện nôm. Cứ theo truyền văn (và có cả di tích thực địa) thì ở Hậu Lộc có họ Trần, ở Hoằng Hoá có họ Tào, ở Thạch Bàn có mả Thị Trinh. Nhưng sử sách lại không thấy ghi.

Nói riêng về nhân vật Phương Hoa. Con người rất xứng đáng được ngưỡng mộ. Nàng hoàn toàn là hiện thân của tấm lòng thuỷ chung, son sắt hiếm có ở đời. Phương Hoa đã vượt lên trên tất cả mọi thử thách gay go. Hành động của Phương Hoa cũng không phải vì thanh danh, nề nếp của nhà họ Trần. So với những con người tiết hạnh xưa nay, Phương Hoa đã vượt quá xa, bóng trùm lên tất cả.

So sánh với Mạnh Lệ Quân, cũng chung thuỷ, cũng giả trai, cũng đạt tới vinh quang cao nhất ở triều đình, nhưng Phương Hoa phải giải quyết những vấn đề rất thiết thực, rất cụ thể trong cuộc sống bình dị tối tăm ở nông thôn. Người yêu của Phương Hoa tuy cũng thuộc dòng dõi nhà quan, nhưng không đến mức quý tộc như chàng trai họ Hoàng, việc bi đát xảy ra là việc hàng ngày nông thôn Việt Nam xưa thường chứng kiến: quan lại tham nhũng, trộm cắp nhiễu nhương. Phương Hoa không ra làm quan đầu triều như Mạnh Lệ Quân, nàng cũng không luyến tiếc địa vị cao sang như cô tài nữ bên Trung Quốc. Câu chuyện có những nét tương đồng, nhưng hình ảnh Mạnh Lệ Quân không phải là hình ảnh mà người phụ nữ Việt Nam gần gũi, xem đó là bóng dáng của chính mình. Phụ nữ Việt Nam phải là Phương Hoa, với tất cả những phẩm chất đảm đang trung hậu. Đảm đang trung hậu một cách bình dị, phóng khoáng, chứ không nhuộm màu quý tộc, siêu nhân. Cô không những làm vinh dự cho phụ nữ Việt Nam, mà cho cả văn hoá Việt Nam, trong đó xứ Thanh được cái vinh dự là nơi sản sinh ra gương mặt ấy.

Ở đất Mường Khoòng, ngày nay là xã Cổ Lũng thuộc huyện Bá Thước có lưu truyền câu chuyện một người con gái tài sắc tuyệt vời. Đó là chuyện Nàng Mứn.

Không biết Nàng Mứn thực quê là ở đâu. Truyền thuyết kể rằng hồi bấy giờ vào khoảng đời vua Lê (?), vùng trên này loạn rừng, loạn cỏ. Gia đình anh em nhà Khăm Panh trôi dạt đồi này thung nọ, mãi mới kiếm được đất mường Khoòng, rủ nhau tìm cách làm ăn sinh cơ lập nghiệp ở đó. Khăm Panh tìm được Nàng Mứn làm vợ. Nàng đã xây dựng nên một gia đình tốt đẹp và còn khiến cho đất mường Khoòng trở nên thịnh vượng.

Nhưng sau đó, Khăm Panh bị tên giặc phương Bắc là Khun Han lừa, bị mất cả cơ nghiệp. Thất cơ, Khăm Panh cùng vợ và các con, các em lưu lạc trong rừng vắng. Vừa uất ức, vừa hổ thẹn, Khăm Panh ốm chết giữa thung Eo Điếu. Nàng Mứn vô cùng đau đớn. Chôn cất chồng xong rồi, Nàng Mứn tập hợp dân bản lại, cùng với các em bàn cách đánh trả thù. Đích thân Nàng Mứn cầm quân, chỉ huy chiến đấu. Nhưng không thắng nổi địch. Nàng cũng phải hy sinh như chồng.

Vợ chồng Khăm Panh mất đi nhưng không nguôi được nỗi căm thù vì bản mường, vì gia tộc. Khăm Panh đã hoá thành một con bướm vàng. Nàng Mứn đã hoá thành một con bướm trắng. Chính đôi bướm này đã bay chỉ đường cho con cháu của Khăm Panh tìm được nơi lẩn tránh, và cuối cùng đứa con sống sót của nàng đã khôn lớn trả thù được cho gia đình, mường bản. Đứa con ấy là Khăm Khong đã nói với dân bản:

Không thể dùng phương pháp giám định lịch sử để thấy được sự thực Nàng Mứn là người thế nào? Nhưng vẫn phải nhận Nàng Mứn là một nhân vật văn hoá đặc sắc. Trong con người phụ nữ này, có người thực, có con người của truyện truyền kỳ. Nhưng nàng đã hiện ra là con người biết xây dựng bản mường, biết tổ chức cuộc sống, biết chiến đấu không mệt mỏi lúc sống cũng như lúc chết. Nàng còn là người yêu, người vợ, người bà luôn luôn giữ gìn truyền thống của gia đình, của quê hương – Nàng là một gương mặt văn hóa.

Ở nước ta, hễ khi nói đến truyện cười thì phải nhắc đến truyện Trạng Quỳnh. Truyện Trạng Quỳnh là bao gồm nhiều dạng: Có thể là truyện hài hước, truyện giai thoại, có thể là truyện tiếu lâm (giới nghiên cứu đã xác định và phân biệt, chúng ta không cần nhắc lại).

Vì những lý do ấy nên Trạng Quỳnh đã được gắn với xuất xứ Thanh Hóa. Đây là một gương mặt cười vẫn luôn luôn hiện ra cái dáng dấp xứ Thanh. Các nhân vật trong kho truyện cười này đều xuất xứ từ Thanh Hóa mà ra cả: Vua chúa, bà hoàng, quan thị, cho đến cả thành hoàng, bà mẫu v.v…, đều ở Thanh Hóa nhiều hơn, mặc dù xã hội Trạng Quỳnh là đủ triều đường, cung phủ, đền miếu, phố xá nông thôn. Cảnh sinh hoạt cũng đủ việc bình thường như chèo đò, bán quán, chọi gà, và cả chuyện ngoại giao, thi cử. Trạng Quỳnh biết nhìn vào nơi nào cũng phát hiện được chuyện đáng cười, và cái cười cũng có chất nông dân, pha đô thị, pha cả nét cung đình, giống như cái cười quen thuộc xứ Thanh (khác với nụ cười xứ Nghệ hay nụ cười Nam Bộ).

