Xem Nhiều 2/2023 #️ Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Đồng Tháp # Top 10 Trend | Ruybangxanh.org

Xem Nhiều 2/2023 # Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Đồng Tháp # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Đồng Tháp mới nhất trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Báo cáo thống kê

Kết quả sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn tháng 6 và phương hướng thực hiện nhiệm vụ tháng 7 năm 2020

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN THÁNG 6

1. Về trồng trọt

1.1. Đối với cây lúa

Lũy kế diện tích xuống giống lúa Hè Thu là 189.542 ha (đạt 102,5% so với kế hoạch), tăng 4.569 ha so với tháng trước. Diện tích thu hoạch 75.404 ha, năng suất bình quân 6,18 tấn/ha.

Vụ Thu Đông: Xuống giống 24.534 ha/120.008 ha (đạt 20,44 % so với kế hoạch), tập trung chủ yếu 2 huyện Tháp Mười và Cao Lãnh trên diện tích thu hoạch lúa Hè Thu sớm, trong đó lúa đang giai đoạn mạ 24.178 ha, đẻ nhánh 356 ha.

Tình hình tiêu thụ lúa Hè Thu: So với tháng trước, giá lúa tăng đối với cả nhóm giống lúa thường và giống lúa chất lượng cao, giá nếp tăng.

1.2. Hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày

   Hoa màu cây công nghiệp ngắn ngày xuống giống được 27.636,8 ha (đạt 74,94% so với kế hoạch), trong đó vụ Đông Xuân đã thu hoạch dứt điểm là 12.054,5 ha, vụ Hè Thu xuống giống được 15.143,7 ha (tăng 1.310,2 ha so với tháng trước) bao gồm bắp, ớt và rau, dưa các loại. Vụ Thu Đông xuống giống được 438,6 ha. Giá bán hầu hết các mặt hàng hoa màu tăng so với tháng trước.

1.3. Cây ăn trái

Tổng diện tích trồng cây ăn trái là 32.639 ha. Giá bán có xu hướng tăng trên một số mặt hàng trái cây chủ lực do nguồn cung giảm và nhu cầu tiêu thụ tăng.

2. Về Chăn nuôi

Trong tháng phát hiện ổ dịch dịch tả heo Châu Phi tái phát (100 con heo) tại hộ ông Đoàn Văn Xấu ấp Mỹ Đông Bốn, xã Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh. Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi, Thú y Thủy sản cử cán bộ phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Cao Lãnh tiến hành xử lý toàn bộ số heo còn lại (20 con) đúng theo quy định. Đồng thời, khuyến cáo các hộ chăn nuôi tiếp tục giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh; thực hiện cách ly, hạn chế tối đa người lạ ra vào trại; thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng hàng ngày; tiêm phòng đầy đủ các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác. Đồng thời thực hiện Công văn số 1244/VPUBND-KT ngày 09 tháng 6 năm 2020 của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tập trung phòng, chống bệnh Dịch tả heo Châu Phi tái phát và lây lan trên diện rộng, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu UBND Tỉnh văn bản về việc tăng cường thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh Dịch tả heo Châu Phi tái phát và lây lan trên diện rộng.

Về công tác tiêm phòng:

– Trên gia cầm: Lũy kế tiêm phòng cúm đợt I/2020 tiêm phòng được 442.910 con gà mũi 1, chiếm tỷ lệ 61,61% tổng đàn thuộc diện tiêm phòng; 470 con gà mũi 2, chiếm tỷ lệ 0,95 % tổng đàn thuộc diện tiêm phòng, 3.519.499 con vịt mũi 1, chiếm tỷ lệ 90,48% tổng đàn thuộc diện tiêm; 702.456 con vịt mũi 2, chiếm tỷ lệ 56,18% tổng đàn thuộc diện tiêm. Tiêm phòng cúm đợt II/2020 đến ngày 14/6/2020 thực hiện tiêm phòng được 9.159 con gà mũi 1, chiếm tỷ lệ 3,96% tổng đàn thuộc diện tiêm phòng, 697 con gà mũi 2, chiếm tỷ lệ 29,48% tổng đàn thuộc diện tiêm phòng, 57.213 con vịt mũi 1, chiếm tỷ lệ 6% tổng đàn thuộc diện tiêm, 2.850 con vịt mũi 2, chiếm tỷ lệ 39,7% tổng đàn thuộc diện tiêm.

– Trên gia súc:

Thời gian

Tổng đàn

Dịch tả heo

Tụ huyết trùng

Phó thương hàn

Tai xanh

SLTP (con)

Tỷ lệ (%)

SLTP  (con)

Tỷ lệ (%)

SLTP  (con)

Tỷ lệ (%)

SLTP (con)

Tỷ lệ (%)

Tháng 6/2020

   47.339

    25.034

52,88

  24.010

50,72

 24.122

50,96

  4.514

9,54

Về vệ sinh tiêu độc khử trùng: Lũy kế từ đầu năm đến nay, cấp phát và tiêu độc khử trùng được 61.815 lít Benkocid phục vụ công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng môi trường và khu vực chăn nuôi.

