Xem Nhiều 12/2022 #️ Tía Tai Phật – Thanh Hóa 9 Độ Thông Còn Thi Đấu / 2023 # Top 15 Trend | Ruybangxanh.org

Xem Nhiều 12/2022 # Tía Tai Phật – Thanh Hóa 9 Độ Thông Còn Thi Đấu / 2023 # Top 15 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tía Tai Phật – Thanh Hóa 9 Độ Thông Còn Thi Đấu / 2023 mới nhất trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cùng gachoiquelua chiêm ngưỡng chiến kê Tía Tai Phật

Tía Tai Phật – Thanh Hóa

– Mã số 01022.TDT.GCQL

+ Gà đang thi đấu, hẹn các bạn vụ lông tới + Chủ kê bạn Điệp, bạn Vũ Gia Cường cho thông tin e nó + Tu tay anh mukangchai đúc ra .

Quá trình thi đấu

+ Ăn 3 độ thi chuyển cho đang quang ở bắc ninh . Đăng quang ăn thêm 2 đô ket thi về tay bilac dang .  + Về thanh hóa êm nổi như cồn . Vừa về thanh hóa 5 ngày thi da kêt luôn . + Đô 6 . Gặp ô ko đầu đang rất kêt ở thanh hóa an 5 độ chưa con nào qúa 4 hô thi 5 hô thi thua . + Đô 7 . Xong trận này nghi 3 tuần gặp ga ket thạch thành do tay anh tho béo cầm xuống . nhưng mình qúa ket vào chấp 1 vệt 5 hô 9 phut chay kêu .

Xong trận nay về thay lông .

Có người tra 30 nhưng ko nói chuyện . + Đô 8 mới lông xong mình bê thẳng vào c1 ,thanh hóa gặp ga chu tùng chấn ga chu tùng cũng kha ket nhưng dinh may chân nách la het gia . 5 hô 8 phut chạy kêu

. Ga về khỏe nguyên nhưng bi dam mo nên 1 tháng sau mới da dược . + Đô 9 đa cùng ngay tía rô bot đi thái bình thi mình bê vào thanh hóa vẫn sới c1 đấy . Vào gặp gà của đội kha mạnh la anh cương’ anh trai cường mường’1 trong 3 đôi kha mạnh của thanh hóa . Ga mình kém 5 phut day 4 phut cao . Mình hơn 2 lớp cựa . Trân nay mình vat va nhat . Tha ga người ta chấp mình 1 vệt xuống 4 , hô 2 mình len bằng chấp lại 4 . Hô 3 người ta lên bằng va chấp lai mình 4 . Đến hô 4 thi mình lên bằng chấp lại 7 va 6 . Ga người ta qúa cao mình ko đánh vai trên được nên quay sang đánh du kích . Cu chui vào bụng nghi rồi ra đánh 2 3 cái vào diêu và lươn người ta . Đến hô 10 người ta nc . Mình bảo 200 . Người ta bảo 130 mình ko đồng y . Bi bo đến hô 14 thi ga của anh cương chay trên tay anh ay . Ga chạy mình vẫn cho 10 trieu . Xong trận này ga kha mệt . Nghi mată gần 2 tháng mới đa được . Đô 10 da ngay . Hôm nay mình ko bê ga vào sới nữa ma cho người bạn thân bê vào . Ghép xong mình mới vào . Ai ngờ bạn mình lai ghép vào ô chân trắng của anh đạt ma . Anh nay có tiếng của c1 thanh hóa . Anh đạt ma bảo 2 con nay sinh ra để gặp nhau . Chưa tha ga đội anh đạt đa rat nhiều bằng va chấp 8 tầm 200 qủa .đội mình thi vào tu tu . Thả ga vẫn bằng va chấp minh 8 . Mình bảo đôi vào tu tu thôi . Ga ket đây . Kieu gì hô 2 người ta cha chấp mình nên vào it thôi .Ae vao được may chục qủa bằng . Het hô 1 giá 7 8 . Mình đang rửa ga có người còn chấp 6 . Hô 2 tha ga đang giao chân thi mình lấy mat người ta chấp 1 vệt . 5 hô 7 phút thi chạy kêu . + Về thay lông . Sang năm cập nhật tiếp

Lịch Sử Thanh Hóa Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa / 2023

Vào đầu thời đại đồng thau, ở đồng bằng Bắc Bộ, văn hoá Phùng Nguyên đã phân bố trên một vùng rộng lớn từ các tỉnh Vĩnh Yên, Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng, Hà Giang, Bắc Ninh, Hà Nội. Ở Thanh Hoá, các bộ lạc nguyên thuỷ cũng có mặt trên địa bàn rất rộng: từ miền núi đến đồng bằng, ven biển.

Người thời đại đồng thau đã để lại dấu vết trong các hang động Thẩm Hai và Thẩm Tiên (thuộc huyện Thường Xuân). Trong tầng văn hoá dày từ 20 – 30cm, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều rìu, đục bằng đá được mài nhẵn. Đồ gốm thu được ở đây không nhiều nhưng đã thể hiện trình độ chế tác rất độc đáo: gốm thường có miệng loe dày, vai xuôi, có loại có chân đế. Hoa văn trang trí rất đa dạng nhưng chủ yếu bằng kĩ thuật khắc vạch với những đường song song hoặc cắt nhau chạy thành từng băng quanh thân. Trong tầng văn hoá cũng tìm thấy cả vỏ ốc suối. Với sự phát triển của kĩ thuật chế tác đồ gốm, lại cư trú trên địa bàn xung quanh các thung lũng bằng phẳng, những cư dân thuộc nhóm di tích Thường Xuân đã là những người làm nông nghiệp.

Trong khi các bộ lạc miền núi Thường Xuân sản xuất nông nghiệp và phát triển nghề làm gốm, thì ở vùng biển, một nhóm các bộ lạc khác đã biết đến kim loại. Di chỉ tiêu biểu là Hoa Lộc (xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc) đã được khai quật lớn vào năm 1974 và 1975. Vì vậy nền văn hoá khảo cổ ở đây được đặt tên là văn hoá Hoa Lộc. Cư dân văn hoá Hoa Lộc sống gần bờ biển. Tại các di chỉ thuộc văn hoá này đã phát hiện được nhiều chì lưới bên cạnh xương răng các loài cá biển, cá nước ngọt, chứng tỏ đánh cá là một nghề quan trọng của họ. Cũng tìm thấy ở đây xương răng các loài động vật đã được thuần dưỡng như trâu, bò, chó, lợn, và thú rừng như hươu, nai, hoẵng, lợn rừng, tê giác v.v… Rõ ràng chủ nhân văn hoá Hoa Lộc còn là những người chăn nuôi và săn bắn giỏi. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc đã có một nền nông nghiệp dùng cuốc phát triển.

Tại di chỉ Hoa Lộc (hay còn gọi là Cồn sau chợ), đã tìm thấy số lượng rất lớn cuốc đá có vai hoặc hình tứ giác (61 chiếc). Ở di chỉ Phú Lộc (còn có tên là Cồn Nghè) tìm thấy tới 80 cái. Rìu và bôn có vai được mài nhẵn toàn thân, có hình dáng cân đối, cũng là loại nông cụ được tìm thấy khá nhiều ở văn hoá Hoa Lộc. Nhưng rõ ràng nhất là tại di tích Bái Cù, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều vết tích của vỏ trấu. Đây là trấu của giống lúa nước.

Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc là những người làm gốm giỏi, đồ gốm của họ rất độc đáo cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí. Họ đã tạo được những cái bình có vai gãy, miệng gâp vào trong. Có cả loại có miệng hình nhiều cạnh mà các nơi khác rất hiếm gặp. Hoa văn trên đồ gốm Hoa Lộc cũng rất đẹp và phong phú: người ta đã thống kê được 18 đồ án hoa văn khác nhau trên đồ gốm Hoa Lộc, trong đó, đặc trưng và độc đáo nhất là hoa văn hình bọ gậy được tạo bằng cách ẩn miệng vỏ sò biển lên thân gốm khi còn ướt.

Một đặc điểm quan trọng khác của văn hoá Hoa Lộc là sự xuất hiện rất nhiều những con dấu bằng đất nung. Các con dấu này có hình chữ nhật hoặc gần tròn, thường được người thợ gốm khắc những chữ “S” hoặc những hoa văn nối tiếp nhau với nét khắc rất sâu. Các nhà nghiên cứu cho rằng, công dụng của những con dấu này có lẽ được dùng để in hoa văn lên vải hơn là để tạo hoa văn trên đồ gốm. Cũng tại Hoa Lộc, còn tìm thấy những hộp đất nung hình chữ nhật, có hai ngăn, mà công dụng cho đến ngày nay vẫn còn tranh cãi. Điều quan trọng là đã phát hiện được dấu vết của đồng trong văn hoá Hoa Lộc, đó có thể là những mẩu dây hoặc dùi đồng đã bị rỉ nát. Trong tương quan với các nền văn hoá cùng thời, các nhà nghiên cứu nhận thấy đã xuất hiện sự giao lưu giữa các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc với chủ nhân các nền văn hoá khác. Ở phía Bắc, hoa văn in mép vỏ sò đặc trưng của văn hoá Hoa Lộc đã tìm thấy ở Sập Việt, Bản Gièm (Sơn La). Nhiều mảnh gốm kiểu Hoa Lộc được tìm thấy ở Gò Mả Đống (Ba Vì – Hà Nội), núi Lê (Ninh Bình), đồi Ghệ, đồi Giạ (Vĩnh Phú cũ). Ở phía Nam, phong cách trang trí và đồ án hoa văn hình chữ S in bằng miệng vỏ sò đã thấy xuất hiện ở Pò Cung (Quỳ Hợp – Nghệ An).

Căn cứ vào những thành tựu trong kĩ thuật chế tác các loại công cụ, trong các ngành kinh tế sản xuất và sự phân bố các di chỉ trên một vùng rộng lớn, có thể nhận thấy rằng mật độ cư dân trong văn hoá Hoa Lộc đã khá cao. Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc hẳn đã có cuộc sống tinh thần khá phong phú: chỉ có những bộ óc phóng khoáng với những bàn tay khéo léo mới có thể tạo nên những kiểu dáng và hoa văn trên đồ gốm phong phú đến vậy. Sự phát triển mạnh mẽ của nghề đánh cá biển và kĩ thuật chế tác kim loại ra đời có thể đã góp phần quan trọng xác lập chế độ công xã thị tộc phụ quyền trong đời sống xã hội văn hoá Hoa Lộc.

Ở vùng đồng bằng sông Mã: Khi các bộ lạc ở miền núi, miền biển Thanh Hoá bước vào thời đại đồng thau cách đây khoảng 4.000 năm thì vùng đồng bằng ven đôi bờ sông Mã, cư dân các bộ lạc ở di chỉ Cồn Chân Tiên cũng bước vào sơ kì thời đại đồng thau. Cùng thời với di chỉ này, ven đôi bờ sông Mã còn phát hiện được các di chỉ núi Chàn (ở sườn tây núi Đọ), khe Tiên Nông (sườn Tây Bắc núi Nuông). Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ này đã được nhiều nhà nghiên cứu xác định là giai đoạn sớm nhất của thời đại đồng thau ven sông Mã, là cốt lõi mở đầu trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang.

Những công cụ bằng đá ở Cồn Chân Tiên cho thấy cư dân giai đoạn này đã đạt tới trình độ kĩ thuật chế tác đá rất cao. Họ sử dụng đá bazan khai thác ở núi Đọ. Họ sử dụng kĩ thuật ghè để tạo phác vật, sau đó ghè tu chỉnh và tiến hành mài đá. Họ đã dùng hai loại bàn mài để mài phá và mài trau (loại đá có kết cấu hạt to dùng mài phá, loại mài trau có kết cấu hạt mịn). Bàn mài của họ đôi khi được dùng cả bốn mặt, có loại có rãnh chắc được dùng để mài đồ trang sức. Rìu đá ở Cồn Chân Tiên chủ yếu là rìu lưỡi cân, cạnh đó còn có loại lưỡi mài vát một bên có tiết diện hình chữ V lệch (thường được gọi là bôn). Đặc biệt ở đây đã tìm thấy những chiếc rìu và bôn có hình dáng nhỏ nhắn và rất xinh bằng đá ngọc, lưỡi rất sắc bén. Cũng tìm thấy nhiều vòng trang sức bằng đá, cư dân Cồn Chân Tiên chế tác công cụ ngay tại nơi cư trú.

Di chỉ Cồn Chân Tiên có tầng văn hoá tương đối dày, chứng tỏ con người đã định cư ở đây khá lâu dài. Đồng bằng ven sông Mã là địa bàn khai thác nghề trồng lúa nước của họ. Địa bàn cư trú ấy với điều kiện trình độ chế tác công cụ phát triển đã đưa sản xuất nông nghiệp lên vị trí hàng đầu trong nền kinh tế của cư dân Cồn Chân Tiên. Cũng như cư dân văn hoá Phùng Nguyên, Hoa Lộc, các bộ lạc nguyên thuỷ đôi bờ sông Mã đang dần dần chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ quyền và điều quan trọng hơn cả, khi đối chiếu, so sánh với kết quả nghiên cứu các giai đoạn phát triển sau này ở các di chỉ khảo cổ học khu vực đồng bằng sông Mã, sông Chu, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cư dân các bộ lạc Cồn Chân Tiên là nhóm đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang của các vua Hùng.

Di chỉ khảo cổ học Đông Khối thuộc làng Đông Khối, xã Đông Cương (Đông Sơn), được khai quật năm 1960. Gần đây, nhờ kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ khảo cổ thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, các nhà nghiên cứu đã xác định Đông Khối là di chỉ tiêu biểu cho giai đoạn phát triển tiếp theo giai đoạn Cồn Chân Tiên ở lưu vực sông Mã, có niên đại trung kì thời đại đồng thau tương đương với giai đoạn Đồng Đậu ở đồng bằng Bắc Bộ. Thuộc giai đoạn này còn có di chỉ Bái Man, lớp dưới di chỉ Cồn Cấu (xã Đông Lĩnh) và lớp dưới di chỉ Đồng Ngầm (xã Đông Tiến) huyện Đông Sơn.