Nhưng một điều đặc biệt, tự dân gian khẳng định nét truyền thống và khuôn mặt cười của xứ Thanh này, là nhân dân đã tự tạo lấy một cách áp đặt mà lại rất tự nhiên, để giành cho được Trạng Quỳnh về cho địa phương. Ấy là một sự khẳng định gương mặt văn hoá quê hương. Các nhân vật cười ở nhiều tỉnh, nhiều vùng khác, không có truyền thống này. Nhân dân đã cho Trạng Quỳnh phải là một ông tổ cười, có con cháu cũng là một nhân vật cười hẳn hoi. Người ta chấp nhận ông Xiển Bột (hay Xiển Ngộ) ở làng Bột (Hoằng Hoá, Thanh Hoá) theo dòng dõi Trạng Quỳnh, có những chuyện cười đúng theo phong cách Trạng, tất nhiên nghệ thuật và nội dung thì không bằng. Có thực là Xiển Ngộ mang cái “gien” Trạng Quỳnh (cách nhau đến 3 thế kỷ), vì cùng chung “huyết thống”, quê hương hay không, ta sẽ thẩm tra thêm. Nhưng rõ ràng lịch sử văn học Việt Nam đã muốn cho Trạng Quỳnh mở ra một dòng trào phúng. Mở dòng ở Thanh Hoá, và gợi cho các dòng khác ở miền Bắc, miền Nam. Đã mấy ai có được vinh dự ấy trong làng Cười đất Việt?

Lịch sử Việt Nam và lịch sử Thanh Hoá đã ghi khá rõ về Bà Triệu. Mặc dù tư liệu vẫn chưa thật đầy đủ, nhưng hàng ngàn năm qua, Bà đã là một nữ anh hùng, một nhân vật lịch sử sống trong lòng các thế hệ. Hơn bao nhiêu nhân vật lịch sử khác, Bà trở thành một hình tượng đẹp, tiêu biểu cho văn hoá Việt Nam. Bà đi vào chính sử, truyền thuyết, ca dao. Bà tiêu biểu cho phẩm chất người Việt Nam nói chung, cho phụ nữ Việt Nam nói riêng và một phần nào cũng ghi được dấu ấn riêng của quê hương Thanh Hoá.

Nét nổi bật về phương diện văn hoá ở Bà Triệu là ở lý tưởng phấn đấu của Bà. Lịch sử mãi mãi ghi chép câu nói của bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người ta”. Điều tâm niệm độc đáo đó, không ngờ lại ở trong lòng một cô gái vào tuổi hai mươi, ở một vùng xa xôi như quận Cửu Chân hồi thế kỷ thứ III. Không biết câu danh ngôn này có phải do người đời sau đưa thêm vào nhằm mục đích tôn vinh Bà hay không, nhưng dù sao câu nói vẫn chứa đựng cái lõi lịch sử nhất định. Cái lõi ấy là, dù trong hoàn cảnh thời gian và không gian thế nào thì ý chí bất khuất của phụ nữ trẻ tuổi xứ Thanh vẫn là thường trực. Tư tưởng ấy chứng minh tinh thần độc lập, tiềm tàng của nhân dân ta trong thời đại bấy giờ, và sẽ bộc lộ đậm đà, rõ nét hơn trong những thế kỷ về sau.

Sử sách không ghi được nhiều về Bà Triệu, nhưng đây là một sự kiện lịch sử độc đáo: Tài liệu cổ sử Trung Quốc đã không thể dấu diếm mà phải ghi chép rõ ràng. Những ngày thành công của Bà cũng ngắn ngủi, nhưng hình tượng của Bà đã tồn tại với thời gian. So với nhiều hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hoá của Việt Nam, thì hình tượng Bà Triệu đã sống động và đậm đà hơn cả (so với các nhân vật lịch sử ở các giai đoạn sau cũng vậy). Rất nhiều nét đã được nâng lên thành hình ảnh nghệ thuật có sức gợi cảm lớn. Một nàng nữ chúa đội khăn vàng, mặc áo vàng, ngồi trên con voi hùng dũng từ chốn rừng sâu, tung hoành suốt một dải núi rừng từ Ngàn Nưa đến Phú Điền. Rõ ràng là một hình ảnh đẹp.

Trong ca dao thì câu này có lẽ xuất hiện lâu đời:

Hình như sau đó, người dân xứ Thanh cũng chưa thực vừa lòng với hình tượng trên, dù đẹp đẽ, oai hùng nhưng chỉ mới nói được nét riêng của Bà Triệu. Không, Bà Triệu không phải là một cá nhân bà. Bà là tất cả phụ nữ Cửu Chân lúc bấy giờ, là cả phụ nữ Việt Nam sau này. Bà rất được các chị em hưởng ứng. Bà ở đó, trên con voi hùng dũng, nhưng bà cũng ở đây với đông đảo phụ nữ Cửu Chân: một lòng yêu nước, yêu chồng. Vì thế mà ta có thêm hai câu:

Thật không có gì là bản sắc văn hoá hơn thế nữa.

Nhữ Bá Sĩ đã có ý kiến rất hay. Bà Triệu có vú dài, vú lớn. Phải dài, phải lớn như vậy mới dồi dào nguồn sữa cho hàng muôn vạn con cháu bú. Con cháu sẽ bú, sẽ nhận lấy dòng sữa quật cường vô tận trong người mẹ anh hùng. Nét văn hoá ở đây qua Nhữ Bá Sĩ đã được tôn vinh một cách hùng hồn mà thuyết phục.

Ông là người hương Phủ Lý, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá. Đỗ Bảng Nhãn năm 1247, được giữ chức Học sĩ viện Hàn lâm, kiêm Giám tu quốc sử. Cuối đời thăng Thượng thư bộ Binh, tước Nhân uyên hầu.

Ông là cháu bảy đời của Lê Lương, một vị hào trưởng ở đất Ái Châu, đời vua Đinh Tiên Hoàng, nhưng đến đời Trần thì sa sút. Lê Văn Hưu là con của ông Lê Văn Minh và bà Đỗ Thị Hoà, lúc bé theo học thầy giáo họ Nguyễn ở làng Phúc Triền nổi tiếng thần đồng. Năm Đinh Mùi 1247, thi đỗ Bảng nhãn đồng thời với Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Thám hoa Đặng Ma La, rồi được giao nhiều chức vụ. Ông đã sống gần trọn một thế kỷ, trực tiếp tham gia chống quân Nguyên Mông lần thứ I (1258) và lần thứ II (1285).

Lê Văn Hưu cũng là một thầy giáo. Thời kỳ làm môn khách cho các quý tộc họ Trần, ông đã là thầy dạy Thượng tướng Trần Quang Khải và hình như có dạy cả Bạch Liêu (người đỗ Trạng nguyên năm 1266, sau kỳ thi Bảng nhãn của ông 19 năm).

Ông là thầy giáo, là nhà khoa bảng, nhà văn và nhà sử học đầu tiên mà xuất sắc của đất nước. Nhắc đến Thanh Hoá là phải nhắc đến ông. Lê Văn Hưu đúng là một gương mặt văn hoá toàn diện. Được cử vào Viện Hàm Lâm thị độc, ông đã giúp vua Trần xem xét các bài vở, bồi dưỡng cho lớp người hậu tiến. Những tấm bia đời sau ghi chép về ông, đều xưng tụng ông là bậc Thầy. Điểm đặc sắc nhất trong tư tưởng giáo dục của ông là tinh thần dân tộc.

Ông mất năm Nhâm Tuất (1322) đời Trần Minh Tông.