Đến thời điểm hiện tại tổng đàn gia súc của tỉnh là 118.711 con, trong đó đàn heo là 79.247 con, bò 37.228, trâu 2.236 con. Đàn gia cầm 6.784.871 con, trong đó đàn gà là 1.379.264 con, đàn vịt 5.405.607 con.

Về thực hiện tái cơ cấu ngành hàng vịt: Hiện tại toàn tỉnh có 05 THT với 22 thành viên chăn nuôi vịt hướng trứng an toàn sinh học với tổng đàn vịt là: 143.000 con, trong đó: đàn vịt đang đẻ trứng là 77.020 con với sản lượng trứng bình quân/đêm là 53.914 trứng. Tình hình liên kết tiêu thụ ngành hàng trứng vịt đến thời điểm hiện tại, các hộ chăn nuôi vịt đang đợi thương thảo hợp đồng từ phía công ty Ba Huân để tiến hành liên kết mua bán trứng. Giá bán trứng vịt bình quân khoảng 2.169 đồng/trứng, giảm 81 đồng/trứng so với tháng trước.

3. Về Thủy sản

Diện tích thả nuôi trong tháng là 422,8 ha. Trong đó, diện tích cá tra  107,25 ha; tôm 146,5 ha; cá khác 169,05 ha. Lũy kế diện tích nuôi thủy sản đến ngày 14/6/2020 là 5.219,88 ha. Trong đó, diện tích nuôi cá tra 1.576,45 ha; tôm 763,95 ha; cá khác 2.879,48 ha; lồng bè 3.744 chiếc.

Sản lượng thu hoạch đến ngày 14/6/2020 là 230.596,82 tấn. Trong đó sản lượng: Cá tra 188.058 tấn; tôm 958,25; cá khác 23.672,57 tấn; lồng bè 17.908 tấn.

4. Về lâm nghiệp

Bảo vệ và phát triển rừng: Phân công lực lượng Kiểm lâm trực phòng cháy chữa cháy rừng tại Văn phòng Chi cục Kiểm lâm và 2 Hạt Kiểm lâm liên huyện; vận hành máy chữa cháy thường xuyên, bảo dưỡng các thiết bị chữa cháy đảm bảo hoạt động tốt; phối hợp Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ (Công an Tỉnh) tổ chức kiểm tra đột xuất đối với 03 đơn vị chủ rừng có nguy cơ cháy cao trên địa bàn tỉnh (rừng phòng hộ Biên giới Dinh Bà, Vườn Quốc Gia Tràm Chim, Dự án Hồ rừng).

Phòng cháy chữa cháy: Xây dựng cấp dự báo cháy rừng và thông báo rộng rãi trên Đài Phát thanh và Truyền hình Đồng Tháp 1, Báo Đồng Tháp và gửi văn bản trực tiếp đến tất cả chủ rừng trên địa bàn tỉnh. Trong tháng không xảy ra cháy rừng.

Phát triển kinh tế từ rừng: Trong tháng diện tích rừng khai thác 6,41 ha tại rừng phòng hộ môi sinh Bắc Tháp Mười. Lũy kế từ đầu năm đến nay, diện tích rừng khai thác là 41,86 ha (trong đó: Trại thực nghiệm nông lâm nghiệp Động Cát 14,93 ha, rừng tràm Công an tỉnh 20,52 ha, rừng phòng hộ môi sinh Bắc Tháp Mười 6,41 ha), diện tích rừng mới trồng là 63,18 ha (rừng tràm Công an tỉnh).

5. Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh tế tập thể

Trong tháng thành lập mới 03 Hợp tác xã. Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn toàn Tỉnh có: 168 HTXNN. Trong đó, có 165 HTX đang hoạt động, 03 HTX đang làm thủ tục giải thể; 932 THT, 106 trang trại (không tăng so với tháng trước).

6. Phát triển mô hình hội quán

Trong tháng có 02 hội quán thành lập mới. Hiện toàn tỉnh có 94 hội quán được thành lập với có 5.162 thành viên. Thành viên hội quán được thông tin về tình hình dịch bệnh Covid 19 trên thế giới và trong nước, tình hình nông sản trong và ngoài nước, các mô hình khởi nghiệp, mô hình sản xuất nông nghiệp mới hiệu quả trên địa bàn tỉnh. Các thành viên chia sẻ kinh nghiệm sản xuất theo hướng mới, đẩy mạnh sản xuất để phục hồi nền kinh tế sau thời kỳ chống dịch, kết nối doanh nghiệp với nông dân để liên kết sản xuất- tiêu thụ, hợp tác sản xuất theo hướng nông sản sạch, chất lượng, sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP đủ tiêu chuẩn vào các siêu thị và hướng đến xuất khẩu.

7. Xây dựng nông thôn mới

Đối với xã nông thôn mới: tính đến tháng 6/2020, toàn tỉnh có 78/117 xã (đạt 66,66%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 2 xã so với tháng trước); 19 xã đạt từ 16 – 18 tiêu chí và 20 xã đạt từ 14 – 15 tiêu chí.

