Xem Nhiều 11/2022 #️ Giống Gà Ác: Đặc Điểm Cơ Bản Cần Nắm / 2023 # Top 13 Trend | Ruybangxanh.org

Xem Nhiều 11/2022 # Giống Gà Ác: Đặc Điểm Cơ Bản Cần Nắm / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giống Gà Ác: Đặc Điểm Cơ Bản Cần Nắm / 2023 mới nhất trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giống gà ác là giống gà nội có thân hình nhỏ, bộ lông trắng xước ; chân có 5 ngón (ngũ trảo) và có lông bao phủ ; da, thịt, xương và mỏ đều đen. Gà trống có mào cờ đỏ thẫm, gà mái có mào cò nhưng đỏ nhạt. Khác với gà da đen, thịt đen, xương đen của nhiều nước trên thế giới, giống gà Ác Việt Nam không có chỏm lông ở trên đầu.

Gà Ác có tính tình hiền lành, khả năng chịu đựng kham khổ tốt. Theo một số tác giả, giống gà thịt đen, xương đen là giống gà có từ lâu đời do Marco Polo phát hiện ra từ thế kỷ 13 ở Trung Quốc. Giống gà này là sự đột biến ngẫu nhiên giữa các giống gà hoặc có thể từ gà hoang.

Nuôi gà ác như thế nào thì đạt lợi nhuận cao?

Giới hạn gen của giống gà này dựa trên cơ sở biểu hiện bên ngoài ở sự suy thoái đồng hợp tử và từ đó chúng tiếp tục được ghép phối thuần, dựa trên cơ sở nguồn gen của chúng là đồng hợp tử lặn.

Cũng giống như một số giống gà Orpington, Wyandotten, Minorkas và gà da đen, thịt đen, xương đen đều mang gen lặn lông màu trắng.

Kiểu hình biểu hiện ra ngoài của lông gà trưởng thành không có sự khác nhau giữa màu lông trắng trội hay trắng lặn. Việc xác định chỉ có thể dựa trên cơ sở phân tích qua lai tạo. Ở gà con giống mang gen trắng trội, biểu hiện bên ngoài hơi vàng hơn gà có màu lông trắng lặn.

Khả năng sinh sản và sản xuất trứng

Gà Ác thành thục về tính dục sớm (113 – 125 ngày) (tuổi thành thục về tính dục được tính từ khi gà bắt đầu đẻ quả trứng dầu tiên đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% đối với đàn quần thể), trong khi đó gà Ri là 135 – 144 ngày, gà Đông Tảo là 165 ngày, gà Hồ 240 – 255 ngày… Tỷ lệ đẻ của gà Ác thấp chỉ đạt từ cao nhất là 40,2%, Sản lượng trứng bình quân đạt 80,4 – 105 quả/mái/năm. Khối lượng trứng nhỏ chỉ đạt bình quân từ 30 – 31g nhỏ nhất trong các loại trứng gà nội, tuy vậy nhưng tỷ lệ lòng đỏ lại khá cao 36,8% (cao nhất so với các loại trứng gia cầm khác), chỉ số Haugh đạt 82,9.

Thành phần dinh dưỡng của trứng gà Ác cao, hàm lượng protein chiếm 17,6%, hàm lượng mỡ trong trứng đặc biệt cao, đây là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng vì mỡ trong trứng thường ở dạng nhũ hoá và dễ tiêu hoá. Trứng gà Ác rất nhỏ nên phải có chế độ ấp nở riêng thì mới đạt hiệu quả kinh tế cao. Một số hộ nông dân chăn nuôi theo phương thức bán chăn thả hoặc chăn thả tự do thường cho gà mẹ ấp, tỷ lệ nở /tổng số trứng ấp có khi lên đến 100%. Trong điều kiện chăn nuôi tập trung, tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 10 quả trứng giống là 2,32 kg, ở mức trung bình so với các giống gà nội khác.

Khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của gà ác

Tỷ lệ nuôi sống của gà Ác khá cao đạt 93,6 – 96,9%. Gà Ác có khả năng chịu nóng tốt nhưng chịu lạnh kém. Nếu trong những tuần đầu gà được sưởi ấm tốt, tỷ lệ nuôi sống thậm chí đạt đến 100%. Gà Ác có khối lượng cơ thể nhỏ. Khối lượng 1 ngày tuổi, trung bình gà mái đạt 18,5g và gà trống là 18,8g, tương tự như vậy ở 4 tuần tuổi là 114,6g và 128,6g và ở 9 tuần tuổi là 378,6g và 466,9g. Mức độ tăng khối lượng tuyệt đối thấp chỉ đạt cao nhất là 11,1g ở 9 tuần tuổi.