Xét về tư cách nhà chính trị, người cầm đầu đất nước, Hồ Quý Ly đã có nhiều sáng kiến táo bạo, muốn xây dựng cho đất nước trở nên cường thịnh, vượt khỏi tình trạng suy thoái của thời Trần mạt. Và đây là một nhà chính trị có tầm nhìn văn hoá toàn diện. Ông đặt ra các phép hạn điền, hạn nô, định lại chế độ thuế khoá, cho phát hành bạc giấy, qui định việc đo lường. Ông cũng quan tâm đến các vấn đề cứu tế xã hội, lập các sở quảng tế, các kho lúa để phòng trợ cấp lúc mất mùa. Về quân sự, ông rất lo việc đối phó với nhà Minh xâm lược, nên chăm chú việc phòng thủ, nhất là ở các cửa biển, đồng thời tăng cường quân lực để hòng đối phó với tình hình. Sợ dân chúng không phục vì xem ông là một nguỵ triều, ông đã cố gắng biểu dương thanh thế, phát triển sự nghiệp Nam tiến, và cũng đã chiến thắng Chiêm Thành, thu được các đất Chiêm Động và Cổ Lũng.

Ông cũng tỏ ra có khả năng nắm vững quyền chuyên chính của mình, dẹp yên được một số âm mưu đảo chính như hội thề Đốn Sơn của con cháu nhà Trần. Song mặc dầu có nhiều sáng kiến cải cách, có những cố gắng chỉnh đốn quốc gia, có cái nhìn văn hoá sắc sảo với thời đại, ông đã không được lòng dân. Bọn xâm lược nhà Minh cho các tướng Trương Phụ, Mộc Thạch kéo sang, quân ta kháng chiến mạnh mẽ, nhưng bị thất bại. Cả hai cha con và một số triều thần bị bắt. Nhà Hồ bị diệt, và nước ta bị thuộc nhà Minh suốt mười năm trời (từ năm 1406).

Lê Lợi là danh nhân lịch sử. Lê Lợi là của cả Việt Nam, điều đó thì đã rõ ràng. Nhưng Lê Lợi là người Thanh Hoá, nên khi nói đến con người xứ Thanh, trước tiên là phải nhắc đến ông.

Tuy nhiên, từ lâu, ta vẫn quen nhìn ở Lê Lợi một nhà lãnh tụ khởi nghĩa, một vị vua sáng nghiệp. Ta ngưỡng mộ ông trong lịch sử, chứ chưa quan tâm nhiều đến bản sắc văn hoá trong con người lỗi lạc này, và do đó, ta cũng ít có điều kiện nhận ra tính cách Thanh Hoá trong ông. Vì vậy, sau đây ta sẽ chú ý đến những khía cạnh:

1. Con người văn hoá ở Lê Lợi: con người có nhân.

2. Nét văn hoá độc đáo: Lê Lợi, con người giữa hai huyền thoại.

Lâu nay, nói về Lê Lợi, ta thường chỉ chú ý về mặt lịch sử, mặt chính trị. Nói đến con người, lại chỉ nhớ đến những hạn chế như việc giết hại công thần. Thật ra, điều rất đáng trân trọng ở ông là tính cách văn hoá của một nhân vật đặc sắc.

Lê Thánh Tông là nhà chính trị, là danh nhân của cả nước Việt Nam. Nhưng ông cũng xứng đáng là một gương mặt rực rỡ của xứ Thanh. Là cháu nội của Lê Lợi, ông có gắn bó với Thanh Hóa, với tư cách là nhà văn hoá. Những vấn đề khá phong phú ở ông với tư cách là nhà chính trị, là nhân vật lịch sử, xin được lướt qua hoặc không nói đến. Ta chỉ chú ý ở đây:

Có hơn vài ba câu chuyện về Lê Thánh Tông khi ông chưa lên ngôi. Dân gian không kể rằng nhà vua ra đời ở Thăng Long, mà cho ông cất tiếng khóc chào đời ở vùng thôn dã thuộc đất Thái Bình. Có câu ca dao địa phương làm chứng cho sự việc này. Bà Ngọc Dao sợ bị hại, đã trốn về nhà họ Đinh, dọc đường ban đêm thì trở dạ, vô cùng đau đớn, sợ rằng thai nhi không được vẹn toàn. Bà phải khấn trời đất, lầm rầm với đứa con sắp lọt lòng một câu ca bà bất giác đặt ra:

Và như thế cơn đau của bà chấm dứt. Cậu bé Lê Tư Thành chào đời, mẹ tròn con vuông, sau này mới trở về chùa Huy Văn. Nhưng cậu không sống suốt tuổi thiếu niên ở đây. Chẳng rõ do hoàn cảnh thúc đẩy thế nào, cậu cũng có dịp trú ngụ ở Thanh Hoá, bên một bờ sông nhỏ. Chính ở bến sông này, một lần cậu đã gặp người đẹp vo gạo, đọc một vế đối tỏ ra ý mến cảnh mến người. Cô gái rất thông minh đã ứng khẩu đối lại, ngụ ý khuyên chàng trai hãy để tâm lo đời, lo nước. Cuộc gặp gỡ đưa đến tình yêu. Cô gái ấy tên là Ngọc Hằng, sau này sẽ thành Trường Lạc hoàng hậu. Sau đó cậu về Thăng Long, đúng vào lúc Nghi Dân làm đảo chính giết mẹ con Nhân Tông. Hoàng tử Tư Thành, trong đêm tối, nhảy qua hào, tìm đường chạy loạn thì gặp ngay một thanh niên vạm vỡ ghé vai cõng cậu chạy biến vào nơi an toàn. Chàng thanh niên ấy còn mấy người bạn nữa, mỗi người có một cái tài: ăn giỏi, vật giỏi, đánh cờ giỏi, bói giỏi. Đấy chính là những Trạng Ăn, Trạng Vật, Trạng Cờ, sau này đều phò tá nhà vua. Câu chuyện cũng chưa hết. Khi Nghi Dân bị phế, triều đình tìm người nối ngôi và nghĩ đến Tư Thành. Nhưng vẫn có vài vị quan nghi hoặc, chưa rõ tài năng, chí khí của anh. Họ tìm đến chùa Huy Văn, thử tài anh bằng cách bắt anh làm ngay mấy câu thơ vịnh con cóc. Thế là anh ứng khẩu ngay mấy câu nổi bật khẩu khí đế vương. Ngôi chí tôn dành cho anh, không còn ai có thể nghi ngờ gì nữa.