Đối với huyện đạt chuẩn nông thôn mới: Huyện Tháp Mười có 12/12 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đã trình hồ sơ đề nghị xét công nhân huyện đạt NTM năm 2019 và ngày 26/2/2020, Đoàn Thẩm định của tỉnh đã tổ chức thẩm tra hồ sơ và khảo sát thực tế tại huyện Tháp Mười. Ngoài ra, Đoàn công tác Trung ương đã thẩm định hồ sơ và khảo sát thực địa về kết quả xây dựng nông thôn mới tại thành phố Cao Lãnh và thị xã Hồng Ngự.

8. Về Thủy lợi và đầu tư xây dựng các công trình trong nông nghiệp nông thôn

            Công trình vốn thủy lợi phí: Kế hoạch năm 2020 đầu tư 219 công trình các loại, chiều dài 392.792 m, khối lượng đào đắp 871.398 m3, tổng mức đầu tư 431.167 triệu đồng. Trong tháng thực hiện thêm 18 công trình các loại, chiều dài 24.844 m, khối lượng 68.722 m3, kinh phí thực hiện 12.513 triệu đồng, giải ngân 11.701 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 8/6/2020 đang thực hiện 125 công trình các loại, chiều dài 145.449 m, khối lượng đào đắp 431.101 m3, kinh phí thực hiện 68.846 triệu đồng đạt 39% so vốn tỉnh phân bổ, giải ngân 39.476 triệu đồng đạt 22% so vốn tỉnh phân bổ.

Công trình vốn hỗ trợ phát triển đất trồng lúa: Kế hoạch đầu tư 154 công trình các loại, chiều dài 273.706 m, khối lượng đào đắp 374.773 m3, tổng mức đầu tư 555.679 triệu đồng. Trong tháng thực hiện thêm 8 công trình các loại, chiều dài 6.527 m, khối lượng 2.665 m3, kinh phí thực hiện 8.015 triệu đồng, giải ngân 17.588 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 8/6/2020 đang thực hiện 84 công trình các loại, chiều dài 132.722 m, khối lượng đào đắp 106.852 m3, kinh phí thực hiện 56.059 triệu đồng đạt 25% so vốn tỉnh phân bổ, giải ngân 54.721 triệu đồng đạt 25% so vốn tỉnh phân bổ.

Về đầu tư xây dựng các công trình trong nông nghiệp nông thôn: Trong năm 2020 Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện nhiệm vụ Chủ đầu tư tổng 04 công trình chuyển tiếp 2019 với nguồn vốn kế hoạch được giao là 298.519,87 triệu đồng. Đến nay, tổng giá trị giải ngân là 20.004 triệu đồng, đạt 7% so với kế hoạch.

9. Công tác Thanh tra, kiểm tra:

Trong tháng thành lập đoàn kiểm tra 25 cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh, đoàn kiểm tra đã lấy mẫu kiểm tra chất lượng gồm: 24 mẫu phân bón, 12 mẫu thuốc bảo vệ thực vật, 15 mẫu thuốc thú y, 24 mẫu thức ăn chăn nuôi và đang chờ kết quả.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

– Tình hình bệnh trên các loại cây trồng vật nuôi trong tháng chỉ xảy ra nhỏ lẻ không đáng kể. Tuy nhiên, do hiện nay bắt đầu vào mùa mưa thời tiết diễn biến phức tạp tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh Dịch tả heo Châu Phi tái phát và dễ phát sinh một số bệnh trên các loại cây trồng vật nuôi khác.

            – Tình hình tiêu thụ các loại nông, lâm, thủy sản tăng so với tháng trước do hiện nay dịch bệnh Covid -19 đã được kiểm soát tốt, một số mặt hàng nông sản và trái cây có giá tăng trở lại do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

            – Tiến độ giải ngân các công trình còn chậm do thủ tục đầu tư mất nhiều thời gian nên công trình chậm tiến độ so với kế hoạch.

III. PHƯƠNG HƯỚNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÁNG 7 NĂM 2020

– Thực hiện Công văn số 197/UBND-THVX ngày 05/5/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh, ổn định xã hội trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

– Xây dựng Đề án Nông nghiệp thông minh 2021-2030.

– Xây dựng kế hoạch: chuyển đổi cơ cấu cây trồng năm 2021; kế hoạch đánh giá thực hiện Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 và giải pháp cho giai đoạn 2021 – 2035.

– Triển khai Kế hoạch giám sát môi trường nước nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn huyện Tam Nông.

– Theo dõi, đôn đốc tiến độ các công trình xây dựng cơ bản.

– Thực hiện công tác xây dựng chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp.

– Tiếp tục theo dõi các ngành hàng chủ lực trong Đề án tái cơ cấu nông nghiệp.

– Hội nghị trực tuyến các chính sách nông nghiệp và PTNT.

– Tọa đàm kết nối giữa các nhà vườn Lai Vung trong việc sử dụng phân bón Hữu cơ theo định hướng Đề án khôi phục cây quýt hồng.

– Tiếp tục kiểm tra thực tế tại các huyện, thị xã, thành phố các vấn đề về nông nghiệp, phát triển nông thôn, xây dựng Nông thôn mới.