Mức độ tăng khối lượng tuyệt đối ở gà Ác là thấp nhất so với các giống gà nội khác. Mức tiêu thụ thức ăn hàng ngày của gà Ác thấp (26,2 – 38g/con/ngày ở 9 tuần tuổi). Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng trong điều kiện nuôi nhốt của gà Ác ở mức trung bình so với các giống gà nội khác (3,31kg/kg tăng khối lượng ở 9 tuần tuổi).

Tỷ lệ các phần thân thịt của gà Ác đạt được là tương đương với các giống gà nội khác. Kết quả mổ khảo sát ở 3 thời điểm cho thấy: Tuổi giết mổ thích hợp của gà Ác là 8 tuần tuổi vì lúc này tỷ lệ các phần thân thịt đều cao hơn ở tuần tuổi thứ 7 và cao hơn hoặc bằng ở tuần tuổi thứ 9.

Phẩm chất thịt của gà Ác

Đánh giá phẩm chất thịt gà Ác ở 8 tuần tuổi cho thấy: Thịt gà Ác có màu đen. Bản chất của sắc tố đen chủ yếu là do hàm lượng melenin trong thịt đóng vai trò quyết định. Yếu tố ảnh hưởng chính ở đây là do di truyền.

Đánh giá chất lượng cảm quan ta thấy thự gà được đánh giá là có vị ngon nhất so với thịt gà Ri và ga công nghiệp. Sự hao hụt khối lượng sau khi chế biến (luộc) của thịt gà Ác là thấp nhất 19,2% so với 21,3% ở gà Ri và 26,2% ở gà công nghiệp. Độ pH của thịt gà Ác sau khi giết mổ 24 giờ đạt bình quân là 5,9 – 6,4 nằm trong khoảng cho phép.

Độ pH này có ảnh hưởng lớn đến độ dai và khả năng giữ nước của thịt, chính vì vậy mà tỷ lệ hao hụt khi nấu thấp. Hàm lượng collagen trong thịt gà Ác cũng đạt rất cao, chính vì vậy mà độ dai chắc của thịt gà Ác cao (gà Ác được giết mổ ở 8 tuần tuổi với khối lượng chỉ đạt 309 g nhưng thịt lại rất dai chắc). Trong thực tế người ta đã cố gắng cải thiện độ dai chắc của thịt bằng cách sử dụng các tác nhân vật lý (áp suất cao) để làm cho thịt gia cầm dai chắc hơn làm tăng tính ngon miệng. Khả năng giữ nước trong thịt gà Ác cao (31,5 – 33,1%) trong khi đó ở thịt gà broiler chỉ đạt 15,1% và ở thịt đùi gà tây chỉ đạt 12,8%.

Hàm lượng protein trong thụ gà Ác đạt tương đối cao (21,9 – 24,6%) trong khi đó ở thịt gà Ri là 21,1 – 23,6%), hàm lượng mỡ thấp (0,6 – 2,0%).

Hàm lượng protein cao, hàm lượng mỡ thô trong thịt gà Ác củng tương đối cao làm tăng tính ngon miệng của người tiêu dùng, điều này cũng phản ánh kết quả đánh giá chất lượng cảm quan của thịt gà Ác là hoàn toàn chính xác. Thịt gà Ác có chứa tới 16 acid amin với hàm lượng tương đối cao, đặc biệt là các acid aniin không thay thế như Histidine (0,9%), Threonine (1,1%), Arginine (1,5%), Phenylalanine (1,0%), Isoleucine (1,1%), Leucine (2,0%), Lysine (2,0%). Hàm lượng acid béo trong thịt gà Ác cũng rất cao và biến động rất lớn, đặc biệt có chứa hầu hết các acid béo quan trọng. Hàm lượng các acid béo không no mạch đa đạt từ 14,4 – 21,0%, acid béo không no mạch đơn chiếm 17,02 – 28,15%.

