Xem Nhiều 1/2023 #️ Tìm Hiểu Về Căn Bệnh Mồng Gà # Top 6 Trend | Ruybangxanh.org

Xem Nhiều 1/2023 # Tìm Hiểu Về Căn Bệnh Mồng Gà # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Về Căn Bệnh Mồng Gà mới nhất trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

976 lượt xem

Bệnh mồng gà hay còn gọi mụn cóc sinh dục là bệnh lây truyền qua đường tình dục do virus HPV gây ra khi nam giới quan hệ tình dục không an toàn với bạn tình có nhiễm virus này. Nhiều người thường ỷ lại vào việc dùng bao cao su mà quên rằng ngay cả khi dùng bao thì nguy cơ lây nhiễm vẫn có bởi vì “áo mưa” không che được phần gốc dương vật. Tác hại bênh mồng gà gây nên những nguy hiểm khôn lường.

Triệu chứng của bệnh mồng gà ở nam giới

Bệnh mồng gà cũng như một số bệnh xã hội khác, khi virus xâm nhập vào cơ thể sẽ không có bất kỳ biểu hiện nào mà phải trải qua một thời kỳ ủ bệnh kéo dài khoảng từ 2-8 tuần bị lây sau giao hợp.

Ban đầu, ở quy đầu, thân dương vật hay mặt trong bao quy đầu xuất hiện các nốt sần, mọc đơn lẻ, màu hồng tươi, có chân hoặc cuống, không gây cảm giác ngứa ngáy, đau hay khó chịu nào. Sau đó, các nốt u nhú mọc nhiều lên dần rồi liên kết lại với nhau thành từng mảng to, nhìn trông như “mào gà”. Bề mặt các nốt này thường ẩm ướt, dễ chảy máu, viêm nhiễm tổn thương.

Nốt sùi mào gà cũng có thể lan nhanh ra xung quanh các cơ quan sinh dục như vùng dưới bìu, bên trong hay xung quanh hậu môn hoặc các nếp gấp bẹn. Đồng thời có nhiều nốt sùi mào gà nổi to hơn bằng nắm tay, có mùi hôi tanh tiết ra dịch và máu.

Không chỉ ở vùng kín, sùi mào gà còn xuất hiện ở cả mắt và cả miệng nữa.

Mức độ nguy hiểm của bệnh mồng gà

Khi virus HPV xâm nhập vào cơ thể thì rất khó tiêu diệt hết vì chúng sinh sôi nảy nở rất nhanh trong điều kiện môi trường ẩm ướt trong bộ phận sinh dục. Sùi mào gà khi bị lây nhiễm làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm của các bệnh khác như HIV, giang mai, lậu…

Bệnh mồng gà rất dễ tái phát, rất khó để điều trị triệt để do không có thuốc tiêu diệt hết virus gây bệnh. Các phương pháp hiện nay chỉ là loại bỏ bên ngoài ( đốt điện, đốt lazer, dùng thuốc bôi rửa theo chỉ định của bác sĩ…) và hạn chế sự phát triển của bệnh, nhưng mầm mống tiềm ẩn bên trong vẫn chưa được triệt tiêu.

Bệnh mồng gà có “bà con, họ hàng rất đông”. Một số tuýp có thể gây ung thư dương vật.

Phòng ngừa căn bệnh mồng gà

Chung thủy một vợ hoặc một chồng hay một bạn tình

Trước và sau khi “yêu” nên giữ gìn vệ sinh cá nhân sạch sẽ

Kiêng quan hệ nếu chưa biết rõ “đối tác” có mắc bệnh gì hay không

Sử dụng bao cao su khi quan hệ nhưng đừng nên ỷ lại vào “OK”

Khám sức khỏe định kỳ để có thể sớm phát hiện ra bệnh và kịp thời chữa trị.

Bệnh mồng gà rất dễ tái phát trong vòng 6 tháng sau khi điều trị kèm theo nhiều nguy cơ khác khiến người bệnh gặp không ít rắc rối trong đời sống. Do vậy mà việc phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh. Nếu nhận thấy vùng kín hay ở mắc, miệng có xuất hiện những nốt đỏ hồng nghi ngờ là sùi mào gà thì cần đến ngay cơ sở y tế uy tín về nam khoa để khám và điều trị ngay.

Liên Hệ Ngay Để Được Tư Vấn :

Tìm Hiểu Về Bệnh Gà Rù (Newcastle) Chính Xác Nhất

Sau một quá trình nuôi dưỡng đàn gà trong khi đang độ tuổi trưởng thành thì gà lại xuất hiện các triệu chứng khác nhau…Nhưng bạn lại không biết đàn gà của mình mắc những loại bệnh nào thì hôm nay Daga360 sẽ hướng dẫn các bạn tìm hiệu một loại bệnh ở gà là bệnh gà rù.

Nguyên nhân gây ra bệnh gà rù

Do virus Newcastle là một loại RNA virus, thuộc nhóm Paramyxovirus gây nên.-Virus xâm nhập vào cơ thể gà thông qua đường tiêu hóa, ngoài ra cũng có thể lây qua đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp người, chuột, dụng cụ, gió thổi từ nơi này sang nơi khác. Đặc biệt lây do chim trời hoặc vaccin nhiễm virus.-Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào vụ đông xuân.

Tìm hiểu về các biểu hiện của bệnh gà rù

Thể Phát nhanh, quá cấp tính, thể virus Newcastle tác động đến đường ruột – Thể Doytle

Gà có tình trạng bỏ ăn, ủ rũ, buồn ngủ, mào thâm, rù.

Gà xuất hiện tiêu chảy phân xanh hoặc xanh trắng, có nhiều trường hợp đi ngoài ra máu.