– Thông qua Chủ trương đầu tư và hỗ trợ cơ sở hạ tầng Dự án “Liên kết sản xuất cá tra giống chất lượng cao Cồn Chính sách, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp và Cồn Vĩnh Hòa, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

– Trình thông qua Dự thảo Quyết định mật độ chăn nuôi; Nghị quyết quy định khu vực thuộc nội thành của thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư không được phép chăn nuôi, vùng nuôi chim yến và các chính sách di dời ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi.

– Tiếp tục theo dõi tình hình dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi nhất là bệnh Cúm gia cầm, Dịch tả heo Châu Phi, tình hình tái đàn heo, tình hình tiêu thụ nông, lâm, thủy sản và công tác phòng chống thiên tai trên địa bàn tỉnh./.

Chi tiết mời xem Báo cáo: 1361/BC-SNN

Tuyết Khương

Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn

     

TT

Chủ CSGM

Quận, huyện

Thương hiệu

Địa chỉ

Loại GC

1

Lê Hoàng Chương

Bình Chánh

ÚT CHƯƠNG

A1/4 Ấp 2 QL 50, xã Bình Hưng, BC

Vịt

2

Huỳnh Thanh Trung

Bình Chánh

HUỲNH GIA

A1/18 Quốc lộ 50, ấp 2, xã Bình Hưng, BC

Vịt

3 Nguyễn Thị Huệ

Bình Chánh

HAI KỈNH

A1/11 Quốc lộ 50, ấp 2, xã Bình Hưng, BC

Vịt

4 Trương Kim Duy

Bình Chánh

TRƯƠNG PHÁT

A1/10 Quốc lộ 50, ấp 2, xã Bình Hưng, BC

Vịt gà

5 Nguyễn Thị Hồng Điệp

Bình Chánh

ÚT NHI

A1/8 Quốc lộ 50, ấp 2, xã Bình Hưng, BC

Vịt gà

6 Trần Văn Sáu

Bình Chánh

MƯỜI MUÔN

A30/9 Quốc lộ 50 , ấp 1, xã Bình Hưng, BC

Vịt

7 Trần Văn Tỷ

Bình Chánh

BÌNH HƯNG

A31/8 Quốc lộ 50,

 

ấp 1, xã Bình Hưng, BC

Vịt

8 Trần Văn Để

Bình Chánh

HAI ĐỂ

A30/6 Quốc lộ 50, ấp 1, xã Bình Hưng, BC

Vịt gà

9

Nguyễn Thị Thanh Toàn

Bình Chánh

THANH TOÀN

A30/15 Quốc lộ 50, ấp 1, xã Bình Hưng, BC

Vịt gà

10

Trần Thị Ngọc Tuyền

Bình Chánh

NGỌC TUYỀN

A30/5 Quốc lộ 50, ấp 1, xã Bình Hưng, BC

Vịt gà

11

Nguyễn Thị Hoa

Bình Chánh

TÂN THÀNH

A30/16 Quốc lộ 50, ấp 1, xã Bình Hưng, BC

Vịt gà

12

Nguyễn Công Luận

Bình Tân

CÔNG LUẬN

04/30 tổ 4 KP3, P. Bình Hưng Hòa A, B. Tân

13 Ngô Thị Thu Sương

Bình Tân

NGỌC SƯƠNG

368/13 Kinh dương Vương, KP2, P. An Lạc A, B. Tân

14 Phạm Thị Tốt

Bình Thạnh

KIM NGÂN

106 Diên Hồng, Phường 1, B Thạnh

Gà vịt

15 Nguyễn Quốc Thiên Hương

Bình Thạnh

THANH ĐA

11/2 XVNT P,28, Bình Thạnh

Vịt gà

16 Lê Thị Thu Nga

Bình Thạnh

THU NGA

108 đường

 