Điểm đáng chú ý đầu tiên là kĩ thuật chế tác công cụ đá của cư dân các bộ lạc giai đoạn này đã không chỉ kế thừa trực tiếp kĩ thuật của cư dân Cồn Chân Tiên, mà họ còn đưa nghề chế tác đá phát triển thành kĩ nghệ, đạt tới đỉnh điểm trong thời tiền sử và sơ sử xứ Thanh. Tại di chỉ Đông Khối, ngày nay vẫn còn rất nhiều những phác vật, phế vật, mảnh tước v.v…, có chỗ chất đầy, ken dày trên những bờ ruộng, cánh đồng sát chân núi Voi, rộng hàng chục héc ta. Điều này cho thấy hẳn xưa kia, khoảng 3.000 năm trước đây, Đông Khối là một trung tâm chế tác công cụ đá rất phong phú và nhộn nhịp. Trong bộ sưu tập công cụ bằng đá ở Đông Khối, rìu và bôn tứ giác có tiết diện hình chữ nhật hoặc vuông chiếm ưu thế tuyệt đối. Hình dáng của chúng khá phong phú: rìu có loại hình thang vuông, hình chữ nhật; bôn cũng có hai loại: loại lưỡi mỏng (chỉ độ 1 cm) và loại lưỡi rất dày, có mặt cắt hình gần vuông, vì vậy có người gọi là búa rìu (loại này chiếm tỉ lệ 22 – 33% ở các di chỉ).

Nghiên cứu những dấu vết vật chất và bộ di vật, các nhà khảo cổ học cho rằng cư dân các bộ lạc thuộc giai đoạn Đông Khối có trình độ phát triển tương đương giai đoạn Đồng Đậu ở lưu vực sông Hồng. Nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của người Đông Khối đã có bước phát triển mới: bên cạnh việc trồng trọt các loại cây cho củ, quả, lúa đã được trồng nhiều hơn, đặc biệt là lúa nếp. Tại Đồng Ngầm, Bái Man đã phát hiện được nhiều mẫu trấu của lúa dạng hạt tròn. Sự phát triển mạnh mẽ của các nghề thủ công làm gốm, chế tác công cụ đá, những dấu tích của lúa, gạo v.v… cho thấy người Đông Khối đã đạt tới trình độ khá cao trong đời sống kinh tế, xã hội.

Năm 111 TCN, nhà Hán chinh phục Nam Việt và chia thành 9 quận, trong đó nước Âu Lạc cũ trở thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân.

Trải qua hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, qua các triều đại Hán – Tam Quốc, Lưỡng Tấn – Tiền Tống – Tề – Lương – Tùy – Đường, địa danh của miền đất này cũng bao lần thay đổi theo sự thăng trầm của lịch sử. Cùng với số phận chung của cả nước, nhân dân Cửu Chân chịu cảnh sống lầm than cơ cực dưới ách đô hộ của ngoại bang.

Các dấu vết của người nguyên thuỷ – người vượn sớm nhất ở Việt Nam, lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1960 tại núi Ðọ, Thanh Hoá. Do đặc trưng điển hình của hệ thống di tích này, các nhà khảo cổ học cho rằng đã tồn tại một nền văn hoá sơ kì thời đại đồ đá cũ: Văn hoá núi Ðọ. Văn hoá núi Ðọ bao gồm một hệ thống các di tích sơ kì thời đại đồ đá cũ được phát hiện ở Thanh Hoá: Núi Ðọ, núi Nuông, Quan Yên I, núi Nổ.

Nằm trong địa phận hai xã Thiệu Tân và Thiệu Khánh huyện Thiệu Hoá (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Ðây là một hòn núi cao 160m, nằm bên hữu ngạn sông Chu. Người vượn nguyên thuỷ đã sinh sống ở đây, ghè vỡ đá núi để chế tác công cụ. Những công cụ bằng đá mang dấu ấn chế tác bởi bàn tay của họ như mảnh tước, hạch đá, rìu tay… đã được phát hiện ở núi Ðọ khá nhiều. Ngày nay, trên sườn núi Ðọ, hàng vạn mảnh tước (mảnh ghè khi người nguyên thuỷ chế tác công cụ) vẫn còn nằm rải rác, nhất là sườn phía Ðông và phía Tây Nam.

Trên núi Quan Yên, tại địa điểm Quan Yên I (bên sườn Ðông – Ðông Nam), thuộc xã Ðịnh Công, huyện Yên Ðịnh, năm 1978 các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện được những vết tích của con người sơ kì thời đại đồ đá cũ. So với núi Ðọ, núi Nuông, mật độ và số lượng hiện vật thu được có ít hơn, nhưng kĩ thuật chế tác các loại hình công cụ ở đây cao hơn, gọi là kĩ thuật của loài vượn sơ kì thời đại đồ đá cũ, đồng thời đây cũng là một loại hình di chỉ – xưởng. Căn cứ vào trình độ kĩ thuật chế tác công cụ, địa hình cư trú và dựa vào những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học, các nhà khoa học cho rằng, người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ là những người vượn đứng thẳng phát triển. Họ sống thành từng bầy, có thủ lĩnh bầy, mỗi bầy bao gồm từ 5-7 gia đình, có khoảng 20 – 30 người. Họ kiếm thức ăn chủ yếu bằng phương thức săn bắn và hái lượm theo bầy đàn người vượn và phân phối sản phẩm công bằng. Ðời sống tinh thần của họ đã khá phong phú: ngoài thì giờ kiếm ăn, có thể họ đã có những trò giải trí trong lúc rỗi rãi.

Tại Thanh Hoá, các bộ lạc chủ nhân văn hoá Sơn Vi, theo tình hình hiểu biết hiện nay đã sinh sống trên địa bàn rộng lớn ở vùng núi phía Tây và Tây Bắc của tỉnh. Dấu vết của họ đã được tìm thấy ở các huyện Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Hà Trung, Bá Thước và nhất là cụm di tích ở xã Hạ Trung (Bá Thước).

– Hang Con Moong: Ðáng chú ý nhất là hang Con Moong – một di tích nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Cúc Phương – thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành. Di tích này được khai quật năm 1976. Tại đây, người vượn nguyên thuỷ Thanh Hoá đã sinh sống từ hậu kì thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới. Tầng văn hoá ở Con Moong dầy tới 3,5m với sự tiếp diễn liên tục, không hề có sự ngắt quãng. Tại lớp văn hoá sớm nhất (dưới cùng) ở Con Moong (đã được xác định niên đại bằng phương pháp cacbon phóng xạ C14 cách ngày nay hơn 12.000 năm) các nhà khảo cổ học đã thu được nhiều hiện vật. Ðó là những công cụ bằng đá có hình múi cam, công cụ có rìa lưỡi một đầu, công cụ 1/4 viên cuội, được tạo bằng thủ pháp đập vỡ cuội. Ðó là những chày nghiền, bàn nghiền – những hòn đá không có dấu vết chế tác, chỉ có dấu vết sử dụng bởi một mặt lõm xuống hình lòng máng, được dùng để chà vỏ, nghiền thức ăn thực vật; là những công cụ bằng xương có hình mũi nhọn được chế tạo từ những đoạn xương ống của các loài thú lớn. Xương, răng động vật cũng phát hiện được khá nhiều, gồm xương cốt các loài lửng, tê giác, voi, hươu, nai, hoẵng, baba, rùa vàng… Cũng giống như ở mái đá Ðiều, tầng văn hoá ở Con Moong chứa khá nhiều vỏ trai, ốc núi, ốc suối. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã tìm thấy dấu vết của bếp lửa có hình gần tròn, đường kính tới 4m, bên cạnh mùn thực vật và hạt trám. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã phát hiện được 3 mộ táng gồm 5 cá thể (có 2 mộ song táng) đã xác định được 1 nam, 1 nữ (khoảng 50 – 60 tuổi), hai trẻ em và 1 người không xác định được giới tính. Tất cả các hài cốt được chôn theo tư thế nằm nghiêng co bó gối, được bôi thổ hoàng, có một mộ chôn theo công cụ nạo. Như vậy, vào hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, cùng với văn hoá Sơn Vi ở phía Bắc, chủ nhân của văn hoá Sơn Vi Thanh Hoá đã cư trú trên một vùng rộng lớn phía Bắc, Tây bắc của tỉnh và tương đối tập trung. Theo những phát hiện mới nhất của khảo cổ học, vùng Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành trong hậu kì thời đại đồ đá cũ có thể được coi là trung tâm của xứ Thanh ngày nay. Trong thời đại đồ đá cũ, cư dân nguyên thuỷ đã sinh sống trên địa bàn Thanh Hoá. Trong hàng chục vạn năm ấy, do điều kiện địa lí, do quá trình kiến tạo địa chất, nhiều đợt biển tiến, biển lùi đã đẩy người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ tiến lên chiếm lĩnh vùng phía Tây – Tây bắc, những chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá đã cùng các bộ lạc khác trên đất nước Việt Nam, trong quá trình đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để sinh tồn, đã tạo nên một nền văn hoá mới, làm phong phú thêm thời đại đồ đá mới ở Việt Nam. Ðó là quá trình phát triển của xã hội người nguyên thuỷ trên đất Thanh Hoá.

Nối tiếp văn hoá Sơn Vi là văn hoá Hoà Bình (lấy tên tỉnh Hoà Bình – nơi phát hiện những di tích đầu tiên của nền văn hoá này). Về niên đại, văn hoá Hoà Bình cách ngày nay 11.000 năm; trên đất Thanh Hoá, trung tâm dân cư lúc này vẫn tập trung ở địa bàn vùng núi phía Tây, thuộc các huyện Cẩm Thuỷ, Bá Thước, Thạch Thành, Ngọc Lặc… Họ thường sống trong các hang động, các núi đá vôi rộng, thoáng đãng và gần sông, suối lớn. Các nhà khảo cổ học đã xác định họ chính là hậu duệ trực tiếp của chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá và chính họ – cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá, đã tiếp tục phát triển, làm nên văn hoá Bắc Sơn sau này.

– Hang Con Moong (xã Thành Yên – huyện Thạch Thành): Ðây là một hang rộng, nền hang cao hơn 40m so với chân núi hiện tại và rộng hơn 300 m2. Người nguyên thuỷ cư trú trên khoảng diện tích 100 m2 tại cửa hướng Tây Nam, liên tục từ thời văn hoá Sơn Vi đến văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn. Các nhà khảo cổ đã thu được rất nhiều hiện vật nằm lẫn trong đống vỏ nhuyễn thể và mùn thực vật mà người nguyên thuỷ đã thải ra trong quá trình sinh hoạt. Về công cụ bằng đá: cư dân văn hoá Hoà Bình ở Con Moong vẫn giữ truyền thống văn hoá Sơn Vi: dùng đá cuội để chế tác công cụ, nhưng kỹ thuật chế tác công cụ của họ rất phát triển, kể cả loại hình lẫn phương pháp chế tác. Công cụ kiểu Xumatơra(3) (Sumatralithe) có hình bầu dục hay hình hạnh nhân, lưỡi được tạo xung quanh rìa hòn cuội bằng cả thủ pháp ghè tỉa, để có độ sắc bén hơn; có chức năng sử dụng rất đa dạng: có thể dùng cắt, chặt, nạo….từ thịt, xương thú đến tre, nứa, gỗ. Rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn trong bộ sưu tập công cụ của họ ở Thanh Hoá; người ta thường chặt cuội hoặc chặt đôi những công cụ hình bầu dục để tạo rìu ngắn; chức năng của rìu ngắn cũng rất đa dạng. Rìu dài hình hạnh nhân hay hình bầu dục của cư dân văn hoá Hoà Bình có nhiều khả năng được sử dụng như những chiếc cuốc đá. Mảnh tước ở Con Moong có số lượng không nhiều, nhưng phần lớn đã được gia công để tạo thành công cụ nạo, dao đá, với rìa đá rất sắc. Chày nghiền, bàn nghiền cũng là những công cụ được tìm thấy khá nhiều. Chủ nhân Con Moong cũng chế tác và sử dụng công cụ bằng xương thú với kỹ thuật chọn nguyên liệu và chế tác phát triển khá cao: người ta chỉ lựa chọn xương ống của động vật có vú – loại xương có cấu tạo sợi nhiều hơn cấu tạo xốp – để chế tác công cụ và đã mài nhẵn đầu. Thức ăn rất phong phú, đa dạng: trong tầng văn hoá, các nhà khảo cổ học đã thu được 83 2 vỏ nhuyễn thể như trùng trục, trai, ốc… và các loại xương thú rất phong phú. Chôn người chết theo tư thế nằm nghiêng chân co như cư dân văn hoá Sơn Vi giai đoạn trước, nhưng họ đã chèn đá hộc, rải đá dăm quanh mộ để bảo vệ và đều chôn theo công cụ.