Tỷ lệ các acid béo omega 3/omega 6 đạt 0,43 – 1,14% là hoàn toàn hợp lý. Thịt gà Ác có chứa hầu hết các acid béo cần thiết và hàm lượng một số acid béo không no mạch đa rất cao so với thịt gà broiler như acid béo arachidonic (C20:4) (3,94% so với 0,53%). Hàm lượng một số các nguyên tố khoáng vi lượng trong thịt gà Ác tương đối cao như Sắt: 19,0 – 23,0 mg, cao gấp 11 – 16 lần so với thịt gà broiler. Hàm lượng Mangan cao gấp 8,6 lần, Đồng cao gấp 1,5 lần.

Hàm lượng các nguyên tố khoáng đa lượng cũng rất cao như Natrium đạt 215,7 mg, Kalium đạt 441 mg, Calcium đạt 7,1 mg. Hàm lượng vitamin A trong thịt gà Ác đạt 50,7 -56,0 ug/100g cao hơn thịt gà broiler (26ng/100g). Vitamin A đóng vai trò quan trọng tham gia vào quá trình tổng hợp protein, thẩm thấu của tế bào, xây dựng và bảo vệ tế bào biểu mô, tổng hợp steroid (hormon sinh sản, hormon tuyến trên thận) và tiêu hoá carbonhydrate, cấu thành nên bộ xương. Thịt gà Ác chính là nguồn bổ sung vitamin A cần thiết cho cơ thể. Các kết quả phân tích về phẩm chất thịt của gà Ác đã góp phần quan trọng phản ánh giá trị đặc biệt của thịt gà Ác Việt nam.

Dòng Gà Rosecomb Và Những Điểm Đặc Biệt Cần Nắm / 2023

Ban đầu, từ “rosecomb” không ám chỉ bất kỳ giống gà riêng biệt nào, mà là tên chung của một số giống gà có dạng mồng trà. Mồng trà vốn được gọi là “mồng đôi” (double comb) để phân biệt với “mồng đơn” (single comb, tức mồng lá) của những giống gà khác. Những cá thể gà rosecomb đầu tiên có mồng chưa hoàn hảo và quá nhiều màu đỏ trên tai, và “theo một số nguồn đáng tin cậy, nhiều cá thể được chỉnh sửa hơn là lai tạo” (Bejach, 1992). Người trưng bày thường che đậy màu đỏ ở vành tai bằng màu trắng nhân tạo. Một số nghệ nhân chơi gà hồi đó thường “tỉa” mồng thành hình dạng thích hợp. Tôi nghe nói có nhà lai tạo cũng làm như vậy, hầu hết tố cáo đều xuất phát từ những người mua các con gà xinh đẹp này, chỉ để phát hiện rằng mồng của bầy con không như họ mong muốn.

Đương nhiên, gà rosecomb đã trải qua vô số cải tiến kể từ những ngày đầu tiên xuất hiện trước công chúng. Phần lớn công lao cải thiện giống gà đều nhờ những nhân vật người Anh. Enoch Hutton làm việc với giống gà trên bốn mươi năm, và đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện chúng. Ông lai biến thể nhạn và ô với nhau để đạt được chất lượng tốt nhất ở mỗi dòng. Ông cũng đưa những con gà trống hamburg ô cỡ nhỏ vào chương trình lai tạo, để cải thiện cả hai dòng và chất lượng lông của rosecomb. Tương tự, G.H. Pickering cải thiện rosecomb bằng việc lai mái nhạn với trống hamburg ô. Ông chọn trống hamburg thay vì trống rosecomb bởi vì vào thời đó, chất lượng lông và tai của gà hamburg tốt hơn đa phần gà rosecomb (Bejach, 1992). Vào năm 1483, ông sở hữu một lữ quán ở Anh và nuôi một bầy nhỏ gà rosecomb. Có lẽ, vua Richard III thường ở trọ trong lữ quán của ông nơi ngài để ý đến lũ gà với vành tai nổi bật và bắt đầu nuôi vài con. Điều này, dĩ nhiên, khiến chúng trở nên rất phổ biến trong giới quý tộc Anh thời đó, và sự phổ biến này được duy trì cho đến tận ngày nay (Ahiers, 1992). Mặc dù, nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của giống gà còn chưa rõ ràng, bạn có thể đoan chắc rằng nó không hề có yếu tố thương mại. Hầu hết mọi người lai tạo chúng để triển lãm, hay chỉ để “làm cảnh” quanh nhà.