Bình Quới, phường 27, Q.BT

Vịt gà

17 Phan Văn Sáu

Cần Giờ

SÁU CHUNG

Chợ Bình Khánh, huyện Cần Giờ

Gà Vịt Chim

18 Nguyễn Thị Lợi

Cần Giờ

7 TỎ

Chợ Cần Thạnh, huyện Cần Giờ

Gà vịt 19 Nguyễn Văn Bạn

Củ Chi

THANH LÝ

Tổ 3 Aáp 4 Lộ 8, Xã Hòa Phú, CC

Gà vịt

20 Lê Huỳnh Sơn

Củ Chi

HUỲNH SƠN

Tổ 12, Ấp 1, Xã Tân Thạnh Đông, CC

Gà vịt

21

Đoàn văn Thật

Củ Chi

MINH PHỤNG

Tổ 1, Ấp 2 Xã Hòa Phú, CC

Gà Vịt

22

Hoàng Đức Thu

Gò Vấp

HẢI TRIỀU

332/60/10 Dương Quảng Hàm, Phường 5, GV

23 Nguyễn Xuân Minh Gò Vấp

HOÀNG MINH

6/29B Thống Nhất, phường 16, GV

24 Trịnh Thị Thật Gò Vấp

MỸ CHÂU

332/53A Dương Quảng Hàm Phường 5, GV

25 Hoàng Thụy An Gò Vấp

HIỀN AN

24/483C Lê Đức Thọ, Phường 16, GV

26 Tôn Thanh Thùy Gò Vấp PHẠM TÔN

5/4 Nguyễn Văn Lượng, Phường 16, GV

27 Trần Quang Tiến

Gò Vấp

TRUNG TÍN

332/175A Dương Quảng Hàm, Phường 5, GV

28 Trần Thị Thu

Gò Vấp

SỸ THU

22/1B Phạm Văn Chiêu, Phường 16, GV

29 Phạm Văn Xinh Gò Vấp

CS XINH

332/179B Nguyễn Thái Sơn , Phường 5, GV

30 Phan Tấn Quốc

Hóc Môn

MỸ TRANG

34/5A Aáp Đông Lân, Xã Bà Điểm,

 

HM

31 Hồ Minh Thiện

Hóc Môn

MINH THIỆN

40/2B Ấp 3, Xã Nhị Bình, HM

Cút

32 Nguyễn Hoàng Khánh

Hóc Môn

PHÚ TIÊN

4A Trần Văn Mười, ấp 2, xã Xuân Thới Sơn, HM

33 Nguyễn Quốc Oanh

Nhà Bè

HỒNG OANH

88 ấp 2, Nguyễn Văn Tạo, xã Long Thới

Gà vịt 34 Huỳnh Văn Đẩu Nhà Bè

3 ĐẨU

5/20 Lê Văn Lương, ấp 4, xã Nhơn Đức, NB

Gà Vịt

35

Nguyễn Thị Hiếu

Quận 2

HƯNG THÀNH

71 Lương Định Của, phường Bình Khánh, Q.2

Gà Vịt Chim

36 Bùi Thị Nga

Quận 7

HẠNH NGA

Chợ Tân Thuận Đông, Q.7

Gà Vịt Chim

37 Trần Thị Bình

Quận 8

LONG BÌNH

1975/70 Tạ Quang Bửu, Phường 6, Q.8

Gà Vịt Chim

38 Phạm Thị Hoa

Quận 8

PHÚC HOA

399/38 Liên tỉnh 5, F.5, Q.8

Vịt gà 39 Nguyễn Văn Sơn

Quận 8

HÙNG SƯƠNG

399/36 Liên tỉnh 5, F.5, Q.8

Vịt Gà

40 Nguyễn Thị Gái

Quận 8

NHƯ LONG

399/6A Liên tỉnh 5, F.5, Q.8

Vịt Gà

41 Nguyễn Thị Bé Năm Quận 8

BÉ NĂM

399/7 Liên tỉnh 5, F5, Q8

Vịt Gà

42 Lê Hồng Quỳnh Quận 8

HỒNG HUỲNH

399/35 Liên tỉnh 5, F.5, Q.8

Vịt Gà

43 Phạm thị Phương Quận 8

PHƯƠNG NAM

399/5A Liên tỉnh 5, F.5, Q8

Vịt Gà

44 Phạm Văn Minh

Quận 12

PHÚ AN SINH

154/ 1 Tô Ngọc Vân, KP1, P.Thạnh Xuân, Q.12

Gà Chim

45 Khổng Thị Ánh Hồng

Quận 12

ÁNH HỒNG

87/6C KP6, P.Tân Thới Nhất, Q.12

46 Trần Thị Long

Quận 12

LONG AN

11/24A KP5, Phan Văn Hớn, P. Tân Thới Nhất, Q.12

47 Nguyễn Thị Ngọc Trâm

Quận 12

VIỆT PHƯƠNG

47/5B Tổ 24, KP2, Phường Trung Mỹ Tây,

 

Q.12

48 Nguyễn Văn Mạnh

Quận 12

MẠNH THẮNG

Tổ 24 KP2, Phường Trung Mỹ Tây, Q.12

49 Hồ Thị Đầm

Quận 12

NAM LONG

Sạp B2 Chợ Nam Long, Phường Thạnh Lộc, Q.12

Gà Vịt Chim

50 Phạm Văn Đôn

Quận 12

TÂN QUÝ ĐÔN

109 đường Lê Văn Khương, tổ 18, P. Hiệp Thành,

 

(chợ Thới An, Q.12)

Gà Vịt Chim

51 Thân thị Rượi

Tân Bình

ĐGM SỐ 1

Khu C – 211 – Chợ Phạm văn Hai, TB

Gà Vịt Chim

52 Trương Trường Sơn

Thủ Đức

TRUNG AN

11/39 Trịnh Phong Ðán, Kp 5, Linh Tây, TĐ

Gà Vịt Chim

53 Vũ Thị Kiếm

Thủ Đức

THIÊN THANH

49B/1 KP 3,Tỉnh lộ 43,P. Bình Chiểu, TĐ

54 Nguyễn Hồng Đạo

Tân Phú

GIA LONG HƯNG

7/19 Phố Chợ, tổ 18, khu phố II, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú

Gà Vịt (Trung)

Sở Nông Nghiệp Và Pttt Hà Nội

Về xã Khánh Hà (huyên Thường Tín – TP Hà Nội) hỏi thăm về chăn nuôi thì ai cũng nhắc đến anh Tiến chuyên sản xuất gà giống.