Rõ ràng là những câu chuyện dân gian để khẳng định một sự lựa chọn ngôi chân chúa, có nét khác so với những mô típ quen thuộc. Không thấy một ông vua nào trước hay sau ông có cái vinh dự được folklore (văn hóa dân gian) nhắc đến nhiều như ông. Hầu hết các mẩu chuyện đều giàu chất thẩm mỹ hơn là sử liệu. Có những giai thoại về những mối tình lãng mạn. Tình với một ni cô khi ông đến chùa Ngọc Hồ. Người đẹp khoác áo tu hành đã gieo vào lòng ông một cái gì man mác như là hồn bướm mơ tiên, khiến ông không thể dằn lòng, nhất định đón nàng về cung. Nhưng kiệu đến cửa Đại Hưng thì người đẹp biến đi đâu mất, ông cho dựng ngay Vọng Tiên lâu, để kỷ niệm cuộc gặp gỡ mà ông tin là gặp gỡ tiên trần. Ông còn là người chủ động gắn với một mối tình khác, mối tình khiến cho người câm biết nói. Cô ca nữ hàng chục năm bị tật nguyền gì đó, chỉ biết im lặng gõ phách theo đám ả đào, khi được nhà vua nhắc đến, bỗng bất ngờ hát được thành bài, nội dung bài hát lại nhắc cho nhà vua biết rằng vua với mình có mối duyên tiền kiếp. Điều bất ngờ là cô ca nữ ấy lại là con gái của Nguyễn Trãi, trốn thoát được trong vụ thảm án tru di. Thánh Tông nhớ ơn Tế Văn Hầu, hiểu được mối “duyên trời” đã nhận nàng là phi tần trong nội. Khả năng giao tiếp với thần minh ở Lê Thánh Tông đã được folklore diễn tả một cách khác hẳn, không giống như những thiên thần khác đầu thai, mặc dầu ông cũng là một dạng kim đồng nào đó ở thượng giới. Ông luôn được mô tả theo tư thế, phong cách của một ông vua, có lãng mạn, có si tình, những vẫn rất sáng suốt.

Ông quê ở làng Hội Trào, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, đỗ Bảng Nhãn từ năm 1499, làm quan đến Thượng thư bộ Lại, tước Đôn Trung bá, dưới triều vua Lê Tương Dực. Chức quan này mãi cuối đời mới nhận, thời gian làm quan dài nhất là ở chức Thị lang. Nhưng ông lại luôn luôn viện cớ, xin nghỉ ở quê nhà để chăm lo dạy học.

Tiếng tăm của Lương Đắc Bằng còn vang dội nhờ một bài văn khác: Bài hịch kể tội Lê Uy Mục. Ông vua này là một bạo chúa, gây tác hại cho đất nước rất nhiều. Hoàng thân Lê Oanh đã nhờ Lương Đắc Bằng làm hịch dụ các đại thần và dân chúng nổi lên lật đổ Lê Uy Mục. Lời hịch của ông Lương rất quyết liệt, vạch trọng tội của tên vua này:

“Bạo chúa Lê Tuấn, phận con thứ kém hèn, làm nhơ bẩn nghiệp lớn. Lần lữa đã 5 năm, giết hại người xương thịt, dìm hãm các thần liêu. Bọn họ ngoại được tin dùng mà phường đuôi chó tung hoành làm bậy. Kẻ cương trực bị ruồng bỏ mà người trung nghĩa ẩn nấp nẻo xa. Tước đã hết rồi, mà thưởng bậy không ngớt, dân đã cùng rồi mà vơ vét không thôi. Đánh thuế tỉ mỉ, tiêu tiền như bùn, bạo ngược ngang với Tần Chính, xem bề tôi như ngựa trâu, coi dân như rác, kiêu ngạo còn quá Nguỵ Canh. Nhân dân nhức óc, cả nước đau lòng…”

1. Hết sức cảnh giới để dẹp điềm tai dị

2. Hết lòng hiếu thảo để tỏ lòng trung

3. Xa thanh sắc để làm gốc cho sự chính tâm

4. Bỏ kẻ tà nịnh để trọng nguồn phong hoá

5. Dè dặt việc cho quan tước để cẩn thận về việc khuyến trình

6. Tuyển bổ công bằng để đường làm quan được trong sạch

7. Tiêu dùng phải dè dặt để giữ thói kiệm ước

8. Khen thưởng những người có tiết nghĩa để trọng đạo cương thường

9. Cấm hối lộ để bỏ thói gian tham

10. Sửa sang võ bị để thế nước được vững

11. Kén chọn gián quan để cho người dám nói phấn khởi

12. Bớt việc phục dịch để thoả tình dân trông ngóng

13. Hiệu lệnh phải nhất định để thống nhất lòng bốn phương

14. Cẩn thận pháp độ để mở đường thịnh trị.

Những ý kiến trong bài hịch và trong 14 chước trị bình như vậy, cũng có thể phần nào giúp ta hiểu quan điểm của Lương Đắc Bằng với tư cách là một người thầy của vua, cũng là người thầy của cả nước. Nhưng ông Lương không thực hiện được ước mơ của mình. Những ngày đầu, vua Lê Tương Dực còn tỏ ra biết chăm lo, biết giữ gìn tư cách, coi sóc triều chính đúng mực. Sau đó, vua bị tha hoá dần, cũng trở nên hoang dâm, tàn bạo. Lương Đắc Bằng bất bình, dù được cất nhắc lên làm Thượng thư bộ Lại, ông cũng cáo về và tiếp tục mở trường dạy học, ngay trên quê hương mình.

Tài liệu truyền văn (cũng có một vài chỗ ghi trong sách vở) thường nói là ông Lương đã dạy cho Nguyễn Bỉnh Khiêm về những vấn đề triết học và huyền học. Sách Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú ghi rõ: “Ông Lương Đắc Bằng đi sứ Minh, được Bộ Thái ất thần kinh, đem về truyền dạy cho Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ông Nguyễn hiểu thấu được lẽ huyền vi và nắm được chân truyền”. Nhưng ngày nay, ta không thể biết được Lương Đắc Bằng đã dạy dỗ như thế nào, vì không có bài giảng nào của ông để lại. Thái ất thần kinh, có thể là bộ sách từ Kinh Dịch mà ra. Lý luận nội dung của dịch học từ xưa đến nay đã được nghiên cứu nhiều, Lương Đắc Bằng đã tiếp nhận và phát triển ra sao không thể xác định được. Tìm hiểu trò, để có khái niệm qua về thầy, ta chỉ biết là Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này được học giả trong nước và ngoài nước cho là người nắm chắc được lý học ( An Nam lý học hữu Trình tuyền). Vinh dự ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhờ Lương Đắc Bằng mà có.

Lương Đắc Bằng là một gương mặt văn hoá của thế kỷ XV, XVI ở Việt Nam, của Thanh Hoá nói riêng. Lịch sử triết học Việt Nam chưa viết được, nhưng nếu viết phải ghi tên Lương Đắc Bằng lên trước. Ông còn là nhà chính trị, nhà giáo dục và cũng đã sống một cuộc đời trong sáng, đức độ. Còn phải nói rằng, ông lại tạo nên được một truyền thống gia đình văn hoá. Con ông là Lương Hữu Khánh, cháu ông là Lương Khiêm Hanh đều có tư chất, tài năng và có đóng góp cho văn hoá nước nhà.