Gà rosecomb có lịch sử triển lãm tương đối lâu dài. Người ta trưng bày chúng lần đầu tại Triển lãm Boston lần thứ nhất vào năm 1849 (Bejach, 1992) rồi chúng tiếp tục xuất hiện từ đó cho đến ngày nay. Dẫu thay đổi tùy triển lãm hay khu vực, số lượng rosecomb trưng bày ngày càng nhiều khi giống gà trở nên phổ biến. Theo Jeffrey (1979), hai mươi ba con rosecomb được trưng bày tại Triển lãm New York 1893, trong khi sáu mươi con được trưng bày tại Triển lãm New York 1903. Những triển lãm ngày nay có thể có từ nửa tá đến vài trăm con rosecomb tùy quy mô. Gà rosecomb cả trong quá khứ lẫn hiện tại được cải thiện cho mục đích triển lãm. Người ta nuôi và trưng bày gà đơn giản bởi vì họ thích vẻ bề ngoài của chúng. Tiêu chuẩn Gà tre liệt rosecomb vào một trong mười giống gà phổ biến nhất ở Mỹ. Chúng ngày càng phổ biến, nhưng dường như có nhiều nhà lai tạo ở bờ đông hơn là ở bờ tây nước Mỹ.

Nhiều người gặp khó khăn khi lai tạo gà rosecomb, và có rất nhiều nguyên nhân gây ra điều này. Tỷ lệ thụ tinh dường như luôn thấp ở gà rosecomb, mà chủ yếu bắt nguồn từ việc lai cận huyết quá sâu giữa các dòng trong nỗ lực bảo tồn giống gà. Trong nhiều năm qua, nhiều nhà lai tạo mà tôi biết đã lai xa với những dòng gà khác, chấp nhận thu về chỉ hai hay ba con mỗi năm (theo kinh nghiệm của tôi). Theo tôi đến nay, việc lai xa ít ra cũng đem lại những kết quả tuyệt vời .

Tỷ lệ nở cũng có xu hướng thấp ở gà rosecomb và lý do duy nhất mà tôi được biết đó là phôi đặc biệt nhạy cảm với độ ẩm. Tôi nghe nói nhiều người gặp trường hợp này: phôi chết vào ngày ấp thứ mười bảy hay mười tám. Có lẽ nguyên nhân ở chỗ lồng ấp quá ẩm, nhất là vào giai đoạn nở, khiến gà con chết sặc bên trong vỏ. Giả sử gà có nở được, tôi thấy tốt nhất để chúng nở sớm trước mùa đông bởi chúng cần một thời gian dài để phát triển và ra lông đầy đủ.

Title : Dòng gà rosecomb và những điểm đặc biệt cần nắm Description : LỊCH SỬ Như những giống gà khác, có nhiều tranh cãi về nguồn gốc của giống gà rosecomb. Một số người cho rằng rosecomb là những con gà tr…Rating : 5

Đặc Điểm Ngoại Hình Của Giống Gà Ác / 2023

Gà Ác là giống gà nội có thân hình nhỏ, bộ lông trắng xước ; chân có 5 ngón (ngũ trảo) và có lông bao phủ ; da, thịt, xương và mỏ đều đen. Gà trống có mào cờ đỏ thẫm, gà mái có mào cò nhưng đỏ nhạt. Khác với gà da đen, thịt đen, xương đen của nhiều nước trên thế giới, giống gà Ác Việt Nam không có chỏm lông ở trên đầu. Gà Ác có tính tình hiền lành, khả năng chịu đựng kham khổ tốt.

Theo một số tác giả, giống gà thịt đen, xương đen là giống gà có từ lâu đời do Marco Polo phát hiện ra từ thế kỷ 13 ở Trung Quốc. Giống gà này là sự đột biến ngẫu nhiên giữa các giống gà hoặc có thể từ gà hoang. Giới hạn gen của giống gà này dựa trên cơ sở biểu hiện bên ngoài ở sự suy thoái đồng hợp tử và từ đó chúng tiếp tục được ghép phối thuần, dựa trên cơ sở nguồn gen của chúng là đồng hợp tử lặn. Cũng giống như một số giống gà Orpington, Wyandotten, Minorkas và gà da đen, thịt đen, xương đen đều mang gen lặn lông màu trắng c. Kiểu hình biểu hiện ra ngoài của lông gà trưởng thành không có sự khác nhau giữa màu lông trắng trội hay trắng lặn. Việc xác định chỉ có thể dựa trên cơ sở phân tích qua lai tạo. Ở gà con giống mang gen trắng trội, biểu hiện bên ngoài hơi vàng hơn gà có màu lông trắng lặn.