Vào thăm trang trại thấy một người chăn nuôi thực sự say mê và gắn bó với nghề “làm con giống”. Anh nói ngay nếu không đam mê, không tâm huyết sẽ thất bại ngay vì nghề này khác với nghề khác đỏi hỏi sự tỷ mỷ, tính kiên trì, có sự đầu tư không chỉ tiền của mà đòi hỏi cả kỹ thuật tốt mới có hiệu quả. Với hơn 20 năm trong nghề anh đúc rút ra điều đó và giờ đây anh đã có những thành công nhất định và sẽ quyết tâm đi theo con đường mà anh đã chọn là “chuyên sâu về sản xuất gà giống”.

Nói về thủa ban đầu bước vào nghề (năm 1994) với bao thăng trầm, đầy gian nan vất vả, khó khăn thử thách về vốn, về kỹ thuật và cũng không biết bao lần thất bại. Trước đây anh nuôi trong gia đình, diện tích nhỏ hẹp vừa ở vừa chăn nuôi với số lượng vài trăm con gà thịt, gà giống. Do chưa hiều biết về kỹ thuật nhất là kỹ thuật chọn giống và quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nên hay để dịch bệnh xảy ra đã có năm do chủ quan lơ là không tiêm phòng nên đã để gà chết cả đàn, trắng tay, thua lỗ tưởng chừng như không theo được nghề.

Không chịu thất bại, anh đến các cơ quan chuyên môn như trạm Khuyến nông, trạm Thú y, trạm Phát triển chăn nuôi của huyện để học hỏi. Tìm sách chuyên môn về đọc, đi xuống một số cơ sở chăn nuôi gà ở Phú Xuyên, Chương Mỹ, Quốc Oai … nghiên cứu tìm tòi và nhận ra sự thật bại của mình đó là chưa tuần thủ quy trình kỹ thuật chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh. Bên cạnh đó là việc chăn nuôi ở trong gia đình vừa không sản xuất lớn được vừa làm ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sửc khỏe cộng đồng. Không ít lần khi nuôi trong nhà anh đã bị bà con chòm xóm phàn nàn, có ý kiến nhiều về mùi hôi về tiếng ồn của gà của xe cộ người ra vào trại gà trong gia đình.  

Quyết tâm cộng với sự động viên của lãnh đạo địa phương, anh em bạn bè, gia đình, năm 2005 anh được chính quyền tạo điều kiện chuyển đổi ra khu quy hoạch chăn nuôi của xã Khánh Hà (khu đồng Ngọn Sẻ) với diện tích 5.000 m2 anh như được sống lại và đam mê với “nghề làm con giống”. Nghĩ ngay đến việc chỉ đi sâu vào làm con giống nên ngay từ đầu anh quy hoạch xây dựng hình thành nên 3 khu, khu chăn nuôi giành diện tích 2500m2, khu đặt máy ấp trên 200 m2, khu ra gà, đóng gói sản phẩm trên 300 m2, phần còn lại là khu hành chính, giao dịch và giành một phần để từng bước mở rộng quy mô sản xuất.

Nói về kinh nghiệm sản xuất, từ khi mở trang trại đến nay anh tập trung nuôi giống gà bố mẹ và chọn con gà Ri là chủ yếu. Hiện tại trang trại anh đang nuôi 13 ngàn con nhưng chỉ ở 3 loại giống, trong đó gà Ri chiếm trên 80%, gà lai Chọi 15 % và gà Đông Tảo 5 %. Số lượng gà đẻ trứng lớn nhưng anh sử dụng gà trống thuẩn chủng rất hợp lý (1gà trống thuần/10 gà mái). Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gà trống thuần được nuôi với chế độ chăm sóc đặc biệt về kỹ thuật cũng như về chất lượng dinh dưỡng, khẩu phần ăn vậy nên tỷ lệ đẻ trứng cao và đặc biết chất lượng trứng tốt nên tỷ lệ nở đạt khoảng 90 %. Với 6 máy ấp trứng công suất 20 ngàn quả/ máy, mỗi tuần có 2 lô khoảng 50 ngàn gà giống cung cấp đi các tỉnh trong cả nước. Một số tỉnh, thành anh thường cung cấp gà giống như Nghệ An, Khánh Hòa, Hải Phòng, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Bắc Giang …. Để tạo niềm tin cho người sử dụng con giống anh cũng trưc tiếp thông tin hướng dẫn về cách chăm sóc nuôi dưỡng cho gà để người tiêu dùng có thêm hiệu quả trong chăn nuôi. Những người mới bước vào chăn nuôi có điều kiện anh đến tận nơi hoặc cho cán bộ kỹ thuật đến hướng dẫn kỹ thuật. Với cách làm như vậy anh đã dần tạo một địa chỉ tin cậy cho người chăn nuôi sử dụng con giống từ trang trại anh vậy nên tiếng lành đồn xa hiện nay con giống của trang trại anh đã cũng cấp đi nhiều tỉnh thành trong cả nước. Được nhiều người biết đến, thời gian qua anh còn hướng dẫn cho nhiều người chăn nuôi gà làm giàu khi có đất đai và lao động tạo điều kiện cho người nông dân quanh khu vực và các tỉnh thành trong cả nước. 