Ông là con trai của Nguyễn Kim, quê làng Gia Miêu, huyện Hà Trung. Ai cũng nhớ câu chuyện, vì sợ bị Trịnh Kiểm hãm hại, ông đã nhờ chị là Ngọc Bảo xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Quảng. Cái tầm văn hoá của ông chính là ở chỗ này.

– Ông có tầm nhìn chiến lược, không phải đi tìm đất dung thân mà là để mở mang cơ nghiệp. Ông thấy được Thuận Quảng và cả các vùng miền trong rộng lớn nữa, là nơi dụng võ, hơn nữa là nơi dựng nghiệp. Trước ông, các vua nhà Lý, nhà Hồ, nhà Lê, đều đã đi vào Nam, nhưng chỉ là đi chính phạt, lập võ công, và tiêu diệt ý đồ gây hấn. Có được đất đai, nhưng chưa hề có ý định xây dựng và phát triển. Nguyễn Hoàng đã có quan điểm phát triển từ khi nhiều thế hệ chúng ta chưa biết đến vấn đề này.

– Nguyễn Hoàng đã có một kế hoạch di dân rộng lớn. Từ trước, sau một số trận đánh ở xa, các triều đình, các tướng tá của ta đã đặt những chế độ lưu quan, lưu đồn, và một số vùng phía Bắc đã tiến hành – một cách tự phát, việc Việt hoá cư dân bản địa. Một vài nơi ở Thanh – Nghệ – Tĩnh, thì có việc cho người Chiêm lập làng lập ấp mới. Chỉ có Nguyễn Hoàng mới có chủ trương đưa dân đi hẳn vào một phương trời mới, lạ nước, lạ non. Nhưng kết quả là ông đã tạo nên được miền Nam cho đất nước này. Điều đáng chú ý là ông đã có cách thế nào đó mà truyền lại cái ý đồ chiến lược này cho tất cả con cháu ông: những Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Khoát v.v…, đều tiếp tục được cái chiến lược phát triển của ông. Rồi cả các tướng lĩnh dưới quyền các chúa Nguyễn sau này, đều thực hiện được sự nghiệp khai phá mở mang ấy.

– Vào vùng đất mới, Nguyễn Hoàng lại càng tỏ ra có một tầm văn hoá chiến lược rất cao. Ông biết tổ chức các làng mới, chỉ dẫn hướng sản xuất, ổn định nhân tâm, tạo ra phong tục tập quán mới mà không quên gốc. Nhân dân Thuận Quảng – (và các vùng miền trong sau này) đã dần dần được an cư lạc nghiệp, và mặc dầu phải cùng họ Nguyễn đối đầu với họ Trịnh, nhưng vẫn nhớ đến nhà Lê, nghĩa là vẫn nhớ mình là con Lạc cháu Hồng. Những người cầm đầu – trước nhất là Nguyễn Hoàng, phải có một tiềm thức về giống nòi, về đất nước thế nào đó mới gìn giữ cái tình cảm ấy bền vững và sâu sắc được.

Ngoài vấn đề cơ bản ấy, ta còn thấy Nguyễn Hoàng có nhiều khả năng xuất sắc khác. Ông biết dùng binh đánh thắng quân Mạc, ông biết nhún mình giữ lễ, đảm bảo quan hệ với vua Lê chúa Trịnh, để giữ hoà khí buổi đầu tiên. Ông biết sử dụng nhân tài, biết giáo dục các thuộc hạ. Có rất nhiều truyền thuyết dân gian cho thấy ông đã là một nhân vật văn hoá, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng dân. Có chuyện ông vào Nam, được người địa phương dâng cho ông bảy chum nước. Có chuyện bà Tiên hay bà Phật báo trước tin lành cho dân chúng, để sau này được thờ ở chùa Thiên Mụ v.v… Tất cả đều cho ta thấy Nguyễn Hoàng là môt gương mặt văn hoá thật sáng chói.

Chưa rõ tên thật ông là gì, hai chữ Sư Lộ chỉ có nghĩa là ông thầy ngồi dạy học bên đường. Ông sinh năm 1519, quê ở làng Bột Thượng (Hoàng Bột) nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, mất năm nào không rõ. Năm Giáp Dần, Thuận Bình thứ sáu (1554), vua Lê Trung Tông đặt chế khoa ở hành cung Yên Trường, ông thi đỗ đệ nhất giáp đệ tam danh (Thám hoa), làm quan đời Lê Trung Hưng, đến chức Hữu thị lang bộ Lại, tước Đoan Phúc hầu.

Gia đình Nguyễn Sư Lộ là một gia đình có truyền thống văn hoá. Nhân dân địa phương có lời ca ngợi:

Địa phương truyền tụng một giai thoại độc đáo về ông, chứng tỏ ông cũng có một cách dạy học thật là đặc biệt.

Những ngày còn chờ đợi ra xuất chính, ông cứ ra ngồi giữa phiến đá dọc đường. Người qua, kẻ lại, ai hỏi gì ông cũng giải đáp rất phân minh. Trẻ con xúm xít lại gần, ông bày cho các cháu những câu danh ngôn trong sách và kể thêm chuyện cho các em được rõ. Ông cầm cái gậy vạch xuống mặt đất những chữ Hán: chữ đơn, chữ kép và giảng giải rõ ràng. Lâu dần thành lệ. Phiến đá ông ngồi như cái bục của thầy giáo. Mảnh đất quanh phiến đá thành một lớp học, sáng trưa chiều vẫn rất đông người. Ông nói:

“Học trò đi học phải vào nhà học, phải theo bài bản. Nhưng trong đời có bao nhiêu người không được đi học, không có lớp. Và cũng có bao nhiêu điều phải học ngoài nhà trường. Lớp học giữa đường cũng là lớp học”.

Từ đó người ta gọi ông là ông Sư Lộ: ông thầy giữa đường. Hòn đá Sư Lộ ngày nay vẫn còn ở xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá.

Sử sách đều nhất trí chép: Đào Duy Từ là soạn giả cuốn sách Hổ Trướng khu cơ. Như tên gọi, sách là một tài liệu dùng cho các vị chỉ huy quân sự, các vị chủ soái; gồm những chỉ dẫn về binh pháp, trận đồ, cách điều hành, tổ chức quân đội, khí giới. Loại tài liệu này, ở nước ta rất hiếm. Chỉ biết rằng, dưới triều Trần, vị tiết chế Trần Quốc Tuấn có những bộ Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền v.v…, hiện nay chưa tìm được nguyên bản (bản dịch của Nxb Sử học trước đây có lẫn lộn cả nhiều ý kiến người đời sau; không phải là nguyên văn của Trần Hưng Đạo). Hổ Trướng khu cơ của Đào Duy Từ là tác phẩm quân sự có lẽ là nguyên vẹn cho đến ngày nay. Sau này Lương Huy Bích (một tác giả Thanh Hoá hồi giữa thế kỷ XIX) có tham khảo để viết trong cuốn Kỷ sự Tân biên.