Khả năng sinh sản và sản xuất trứng

Gà Ác thành thục về tính dục sớm (113 – 125 ngày) (tuổi thành thục về tính dục được tính từ khi gà bắt đầu đẻ quả trứng dầu tiên đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% đối với đàn quần thể), trong khi đó gà Ri là 135 – 144 ngày, gà Đông Tảo là 165 ngày, gà Hồ 240 – 255 ngày… Tỷ lệ đẻ của gà Ác thấp chỉ đạt từ cao nhất là 40,2%, Sản lượng trứng bình quân đạt 80,4 – 105 quả/mái/năm. Khối lượng trứng nhỏ chỉ đạt bình quân từ 30 – 31g nhỏ nhất trong các loại trứng gà nội, tuy vậy nhưng tỷ lệ lòng đỏ lại khá cao 36,8% (cao nhất so với các loại trứng gia cầm khác), chỉ số Haugh đạt 82,9.

Thành phần dinh dưỡng của trứng gà Ác cao, hàm lượng protein chiếm 17,6%, hàm lượng mỡ trong trứng đặc biệt cao, đây là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng vì mỡ trong trứng thường ở dạng nhũ hoá và dễ tiêu hoá. Trứng gà Ác rất nhỏ nên phải có chế độ ấp nở riêng thì mới đạt hiệu quả kinh tế cao. Một số hộ nông dân chăn nuôi theo phương thức bán chăn thả hoặc chăn thả tự do thường cho gà mẹ ấp, tỷ lệ nở /tổng số trứng ấp có khi lên đến 100%. Trong điều kiện chăn nuôi tập trung, tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 10 quả trứng giống là 2,32 kg, ở mức trung bình so với các giống gà nội khác.

Khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt

Tỷ lệ nuôi sống của gà Ác khá cao đạt 93,6 – 96,9%. Gà Ác có khả năng chịu nóng tốt nhưng chịu lạnh kém. Nếu trong những tuần đầu gà được sưởi ấm tốt, tỷ lệ nuôi sống thậm chí đạt đến 100%. Gà Ác có khối lượng cơ thể nhỏ. Khối lượng 1 ngày tuổi, trung bình gà mái đạt 18,5g và gà trống là 18,8g, tương tự như vậy ở 4 tuần tuổi là 114,6g và 128,6g và ở 9 tuần tuổi là 378,6g và 466,9g. Mức độ tăng khối lượng tuyệt đối thấp chỉ đạt cao nhất là 11,1g ở 9 tuần tuổi. Mức độ tăng khối lượng tuyệt đối ở gà Ác là thấp nhất so với các giống gà nội khác. Mức tiêu thụ thức ăn hàng ngày của gà Ác thấp (26,2 – 38g/con/ngày ở 9 tuần tuổi). Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng trong điều kiện nuôi nhốt của gà Ác ở mức trung bình so với các giống gà nội khác (3,31kg/kg tăng khối lượng ở 9 tuần tuổi).

Tiến hành mổ khảo sát gà Ác ở 3 thời điểm khác nhau (7,8 và 9 tuần tuổi) cho thấy tỷ lệ thịt xẻ của gà Ác dao động từ 69,5 đến 72,9%, tỷ lệ này có cao hơn chút ít so với gà xương đen Trung Quốc (65,6% ở thời điểm giết mổ là 13 tuần tuổi). Tỷ lệ các phần thân thịt của gà Ác đạt được là tương đương với các giống gà nội khác. Kết quả mổ khảo sát ở 3 thời điểm cho thấy: Tuổi giết mổ thích hợp của gà Ác là 8 tuần tuổi vì lúc này tỷ lệ các phần thân thịt đều cao hơn ở tuần tuổi thứ 7 và cao hơn hoặc bằng ở tuần tuổi thứ 9.