Nói về thu nhập và tạo điệu kiện cho người lao động tại trang trại, do làm tốt khâu cải tiến kỹ thuật nên từ khâu chăm sóc nuôi dưỡng vệ sinh thú y và vận hành máy ấp trứng cũng như tiêu thụ sản phẩm trang trại anh chỉ sử dụng 10 nhân công lao động, thu nhập bình quân 7 – 8 triệu đồng/người/tháng. Về hiệu quả kinh tế của trang trại, anh cũng cho biết sau khi trừ chi phí đầu vào cho sản xuất và công lao động, hàng năm anh có thu nhập bình quân khoảng 150 – 200 triệu đồng/năm. So với nhiều người làm kinh tế thì không lớn song so với một người lao động bằng nghề chăn nuôi thực thụ thì đây là một nguồn thu nhập đáng kể giúp anh làm giầu từ chính quê hương mình.

Anh cũng chia sẻ kinh nghiệm về chuyên môn khi làm nghề sản xuất con giống đó là thực hiện nghiêm quy trình về vệ sinh phòng bệnh, phải hạn chế tối đa người ra vào trang trại để không để lây nhiễm mầm bệnh. Định kỳ phun thuốc sát trùng 2lần/tuần, khi nghe thông tin ở đâu có dịch thì ngay lập tức phun thuốc sát trùng 1lân/ngày. Một thuận lợi ở trang trại anh là chỉ có xuất ra nên anh khống chế rất tốt việc ra vào khu chăn nuôi, trường hợp đặc biệt mới vào chuồng thì anh làm rất tốt khâu sát trùng, bảo hộ lao động. Với đội ngũ cán bộ kỹ thuật ở trang trại anh trang bị đầy đủ bảo hộ và yêu cấu thực hiện thật nghiêm khâu vệ sinh, phun thuốc khử trùng trước khi vào chuồng, sử dụng một số cán bộ chuyên trách, có trách nhiệm cao trong phòng dịch. Thực hiện tốt việc phun thuốc sát trùng, vệ sinh cơ giới trong và ngoài chuồng nuôi cũng như khu ấp trứng, khu ra gà, đống gói vận chuyển. Bên cạnh đó làm tốt khâu tiêm phòng các loại vác xin như cúm, newcatstle để chủ động phòng bệnh cho con vật. Do làm tốt khâu này nên từ ngày mở trang trại tại khu chăn nuôi ngoài khu dân cư (năm 2005) đến nay trang trại anh chưa để dịch bệnh xảy ra từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Riêng với nghề làm giống gà một kinh nghiệm nữa cần được lưu tâm đó là chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà trống thuần, đòi hỏi từng ly, từng tý làm sao để chất lượng đàn gà trống được đảm bảo. Muốn vậy phải đảm bảo 3 khâu đó là chế độ chăm sóc, theo dõi tỷ lệ đẻ trứng và tỷ lệ nở của trứng từ đàn gà mái để đánh giá chất lượng đàn gà trống. Những năm qua an làm rất tốt khâu này (mà anh là người trực tiếp thực hiện việc theo dõi này) nên đàn gà giống của anh có chất lượng rất tốt. 

Thuận lợi là vậy song anh cũng chia sẻ những khó khăn trong nghề làm gà giống hiện tại đó là việc xây dựng nhãn hiệu thương hiệu sản phẩm. Đến nay mặc dù đã làm nghề sản xuất gà giống gần 20 năm nay nhưng anh cũng chưa xây dựng được tên miền, nhẫn hiệu sản phẩm cho chính mình. Muốn mở rộng sản xuất nhưng hạn chế về vốn, đất đai không mở rộng được. Thị trường tiêu thụ mặc dù mang đến được nhiều tỉnh, thành song không ổn định bởi người chăn nuôi cũng bị ảnh hưởng chung về giá, về thời điểm chăn nuôi gà thịt có lúc cao, khi thấp không ổn định. Bên cạnh đó giá thức ăn đầu vào, việc nhập lậu gà vào thị trường Việt Nam nhất là vào dịp trước, trong và sau tết Nguyên Đán nhiều khi làm cho giá con giống, giá gà thương phẩm biến động lớn nhiều khi làm người chăn nuôi lao đao làm ảnh hưởng không nhỏ đến ngành chăn nuôi gà nói chung, trang trại gà giống của anh nói riêng.

Về định hướng năm 2016 và những năm tới anh cho biết sẽ có lộ trình tăng đàn gà giống một cách hợp lý lên khoảng 15 đến 20 ngàn con vào năm 2020 để phù hợp với điều kiện chăn nuôi của gia đình. Anh cũng sẽ xây dựng thương hiệu nhãn hiệu cho sản phẩm gà giống của anh để đảm bảo chăn nuôi phát triển bền vững. Anh cũng luôn mong các cơ quan chức năng và địa phương tạo điều kiện giúp đỡ về phương thức xây dựng thương hiệu nhãn hiệu sản phẩm. Quan tâm tạo điều kiện tác động vào khâu phòng chống dịch bệnh, vác xin hóa chất, xây dựng cơ sở an toàn dịch để anh yên tâm phát triển sát xuất. Địa chỉ trang trại anh cũng đã được nhiều người chăn nuôi biết đến và anh luôn sẵn lòng giúp đỡ, chia sẻ cùng người chăn nuôi trên cả nước.