– Di chỉ mái đá Ðiều và các di chỉ khác: Cũng như ở Con Moong, mái đá Ðiều là một di chỉ chứa đựng nhiều lớp văn hoá thuộc các thời đại đồ đá khác nhau. Niên đại lớp văn hóa Hoà Bình của Mái đá Ðiều là 8.200 ± 70 năm, cách ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã thu được rất nhiều công cụ bằng đá đặc trưng kiểu Hoà Bình. Ðáng chú ý là rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn. Chày nghiền, bàn nghiền cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Riêng công cụ bằng mảnh tước, ở một số địa điểm đã xuất hiện kĩ thuật mài đá. Ở các di chỉ mái đá Bát Mọt, hang Mộc Trạch, hang To đã tìm được nhiều mảnh vỏ trai xà cừ lớn mà công dụng có thể được chủ nhân văn hoá Hoà Bình sử dụng như những lưỡi dao, nạo để vót tre nứa và nạo thịt thú. Một đặc điểm chung nữa là tại các di chỉ văn hoá này, tầng văn hoá đều rất dày, chứng tỏ sự cư trú lâu dài của con người như Con Moong: 3,5m, mái đá Ðiều: gần 4m, mái đá Làng Bon: 3,7m, hang Ðiền Hạ III: 3,8m, mái đá chòm Ðồng Ðông: 3,5m; chứa đựng một khối lượng vỏ nhuyễn thể rất lớn lẫn trong lớp đất màu nâu hoặc đen chứa mùn thực vật. Cư trú trong các hang động, mái đá tương đối cao, có nơi rất cao (như Con Moong), cư dân Hoà Bình ở Thanh Hoá chắc rằng, ngoài những công cụ bằng đá, đã sử dụng một số lượng không ít các công cụ và đồ dùng được chế tác từ các loại cây cối, nhất là tre, nứa, song, mây… Ðể đựng các loại nhuyễn thể lượm nhặt từ sông, suối đem về nơi cư trú. Các nhà khảo học đã phát hiện được nhiều mộ táng của người Hoà Bình ở Thanh Hoá. Ðã tìm thấy ở hang Lộc Thịnh, mái đá Làng Bon, mái đá làng chòm Ðồng Ðông… các di cốt, xương, răng bị vỡ, mủn. Ðáng chú ý nhất là các di tích Con Moong (2 mộ), mái đá Ðiều (13 mộ), mái đá Mộc Long (5 mộ), hang Chùa (3 mộ). Phần lớn những mộ này còn nguyên vẹn và cho thấy tư thế chôn nằm nghiêng co bó gối, bôi thổ hoàng, kè đá giữa mộ và chôn theo hiện vật làm đồ tuỳ táng, là cách thức mai táng phổ biến trong tập tục của người Hoà Bình. Chủ nhân của văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã tiến tới tổ chức công xã thị tộc mẫu hệ. Các công xã thị tộc thường cư trú trong một vùng đất nhất định. Trong mỗi hang động là một thị tộc cư trú bao gồm nhiều gia đình nhỏ với vợ chồng, con cái. Dấu tích bếp lửa ở giai đoạn được tìm thấy có quy mô nhỏ hơn giai đoạn trước và số lượng cũng tăng hơn. Kinh tế hái lượm ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong đời sống, bởi vậy, vai trò và vị trí của người phụ nữ ngày càng được nâng cao. Với môi trường sinh sống gần sông, suối, khai thác thức ăn đa nguồn, định cư lâu dài, cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã chuyển từ cuộc sống hái lượm – săn bắt sang thu hoạch định kỳ theo mùa. Ðó là mầm mống sơ khai của nền kinh tế sản xuất nông nghiệp: người ta bắt đầu chăm sóc và trồng trọt một số loài cây có củ, quả như rau, đậu, bầu bí… và thuần dưỡng chó. Những quan niệm tôn giáo sơ khai, mầm nghệ thuật – sự tìm kiếm cái đẹp cũng nảy sinh trong quá trình lao động kiếm sống và vui chơi giải trí. Ðó là những thành quả sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội của cư dân văn hoá Hoà Bình xứ Thanh và với thành quả ấy, họ đã thực sự góp phần vào cách mạng đá mới. Sau hơn 70 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam cũng như ở Thanh Hoá đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về lịch sử Thanh Hoá thời đại đồ đá mới: đó là sự phát triển liên tục, nội tại từ cư dân văn hoá núi Ðọ đến Sơn Vi và văn hoá Hoà Bình.

Tại Thanh Hoá, dấu vết văn hoá Bắc Sơn đã được phát hiện trong các lớp văn hoá muộn của các di chỉ mái đá Thạch Sơn, mái đá chòm Ðồng Ðông, hang Lộc Thịnh, mái đá Ðiều, hang Mỹ Tế, mái đá làng Bon, làng Ðiền Hạ III… và đặc biệt rõ ở hang Con Moong- thuộc lớp trên cùng, có niên đại khoảng 7.000 năm cách ngày nay. Chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá cũng như ở nơi khác, đã đưa kỹ thuật chế tác công cụ bằng đá đến trình độ cao: họ đã biết và phổ biến kỹ thuật mài đá. Ðã tìm thấy trong các di chỉ Bắc Sơn ở Thanh Hoá những bàn mài bằng sa thạch bên cạnh rất nhiều chày nghiền, bàn nghiền. Những chiếc rìu mài lưỡi Bắc Sơn ra đời đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề nông đã thai nghén từ văn hoá Hoà Bình. Nhưng thành tựu kĩ thuật lớn nhất của cư dân văn hoá Bắc Sơn là phát minh ra đồ gốm. Mặc dù còn rất thô sơ về chất liệu, hình dáng, hoa văn, độ nung còn thấp, nhưng cũng đã tạo cho nền kinh tế sản xuất sơ khai của chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá phát triển hơn hẳn nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của văn hoá Hòa Bình. Tuy nhiên kinh tế sản xuất chưa thể chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống của người Bắc Sơn. Hái lượm và săn bắn vẫn đóng vai trò chính trong đời sống của họ: trong các hang động nơi họ cư trú, tầng văn hoá vẫn chất đầy vỏ nhuyễn thể và xương cốt động vật (lớp văn hoá Bắc Sơn ở Con Moong – lớp trên cùng- có độ dày từ mặt đất từ 0,2m – 1,2m, đã thu được tới 60m 3 vỏ nhuyễn thể). Xã hội người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá đã phát triển chế độ thị tộc mẫu hệ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất, người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ngày càng lệ thuộc vào thành quả của hoạt động hái lượm và chăm sóc cây trồng. Ðó là những công việc chủ yếu do phụ nữ đảm nhận và ngày càng nắm vị trí chủ đạo trong kinh tế; vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao.

Vào hậu kì thời đại đồ đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 – 7.000 năm, sau nhiều đợt biển tiến, biển lùi, sang kỷ Hôlôxen, đồng bằng sông Mã đã hình thành tương đối ổn định với tài nguyên phong phú, đầy hấp dẫn, đã lôi cuốn chủ nhân văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn ở vùng núi rời khỏi các hang động – nơi cư trú hàng ngàn năm, tiến xuống khai phá miền đồng bằng trước chân núi. Nền nông nghiệp trồng lúa nước ra đời. Cùng với dân cư văn hoá Hạ Long ở phía Bắc, văn hoá Quỳnh Văn ở phía Nam, người nguyên thuỷ ở Thanh Hoá làm nên một nền văn hoá Ða Bút độc đáo, làm phong phú thêm diện mạo văn hoá của các bộ lạc nguyên thuỷ sinh sống trên toàn cõi Bắc Việt Nam.

Văn hoá Ða Bút: Theo hiểu biết hiện nay, văn hoá Ða Bút gồm hệ thống các di chỉ Ða Bút (xã Vĩnh Tân), Bản Thuỷ (xã Vĩnh Thịnh), làng Còng (xã Vĩnh Hưng) thuộc huyện Vĩnh Lộc, cồn Cổ Ngựa (xã Hà Lĩnh, huyện Hà Trung) và gò Trũng (xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc). Khai quật và nghiên cứu hệ thống di chỉ này, các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng chủ nhân của văn hoá Ða Bút theo quá trình lùi dần của biển, ngày càng chiếm lĩnh vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá. Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ văn hoá Ða Bút cho thấy cư dân nguyên thuỷ giai đoạn này đã bước vào thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ phát triển. Nhờ nông nghiệp lúa nước được đẩy mạnh, đời sống đã ổn định, dân số tăng nhanh, đồng thời các nghề thủ công phục vụ sản xuất nông nghiệp và đánh cá được mở rộng.

Năm 156, Chu Ðạt, người huyện Cự Phong (nay là thôn Phú Hào, xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn) chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cự Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia và Như Xuân, Như Thanh ngày nay) giết chết huyện lệnh rồi tiến công Tư Phố, giết chết thái thú nhà Ðông Hán, lực lượng có đến 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160.

Từ năm 220, Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Ðông Ngô (một trong 3 nước thời Tam Quốc), trong xứ không kể Nghệ An, Hà Tĩnh, có chừng 3 vạn hộ. Bà Triệu tức Triệu Thị Trinh, người Quân Yên (huyện Yên Ðịnh), 20 tuổi; lập căn cứ ở Núi Nưa (Triệu Sơn), hội quân với 3 anh em họ Lý ở Bồ Ðiền (tức Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc) cùng tiến đánh quận sở Tư Phố đại thắng. Hầu hết các huyện lỵ, thành ấp ở Cửu Chân, Cửu Ðức, Nhật Nam (2 quận nay là vùng Nghệ Tĩnh – Quảng Bình) bị nghĩa quân đánh hạ, các thái thú, huyện lệnh và huyện trưởng bị giết… nền đô hộ của nhà Hán ở Giao Châu hơn 330 năm bị lật đổ.

Mùa xuân 542, Lý Bí – mẹ đẻ là người Cửu Chân, khởi nghĩa thắng lợi, lập ra nước Vạn Xuân xưng là Lý Nam Ðế. Nhà Lương đàn áp, Lý Thiên Bảo là anh ruột Lý Bí rút về Dã Năng (huyện Bá Thước ngày nay) xưng là Ðào Lang Vương tiếp tục kháng chiến. Sau đó Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay tức là Hậu Lý Nam Ðế. Năm 556, Lý Phật Tử đánh nhau với Triệu Việt Vương – Triệu Quang Phục – người tiếm ngôi của Lý Bí và là người đánh bại quân đội nhà Lương ở đầm Dạ Trạch (tỉnh Hưng Yên ngày nay).

Lê Ngọc (còn gọi là Lê Cốc) cùng với 4 người con lật đổ quan cai trị của nhà Tuỳ (Trung Quốc) đóng ở Ðông Phố (tức Ðồng Pho, xã Ðông Hoà, huyện Ðông Sơn ngày nay), gọi là kinh đô Trường Xuân, tự quản Cửu Chân chống lại nhà Ðường cho đến đầu thế kỷ VI. Ðến thế kỷ VII, Cửu Chân gồm 6 huyện có 16.100 hộ (quận Giao Chỉ có 30.000 hộ) khoảng 84.000 nhân khẩu, thuộc xứ An Nam (tên An Nam thay cho Giao Châu bắt đầu từ đây). Quận sở là Ðông Phố (tức là Ðồng Pho). Năm 759, quân Mã Lai cướp phá Châu Ái (tên gọi Cửu Chân từ năm 523) bị quan cai trị là Trương Bá Nghi tiêu diệt. Năm 797, quân Mã Lai lại cướp phá Châu Ái nữa, xây cả thành, lập nước, nhưng bị quan cai trị là Trương Châu đánh đuổi, san phẳng thành trì thu hồi mọi của cải. Thế kỷ IX, Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo đã rất phát đạt ở Châu Ái. Ðạo Nho có anh em Khương Công Phụ, đỗ Tiến sỹ làm quan đến Tể tướng triều đình nhà Ðường, đạo Lão biến các hang động đẹp nhất ở khắp Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn làm nơi tu tiên và đạo Phật có các Ðại hoà thượng như Trí Hành và Ðại Thăng Ðăng sang tận Trung Quốc để hành đạo.

Dương Ðình Nghệ, chính khách quan trọng nhất thế kỷ X của lịch sử Việt Nam, thu hút hơn 3.000 người làm vây cánh ở làng Giàng, Tư Phố (nay là đất các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa), trong đó có Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng… Tháng 3 năm 931, Dương Ðình Nghệ đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán (Trung Quốc), tiêu diệt viện binh Nam Hán, tự lập làm tiết độ sứ, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ hơn 1.000 năm của người Trung Quốc ở Việt Nam. Từ Dương Ðình Nghệ, Việt Nam xác định lại được quốc thống của một đất nước độc lập hoàn toàn.

Mùa đông năm 938, Ngô Quyền đem quân đội Cửu Chân tiến ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn – kẻ phản bội họ Dương ở Ðại La (Hà Nội ngày nay), rồi cản phá quân Nam Hán là Lưu Hoàng Thao trên sông Bạch Ðằng, lên ngôi vua tức Ngô Vương Quyền. Thời 12 sứ quân, Cửu Chân nằm trong vòng kiểm soát của Ðinh Bộ Lĩnh ở miền Ðông và của Ngô Xương Xí – cháu nội Ngô Quyền, ở Bình Kiều (đất vùng Triệu Sơn ngày nay) tức miền Tây lãnh thổ.

Năm 979 – 980, Lê Hoàn trấn áp xong quân chống đối của Nguyễn Bặc và Ðinh Ðiền ở vùng sông Tống (vùng đất huyện Hà Trung ngày nay) lên ngôi vua. Năm 981, ông đánh tan quân xâm lược nhà Tống, và năm 982 đánh thắng quân Chiêm Thành. Năm 982, nhà vua cho nạo vét các sông ngòi, đào kênh nối liền hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng cho đến vùng đất tỉnh Nghệ An ngày nay, thành một đường giao thông thuận tiện đầu tiên ở Cửu Chân và ở cả đất nước Ðại Cồ Việt. Người chỉ huy đào các kênh này là Ðào Lang, làng Bùi Ðỉnh (xã Yên Trung huyện Yên Ðịnh ngày nay). Từ năm 999 đến năm 1005, các vua thời Tiền Lê phải trực tiếp điều quân bình định miền viễn Tây Thanh Hoá nhưng chưa ổn.

Từ đầu triều đại nhà Lý 1009 đến 1028, lúc đầu Lý Thái tổ đặt tên gọi Trại Ái Châu. Đến năm 1029, dưới triều vua Lý Thái Tông, năm Thiên Thành thứ hai đặt tên Phủ Thanh Hóa. Từ đó các triều đại tiếp theo lúc gọi phủ, lúc gọi lộ, lúc gọi trấn và gọi là tỉnh Thanh Hóa vào thời nhà Nguyễn.

Tên Hóa có lúc lại đổi thành Hoa, rồi lại trở lại Hóa; đến đời vua Thiệu Trị, triều đại nhà Nguyễn (1841), nhà vua có một chỉ dụ đại ý nói: Thanh Hóa là một tên cổ, do các triều đại trước đã định danh, vì vậy không có lý do gì đổi tên này, mà phải giữ nguyên tên gọi tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 12/7/2017, tại kỳ họp thứ ba, HĐND tỉnh khóa XVII đã quyết nghị lấy năm 1029 là năm ra đời Danh xưng Thanh Hóa với tư cách đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo sự phấn khởi, lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Tháng giêng năm Thiệu Long thứ 15 nhà Trần (năm 1272), Lê Văn Hưu, người làng Bồi Lý (xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá ngày nay) dòng dõi Lê Lương, soạn xong Ðại Việt sử ký toàn thư – bộ sử hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta.