Phẩm chất thịt của gà Ác

Đánh giá phẩm chất thịt gà Ác ở 8 tuần tuổi cho thấy: Thịt gà Ác có màu đen. Bản chất của sắc tố đen chủ yếu là do hàm lượng melenin trong thịt đóng vai trò quyết định. Yếu tố ảnh hưởng chính ở đây là do di truyền.

Đánh giá chất lượng cảm quan ta thấy thự gà được đánh giá là có vị ngon nhất so với thịt gà Ri và ga công nghiệp. Sự hao hụt khối lượng sau khi chế biến (luộc) của thịt gà Ác là thấp nhất 19,2% so với 21,3% ở gà Ri và 26,2% ở gà công nghiệp. Độ pH của thịt gà Ác sau khi giết mổ 24 giờ đạt bình quân là 5,9 – 6,4 nằm trong khoảng cho phép. Độ pH này có ảnh hưởng lớn đến độ dai và khả năng giữ nước của thịt, chính vì vậy mà tỷ lệ hao hụt khi nấu thấp. Hàm lượng collagen trong thịt gà Ác cũng đạt rất cao, chính vì vậy mà độ dai chắc của thịt gà Ác cao (gà Ác được giết mổ ở 8 tuần tuổi với khối lượng chỉ đạt 309 g nhưng thịt lại rất dai chắc). Trong thực tế người ta đã cố gắng cải thiện độ dai chắc của thịt bằng cách sử dụng các tác nhân vật lý (áp suất cao) để làm cho thịt gia cầm dai chắc hơn làm tăng tính ngon miệng. Khả năng giữ nước trong thịt gà Ác cao (31,5 – 33,1%) trong khi đó ở thịt gà broiler chỉ đạt 15,1% và ở thịt đùi gà tây chỉ đạt 12,8%.

Hàm lượng protein trong thụ gà Ác đạt tương đối cao (21,9 – 24,6%) trong khi đó ở thịt gà Ri là 21,1 – 23,6%), hàm lượng mỡ thấp (0,6 – 2,0%). Hàm lượng protein cao, hàm lượng mỡ thô trong thịt gà Ác củng tương đối cao làm tăng tính ngon miệng của người tiêu dùng, điều này cũng phản ánh kết quả đánh giá chất lượng cảm quan của thịt gà Ác là hoàn toàn chính xác. Thịt gà Ác có chứa tới 16 acid amin với hàm lượng tương đối cao, đặc biệt là các acid aniin không thay thế như Histidine (0,9%), Threonine (1,1%), Arginine (1,5%), Phenylalanine (1,0%), Isoleucine (1,1%), Leucine (2,0%), Lysine (2,0%). Hàm lượng acid béo trong thịt gà Ác cũng rất cao và biến động rất lớn, đặc biệt có chứa hầu hết các acid béo quan trọng. Hàm lượng các acid béo không no mạch đa đạt từ 14,4 – 21,0%, acid béo không no mạch đơn chiếm 17,02 – 28,15%. Tỷ lệ các acid béo omega 3/omega 6 đạt 0,43 – 1,14% là hoàn toàn hợp lý. Thịt gà Ác có chứa hầu hết các acid béo cần thiết và hàm lượng một số acid béo không no mạch đa rất cao so với thịt gà broiler như acid béo arachidonic (C20:4) (3,94% so với 0,53%). Hàm lượng một số các nguyên tố khoáng vi lượng trong thịt gà Ác tương đối cao như Sắt: 19,0 – 23,0 mg, cao gấp 11 – 16 lần so với thịt gà broiler. Hàm lượng Mangan cao gấp 8,6 lần, Đồng cao gấp 1,5 lần. Hàm lượng các nguyên tố khoáng đa lượng cũng rất cao như Natrium đạt 215,7 mg, Kalium đạt 441 mg, Calcium đạt 7,1 mg. Hàm lượng vitamin A trong thịt gà Ác đạt 50,7 -56,0 ug/100g cao hơn thịt gà broiler (26ng/100g). Vitamin A đóng vai trò quan trọng tham gia vào quá trình tổng hợp protein, thẩm thấu của tế bào, xây dựng và bảo vệ tế bào biểu mô, tổng hợp steroid (hormon sinh sản, hormon tuyến trên thận) và tiêu hoá carbonhydrate, cấu thành nên bộ xương. Thịt gà Ác chính là nguồn bổ sung vitamin A cần thiết cho cơ thể.