 

Một địa chỉ đáng tin cậy về sản xuất gà giống nhất là 3 giống gà Ri, gà Chọi, gà Đông Tảo của anh Lương Nguyễn Tiến (anh sinh năm 1971) còn gọi là cơ sở sản xuất gà giống Toàn Tiến (thôn Hoàng Xá, xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, TP Hà Nội – ĐT:  01692701631). 

Tiền Giang: Phát Triển Vùng Nguyên Liệu Nông, Thủy Sản Gắn Với Chế Biến Và Tiêu Thụ

Ông Nguyễn Đình Thông, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tiền Giang cho biết, thời gian qua, Tiền Giang và TP Hồ Chí Minh đã có Chương trình hợp tác phát triển kinh tế – xã hội theo hướng liên kết vùng; trong đó, chú trọng phát triển vùng nguyên liệu nông – thủy sản gắn với chế biến và tiêu thụ theo hợp đồng, nông dân hưởng lợi.

Trong khuôn khổ hợp tác, Tiền Giang đã xây dựng được 6 chuỗi cung cấp nông thủy sản theo qui trình an toàn, được các doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh hợp đồng bao tiêu với giá ổn định, nông dân an tâm đẩy mạnh sản xuất. Kinh tế hộ do vậy cải thiện, đời sống nhân dân được nâng cao.

Cụ thể, toàn tỉnh có 20 ha sản phẩm rau VietGAP tại các HTX rau an toàn Gò Công, THT rau an toàn Tân Đông (thị xã Gò Công); Tổ hợp tác rau an toàn Thạnh Hòa (Gò Công Tây) được tiêu thụ ổn định bởi các doanh nghiệp và các bếp ăn tập thể tại Tp Hồ Chí Minh như: Công ty Lực Điền, Coop Mart, hệ thống siêu thụ Metro,..

Tỉnh cũng đã xây dựng hai cơ sở chăn nuôi gà thịt qui mô lớn, khoảng 7.000 con/cơ sở đạt chứng nhận VietGAP là HTX Chăn nuôi và Thủy sản Gò Công và HTX gà tre Hương Việt đã được Công ty TNHH San Hà tại TP Hồ Chí Minh hợp đồng bao tiêu sản phẩm.

Ngoài ra, các sản phẩm cá điêu hồng lồng bè – thế mạnh của vùng nuôi thủy sản trên sông Tiền (Tiền Giang) được các thương lái chợ thủy sản đầu mối Bình Điền (TP Hồ Chí Minh) tiêu thụ ổn định.

Ông Nguyễn Quốc Kiệt, Giám đốc HTX Chăn nuôi – thủy sản Gò Công cho biết, nhiều năm nay, HTX được Công ty San Hà, Công ty Phạm Tôn ở TP Hồ Chí Minh hợp đồng bao tiêu bình quân 7.000 con gà ta Gò Công thịt mỗi ngày.

Nhờ vậy, xã viên an tâm phát triển chăn nuôi gà ta theo mô hình VietGAP. HTX Chăn nuôi – thủy sản Gò Công cũng là đơn vị đầu tiên tổ chức chăn nuôi theo qui trình VietGAP và sản xuất theo chuỗi giá trị trên cơ sở liên kết giữa HTX với các doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Thanh Tòng, xã viên hợp tác xã Gò Công, cư ngụ tại ấp Kênh Trên, xã Bình Ân, huyện Gò Công Đông làm chuồng trại chăn nuôi qui mô 8.000 con gà ta theo mô hình VietGAP. Mỗi năm ông xuất chuồng 4 lứa gà, thu lãi ròng khoảng 400 triệu đồng.

Ông Tòng cho biết, từ khi vào HTX, chăn nuôi theo qui trình VietGAP và chuỗi giá trị mà HTX đưa ra, được bao tiêu sản phẩm với giá ổn định, gia đình ông đã giàu có lên.

Tiền Giang có lợi thế về sản xuất nông nghiệp với những vật nuôi, cây trồng đa dạng, giá trị kinh tế cao. TP Hồ Chí Minh lợi thế về thị trường tiêu thụ nông – hải sản rộng lớn với nhu cầu cao.

Đón trước thời cơ và triển vọng, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Tiền Giang đang nỗ lực phát triển sản xuất theo hướng GAP, hình thành các vùng chuyên canh rộng lớn nhằm tạo nguồn cung nông sản an toàn, truy xuất nguồn gốc, chất lượng cao và ổn định đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cũng như xuất khẩu mà thị trường TP Hồ Chí Minh được coi là trọng tâm.

Theo Baotintuc.vn

Bạn đang xem bài viết Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Đồng Tháp trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!