Việc đắp luỹ Trường Dục hoàn thành, ông lại cùng Nguyễn Hữu Dật đắp luỹ từ cửa Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu. Chính luỹ này có tên là Luỹ Thầy (cùng nhiều tên khác: Luỹ Đồng Hới, Luỹ Trấn Ninh, Luỹ Nhật Lệ…). Các Luỹ Trường Dục, Luỹ Thầy đã phát huy được tác dụng lớn lao chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh từ phía ngoài vào. Chúa Nguyễn có được những tuyến phòng thủ chắc chắn từ biển lên núi. Kinh nghiệm của Đào Duy Từ, được học tập, phát triển và thực hiện cả sau khi ông mất. Năm 1634, Luỹ Trường Sa được xây dựng, dài trên 40km từ thôn Mỹ Cảnh, xã Bảo Ninh đến xã Ngư Thuỷ. Năm 1662, đời chúa Nguyễn Phúc Tần lại xây dựng luỹ Trấn Ninh.

Cả hai cha con Đào Duy Từ đều được tôn là Tổ sư của ngành tuồng bội Việt Nam. Chắc phải từ một cơ sở nào đó mới có thể nhận định thống nhất như thế, trải qua nhiều thế hệ…

Vấn đề nghiên cứu vẫn đang phải tiếp tục. Song dù căn cứ khoa học sau này có thể đưa tới những phát hiện và những kết luận mới, thì niềm tri ân của các nghệ nhân tuồng, các nghệ sĩ múa từ mấy trăm năm nay vẫn là thiêng liêng và cần trân trọng. Sự trân trọng này khẳng định công lao không nhiều thì ít của Đào Duy Từ đối với nghệ thuật tuồng, với ngành ca vũ Việt Nam.

Xin thêm một nhận xét. Có bao nhiêu vị được tôn là tổ nghề hát tuồng, hát chèo đã được thờ cúng nhưng hoặc là người ở nước ngoài, hoặc là những người mà ngay cả tên tuổi, quê quán cũng khó xác minh (Sai Ất, Đào Văn Xó, Lão Lang Thền v.v…). Chỉ có Đào Duy Từ là người có tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Riêng một điểm ấy, cũng làm giảm bớt đôi chút hoài nghi trong nhận định của chúng ta, dù chỉ là suy đoán.

Cũng không có ai nghi ngờ gì về sự kiện văn học: Đào Duy Từ là tác giả hai bài lục bát: Ngoạ Long cương vãn, Tư Dung vãn. Cho đến nay, vẫn chưa có tài liệu chính thức nào cho biết, thơ lục bát đầu tiên trong lịch sử văn học ta là bài nào. Những câu ca dao như: ” Nhiễu điều phủ lấy giá gương” được cho là ra đời từ cuộc khởi nghĩa Bà Trưng rõ ràng là không chính xác, chỉ là sự gò ép của tác giả Việt Nam – phong sử mà thôi. Sách Văn đàn bảo giám (1930), trước đây có cho in bài Tự thán bắt đầu bằng câu: “Chiếc thuyền lơ lửng bên sông và cho là của Nguyễn Trãi cũng không có bằng chứng nào chính xác. Dù tác giả Quốc âm thi tập là một nhà thơ xuất sắc, nhưng vần điệu và lời lẽ quá điêu luyện của bài Tự thán, khó lòng có thể ra đời vào đầu thế kỷ XV. Một vài câu lục bát xen vào những bài thơ Nôm trong Hồng Đức quốc âm thi tập, hoặc trong bài hát ả đào của Lê Đức Mao, chưa chứng tỏ trình độ lục bát hay song thất lục bát điêu luyện. Cũng không biết những truyện nôm khuyết danh có cuốn sách nào ra đời vào giai đoạn này. Có niên đại chắc chắn hơn cả chỉ là tập thơ Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải viết vào khoảng 1585, sau khi tác giả thôi làm quan với nhà Mạc, quy phục nhà Lê. Bài viết theo lối song thất lục bát, nhằm ca ngợi Lê Trịnh, cũng có nhiều câu điêu luyện, có tính chất trữ tình. Sang thế kỷ XVII, có tập truyện Hoa Vân cáo thị của Nguyễn Hữu Dật (1604 – 1681), không rõ viết năm nào. Con Nguyễn Hữu Dật là Nguyễn Hữu Hào (mất năm 1713), là tác giả truyện nôm Song tinh bất dạ. Cả hai cha con ông Nguyễn đều là lớp sau của Đào Duy Từ. Như vậy có thể khẳng định là khoảng cuối thế kỷ XVI sang đầu thế kỷ XVII, ở nước ta hiện nay mới chỉ tìm được ba tác giả viết văn lục bát dài hơi. Đó là Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613), với tập Đào Nguyên hành (còn có tên là Lâm Tuyền Vãn), Hoàng Sĩ Khải với tác phẩm kể trên và Đào Duy Từ. Nếu tài liệu sau này không phát hiện gì thêm nữa thì phải công nhận bộ ba: Phùng, Hoàng, Đào này là những người tiên phong, có tác phẩm lục bát dài hơi, đóng góp cho văn học sử.

Trước hết, ông là con người tài kiêm văn võ. Xuất thân là một võ tướng, có tham gia trận mạc. Đến năm 44 tuổi, mới được cử làm tổng trấn ở Sơn Nam, dưới triều Lê Hy Tông.

Lê Đình Kiên giữ chức trấn thủ Sơn Nam đến 40 năm. Khi mất, ông được phong tước Thái Bảo và công nhận là Phúc thần. Những thương khách các tỉnh ở Trung Quốc, cư trú ở Vạn Lai Triều đã khắc bia kỷ niệm và lập đền thờ ông. Bia hiện còn ở Hưng Yên, do tàu trưởng Đào Hải Nam là Trần Đế Đào ở huyện Tấn Giang, phủ Truyền Châu, tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) soạn năm Quí Mão đời Bảo Thải thứ tư (1723).

Tại đền thờ ở làng Thiết Đanh (Yên Định) có đôi câu đối có thể nói là tóm tắt đầy đủ công đức của ông và làm sáng lên một khuôn mặt văn hoá:

Có thể còn đôi ba người ở Thanh Hoá chưa quen lắm với cái tên này. Nguyễn Hữu Cảnh, còn gọi là Nguyễn Hữu Kính là con thứ ba của Nguyễn Hữu Dật, quê làng Gia Miêu, huyện Hà Trung. Có thể ông đã được sinh ra ở Quảng Bình (khi ông ra đời, Nguyễn Hữu Dật đã 46 tuổi và làm trấn thủ ở đó), nhưng tất nhiên cả mấy cha con Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Cảnh, đều là con em trực tiếp của Thanh Hóa. Lớn lên, ông Cảnh theo cha trên bước đường chinh chiến, đã lập nhiều chiến công; đánh Chiêm Thành (1692), đánh Chân Lạp (1698). Được trao chức trấn thủ nhiều lần ở những vùng mới gia nhập bản đồ Việt Nam (như các nơi: Diên Khánh, Khánh Hoà).