Các kết quả phân tích về phẩm chất thịt của gà Ác đã góp phần quan trọng phản ánh giá trị đặc biệt của thịt gà Ác Việt nam.

Những Điều Cần Biết Cơ Bản Về Màu Lông Gà Nòi / 2023

Cái ý thích này thường đeo đuổi suốt đời người nuôi gà, ít trường hợp có tính giai đoạn. Xét ra, đây cũng là chuyện bình thường, nó vô thưởng vô phạt. Vì tài nghề của con gà không ở sắc lông mà là do ở đặc tính đi truyền từ con gà mái mẹ. Mái mẹ càng nổi tiếng lì đòn, có những cú đá, cú đạp “đáng đồng tiền bát gạo” thì con nó mới dữ dằn được.

Khi lâm trận, con gà hơn nhau ở đòn, ở thế, ở nước khuya … Gà nào xuất chiêu toàn là đòn độc, thế hiểm, chịu lì đòn, dù kiệt sức đến nơi vẫn không chịu chạy… Thì đó là những con gà dữ, ai cũng thích nuôi.

Thế nhưng, nuôi gà nòi thì người nào cũng nên tìm hiều đến sự “hạp” hay “kỵ” của các sắc lông trên mình gà ra sao để cáp độ. Nhưng trước khi đề cập đến vấn đề này. Thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu thêm về sắc lông của gà nòi ra sao

Sắc lông gà đòn

Gà đoàn có 5 sắc lông chính sau đây.

Gà Ô : lông đen tuyền.

Gà Điều : lông đỏ sẫm pha xám.

Gà Nhạn : lông trắng.

Gà Xám : lông màu xám tro.

Gà Ó : lông lem luốc như lông chim Ó, hoặc hung hung đỏ lợt như lông diều hâu.

Đó là 5 sắc lông chính, ngoài ra gà đòn còn có màu lông ngũ sắc, gọi là gà Ngũ sắc, vì trên mình có 5 màu lông: đen, trắng, vàng, đỏ, xám trộn lẫn với nhau từa tựa như gà bông vảy.

Cũng xin được trình bày thêm :

Giống gà Ô còn có Ô Ướt (lông đen mượt có ánh sắc xanh trông rất bảnh trai). Cũng thường gặp gà Ô gián cánh (rìa một hoặc cả hai cánh có vài chiếc lông đại vũ màu tráng).

Giống gà Xám thì có “Xám Son” và “Xám Khô”. Xám Son thì thân hình toàn lông xám, nhưng một ít lông cánh và lông mã thì màu đỏ thẫm. Còn Xám Khô là gà toàn thân màu xám khô khốc, loại này thường có lông mã lại (như lông gà mái).

Trong sáu màu lông (kể cả gà Ngũ sắc) vừa kể, đa số dân nuôi gà nòi thích nhất là gà Ô (nhất là Ô Ướt), kế đó là gà Xám, rồi gà Điều. Gà Nhạn và gà Ó ít người thích nuôi. Đa số Ô Ướt và Xám Khô đá rất hay.

Sắc lông và cựa: Gà cựa rất nghèo nàn về sắc lông, chỉ có hai màu chính sau đây :

Gà Điều : lông đỏ sẫm.

Gà Chuối : lông đen nhạt thỉnh thoảng có pha trộn những lông trắng pha vàng lợt. Phần lưng, nhất là lông mã rất nhiều lông trắng pha vàng lợt.

Trong hai sắc lông trên, người ta chuộng nuôi gà Điều nhiều hơn, mật phần vì đẹp, phần nữa là đá xuất sắc. Gà chuối trông rất bắt mắt, lại ít có con gặp hên khi cáp độ. Người xưa cho rằng gà Chuối không ứng với Ngũ Hành.

Chọn lông ứng với ngũ hành

Kinh nghiệm của ông bà ta xưa cho rằng, sắc lông gà ứng với Ngũ Hành.

về “Mạng” thì:

Gà Ô thuộc mạng Thủy.

Gà Điều thuộc mạng Hỏa.

Gà Nhạn thuộc mạng Kim.

Gà Xám thuộc mạng Mộc.

Gà Ó thuộc mạng Thổ.