Lê Văn Hưu được tôn là ông tổ ngành sử học của Việt Nam. Ðầu năm 1285, kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, ở Thanh Hoá, quân đội nhà Trần do Trần Kiên, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ huy chống giữ cầm chân giặc, ở các điểm Yên Duyên (xã Quảng Hùng), núi Ðá Chẹt (Quảng Lĩnh), Văn Trinh (Quảng Hợp), Bố Vệ (thành phố Thanh Hoá), Phú Tân (Hà Toại), Nga Lĩnh, Quang Lộc, Liên Lộc, chiến sự rất dữ dội. Sau khi tướng Nguyên: Toa Ðô tiến được ra sông Hồng thì Hưng Ðạo Vương lại đem 2 vua Trần rút vào Thanh Hoá (ở các vùng Nga Sơn, Hà Trung, Thạch Thành ngày nay) để bảo toàn đầu não. Ðến tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hoá, Hưng Ðạo Vương tiến quân ra Bắc quét sạch quân Nguyên Mông khỏi bờ cõi Ðại Việt. Năm 1370, dòng họ Lê ở Ðại Lại (Ðò Lèn, Hà Ngọc huyện Hà Trung) do Lê Liêm dẫn đầu hội quân Thanh Hoá tiến ra Thăng Long phế bỏ người tiếm ngôi Dương Nhật Lễ, lập lại nhà Trần bằng vua Trần Phủ – tức Trần Nghệ Tôn – nhà Trần từ đây thiên vào Thanh Hoá. Năm 1378, quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hoá bị quan quân nhà Trần trấn giữ đánh bại. Năm 1380, quân Chiêm Thành do đích thân vua Chế Bồng Nga chỉ huy lại vào cướp Thanh Hoá bị Hồ Quý Ly đánh bại ở cửa sông Ngu (tức Lạch Trường, Hoằng Trường ngày nay). Năm 1382, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, bị Nguyễn Ða Phương đánh bại ở cửa Thần Ðầu (tức Thần Phù, huyện Nga Sơn ngày nay). Năm 1389, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, Hồ Quý Ly chống không nổi phải bỏ chạy. Quân Chiêm Thành tiến ra Bắc. Năm 1390, tướng chỉ huy nhà Trần ở Thanh Hoá là Trần Khát Chân cản phá được quân Chiêm Thành, giết chết Chế Bồng Nga, chấm dứt vĩnh viễn sự quấy rối của các vua Chiêm Thành.

Mùa xuân năm 1397, xây dựng xong thành đá Tây Giai ở động Thiên Tôn (nay là đất xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc). Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua ở thành này, thay nhà Trần, đổi tên nước là Ðại Ngu (nghĩa là rất an vui và cùng lo việc nước), bỏ kinh đô Thăng Long, lấy thành đá mới làm quốc đô gọi là Tây Ðô. Nhà Hồ phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng đúc từ năm 1396, đến năm 1400 định lại giá kim ngạch cho thêm chặt chẽ. Năm 1402, nhà Hồ hoàn thành việc xây dựng con đường Thiên Lý từ Tây Ðô ra Ðông Quan (tức Thăng Long cũ) và từ Tây Ðô vào Hoá Châu (vùng Quảng Bình ngày nay) dọc đường đặt nhà trạm, phố xá và bưu dịch có hệ thống. Sau một năm chiến đấu ngoan cường nhưng thất bại, năm 1407, nhà Hồ và nước Ðại Ngu mất vào tay quân xâm lược nhà Minh.

Mùa xuân, tháng Giêng ngày mồng 2 năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với những người tài giỏi trong cả nước khởi nghĩa ở Mường Chính (nay là huyện lỵ Lang Chánh) tiến về Khả Lam (tức Lam Sơn) bắt đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) giải phóng đất nước. Lê Lợi xưng là Bình Ðịnh Vương, người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân). Bình Ðịnh Vương chiến đấu ở Thanh Hoá 6 năm, các trận đánh lớn diễn ra ở Lam Sơn, Mường Một (vùng Bát Mọt, huyện Thường Xuân ngày nay), Mường Chính, Bến Bổng (vùng thượng du sông Âm), Ba Lẫm (vùng Chiềng Lẫm, huyện Bá Thước ngày nay), Kình Lộng (vùng Cổ Lũng, huyện Bá Thước), Úng Ải (vùng đèo Thiết Ống, huyện Bá Thước), Sách Khôi (ở khoảng giữa huyện Bá Thước và huyện Hoàng Long – Ninh Bình và huyện Thạch Thành – Thanh Hoá), Ða Căng (vùng Thọ Nguyên, Thọ Xuân), có trận phía địch có tới 10 vạn quân như ở Kình Lộng. Mùa đông năm 1424, Bình Ðịnh Vương tiến quân vào Nghệ An theo kế sách của Nguyễn Chích. Mùa thu năm 1426, quân khởi nghĩa tiến ra Bắc bao vây Ðông Quan. Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), Bình Ðịnh Vương đến Lỗi Giang (vùng đất các huyện Thạch Thành, Vĩnh Lộc ngày nay) chỉ huy bao vây Tây Ðô. Cuối năm 1426, Bình Ðịnh Vương ra Bắc chỉ huy giải phóng các miền đất Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), và vây hãm thành Ðông Quan. Ngày 22 tháng 01 năm Ðinh Mùi (1427), giặc Minh đầu hàng. Mùa xuân năm sau – giặc rút về, đất nước sạch bóng quân thù, thành Tây Ðô lại về Ðại Việt. Ngày 15 tháng giêng năm Mậu Thân (1428), Bình Ðịnh Vương lên ngôi hoàng đế nước Ðại Việt, thủ đô là Ðông Kinh (tức Ðông Quan, thủ đô Hà Nội ngày nay). Cả nước chia làm 3 đạo hành chính lớn, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây trong số các trấn ven biển Tây Ðô.

Tháng 11 – Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ về bái yết Sơn Lăng, Lam Sơn, sau 10 năm chiến đấu giành độc lập cho đất nước thắng lợi. Mùa Hè năm Canh Tuất (1430) đổi Tây Ðô làm Tây Kinh và Ðông Ðô (Hà Nội) làm Ðông Kinh. Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Thái Tổ mất, một tháng sau đem về an táng ở Lam Sơn, gọi nơi an táng là Vĩnh Lăng. Tháng 12 năm Quí Sửu (1433) xây dựng điện Lam Sơn (gọi là Lam Kinh). Ngày 7 tháng 01 Giáp Dần (1434), điện Lam Kinh bị cháy (cháy lần thứ nhất). Tháng 9 Mậu Thìn (1448): xây dựng lại Lam Kinh do Thái uý Trịnh Khả chỉ huy. Từ Mậu Ngọ (1438) đến Mậu Tý (1468), 3 lần khơi đào các kênh trong xứ Thanh Hoá. Năm Bính Tý, tháng 4 (1516), Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực, lập vua Lê Chiêu Tông rước về Tây Kinh.

Họ Mạc cướp ngôi vua Lê ở Thăng Long. Quan Ðiện tiền tướng quân là Nguyễn Kim – người Hà Trung lập căn cứ ở Thanh Hoá chống lại họ Mạc. Năm 1533 (Quí Tỵ), ông này đưa được Lê Ninh (con vua Chiêu Tông) lên ngôi tức Lê Trang Tông đánh chiếm Tây Kinh (1545) thắng lợi. Ðến năm 1545 (Ất Tỵ), Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm lên thay, đánh nhau nhiều trận lớn với họ Mạc ở Thanh Hoá, 17 lần quân Mạc đều thua.

Từ năm 1533 đến 1592, triều đình nhà Lê ở Thanh Hoá, quản lý đất nước từ Thanh Hoá trở vào, đóng đô ở Yên Trường (nay thuộc Yên Ðịnh) mở nhiều khoa thi, chọn người hiền tài tham gia chính quyền. Năm 1593, Trịnh Tùng – con trai Trịnh Kiểm, kế tục cha tiêu diệt họ Mạc, đưa vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long, lập phủ chúa, Ðàng Ngoài do vua Lê – Chúa Trịnh trị vì từ năm 1599. Trong thời đó, năm 1588, Nguyễn Hoàng (con trai của Nguyễn Kim) vào trấn thủ xứ Thuận Hoá, mở đầu sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở Ðàng trong. Năm 1738, Lê Duy Mật (con vua Lê Dụ Tông Duy Ðường) khởi nghĩa chống Chúa Trịnh, địa bàn hoạt động rộng khắp Tây Nam, Tây, Tây Bắc Thanh Hoá và vùng Tây Bắc lẫn Tây Bắc Bộ. Năm 1770, Duy Mật bị con rể phản bội phải thua và tự sát với vợ con, chấm dứt 32 năm chiến đấu. Từ năm 1557 đến 1786, Thanh Hoá bị 10 trận bão lụt lớn xen đại hạn, 15 lần đói to chết nhiều người và 16 cuộc chiến giữa quân Trịnh – Mạc, những tai hoạ ấy không hề có ở thời Lê sơ.

Những năm quân Tây Sơn tiến công ra Bắc, quân dân Thanh Hoá do Lê Trung Nghĩa (tức Quận Mãn) chỉ huy chống lại rất dữ dội, Lê Trung Nghĩa tử trận ở Tĩnh Gia.

Quân đội Tây Sơn phá huỷ hoàn toàn Lam Kinh và kinh đô An Trường biểu tượng của các vua Lê và còn phá huỷ nhiều chùa chiền miếu mạo khác. Năm 1790, con vua Quang Trung là Quang Bàn được cử ra trấn thủ Thanh Hoá. Năm 1792, ông tách ra 2 phủ Trường An và Thiên Quan của Thanh Hoa ngoại thành trấn Thanh Bình (tức Ninh Bình ngày nay).

Ðặc biệt, triều đình ra lệnh không được đào bới khai mỏ gì ở Thanh Hoá sợ rằng xúc phạm đến oai linh của xứ sở. Nhà Nguyễn xây lăng tổ khai sáng ở Triệu Tường (Hà Trung), thành Triệu Tường lớn thứ 2 sau thành Thanh Hoá, chu vi 182 trượng (1 trượng = 4m), xây dựng lại Lam Kinh để tỏ lòng kính ngưỡng nhà Lê, dựng đền thờ các vua Lê ở Kiều Ðại (TP Thanh Hoá), hằng năm cắt cử các quan lại thay mặt nhà vua cúng tế và tổ chức phòng thủ ở Thanh Hoá rất hùng mạnh gồm một hệ thống 11 đồn binh có quân chính qui trấn giữ 7 bảo súng (pháo đài), 1 đồn thuỷ với 44 khẩu đại bác (súng thần công) mỗi đợt tuyển quân lấy của Thanh Hoá hơn 7.000 người. Ngày 25/11/1885, quân xâm lược Pháp lần đầu tiên tiến công Thanh Hoá. Trước đó, ngày 5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi tuyên bố chọn Thanh Hoá làm thủ phủ kháng chiến, nên tinh thần Cần Vương của quân dân Thanh Hoá rất sôi sục. Vùng rừng núi Thanh Hoá được xây dựng những sơn phòng tích trữ tiền của, lương thảo để chuẩn bị đánh giặc. Ba tháng sau (12/3/1886), nghĩa quân Cần Vương đã tiến đánh quân Pháp đóng ở thành Thanh Hoá. Mùa hè năm 1886, nghĩa quân lập bộ chỉ huy kháng chiến toàn Thanh Hoá do Tống Duy Tân đứng đầu và lập chiến khu ở Ba Ðình (Nga Sơn). Từ 18/12/1887, chiến sự dữ dội nhất giữa quân Việt Nam và Pháp đã nổ ra ở Ba Ðình. Quân Pháp phải tập trung trên địa bàn một số xã ở đây lượng binh lính lớn nhất so với toàn quốc (6.000 người trong một trận) để chiến đấu và bị thiệt hại nặng nề. Cuối cùng vì không được tiếp ứng như kế hoạch dự kiến, nghĩa quân do Ðinh Công Tráng chỉ huy đã rút lui an toàn khỏi các chiến luỹ. Ngày nay quảng trường trọng đại nhất của đất nước mang tên chiến khu này, đó là quảng trường Ba Ðình lịch sử ở thủ đô Hà Nội. Các cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp ở Thanh Hoá đến giữa năm 1895 mới chấm dứt cùng với hàng ước của nhà Nguyễn. Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung Việt Nam vẫn nằm trong nền độc lập hạn chế của nhà Nguyễn không bị Pháp cai trị trực tiếp. Thực tế chính quyền thuộc địa Pháp chỉ cai quản địa phận thị xã Thanh Hoá được thành lập ngày 12/7/1899 ở khu đất phía Ðông thành Thanh Hoá mà thôi. Năm 1918, chế độ thi cử tuyển hiền tài, kiểu Nho giáo ở Thanh Hoá mới bãi bỏ. Thanh Hoá bắt đầu hình thành xã hội phong kiến nửa thuộc địa hiện đại hoá.

Các năm 1926 – 1927, các tổ chức cách mạng đầu tiên ở Thanh Hoá ra đời. Ngày 25/6/1930, chi bộ Ðảng Cộng sản đầu tiên thành lập ở làng Hàm Hạ (thuộc xã Ðông Tiến, huyện Ðông Sơn), và ngày 29/7/1930, đã thành lập Ðảng bộ tỉnh, Bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên là đồng chí Lê Thế Long.

Tháng 9/1942, Tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hoá thành lập. Ngày 24/7/1945, nhân dân huyện Hoằng Hoá giành chính quyền huyện thắng lợi. Ngày 19/8/1945, nhân dân thành phố Thanh Hoá và một số huyện tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi. 4 ngày sau, cách mạng thành công trên toàn tỉnh. Ngày 23/8/1945, chính quyền cách mạng tỉnh Thanh Hoá ra mắt đồng bào ở thị xã Thanh Hoá. Ngày 2/9/1945, Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cùng với cả nước, lịch sử Thanh Hoá bước vào thời kỳ phát triển mới. Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hoá đã ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam. Thanh Hoá là nơi phát tích của các vương triều: Tiền Lê, Hậu Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, triều Nguyễn. Trong sự nghiệp cách mạng ngày nay, người dân xứ Thanh cũng góp phần xứng đáng đối với cả nước để xây dựng quê hương mình nhanh chóng trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh./.

Gà Chọi Tía Quyền Vương 11 Độ Thông / 2023

+Hân hạnh giới thiệu với các AE trên Hội Quê Lúa một chiến kê với thành tích lẫy lừng đã từng “”chinh Nam phạt Bắc”” thuộc trang trại của anh Lý Saigon. Tía Quyền Vương có biệt danh Tía Đấm. Chuyện đời của Tía Đấm rất dài, có ngồi uống trà kể chuyện thâu đêm suốt sáng cũng không hết. Tiểu sử của Tía Đấm có thể vắn tắt lại như sau:

1. Lý Lịch Cá Nhân:

Sở trường : Tía đấm chuyên đá hai vai, góc cổ (kiềng) và lườn bụng. Khi gà đối phương đã thấm tang. Tía Đấm chỉ ra “”chặt”” vài cái mé ngang là dứt điểm trận đấu, đối phương không chạy nóng thì cũng lật nhào và đổ ngang. Cân nặng : Trong mùa chinh chiến Tía Đấm cân nặng 3.2 Ký. Khi đang thả mái với cân nặng là 3.4 Ký. Tuổi : 8 năm. Số trận thắng : 11 độ

Tía Đấm sinh trưởng tại Phan Rí. Lúc còn thiếu niên khoảng 10 tháng bỏ học đi chơi, xảy ra đánh nhau với hai thằng gà khác ở sới cỏ. Ấm ớ thế nào Tía Đấm ra tay đấm cho vài quả thử nghề ai dè hai thằng gà kia đổ nhào lật ngang. Thế là có tí máu mặt và được chủ kê đưa vào chế độ luyện tập và bồi dưỡng. Sau vài tuần Tía Đấm tuy mặt còn “”búng ra sữa”” nhưng đã được đưa ra “”đả lôi đài”” tại một sới gà ở miền Trung. Đây là trận gà kết. Tía Đấm thắng trận đầu rất vẻ vang. Sau trận thắng độ này,Tía Đấm được nhiều thầy chú để ý đến chân cẳng và được tuyển chọn ra Bắc Hà “”đem chuông đi đánh xứ người””.