Nhưng một thành tích lớn lao của Nguyễn Hữu Cảnh, mà lịch sử Việt Nam không thể nào không ghi công lớn, là Nguyễn Hữu Cảnh đã lãnh đạo khai thác miền Đông Phố, thành lập các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn (Biên Hoà và Gia Định ngày nay). Tạo nên được Sài Gòn, tức là Thành phố Hồ Chí Minh bây giờ là công của Nguyễn Hữu Cảnh.

Nét đặc sắc của Nguyễn Hữu Cảnh trong giai thoại lịch sử (chỉ vài năm cuối thế kỷ XVII) này là tầm văn hoá của ông trong đường lối mở mang cơ nghiệp: Kế hoạch rất đầy đủ, bao quát mà chi tiết, nhưng chủ yếu là ở lòng nhân đạo và nhiệt tình với dân với nước của ông. Hãy tưởng tượng vào hồi cuối thế kỷ XIX, Pháp đã sang xâm lấn miền Nam, với trình độ khoa học, kỹ thuật nhất định, cũng chỉ mở mang được vùng đất Sài Gòn trong phạm vi hạn hẹp. Thế mà từ ba thế kỷ trước, cả miền Nam mênh mông hoang sơ như vậy, được Nguyễn Hữu Cảnh quy hoạch lại, tổ chức và kiến thiết thành một miền trù phú bao la, thì Nguyễn Hữu Cảnh đã có tài năng xuất sắc đến bậc nào. Ông đã cho thực hiện:

+ Ông biết tổ chức lại giao thông và cho phát triển thương mại. Người Hoa được ông cho định cư, nhập sổ hộ bộ Việt Nam, thành các làng như xã Thanh Hòa (Biên Hòa), xã Minh Hương (Sài Gòn). Ông khuyến khích cho tàu bè nước ngoài vào cảng Đại Phố, khuyến khích dân chúng cả ở Đường Ngoài vào đây lập nghiệp. Câu ca dao quen thuộc được cho là xuất hiện vào chính thời gian Nguyễn Hữu Cảnh kinh dinh đất mới:

+ Sáng kiến của Nguyễn Hữu Cảnh trong việc kinh dinh có thể thấy rõ ở hai hướng. Tại vùng nông thôn hay miền núi, ông chia ra các loại sơn điền, thảo điền, và cho dân khẩn hoang, lập thành nông trại. Ở vùng cư dân sầm uất, thì ông cho lập các phố thị. Đặc biệt chú trọng vào đường sá. Lúc này các vùng phố thị ở Đại Phố có ba loại đường: Đại nhai lộ là đường lớn lót đá trắng, Hoành nhai lộ là đường ngang lót đá ong, và Tiểu nhai lộ là đường nhỏ lót đá xanh. Sáng kiến này tạo ra cho các phố thị một diện mạo rất mới.

+ Nguyễn Hữu Cảnh còn là một nhà ngoại giao xuất sắc. Hồi ông vào Nam mở mang biên cương, phía bên Chân Lạp không phải đã dễ dàng gì phục tùng. Nhưng thấy binh uy của ông rất lớn, vua Miên là Nặc Ông Thu tìm cách bỏ trốn, để cho cháu là Nặc Yêm mở cửa thành ra hàng. Nguyễn Hữu Cảnh tiến vào. Nhưng ông đã giáo dục cho đội quân chiến thắng giữ gìn kỷ luật, không tơ hào của dân, không xâm phạm đến tài sản và tính mạng. Do đó mà nhân dân Chân Lạp cảm ơn đức của ông đã hoàn toàn quy phục. Nặc Ông Thu trốn tránh ít lâu rồi cũng về hàng. Ông đã khuyến dụ các thổ quan, khích lệ các dân tộc Miên, Hoa, Việt giữ tình thân thiện. Ta sẽ không lạ khi thấy sau này ông mất, được nhân dân thờ phụng. Ngay ở Nam Vang cũng có đền thờ ông.

Nhân dân miền Nam rất nhớ ơn Nguyễn Hữu Cảnh và biểu lộ sự thành kính, tri ân này bằng một chủ trương rất văn hoá, rất nhất luật ở miền Nam. Đa số các làng các vùng trong Nam đã dựa vào tên làng của Nguyễn Hữu Cảnh mà đặt tên cho nơi ở của mình.

Nguyễn Hữu Cảnh sau này được phong tước là Lễ thành hầu. Ông vừa xây dựng xong miền Nam thì nhuốm bệnh. Thuyền chở ông về đến Rạch Gầm, ngã ba Tiền Giang thì ông mất, thọ được 51 tuổi. Ngày mất của ông là ngày mồng 9 tháng 5, Canh Thìn (1700). Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được dựng lên ở khắp nơi: Quảng Bình, Biên Hoà, Cần Thơ, Tiền Giang, Châu Đốc. Và có một chi tiết rất dân gian nữa: Triều đình phong cho ông chức này, tước nọ rất nhiều, nhưng nhân dân chỉ nhớ ông là một vị chưởng binh. Họ gọi ông là Ông Lớn. Đền thờ được gọi là Đền Ông. Con sông do ông đào ở phía dưới Vàm Nao (Châu Đốc) và đặt tên là Long Giang, thì người dân gọi là Sông Lòng Ông. Cả một vùng đất Thủ Điềm (sau thời Pháp thuộc đổi tên là Kiến Long) thì được gọi là Cù Lao Ông Chưởng. Và câu ca dao truyền tụng còn lưu lại mãi đến bây giờ:

Ôn lại cuộc đời và thành tích vĩ đại của Nguyễn Hữu Cảnh, có thể có chăng một sự liên hệ suy tư? Có chăng ở đây một nét văn hoá truyền thống của người Thanh Hoá: Khẩn hoang và lập nghiệp? Sự liên hệ có thể ngược lên thời gian để nhớ đến An Tiêm, khai phá đất Nga Sơn, đến ông Tu Nưa với sự tạo ra núi Quảy, sông Cày, đến Nguyễn Hoàng mở mang Đàng Trong dựng nên đế nghiệp. Rồi Nguyễn Phúc Chu là vị chúa trưởng trực tiếp của Nguyễn Hữu Cảnh. Và sau nữa là Nguyễn Phúc Khoát đã thu phục được Mạc Thiên Tứ để sáp nhập Hà Tiên vào bản đồ nước Việt. Vô tình hay có qui luật nào để người xứ Thanh có được những nhà văn hoá tiền bối lập được những công lao như vậy?

Nhữ Bá Sĩ, tự là Nguyên Lập, hiệu là Đạm Trai, người làng Cát (Kẻ Cát) xã Cát Xuyên, tổng Dương Sơn nay là xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá; sinh tháng 2 năm Mậu Thân (1788); mất ngày 14 tháng 9 năm Đinh Mão (1867), thọ 80 tuổi.