Nếu so sánh với Ngũ Hành tương khắc thì :

Gà Nhạn kị gà Xám (Kim khắc Mộc)

Gà Xám kị gà Điều (Mộc khắc Hỏa)

Gà Điều kị gà Ô (Hỏa khắc Thủy)

Gà Ô kị gà Ó (Thủy khác Thổ)

Điều này có nghĩa ôm con nòi Ô ra trường nên tránh cáp với gà Ó. Hoặc đem gà Điều ra trường nên tránh cáp độ với gà Xám…

Dĩ nhiên, khi cáp một độ gà, không phải chỉ căn cứ vào sắc lông không thôi, mà còn cân phân đến phần vóc dáng, thần sắc, vảy, cựa, bắp đuôi …của gà đối thủ hơn kém với gà mình ra sao mới đi đến quyết định sau cùng là nên cáp độ hay thôi.

Khi cáp một độ gà ta phải cố nắm phần thắng về mình, do đó cần phải xét đoán kỹ. Trường hợp này đúng là biết người biết mình trăm trận mới trăm thắng. Đáng trách cho những người gặp gà nào cũng cho đá, bất chấp đôi thủ hơn kém ra sao, đôi khi vô tình tự giết con gà nòi quí giá của mình mà không hay biết …

Cũng như các loài chim thú khác, gà trống bao giờ cũng có bộ lông sặc sỡ hơn gà mái. Lông gà trống thì tươi tắn, có ánh sắc, còn bộ lông gà mái thường tối tăm. Sắc lông gà mái cũng đủ dạng : đen, xám, trắng, ó và điều nhưng phần nhiều mái nòi là gà Ô và gà Xám.

Trống nòi có 3 dạng lông

Lông mã lại : Toàn thân gà trống chỉ khoác một bộ lông như lông gà mái. Nghĩa là không có lông mã. Gà có bộ lông này trông gọn gàng, mạnh dạn và thường đá hay nên ai cũng thích nuôi.

Lông mã : Đa số gà trống nòi đều có lông mã, có nơi gọi là lông kim hay Mã kim. Đây là những sợi lông vừa nhỏ vừa dài buông thòng từ lưng xuống đến lưng chừng đùi, có lông mã dài đến tận gối. Lông mã chỉ làm đẹp cho con gà chứ không ảnh hưởng gì đến tài nghề của nó.

Lông voi : Loại lông này hiếm thấy, ngàn con mới có một, nhưng quí nhất là ở gà mái. Lông voi y như sợi tóc nhưng to bằng sợi kẽm nhỏ. Một con gà thường có một đến vài ba lông voi mọc gần nhau hay cách xa nhau. Có con lông này mọc ở gần đuôi, có con lông voi mọc ở cánh. Lông voi ít mọc thẩng mà quăn queo, hoặc xoắn lại như cái lò xo đã giãn. Đặc biệt, nếu kéo căng ra thì sợi lông sẽ giãn thẳng, nhưng khi buông tay thì nó xoắn lại theo dạng cũ Trước đây có người nuôi được một con mái ô lông voi, con cháu nó thường có nhiều vảy quí như Án Thiên, Vảy Qui và đá ăn nhiều độ.

Nhiều người cho gà có lông voi là loại gà linh (Linh Kê), riêng người viết đánh giá đó là gà dữ.

Thế nhưng, nuôi gà nòi không phải chỉ nhìn bộ lông cho đẹp. Với gà đòn, do phải vỗ nghệ cho da thịt săn chắc nên lông ở đầu, ở cổ, đùi, bụng sau đều được cắt trụi lông. Chỉ có đôi cánh, đuôi, môt phần lông ức và trên lưng và chừa lông lại mà thôi. Phải chờ cho gà thật cứng lông, tức lông đã già mới dùng kéo cắt sát gốc từng chiếc một. Vói gà cựa, bộ lông phải được giữ nguyên vẹn, và gà nào càng dày lông mới tốt.

Tìm kiếm phổ biến:

ga choi dep

mau ga da ki nhau

ga xam kho

mau mang ga da

gà chuối mạng gì

mau long ga choi

cắt lông gà chọi đẹp

hinh anh ga choi ngu sac

xem mau mang ga da cua sat

mau mang ga chuoi

Bạn đang xem bài viết Giống Gà Ác: Đặc Điểm Cơ Bản Cần Nắm / 2023 trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!