3. Thành tích và Huy chương :

Tía Đấm được chuyển ra Hà Nội và lưu dưới trướng của một chủ kê để nuôi tiếp cho đủ niên. Vì mặc dù thành tích đã có 3 đai quấn ngang lưng nhưng Tía Đấm tính rất trẻ con và trái tim vẫn còn trinh. Để thử chân trong thời gian vần vỗ cho ăn tăng trưởng thể hình và luyện tập, Tía Đấm được xoay xổ với một chiến kê mang từ miền Nam ra để đá trong trận gà kết ngoài Bắc. Với tài nghệ “”nghiêng trời lệch đất””, trận thử lửa này Tía Đấm trong vòng 2 hồ đã đấm con gà kết vài quả nặng tợ ngàn cân làm cho con gà kết kia tức ngực phải bỏ chạy ngang. Chủ kê như vẫn chưa tin hẳn vào tài nghệ và tuổi đời còn quá non nớt của Tía Đấm nên vận động để đưa một con gà kết khác vào để thử chân. Trận vần tay bo này Tía Đấm cũng đã cho con gà kết này vài quả đấm “”thôi sơn”” nháng lửa, đến hồ 3 thì con gà kết này cũng chịu chung số phận, bò lăn ra sới bất tỉnh nhân sự.

Các trận thi đấu:

Trận Mạo Khê : Tía Đấm đụng độ con gà chiến của chủ kê H tại Hải Phòng. Tía Đấm thắng rất đẹp mắt, đoạt huy chương vàng. Trận Hưng Yên : Tía Đấm đụng con gà kết của TĐ. Lấy huy chương vàng. Những Trận tại Hà Nội : Tuy những trận này đụng tại sới nhỏ (vì lý do kín đáo không thể tiết lộ) nhưng số tiền độ bao trong và ngoài rất lớn. Tía Đấm đều dành lấy huy chương vàng về cho đội nhà. Trận Bắc Giang : Trận này Tía Đấm đụng phải con gà rất nổi tiếng của Bắc Giang. Chủ kê đã cho một đại gia mướn với giá 70Tr để so tài với Tía Đấm. Nhưng một lần nữa Tía Đấm lại mang vinh quang và huy chương vàng về cho đội nhà. Trận Hương Lúa : Trận này Tía Đấm đụng phải một cao thủ hạng nặng danh tiếng đất Bắc là Ô Vồ của chủ kê ĐL. Một lần nữa Tía Đấm đã dương cao màu cờ sắc áo của đội nhà và chiếm huy chương vàng. Sau trận đánh lớn ở Hương Lúa, Tía Đấm đổ lông và được đưa về an dưỡng tại Ninh Hòa để thay lông và phục hồi thể lực. Lúc này Tía Đấm đã được 3 mùa lông và được chuyển vào Sài Gòn để tầm thầy học đạo với cao nhân phía Nam. Trận tại trang trại HV : Tía Đấm đụng phải con gà kết của chủ kê HV (một đại gia chơi gà tại đất Sài thành). Thả gà Tía Đấm bị chấp xuống bạc ăn 4. Tía Đấm cứ nhẫn nha chịu trận và giáng những quả thôi sơn như “”Trời đấm”” phá nát ngực và buồng phổi con gà đối phương. Đến hồ 8 con gà kia chịu không thấu, đành há miệng thở mất hơi và chạy mất dép. Như chưa tâm phục khẩu phục, lần sau đại gia HV và một đại gia khác là HS đã tuyển một con gà chinh chiến khác để trị Tía Đấm. Nhưng chỉ sau 5 hồ Tía Đấm đã đo ván đối thủ gọn và lẹ làng. Đây cũng là trận cuối cùng trong cuộc đời dọc ngang của Tía Đấm. Sau trận này Tía Đấm được về an dưỡng và thả mái. + Một số hình ảnh của Tía Quyền Vương(Tía Đấm) – Nguồn Gà Nòi, Hội gà chọi Miền Nam, AD Nguyễn Thành Luân”

Đánh giá bài viết này

Di Tích Thắng Cảnh Xứ Thanh Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa / 2023

Trong một tác phẩm viết về Lý Thường Kiệt, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã nhận định: “Trong cả nước Việt Nam, không có nơi nào có nhiều cảnh đẹp như ở Thanh Hóa”. Nhận định ấy có cơ sở, đây là những tài nguyên thiên nhiên đặc sắc hình như Thanh Hoá được dành phần ưu tiên.

Bãi biển Sầm Sơn có hình trăng khuyết, chạy dài 9km từ chân núi Trường Lệ đến xã Quảng Cư (thị xã Sầm Sơn), rộng hàng nghìn mét, bằng phẳng, cát mịn, không có chỗ quá sâu, lầy thụt hoặc đá ngầm, sau hô nhờ đó, đã tạo nên những bãi tắm lý tưởng, người tắm có thể ra khá xa bờ vẫn thấy an toàn.

Nước biển Sầm Sơn có độ mặn và nhiệt độ thích hợp, có lợi cho sức khỏe và có khả năng chữa được một số bệnh, rất thích hợp cho con người nghỉ ngơi, an dưỡng. Nhà học giả người Pháp Le Breton nhận định: “Đây là bãi tắm tốt nhất để phục hồi sức khoẻ”.

Sóng biển Sầm Sơn nhẹ nhàng, khí hậu điều hòa như chiếc máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ, giữ cho mùa hè lộng gió và dịu mát, mùa đông bớt phần giá buốt. Biển Sầm Sơn có gần 1.000 loại tôm, cua, cá và nhiều hải sản quí hiếm; đặc biệt có món gỏi cá và lẩu rắn biển được nhiều người ưa thích.

Sầm Sơn không chỉ có bãi biển đẹp, bãi tắm tuyệt vời, lại có cả núi đá, đủ các hòn lớn, nhỏ, nằm, ngồi, chồng lên nhau thành muôn hình muôn vẻ, ngay cạnh mép nước biển, có rừng cây bóng mát, có đền chùa, di tích với nhiều truyền thuyết cổ tích, dân gian… lý thú. Đó là đền thờ thần Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Tô Hiến Thành, hòn Trống Mái v.v…

: Nơi có hai hòn đá to nhỏ châu vào nhau, xung quanh là những đá nhỏ. Truyền thuyết nói đây là một gia đình có đôi vợ chồng và đàn con đã hóa thành đá, để vĩnh viễn thuỷ chung bên nhau. Nhà văn Khái Hưng có tiểu thuyết Trống Mái là do cảm hứng từ cảnh đẹp này.

Đã từ lâu Sầm Sơn nổi tiếng là một khu du lịch và nghỉ mát có nhiều thắng cảnh. Kể từ năm 1981 đến nay, Sầm Sơn được xây dựng và phát triển trên những quy mô mới của một thị xã du lịch. Hàng trăm khách sạn, cơ sở điều dưỡng của các bộ, ngành ở Trung ương và trong tỉnh, của các tư nhân với nhiều kiểu dáng vừa hiện đại, vừa đậm nét kiến trúc truyền thống được xây dựng với những điều kiện phục vụ ngày càng hiện đại, nhằm phục vụ cho khách tham quan du lịch, nghỉ mát trong nước và khách nước ngoài. Trong tương lai, khu du lịch và nghỉ mát này sẽ còn được đầu tư và phát triển.

Hàm Rồng cách trung tâm thành phố Thanh Hoá 4 km, ở dọc trục đường Quốc lộ 1A. Trong tương lai không xa nơi đây sẽ là khu du lịch văn hoá sinh thái hấp dẫn của Thanh Hoá. Thắng tích Hàm Rồng gồm một quần thể núi, sông kỳ tú, sơn thủy hữu tình:

– Núi Rồng: là một dãy núi bao gồm nhiều ngọn, chạy dọc bờ Nam sông Mã có hình dáng con rồng theo trí tưởng tượng dân gian.

– Núi Voi: Từ Hán là Tượng Sơn, có nhiều hang động, cảnh rất đẹp: Thạch nhũ tạo nên nhiều hình dáng, được xem như là những cảnh địa ngục, cảnh thủy cung hội hè rước xách, cảnh trai gái tự tình.

– Núi Nít: Còn có tên là núi Ngọc, là hòn Hỏa Châu Phong, vì trông như cột lửa phụt lên tự lòng đất. Núi này ở bờ Bắc sông Mã, đối diện với núi Rồng (bờ Nam). Đi qua vùng này, không mấy ai không biết đến các câu ca dao cổ:

– Ở phía Tây: Còn nhiều núi có hình thù kỳ thú: Núi Ngũ Hoa phong, giống 5 bông hoa, núi Mẹ núi Con giống hai quả trứng, núi Tả Ao như người đàn ông ngủ, núi con Mèo, núi Cánh Tiên…

– Cầu treo Hàm Rồng bắc qua sông Mã : Được xây dựng năm 1904, đã tô thêm cảnh đẹp Hàm Rồng. Thi sĩ Tản Đà đã cảm tác nhớ mong (thơ 1933):

Trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Hàm Rồng nổi tiếng với nhiều chiến công.

– Năm 2000, một cây cầu lớn và hiện đại được xây dựng cạnh cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã, gọi là cầu Hoàng Long.

Còn gọi là hang Từ Thức, thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, là nơi theo cổ tích đã diễn ra câu chuyện gặp gỡ tiên trần giữa Từ Thức – Giáng Hương. Cảnh trí rất đẹp: nhiều thạch nhũ tạo thành các hình phường bát âm, tranh ảnh, bàn cờ, áo mũ, bàn tay Từ Thức – Giáng Hương, cô và cậu, măng đá, non bộ, cây vàng, đào tiên… có đường “lên trời”, đường xuống “âm phủ” . Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) đã viết truyện này. Sau đó Lê Khắc Khuyến viết tập truyện nôm Từ Thức tiên hôn (đầu thế kỷ XX). Nhiều văn nhân, học giả tới đây đề thơ, bài của Lê Quý Đôn là tiêu biểu.

Cách động Bích Đào chừng 1 km về phía trái là động Dơi, có tên là động Bạch Ác, cũng có nhiều thơ đề vịnh.

Dọc đường 45, đi từ thành phố Thanh Hóa, qua sông Chu (cầu Vạn Hà), sông Mã (cầu Kiểu) đến dãy núi Xuân Đài (xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc) nổi tiếng từ xưa. Nhờ dưới chân núi có chùa Dụ Anh (tức chùa Thông – xây dựng năm 1270) và trên lưng chừng núi có động Hồ Công. Động Hồ Công từng được người xưa liệt vào kỳ quan bậc nhất ở phương Nam. Truyền thuyết kể là xưa kia, ở đây có chàng Trịnh Phát Giác được gặp vị tiên là Hồ Công Long, cho vào ở trong một quả bầu là một thế giới thần tiên, con người cực kỳ sung sướng. Khi Trịnh được về, Hồ Công cho một cái gậy rút, y như chuyện Phí Trường Phòng ở Trung Quốc ngày xưa. Bên đường lên động, trên một phiến đá tự nhiên có khắc dòng chữ: “Thanh kỳ khả ái” (xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu).

Cách động Hồ Công không xa, có ngọn núi rất giống hình dáng một vị tiến sĩ, nên cũng gọi là núi Tiến sĩ. Núi này ngoảnh về làng Bồng (xã Vĩnh Tân) là nơi có nhiều người đỗ đạt, quê hương cụ nghè Tống Duy Tân.

Ở xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc là một vùng sơn thủy hữu tình, rộng khoảng 150 ha, trong đó có 80 ha là hồ vực. Vào động, phải đi thuyền luồn qua hang (như cách vào động Phong Nha, Quảng Bình). Phía trong là nhiều động, nhiều khối đá, có hồ rộng, có cả những động lộ thiên, có cầu được nói là cầu Tiên Bắc. Một ngôi động lớn hơn, được nói là nơi vua Trần đã vào đây ẩn nấp khi đánh quân Nguyên Mông. Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nơi đây là công binh xưởng sản xuất vũ khí của quân đội, đồng thời là nơi trú ẩn của nhân dân. Kim Sơn cũng có nhiều bia, có nhiều thơ, văn, đại tự, mỹ tự… đề vịnh được khắc sâu vào vách động.

Kim Sơn có nhiều sản vật: Dưới nước là tôm, cá, ba ba; trên núi là sáo, vẹt. Đặc sản ở đây là củ ấu gai, đầu nhọn như hai cái sừng, ăn bùi và béo. Sau động là một ngọn núi, gọi là núi Mụ Thệu. Huyền thoại kể rằng mụ này nhìn vào vật gì thì vật ấy hóa đá, nhưng đã có phép của sáu nàng tiên ngăn cản những hành động của mụ.

Biện Sơn còn có tên là Cù lao Biện ở về phía Đông Nam, huyện Tĩnh Gia, giáp huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Từ trong đất liền trông ra, Biện Sơn giống như một con chiến mã khổng lồ đang nằm ngủ, phía Đông Biện Sơn là biển cả mênh mông, phía Tây là vụng Ngọc và đất liền, phía Nam là hòn Cù, phía Bắc là đảo Mê và nhiều hòn đảo khác, được mệnh danh là Thập bát Mã Sơn và đều có hướng quay nhìn về Biện Sơn. Dân gian có câu:

Địa thế Biện Sơn có nhiều ngọn núi cao thấp, nhấp nhô như làn sóng biển. Nhiều hòn đá, hang đá trên đảo tạo nên những hình tượng tuyệt mỹ. Đứng trên đỉnh cao của Cù lao Biện nhìn bốn phía mênh mông biển cả, sóng vỗ dập dờn, nhấp nhô, xanh biếc. Xưa kia nơi đây cây cối um tùm, rợp bóng quanh năm, được mệnh danh là hòn đảo xanh, hòn ngọc của bờ biển miền Trung.