Chính gốc họ Nhữ là ở làng Hoạch Trạch, tỉnh Hải Dương, rời vào Thanh Hoá đến Nhữ Bá Sĩ là 13 đời. Tới đời thứ bảy là Nhữ Văn Vịnh, làm quan võ thời Lê, được phong là Đặng võ hầu. Các đời sau không đỗ đạt gì, gia đình chuyên làm ruộng. Mãi đến thân sinh Nhữ Bá Sĩ mới lưu tâm cho con cháu ăn học được nhiều người đỗ đạt.

Nhữ Bá Sĩ đi học từ nhỏ, năm 11 tuổi vào trường tư ông Hương cống Đặng Văn Chinh, làng Mạo An, cùng huyện. Năm 19 tuổi, theo tập bài ở trường tỉnh với ông Đốc học Phan Bảo Định (người cùng quê với Nguyễn Thiếp). Năm 1821, thi đỗ Hương cống và liền năm sau thi hội trúng tam trường.

Đỗ xong, ông được giữ chân hành tẩu bộ Công, rồi ra hậu bổ Bắc thành, làm tri huyện Tiên Lữ, rồi về Huế trải các chức chủ sự bộ Hình viên ngoại lang, Lang trung v.v… Năm 1830, sau khi đi thanh tra thuế đường ở Quảng Nam, vì một chuyện vu cáo, ông bị cách chức kết án xử tử giam hậu; đến năm 1833 được tha, phải đi hiệu lực trong phái bộ sang Quảng Đông (Trung Quốc). Về nước, ông được khai phục hàm cửu phẩm, làm việc ở Viện đô sát, sau ra huấn đạo An Lão (1834), giáo thụ Hoài Đức (1836), rồi quyền tri phủ ứng Hoà (1838). Ngót 20 năm nổi chìm trong bể hoạn, ông thấy rõ thế tình, mới quyết tâm cáo bệnh về mở trường tư, dạy học, viết sách suốt 16 năm. Nhiều lần triều đình cho gọi, ông nhất định từ chối. Năm 1853, bị thúc ép mãi, ông phải ra nhận chức đốc học ở ngay tỉnh nhà, nhưng chỉ hai năm lại cáo bệnh về với làng xóm, trường học cũ của mình.

(Ban Biên tập – Sưu tầm và biên soạn)

Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Gia Lộc / 2023

Tổ hợp tác chăn nuôi gà lai chọi thương phẩm xã Gia Lương được thành lập ngày 13 tháng 10 năm 2016, khi thành lập Tổ hợp tác có 62 hội viên với số quỹ hoạt động ban đầu là 10 triệu đồng. Tổ hợp tác được thành lập trên cơ sở của lớp dạy nghề ngắn hạn chăn nuôi gia cầm do Hội Nông dân huyện Gia Lộc phối hợp với Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh Hải Dương tổ chức cho 35 hội viên nông dân chăn nuôi gia cầm. Căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, trong 03 tháng học nghề, Hội Nông dân huyện đã chỉ đạo Hội Nông dân xã Gia Lương tổ chức khảo sát trên địa bàn và tham mưu với Đảng uỷ xã chỉ đạo Uỷ ban nhân dân xã ra quyết định thành lập Tổ hợp tác chăn nuôi gà lai chọi thương phẩm xã Gia Lương. Sau Lễ ra mắt, Tổ hợp tác được Hội Nông dân huyện tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn từ Quỹ hỗ trợ nông dân tỉnh là 400 triệu đồng; tiếp cận vay vốn từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện; Ngân hàng Công thương Hải Dương theo Nghị định số 55 /2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 06 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn hàng chục tỷ đồng; tổ chức 03 lớp học nghề, 05 lớp tập huấn ngắn ngày, tổ chức cho hội viên trong Tổ hợp tác thăm mô hình và lấy giống gà lai chọi Lương Phượng của anh Phạm Đình Dừa xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc – Hộ sản xuất kinh doanh giỏi cấp trung ương, chuyên cung cấp gà giống cho các tỉnh khu vự Đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh phía Nam.

Hội Nông dân tỉnh, huyện về thăm mô hình gà chọi xã Gia Lương

Theo ông Đặng Quốc Thai- Tổ trưởng tổ hợp tác cho biết, sau gân hai năm hoạt động, đến nay Tổ hợp tác gà lai chọi thương phẩm do Hội nông dân xã Gia Lương vận động thành lập đã kết nạp được 36 hội viên, quỹ tổ hoạt động trên 30 triệu đồng, cung ứng ra thị trường trên 600 tấn gà thịt… Tổ hợp tác ngày càng tạo dựng được thương hiệu của sản phẩm đối với khách hàng ở nhiều tỉnh, thành khu vực miền Bắc. Từ việc áp dụng kiến thức đã được tập huấn, nên trong khi ở những địa phương khác, người chăn nuôi gặp không ít khó khăn, nhưng tổng đàn gà trên địa bàn xã nói chung và đàn gà lai chọi trong mô hình nói riêng vẫn ổn định ở mức từ 200 đến 250 nghìn con. Do chất lượng đảm bảo nên được khách hàng tin tưởng, về tận nơi thu mua.

Đoàn chuyên gia Đức thăm mô hình gà chọi xã Gia Lương

Hiện nay với 98 hội viên tham, tổ hợp tác nuôi gà lai chọi thương phẩm ở xã Gia Lương còn mở riêng một Đại lý bán thuốc thú y phục vụ các thành viên và người chăn nuôi trên địa bàn xã. Để đảm bảo hiệu quả trong chăn nuôi, các thành viên trong Tổ hợp tác đều nghiêm túc chấp hành quy định về xử lý chất thải, bảo vệ môi trường và an toàn sinh học trong chăn nuôi. Chính vì vậy, cho dù có thời điểm giá bán gà trên thị trường nói chung có sụt giảm, nhưng mỗi lứa gà lai chọi, các thành viên vẫn đảm bảo lợi nhuận ở mức 30%. Là mô hình Tổ hợp tác chăn nuôi gà lai chọi đầu tiên trên địa bàn huyện Gia Lộc và đã đạt được kết quả khả quan. Kết quả đó thể hiện sự sâu sát của các cấp Hội nông dân trong việc nghiên cứu thị trường, định hướng hoạt động và việc chuyển giao khoa học kỹ thuật, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Trong thời gian tới, Tổ hợp tác sẽ không ngừng duy trì tổng đàn gà lai chọi khoảng 200 đến 250 nghìn con, đưa ra thị trường khoảng 700 tấn gà thịt; đầu tư và duy trì hiệu quả Đại lý thuốc dùng chung cho Tổ hợp tác; thành lập Đại lý cấp một về cung ứng thức ăn cho gà lai chọi; quảng bá sản phẩm gà lai chọi trên các phương tiên thông tin, đặc biệt là trên mạng xã hội; nghiện cứu địa điểm, cơ sở vật chất và tham khảo ý kiến chuyên gia để thành lập Hợp tác xã gà lai chọi thương phẩm xã Gia Lương.

Viết tin và ảnh: Nguyễn Văn Trung – Phó Chu tịch Hội Nông dân huyện

Bạn đang xem bài viết Cổng Điện Tử Công An Tỉnh Vĩnh Phúc / 2023 trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!