Biện Sơn có vụng Ngọc, nơi tàu thuyền ra vào, nghỉ lại an toàn, không sợ bão to sóng lớn, có giếng Rửa Ngọc (Tẩy Ngọc), có giếng nước ngon trong mát, người đi biển thường ghé tới lấy nước pha trà, có sự tích An Dương Vương, Mỵ Châu, Trọng Thủy cùng nhiều kỷ niệm lịch sử và huyền thoại.

Biển Biện Sơn bốn mùa tôm, cá và hải sản quý. Đặc biệt có yến sào, ngọc trai, sò huyết… Khí hậu Biện Sơn mùa hè dịu mát, không khí trong lành, đã có con đê lớn nối với đất liền. Biện Sơn đang cùng với đảo Mê và các đảo lân cận hình thành cụm du lịch sinh thái biển lý thú trong khu công nghiệp Nghi Sơn.

Biện Sơn xưa và nay vẫn là thắng cảnh đẹp như dân gian hằng ca ngợi:

Núi Nhồi cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 3km về phía Tây, thuộc địa phận hai xã Đông Hưng và Đông Tân (ngày nay thuộc địa phận thành phố Thanh Hóa). Bao quanh núi Nhồi gồm các núi quần tụ liền nhau, đó là núi Đống (phía Tây), núi Chân Thần (phía Tây Nam), núi Nấp (Quảng Náp phía Nam), núi Chồng Mâm (núi Đình Thượng – phía Bắc). Dưới chân núi là dòng Hương Giang lượn quanh làng xóm đông đúc rồi thông ra sông Mã, tạo nên cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hữu tình. Xưa kia dưới chân núi Đống, đã từng diễn ra cảnh trên bến dưới thuyền, tấp nập kẻ mua người bán các sản phẩm chế tác từ đá núi Nhồi. Đá núi Nhồi đã đi muôn nơi, có mặt ở hầu khắp các công trình kiến trúc, lăng tẩm, đền đài, bia ký, tượng đá… Những bàn tay tài hoa của người thợ đục đá làng Nhồi đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bằng đá tuyệt mỹ và vô giá. Chất đá ở đây nổi tiếng là quí hiếm, không nơi nào có được. Đó là sản vật quý của mọi người, sắc đá ống ánh như ngọc lan, chất xanh biếc như khói nhạt, tiếng đá vang trong, nổi tiếng tận Trung Hoa. Thời Bắc thuộc, các Thái thú lấy đá núi Nhồi làm khánh chở về Trung Quốc, khánh đá núi Nhồi kêu ngân vang như tiếng chuông.

Núi Nhồi còn có tên là núi Khế, núi An Hoạch, Nhuệ Sơn, núi Vọng Phu. Từ xa, ta có thể nhìn thấy trên đỉnh núi Nhồi nổi bật trên nền trời một trụ đá hình người phụ nữ bế con hướng nhìn ra phía biển Đông xa xôi, nên đặt tên là “Đá Vọng Phu” (Vọng Phu Thạch – Đá trông chồng). Trải bao gió bụi của thời gian, hình ảnh đó vẫn cứ “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Nhiều văn nhân, thi sĩ đã dừng chân, đề thơ, tiêu biểu là bài thơ của Đại thi hào Nguyễn Du:

Và trong dân gian Thanh Hóa còn lưu truyền câu thơ:

Dưới chân núi Vọng Phu và các núi chung quanh là quần thể di tích lịch sử văn hóa phong phú. Đó là: Chùa Hinh Sơn (Hinh Sơn Tự, còn có tên là Chùa Hang dưới chân núi Vọng Phu), chùa Tiên Sơn (phía Đông núi Khế), Đình Thượng (trên sườn núi Chồng Mâm, thờ thần núi), chùa Báo Ân (Đông Hưng) xây dựng khoảng năm 1099 – 1100, chùa Quan Thánh (Đông Hưng), lăng Quận Mãn (Mãn Quận Công, làng Nhuệ) hiện còn bia đá, cặp hổ phục, rồng chầu, cặp ngựa đá, hai cặp tượng đá (dũng lực sĩ, cường lực sĩ, tráng lực sĩ, đinh lực sĩ). Đây được coi là công trình kiến trúc nghệ thuật điêu khắc đá độc đáo ở Thanh Hóa thế kỷ XVIII.

Đền Cửa Hà được xây dựng từ thế kỷ XV, thờ các anh hùng liệt nữ có công giữ gìn vùng đất này, cũng là để thờ thần sông, thần núi, thờ các nghĩa sĩ trận vong Lam Sơn và thờ Mẫu (năm 2002 đền bị núi đá sụt lở nhấn chìm dưới lòng sông Mã). Trên vách đá dựng đứng ở độ cao 5m ngay sau mái đền, ta dễ nhìn thấy những vần thơ tuyệt tác Bích Mai Nhai ca ngợi phong cảnh cửa Hà với tất cả nỗi niềm xao xuyến:

Cẩm Lương là một xã miền núi, nằm trong thung lũng của dãy núi đá vôi Bồ Um, cạnh sông Mã. Cư dân ở đây chủ yếu là người Mường. Khí hậu quanh năm ôn hoà, mát mẻ (nhiệt độ trung bình 20 – 22oC).

Suối cá Cẩm Lương (hay còn gọi là Vó cá Cẩm Lương, hang cá Cẩm Lương) nằm trong địa phận làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thuỷ, cách huyện lỵ Cẩm Thuỷ 10 km về phía Tây – Bắc, cách thành phố Thanh Hoá 80 km về phía Tây.

Theo dân làng Ngọc kể lại thì hang cá ở đây có từ xa xưa. Có nhiều truyền thuyết nói về sự xuất hiện của đàn cá, nhưng hầu như đều chung một quan niệm đó là những thần linh của núi, sông đang ngày đêm bảo vệ cuộc sống yên vui của bản làng. Vì vậy đàn cá được dân bản địa phong là Cá Thần, mọi người không dám đánh bắt ăn thịt. Và cứ thế, cùng với thời gian, đàn cá ngày càng sinh sôi, nảy nở.

Suối Ngọc chảy ra từ một hang lớn của núi Bồ Um. Cửa hang rất nhỏ, chỉ một người chui lọt, lòng hang rất rộng và nước sâu. Đàn cá sống trong hang, có tới hàng ngàn con. Những con cá Chúa nặng khoảng 20 đến 30 kg, mang có vòng đỏ, ánh vàng tựa như đeo khuyên bằng vàng. Ngày thường cá Chúa không ra khỏi hang, mà chỉ vào mùa lũ, nước to, chúng mới ra khỏi hang, nhưng cũng rất ít người trông thấy. Suối Ngọc không dài lắm, từ cửa hang ra tới khu vực đền Ngọc khoảng 150m, chỗ rộng nhất khoảng 6m, chỗ nước sâu nhất độ 1m. Đàn cá hàng ngàn con nặng từ 2 đến 8kg quanh quẩn ở đoạn suối này rồi vào hang, không bao giờ ra khỏi dòng suối, mặc dù phía ngoài là một cánh đồng rộng.

Nước suối Ngọc bao giờ cũng trong vắt, cả mùa mưa lẫn mùa khô. Dưới dòng suối là một lớp đá cuội óng ánh dưới ánh mặt trời như những viên ngọc càng tạo ra vẻ đẹp kỳ diệu khi đàn cá bơi lội qua.

Dân bản Ngọc hàng ngày thường ra suối tắm giặt, rửa rau, vo gạo, đàn cá không sợ người mà rất thân thiện, quây quần quấn quýt quanh người.

Bên cạnh suối có đền Ngọc, thờ Tứ phủ Long Vương. Đền còn đơn sơ, nhưng là nơi ngày rằm, mùng một nhân dân quanh vùng đến thắp hương tế lễ, cầu thần Tứ phủ Long Vương phù hộ cho sức khoẻ và công việc làm ăn của con người.

Phía trên suối Ngọc là dãy núi Trường Sinh, có một động lớn người ta còn gọi là động cây đăng (trước đây có một cây đăng cổ thụ trước cửa động, nhưng nay không còn nữa). Vị trí của động cao khoảng 70 m so với khu vực suối Ngọc. Cửa động rộng từ 5 – 8 m, cao khoảng 7 m nên rất dễ ra vào. Trong động có nhiều nhũ đá với những cảnh tượng như đôi trai gái đang đứng ôm nhau, người con gái có suối tóc dài tận gót, tượng mẫu tử, bầu sữa, kho lúa, kho vàng… trông rất đẹp mắt và nên thơ.

Suối cá và những hang động ở làng Ngọc – Cẩm Lương là một địa danh phong cảnh hữu tình, với những truyền thuyết huyền bí về đàn Cá Thần, đúng là một danh thắng nổi tiếng của quê hương Thanh Hoá cần được tôn tạo và bảo vệ.

Thuộc địa phận ba huyện Như Thanh, Nông Cống, Triệu Sơn. Trước kia nơi đây từng là cả một rừng nứa bạt ngàn, có nhiều gỗ quý và động vật quý hiếm. Đã có câu phương ngôn: “Vật rừng Nưa, dưa chợ Bạng”. Lại có nhiều suối đẹp, lắm cá, đặc biệt là cá “mầm mầm rễ chuối”. Cách đánh cá cũng lạ: lấy lá ngơn hoặc khô dầu vò nhỏ, thả xuống suối, cá say nổi lên, vớt bỏ vào nồi nấu chín ăn ngay.

Từ xưa, Ngàn Nưa được xem là một vùng gắn với những huyền thoại và giai thoại. Sách Lịch triều hiến chương, sách Truyền kỳ mạn lục đều nhắc đến người tiều phu núi Na. Dân gian thì truyền tụng về ông Tu Nưa, vị thần tạo ra núi Quảy, sông Cày. Có thuyết nói Ngàn Nưa là nơi Bà Triệu dấy binh. Nơi đây, Tống Duy Tân đã đặt cứ điểm chống Pháp, và Nguyễn Thượng Hiền cũng về ở ẩn.

Từ thành phố Thanh Hoá dọc theo Quốc lộ 47, qua cầu Thiều rẽ trái và xuôi theo đê sông Hoàng Giang là đường rải cấp phối gần 3km, vườn cò Tiến Nông sẽ hiện ra trước mắt chúng ta. Vườn cò là một gò đất cao và rộng có nhiều bụi tre gai, nằm giữa cánh đồng trũng. Vào mùa mưa vườn cò nằm giữa hồ nước rộng, nên làng Nga còn có tên là “Làng cò hồ Nga” – xã Tiến Nông, huyện Triệu Sơn. Vào buổi chiều khi cò đi kiếm ăn về thì đó là một vườn tre xanh biếc, cò trắng đậu trên ngọn tre trông như một tấm thảm trắng phủ lên trên.

Theo như lời kể của những người cao tuổi ở xã Tiến Nông thì vườn cò đã có từ cách đây hơn 100 năm.

Vườn cò Tiến Nông có diện tích 3,5 ha, trong đó có 2 ha mặt nước hồ bao quanh và 1,5 ha đất trồng gần 200 bụi tre cao từ 3-10 m, là nơi cư trú và làm tổ của các loài chim. Theo nghiên cứu gần đây, vườn cò Tiến Nông có 6 bộ, 10 họ với 17 loài, trong đó có Bộ Hạc (Cinomiiformes) gồm 6 loài, chiếm số lượng lớn của vườn cò. Trong đó nhiều nhất là cò trắng (cò ngàng lớn – camerodius avous; cò ngàng nhỏ – Mesnophoyx intermedia); cò bợ (Ardeola bacchus), có tháng cả cò trắng và cò bợ tới 3.500 con. Ngoài ra còn có Cuốc chân đỏ (Amamonis akool); cuốc ngực trắng (A.phoenicurus); Rẽ giun lớn (gallinogo nemoricola); Rẽ giun nhỏ (Lymnocryptes minimus); Sẻ quạt họng trắng (Rhipidura albicollis)…

Đa số các loài cò ở đây đều thuộc loài định cư, có yêu cầu sinh thái phức tạp, hoạt động quanh năm, hàng ngày kiếm ăn từ 5 giờ đến 17 – 18 giờ, phạm vi từ 1 – 10 km. Tuỳ từng loài mà vị trí kiếm ăn và thức ăn của chúng khác nhau: Cò bợ chỉ quanh bờ ruộng, bờ ao hay ở những hồ nước cạn, nó có thể đứng rình mồi hàng giờ hoặc dò dẫm dọc theo bờ nước để bắt tôm, tép, cá con. Khi cò bợ đứng ta thấy cò có đầu và cổ màu vằn đỏ, lưng nâu, khi cò bợ bay lên hoặc bay là là trên mặt ruộng ta thấy cánh và đuôi có màu trắng.

Cò trắng thường kiếm ăn ở các ruộng lúa nước, thức ăn là tôm, tép, cá con và các loài ếch nhái nhỏ…

Mùa sinh sản của các loài cò thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm, trong thời gian sinh sản cò có bộ lông đẹp và rực rỡ, cò trắng có bộ “áo cưới” kỳ lạ, khi đó bộ lông trắng và có thêm những lông dài ở đầu, ngực và vai, các lông này là các sợi lông nhỏ, không móc vào nhau, khi cò đậu chúng rủ xuống như tấm mành thưa, còn khi bay trên bầu trời thì các lông đó bay như những dải lụa trắng.

Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có 850 loài chim, một số loài chim có số lượng lớn hầu hết đều nằm ở các tỉnh phía Nam. Ở phía Bắc Việt Nam những sân chim như vườn cò Tiến Nông là vô cùng quí hiếm. Sự hiện diện của vườn cò Tiến Nông là một trong những nguồn tài nguyên tự nhiên quý giá cần được bảo vệ và xây dựng thành nơi tham quan, học tập cho học sinh, sinh viên và phát triển thành điểm du lịch sinh thái ở Thanh Hoá.

Vườn Quốc gia Bến En nằm trong địa giới hành chính các xã: Xuân Bái, Bình Lương, Xuân Bình, Hóa Quỳ thuộc địa bàn hai huyện Như Xuân và Như Thanh, cách thành phố Thanh Hóa 36 km về phía Tây Nam. Đây là một cảnh quan thiên nhiên, được xếp vào loại đẹp nhất trong 10 vườn quốc gia của cả nước. Vườn có tổng diện tích 16.634 ha, gồm 18 tiểu khu và dãy núi đá vôi Hải Vân; vườn có khu vực núi thấp; khu vực đồi gò có 121 hòn đảo nhỏ; hai con sông: sông Mực, sông Chàng và bốn con suối: Hàn Vị, Thổ, Cốc, Tạm. Hồ sông Mực có trên 40 loài thủy sản, nổi tiếng là cá mè. Hồ dưới có nhiều đảo đá vôi, cho ta cảm giác như đến với một vịnh Hạ Long thu nhỏ.

Rừng Bến En là rừng thứ sinh với nhiều kiểu rừng kín khác nhau, các nhà chuyên môn phân biệt thành nhiều kiểu. Hệ thực vật có 462 loài, 125 bộ. Đáng chú ý là lim xanh và các loại lim vẹt, lát hoa, dổi, sến mật, chò chỉ, bù hương, vàng tâm. Ưu thế là lim xanh, săng lẻ, đặc trưng của hai luồng thực vật miền Bắc, miền Nam. Còn nhiều cây nguyên liệu (song, mây) cây cho dầu, cây làm thuốc, hoa phong lan.

Động vật rừng Bến En cũng đa dạng: côn trùng có 132 họ, 31 giống và 300 loài. Có 62 loài thú: có 19 loài được liệt vào sách đỏ Việt Nam. Có cả hổ, voi châu Á, vượn bạc má, gấu chó, khỉ là những loại liệt vào hạng đang bị đe doạ tuyệt chủng. Chim có 162 loài, 114 giống, 44 họ, 18 bộ. Có loài Myđeria Leucocephala là loại quý hiếm cấp độ quốc gia. Đã ghi nhận được 88 loài bướm của 10 họ, trong đó:

– Loài Ypthima là chưa được biết tới ở Việt Nam.

– 4 loài được coi là cống hiến mới: Meganoton (rufescens), Anbuly Clavata, Clanistitan, Smenrin thulus qua draiphunctatus.

Lưỡng cư và bò sát cũng đa dạng. Đã ghi nhận được loài Bufogabatus là loại hiếm trong sách đỏ Việt Nam.

Vườn quốc gia Bến En là một vườn quý hiếm, tiềm năng đa dạng và phong phú về sinh học và phong cảnh, sẽ giúp nhiều cho các loại hình du lịch và cho việc nghiên cứu thiên nhiên Thanh Hóa.

Đền thờ Bà Triệu ở làng Bồ Điền, nay là xã Phú Điền, huyện Hậu Lộc, sát đường Quốc lộ 1A, cách thành phố Thanh Hóa 17 km về phía Bắc. Đền tựa lưng vào núi Gai. Nhìn sang bên là Lăng, dựng trên núi Tùng, gồm Mộ và Tháp. Cảnh trí ở đây rất phong quang xinh đẹp, xứng đáng với vị nữ anh hùng. Hội đền Bà Triệu hàng năm mở vào mùa xuân và là lễ hội lớn ở Thanh Hóa.

Đền ở thôn Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân. Khu vực đền thờ có tổng diện tích gần 4 ha. Đền rất rộng: 13 gian, có sân rồng, các nhà tiền đường, trung đường và hậu cung. Đặc biệt còn giữ được nhiều hiện vật:

– Bình hương đồng màu đen, có khắc chữ: Thiên cổ

– Những chiếc bình bằng sứ

– Năm chiếc chén bạc, ống đựng đũa

– Một cái đĩa đá tương truyền là của vua Tống tặng Lê Hoàn, có dòng chữ Hán:

– Một bức họa chân dung Lê Đại Hành, tương truyền do thợ Trung Quốc vẽ.

– Còn 14 đạo sắc phong của các đời vua từ 1674 đến 1887.

Câu đối ở đền thờ còn nhiều. Đáng chú ý là câu đã được ghi chép trong sử sách, nhắc chuyện bà mẹ vua là bà Đặng Thị nằm mộng thấy hoa sen, sinh ra vua và chuyện bà Dương Thái Hậu khoác áo hoàng bào cho vua. Câu đối viết:

Đền Lê Hoàn còn có tấm bia do Hoàng giáp Nguyễn Thực soạn năm 1626 và tấm bia nhỏ hơn nhưng lại dựng trước (1601) do Phùng Khắc Khoan soạn. Gần đền Lê Hoàn, còn có đền thờ bà mẹ của ông. Lễ hội ở đền tổ chức vào các ngày 7, 8 tháng 3 âm lịch, vào loại lễ hội lớn trong vùng.

Thành còn có tên là Tây Giai – Tây Đô, trong địa phận núi Yên Tôn, thuộc hai xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc. Thành xây năm 1397. Từ cửa Bắc đến cửa Nam dài 870,5m; từ cửa Đông đến cửa Tây dài 883,5m. Chu vi 3.508m. Diện tích 769.086,75 m2. Mặt ngoài thành được ghép đá khối, trong đắp đất… Phần lớn các khối đá có kích thước 1,4m x 0,7m, có vài khối dài tới 4m, cao 1,2m. Thành có 4 cửa lớn, đều xây cổng vòm bằng đá khối. Lớn nhất là cửa Tiền (cửa Nam) rộng 38m, cao hơn 10m có ba vòm cổng cuốn. Vòm cửa chính giữa cao 5,75m, rộng 5,82m, hai vòm hai bên cao 5,35m, rộng 5,15m.

Sử chép thời gian dựng thành chỉ có 3 tháng, ai cũng phải kinh ngạc. Vì sao vào khoảng cuối thế kỷ XIV, có thể xây dựng một công trình to lớn hoành tráng với thời gian ngắn như vậy mà bằng kỹ thuật thủ công. Các việc vận chuyển đá, chồng đá.v.v…, đến nay vẫn còn được trao đổi. Nhà nghiên cứu người Pháp là Bezacien nhận định đây là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam.

Chung quanh thành nhà Hồ, còn có những vị trí gắn liền với những sự kiện lịch sử văn hóa: núi Đốn Sơn, làng Phương Giai v.v…, còn lưu truyền khá nhiều giai thoại.

Lam Sơn thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, quê hương của Lê Lợi, của cuộc khởi nghĩa chống quân Minh. Rất nhiều cảnh quan thiên nhiên ở đây gắn liền với giai thoại, các sự tích về khởi nghĩa Lam Sơn và Lê Lợi: núi Dầu, núi Mục, sông Sũ (tức Lương Giang). Làng quê Lê Lợi là làng Cham (quê nội), làng Chủa (quê ngoại). Dưới chân núi Mục có bia và đền thờ Lê Lợi.

Khi kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lam Sơn được xây dựng thành Lam Kinh. Điện Lam Kinh được xây dựng từ 1433. Lam Kinh có nhiều bia mộ của các vua Lê, tiêu biểu nhất là bia Vĩnh Lăng (văn bia do Nguyễn Trãi viết) cũng dựng năm 1433. Ngoài ra có bia Lê Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, bia bà Ngô Thị Ngọc Dao v.v… Tất cả đều là những công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc thời Lê Sơ. Hiện nay đang được trùng tu, tôn tạo thành khu văn hóa, du lịch rộng tới 148 ha (theo quy hoạch mới).

Thuộc địa phận xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, cách huyện lỵ 4 km. Gọi là Ba Đình, vì gồm ba làng: Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh. Ba Đình được bao quanh mấy con sông: sông Hoạt, sông Chính Đại, sông Lèn, sông Báo Văn. Đây là một căn cứ của nghĩa quân Cần Vương dưới sự lãnh đạo của Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, cầm cự với quân Pháp thời kỳ 1887 – 1888. Công sự được xây dựng kiên cố, chiến lũy vững vàng. Đây là di tích tiêu biểu cho phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.

Chiến khu và đội du kích Ngọc Trạo được thành lập ngày 19 – 9 – 1941 tại làng Ngọc Trạo, tổng Trạc Nhật, nay là xã Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành. Đây là căn cứ địa, là lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của Thanh Hóa. Ngay khi mới thành lập, ảnh hưởng của chiến khu và đội du kích đã mau chóng lan ra. Số đội viên du kích khi mới thành lập có 21 người, đến cuối tháng 9 – 1941 quân số đã lên tới trên 40 đội viên rồi lên 80 người. Tháng 10 -1941 bị địch khủng bố, đội chuyển về căn cứ Cẩm Bào (Vĩnh Long, Vĩnh Lộc) và sau đó phân tán đi các nơi hoạt động. Đồng chí Nguyễn Văn Hinh (chỉ huy) và nhiều chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh.

Khu vực Hàm Rồng và cầu Hàm Rồng, thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa là di tích lịch sử thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Di tích này đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia. Tại đây, quân và dân Thanh Hóa đã bắn rơi trên 100 máy bay các loại của đế quốc Mỹ. Nhiều người nước ngoài đã đánh giá: “cầu Hàm Rồng là một tượng trưng trước toàn thế giới về sự thất bại của chính sách hiếu chiến của đế quốc Mỹ”.

Nơi đây hiện còn lại nhiều di tích: sườn núi Cảnh Tiên được quân dân lấy đá xếp thành chữ Quyết Thắng. Nhiều tấm gương chiến đấu đã xuất hiện: anh hùng Ngô Thị Tuyển, và nhiều đơn vị anh hùng khác. Tính đến 1972, có tới 106 máy bay Mỹ, cả B52 bị bắn rơi, nhiều đơn vị được tặng danh hiệu đơn vị anh hùng, được Bác Hồ nhiều lần gửi thư khen.

Bức chân dung và bút tích Bác Hồ tặng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thanh Hóa nhân dịp người về thăm và làm việc tại Thanh Hóa năm 1961

Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám (1945) Thanh Hóa là tỉnh đầu tiên trong toàn quốc được Bác Hồ về thăm. Điều đó nói lên vị trí chiến lược và sự quan tâm đặc biệt của Người đối với Thanh Hóa.

Sau 2 đêm hành trình tuyệt đối bí mật từ Chùa Một mái vùng núi Thầy, thuộc xã sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), Bác đặt chân đến địa phận tỉnh Thanh Hóa hồi 3 giờ sáng ngày 20 – 2 – 1947 và cũng từ giờ phút ấy Người bắt tay ngay vào làm việc, làm việc ngay trên xe của lãnh đạo tỉnh ra đón Người từ Đò Lèn, xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc.

Người đến cơ quan Tỉnh ủy và có các cuộc tiếp xúc với đại biểu quân, dân chính đảng, thăm nhà trẻ cơ quan Tỉnh ủy.

Nói chuyện với hơn 4.000 đại biểu cán bộ và các tầng lớp nhân dân, đại biểu phụ lão, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, phụ nữ, thanh niên, cán bộ miền Nam tập kết, thương binh, bệnh binh, học sinh, đại biểu các dân tộc, tôn giáo, gia đình liệt sĩ, chiến sĩ thi đua, đồng bào công thương, các cháu nhi đồng và đại biểu Hoa Kiều.

Tại trường Nhi đồng miền Nam ở Thanh Hóa, Người hỏi thăm tình hình sinh hoạt và hoạt động của các cháu, nhắc nhở cán bộ và nhân viên khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Người chia kẹo cho các cháu trước khi tạm biệt.

– Buổi sáng: Người tới Sầm Sơn và lên thẳng Miếu Cô Tiên (nay là Đền Cô Tiên) nghe Trưởng đồn Công an thị trấn (nay là thị xã) báo cáo tình hình và nghỉ trưa tại đó.

– Buổi chiều: Người làm việc với Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, thăm hỏi tình hình đời sống nhân dân và cách làm kinh tế để khắc phục tình trạng đói nghèo ở Thanh Hóa.

– Buổi tối: Người nghỉ tại Miếu (nay là Đền) Cô Tiên.

– Buổi sáng: Người gặp mặt, nói chuyện và kéo lưới với ngư dân xóm Vĩnh Sơn, phường Trường Sơn, thăm một gia đình ngư dân sống cạnh bãi biển Sầm Sơn, chụp ảnh chung với cháu bé trong gia đình.

– Buổi chiều: Người thăm nhà nghỉ của Tổng Công đoàn thăm Trại nuôi dưỡng thương binh, Trại an dưỡng của các cụ người miền Nam và đơn vị bộ đội bảo vệ bờ biển (Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 57).

– Buổi tối: Người cùng bộ đội và nhân dân xem phim rồi về nghỉ tại Miếu (nay là Đền) Cô Tiên.

Người đến thăm và phát biểu tại Đại hội Đại biểu Công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ VI.

Tại sân vận động tỉnh, Người nói chuyện với hơn ba vạn đại biểu các tầng lớp nhân dân các dân tộc, tôn giáo… và với niềm xúc động, Người bắt nhịp và cùng mọi người hát bài ca “Kết đoàn”.

Cùng ngày, Người đến thăm hợp tác xã Yên Trường, huyện Yên Định.

Người đến thăm Nhà máy Cơ khí, thăm và nói chuyện với cán bộ, xã viên hợp tác xã Thành Công thị xã (nay là thành phố) Thanh Hóa.

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có nhiều chùa, đền miếu, nhà thờ. Những công trình này đều có giá trị lớn trong quá trình nghiên cứu lịch sử, kinh tế – xã hội và tìm hiểu giá trị nghệ thuật kiến trúc; đồng thời cũng là những chứng tích về mặt tín ngưỡng tâm linh. Có những vùng đất văn vật, hoặc những làng quê mà vấn đề phong tục tập quán đặt ra những chuyên đề khai thác dồi dào ý nghĩa. Rồi những sáng tạo nghệ thuật văn chương của các nhà trí thức, các nghệ nhân có thể giúp vào vấn đề tìm tòi bản sắc dân tộc, bản sắc quê hương.

– Chùa Thanh Hà (phường Trường Thi)

– Chùa Vân (làng Đông Tác): Còn nhiều pho tượng có từ thế kỷ XVI, XVII.

– Chùa Hội Quản, còn gọi là chùa Phật Học – Hội quán Hoa Kiều, phường Ba Đình.

– Chùa Chanh – Hương Quang Tự (làng Hương Bào, phường Nam Ngạn).

– Chùa Tăng Phúc (xã Đông Cương).

– Chùa Mật Đa – Mật Đa Tự (phường Nam Ngạn) được xây dựng từ đời Trần Thái Tông. Thần tích của làng cho biết chùa này do tổ phụ của Chu Văn Lương làm để tọa tĩnh, dạy học và chữa bệnh.

Chùa được xây tường kiên cố bao toàn khu vực. Kiến trúc rất quy mô:

+ Gian bên phải thờ thần ANa (?) có tượng hầu mặt xanh mắt lồi.

+ Gian bên trái có tượng Đức Ông (?) và tượng Nam tào, Bắc đẩu.

– Bệ thờ Quan thế âm bồ tát và tượng Đại thế chí. Bức đại tự:

– Bệ thờ Thiên phủ Thiên mãn và Kim đồng Ngọc nữ.

– Bệ thờ Thích Ca mầu ni và 2 tượng Địa tang ngồi.

+ Tiền đường rộng đến 5 gian.

– Chùa Đại Bi, còn gọi là chùa Mật (làng Mật Sơn, phường Đông Vệ). Tượng Lê Thần Tông và 5 bà phi (có bà phi là người nước ngoài) đã được đưa về đền Lê nay gọi là Thái miếu (Bố Vệ- Cầu Bố).

– Chùa Thiên Tiên Linh Từ (phường Điện Biên)

– Chùa Đèo Viên (Chùa Hội Đồng), Chùa Thanh Lâm phường Ba Đình (hai chùa này nay không còn).

– Chùa Trạch Lâm (phường Quang Trung), do công chúa Ngọc Tú đời Nguyễn dựng. Sau Tổng đốc Thanh Hóa là Tôn Thất Tĩnh sửa lại. Bia cũ bị rêu mờ không rõ năm tháng chỉ còn di tượng Ngọc Tú.

– Chùa trên núi Diệu Sơn, nơi có động khắc thơ của Trịnh Sâm. Dân gọi là chùa Mầu.

– Chùa Trặng (Ngọc Châu tự) thuộc xã Cẩm Sơn, được lập từ đời Hậu Lê, nay đang còn thờ tự.

– Chùa Báo Ân gần núi An Hoạch (xã Đông Tân), xây dựng khoảng 1099 – 1100. Có văn bia về Lý Thường Kiệt, và nguồn đá quí ở núi Nhồi.

– Chùa Kim Âu, cách chùa Hoa Long khoảng 5km là nơi vua Trần Dụ Tông đã đến tu. Lê Thánh Tông có đề thơ. Sau này Hồ Quí Ly cho xây dựng thành Ly Cung.

– Chùa Nguyên Hải, do Nguyễn Hòa dựng (thế kỷ XVII).

– Chùa Long Cảm (xã Hà Phong), xây dựng từ thời Lý.

– Chùa Linh Xứng, do Lý Thường Kiệt xây dưới chân núi Ngưỡng Sơn (xã Hà Ngọc). Chùa có tháp Chiêu Ân 9 tầng. Có văn bia ghi công trạng của Lý Thường Kiệt.

– Chùa Sùng Nghiêm, chính tên là Sùng Nghiêm Diên Thánh, ở thôn Duy Tinh (xã Văn Lộc) nên cũng gọi là chùa Duy Tinh, xây dựng thời Lý. Chùa có văn bia nổi tiếng, có cảnh quan đẹp, có hồ bán nguyệt, vườn hoa, ao sen. Có nhiều pho tượng rất cổ kính trong đó có 3 vị Tam thế cao to ngồi bỏ tay xuôi với tư thế khác nhau, 3 vị tượng trưng cho quá khứ – hiện tại – vị lai. Đặc biệt 3 pho tượng này được đặt trên tòa sen, 3 bệ đá hình bát giác 5 bậc nhỏ dần từ dưới lên trên, bậc cuối cùng có hình hoa vân sóng nước, trên nữa có hổ phù, bệ đá cao liền một khối trạm trổ công phu. Theo đánh giá của Viện Mỹ thuật thì 3 bệ đá này tương tự như bệ đá chùa Thầy (Hà Tây) nhưng được trạm trổ kỹ lưỡng hơn ở các làn sóng dưới chân, 3 bệ đá thời Lý còn tồn tại đến ngày nay.

– Chùa Gia (chùa Vĩnh Phúc – xã Hoằng Phượng)

– Chùa Thiên Nhiên (chùa Nhờn – xã Hoằng Lộc).

– Chùa Cổ Hoằng (xã Hoằng Yến)

– Chùa Hối Long (xã Hoằng Thanh)

– Chùa Hoàng Môn (xã Hoằng Đạt)

– Chùa Thiên Vương (xã Hoằng Đạo)

– Chùa Giáp Hoa (xã Hoằng Long)

– Nghè Nguyệt Viên (xã Hoằng Quang), kiến trúc cổ thời Mạc.

– Chùa Hưng Phúc (xã Quảng Hùng), có bia gọi là Hưng Phúc tự bi minh, ghi lại cuộc chống giặc Nguyên của Hương Yên Duyên (tên cũ của xã Quảng Hùng). Tấm bia này rất có giá trị về lịch sử.

– Chùa Mậu Xương (xã Quảng Lưu) có An Đông phật tổ Trần Ngọc Lành.

– Chùa Mun – Vạn Linh tự (xã Quảng Văn).

– Chùa Hương Nghiêm, ở giáp Bối Lý (xã Thiệu Trung), là ngôi chùa được xây dựng từ thời Tiền Lê. Có văn bia Càn Ni Hương Nghiêm tự bi minh khắc năm Thiên phù duệ vũ thứ 15 (1124).

– Chùa Thái Bình, trên núi Bằng Trình (xã Thiệu Hợp). Chúa Trịnh Sâm có làm thơ về chùa này, nhưng nay không còn dấu tích.

– Chùa Đại Hùng, còn gọi là chùa Vồm, ở chân núi Bàn A Sơn, làng Đại Khánh (xã Thiệu Khánh). Chùa Vồm lấy tên một nhân vật huyền thoại, đánh nhau với ông Bưng bị thua, trốn vào bụi, bị ông Bưng búng chết, hóa thành núi Vồm.

Chùa có tượng Phật A Di Đà, cao 6m. Hội chùa Vồm mở từ mồng 10 đến 15 tháng giêng âm lịch. Trên các vách đá Bàn A Sơn, còn có thơ của Lê Hiến Tông, Bùi Văn Dị ca ngợi cảnh chùa Vồm. Làng Đại Khánh có nghề làm nồi đất, và cũng được xem là đất 19 quận công.

– Chùa Tràng Lang (xã Định Tiến) nơi thờ Phật và thờ Đào Cam Mộc, người có công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua.

– Chùa Hoa Long (xã Vĩnh Thịnh). Chùa xây dựng thời Trần. Đặc biệt là chùa có bệ đá tam thế có hoa văn vũ nữ múa dâng hoa. Chỉ ở chùa này mới có nghệ thuật trang trí này trong kiến trúc Phật giáo.

– Chùa Giáng xã Vĩnh Thành.

– Chùa Du Anh, dưới chân núi Xuân Đài, có tượng sư tử đá nổi tiếng. Đây là di tích xây dựng thời Trần còn gọi là chùa Thông.

– Đền thờ và bia Lò Khăm Ban (Hồi Xuân).

– Chùa Xuân Thiên (xã Xuân Thiên).

– Chùa Tậu (Hồi Tông tự – xã Xuân trường)

– Đền Lê Thành (làng Định Hoà) xã Đông Cương.

– Thái Miếu nhà Lê (làng Bố Vệ) phường Đông Vệ.

– Đền Thánh Cả (làng Đông Sơn) phường Hàm Rồng.

– Nhà thờ Thiên chúa giáo (phường Trường Thi).

– Đền Trần Hưng Đạo (làng Phú Cốc).

– Đền Tống Duy Tân (làng Phú Cốc).

– Đền Chu Nguyên Lương (phường Nam Ngạn).

– Đền Đệ Tam thờ Hoàng Minh Tự (thành hoàng làng Núi)

– Đền Đệ Nhị, thờ Tô Hiến Thành.

– Đền Bà Triều (tổ sư nghề dệt súc, dệt xăm), làng Triều Dương

– Đền Đô đốc Nguyễn Sĩ Dũng thời Quang Trung (làng Lộc Trung)

– Đền thờ Đề Lĩnh (tổ sư nghề vật), làng Lương Trung

– Đền Sòng: Đền Giếng (thờ Liễu Hạnh).

– Đình làng Cẩm La, thờ Từ Thức (phường Quang Trung)

– Đền thờ Đặng Quang (phường Quang Trung)

– Đền thờ và bia mộ Hà Công Thái (chùa Mèo) xã Điền Lư.

– Đền Nguyễn Nghi (xã Đông Thanh).

– Đền Nguyễn Khải (xã Đông Thanh).

– Đền Nguyễn Chích (xã Đông Ninh).

– Đền Thiều Thốn (xã Đông Tiến).

– Đền Nguyễn Nhữ Soạn (xã Đông Yên).

– Đền Quốc công Lê Giám (xã Đông Ninh).

– Đền Trịnh Khắc Phục (xã Đông Ninh)

– Đền Lê Phụng Hiểu ở động Chiếu Bạch.

– Khu lăng miếu Triệu Tường (xã Hà Long)

– Đình làng Gia Miêu (xã Hà Long)

– Đền Lý Thường Kiệt (xã Hà Ngọc).

– Ly cung (cung Bảo Thanh) xã Hà Đông.

– Đền Cây Thị (có hang Chum vàng – xã Hà Ngọc).

– Đền thờ Lê Thọ Vực (xã Hà Sơn).

– Đình Đồng Bồng (xã Hà Tiến) là đình nổi tiếng ở Hà Trung.

– Đền thờ Trần Hưng Đạo (xã Hà Dương).

– Đình Ngô Xá Hạ (xã Thiệu Minh), nơi tập trung Cứu quốc quân kéo về tỉnh lỵ Thanh Hóa ra mắt đồng bào ngày 23 – 8 – 1945, của Uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa.

– Đền thờ Lê Văn Hưu (xã Thiệu Trưng)

– Đền thờ Đinh Lễ (xã Thiệu Hưng)

– Đền thờ Nguyễn Quán Nho (xã Thiệu Hưng)

– Đền thờ Dương Đình Nghệ (xã Thiệu Dương)

– Đền Trà Đông (xã Thiệu Trung)

– Đền và lăng Bà Triệu (xã Triệu Lộc).

– Đền Hoa quận công Đỗ Danh Khanh (xã Thuần Lộc).

– Nhà thờ Á trạng Phạm Thanh (xã Hoà Lộc).

– Nhà thờ Phạm Bình (xã Hoà Lộc).

– Đình Lục Trúc (xã Phú Lộc), Đình có kiến trúc cổ và tương đối cơ ngơi. Từ ngôi đình này, Hoàng Bật Đạt đã khởi quân và tế cờ Cần Vương.

– Bảng môn đình (xã Hoằng Lộc).

– Đình Liên Châu và đình Hoàng Chung (xã Hoằng Châu)

– Đình làng Thượng Thôn và đình làng Trụ Thôn (xã Hoằng Lý)

– Đình Đông Khê (xã Hoằng Quỳ)

– Đình Phú Khê (xã Hoằng Phú).

– Đình Phượng Mao (xã Hoằng Phượng)

– Đền Thánh Tến thờ Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Quỳ).

– Đền Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Sơn)

– Đền Triệu Quang Phục (xã Hoằng Trung).

– Đền Tô Hiến Thành (xã Hoằng Phượng)

– Nhà thờ Nguyễn Quỳnh (xã Hoằng Lộc).

– Đền Bà Quốc mẫu (xã Hoằng Xuân)

– Nhà thờ Lương Đắc Bằng (xã Hoằng Phong).

– Nhà thờ Nguyễn Phan (xã Hoằng Đạt)

– Đền Đồng Cổ (xã Hoằng Minh)

– Nhà thờ Nguyễn Đình Giản (xã Hoằng Quang)

– Đền thờ Cao Lỗ (xã Hoằng Giang)

– Từ đường dòng họ Lê Duy (xã Hoằng Phú)

– Nhà thờ Bùi Khắc Nhất (xã Hoằng Lộc)

– Đình làng Trung Hòa (xã Hoằng Trung)

– Đình làng Xa Vệ (xã Hoằng Trung)

– Đền Chèng Khẹt (xã Đồng Lương)

– Đền Bà thờ Bà Triệu (xã Tế Thắng)

– Đền Ôi, thờ Trần Khát Chân (xã Tế Thắng)

– Đền Vua Bà, thờ Tam giang Thần mẫu (xã Tế Tân)

– Đền Mối, thờ Trần Khát Chân (xã Trung Thành).

– Nhà thờ Đinh Liệt (xã Trung Chính)

– Nhà thờ Đỗ Bí (xã Minh Nghĩa).

– Đền Tham Xung Tá Quốc (xã Trung Thành)

– Nhà thờ họ Lê Sĩ (xã Hoàng Giang)

– Nhà thờ họ Lê Đình Túc (xã Trung Ý)

– Đền thờ Ngô Xuân Quỳnh (xã Trường Giang)

– Đền vua Hùng thứ 11 (xã Nga Thắng).

– Đền Lê Thị Hoa (xã Nga Thiện).

– Đền Trịnh Minh (xã Nga Thiện).

– Đền thờ Áp lãng chân nhân (xã Nga Giáp).

– Đền Triệu Quang Phục (xã Nga Thanh).

– Đền Trần Hưng Đạo (xã Nga Thủy).

– Đền Mai Thị Ngọc Tiến (xã Nga Thủy).

– Đền Nguyệt Nga Hoàng phi (xã Nga Bạch).

– Đền Bạch Tượng (Bạch Tượng tự – xã Nga Giáp)

– Đền Lê Thái Tổ (làng Như Áng). Đền còn giữ được 15 đạo sắc.

– Đền Tép, thờ Lê Lai (xã Kiên Thọ).

– Đền An Dương Vương, có tượng Mỵ Châu cụt đầu (xã Quảng Châu).

– Đền Bùi Sĩ Lâm (xã Quảng Tân).

– Đền Lê Bá Trí (xã Quảng Tân).

– Đền Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (xã Quảng Hợp).

– Nhà thờ Hoàng Bùi Hoàn (xã Quảng Trạch).

– Đền thờ Đào Duy Từ (xã Nguyên Bình)

– Đền Quang Trung (xã Hải Thanh).

– Nhà thờ Thiên chúa giáo Ba làng.

– Chùa Đót Tiên (xã Hải Thanh)

– Đền Thanh Xuyên (xã Hải Thanh)

– Đền Lạch Bạng (ở cửa Lạch) thờ Tứ vị thánh nương (xã Hải Thanh)./.

Bạn đang xem bài viết Tía Tai Phật – Thanh Hóa 9 Độ Thông Còn Thi Đấu / 2023 trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!