Xuất huyết dọc ống tiêu hóa: thực quản, dạ dày, ruột, hạch màng treo ruột và lỗ huyệt.

Niêm mạc khí quản và mũi có dịch rỉ viêm cata, xuất huyết lấm chấm, não xuất huyết, teo trứng, buồng trứng sung huyết.

Gà có dấu hiệu sốt cao 42,5 – 43oC.

Thở khó, thở khò khè đôi khi sặc khoẹt kèm theo tiếng toóc, đầu gà bị sưng, mặt phù, chảy nước mắt, nước mũi chảy dàn dụa, nước dãi chảy dài kéo thành sợi, diều chứa thức ăn không tiêu và nhiều hơi khí.

Bệnh ở dạng cấp tính, gây chết 100% ở mọi lứa tuổi.

Gà lên cơn co giật, liệt chân không đi lại được.

Ở gà đẻ thấy giảm đẻ, có nhiều trứng non, vỏ mềm, kích thước nhỏ, gà gầy sút nhanh và chết rất nhanh, chết mỗi ngày một tăng, tỷ lệ chết lên đến 100%.

Thể phát trung bình, cấp tính, thể virus Newcastle tác động đến dây thần kinh – Thể Beach

Các biểu hiện chủ yếu là ho hen sặc khoẹt, gà rất khó thở, phải rướn dài, rướn cao cổ để hít khí, tiếng toóc thưa thớt. Tỷ lệ đẻ giảm, giảm ăn, chất lượng trứng giảm.

Gà sốt cao 42,5 – 43oC.

Gà xuất hiện đi tiêu chảy phân xanh, phân xanh trắng.

Gà ăn uống kém, diều chứa đầy hơi hoặc chất lỏng, gầy rộc, mào thâm, xung quanh lỗ huyệt bẩn do phân xanh trắng bám dính.

Gà bệnh bị liệt chân, liệt cánh, ngoẹo đầu, gà lên cơn co giặt, có triệu chứng thần kinh, nghẹo đầu, đi lòng vòng, co giật, không mổ trúng thức ăn, đứng không vững, ngoẹo cổ khiến gà không ăn uống được, gầy sút nhanh và chết. Gà chết mỗi ngày một tăng, tỷ lệ chết lên đến 60-70%.

Thể phát chậm, mạn tính

Đây là thể bệnh chỉ có ở các đàn gà đã được dùng vacxin Lasota hoặc ND-IB thậm chí đã tiêm H1 hoặc Clone 45 để phòng bệnh, nhưng đáp ứng miễn dịch chưa đủ.Đối với gà đẻ, tỷ lệ đẻ giảm nhẹ dần theo thời gian và có nhiều trứng non, kích thước nhỏ, đôi khi gà đẻ ra không có vỏ cứng, dễ rách vỡ.*Lúc đầu, gà bệnh xuất hiện lác đác trong đàn với biểu hiện giảm hoặc bỏ ăn, trong khi nhìn tổng thể cả đàn không thấy triệu chứng bệnh, nhưng mỗi ngày số gà ốm cứ tăng dần. Sau đó thì số lượng gà xuất hiện ốm bắt đầu nhiều lên, tiêu chảy loãng, phân xanh trắng, xung quanh lỗ huyệt bẩn, chân mỏ khô quắt, lông xơ, chúng đứng lẻ loi, mắt nhắm nghiền rụt cổ hoặc nằm tụm đống vào một góc chuồng, mào thâm hoặc thâm xám. Tuy trong đàn phần lớn gà vẫn ăn uống bình thường nhưng lại đêm nào thì cũng có gà chết, chúng chết lác đác, rải rác lúc đầu vào ban đêm, sau tăng dần và chết cả vào ban ngày, xác chết gầy, ướt, thịt thâm, mào thâm tím. Thể Hitchner: ở thể này thì gà bệnh nhiễm ở mức độ nhẹ, ảnh hưởng đến quá trình hô hấp của gà, tỷ lệ gà chết thấp. Thể Baudette: ở thể này thì gà bệnh xuất hiện trên những đàn gà nhỏ, gà con có biểu hiện co giật, đứng không vững, thể này thì tỷ lệ chết thường thấp hơn so với các thể khác. Thể đường ruột không có triệu chứng: ở thể này thì bệnh có biểu hiện không rõ ràng, những chủng virus nhóm lentogen gây bệnh thể này thường được dùng để điều chế vaccine.

Cách phòng và điều trị cho bệnh gà rù:

Chú tâm chú ý phân loại gà khi nuôi, tránh nuôi chung gà giữa nhiều độ tuổi khác nhau. Bên cạnh đó, hệ thuống chuồng trại cần được đảm bảo sạch sẽ, máng ăn, máng uống cần được làm sạch thường xuyên.Nên trộn chất độn chuồng cùng với men vi sinh công dụng hút ẩm, giảm khí độc thải ra từ quá trình phân hủy phân gà và ức chế mầm bệnh.Có thể dùng đệm lót balasa N01 để làm sạch chuồng trại, loại bỏ vi khuẩn gây bệnh hiệu quả.Nhập gà về cách ly 10 ngày trước để theo dõiPhải chú trọng dinh dưỡng cho gà, nên dùng Men ủ vi sinh NN1 để ủ thức ăn làm thức ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng như bổ sung vitamin C, A, D, E, K, thuốc bổ thận Lesthionin, điện giải Bcomplex,..Có thể sử dụng ngay kháng thể Newcastle để điều trị. Trong vòng 24 – 48h sau khi sử dụng kháng thể Newcastle gà sẽ không còn chết bởi bệnh Newcastle.Đối với gà con, bà con có thể sử dụng vắc xin Laxota hoặc ND-IB (sau đó cho uống thuốc ở bước 2) nhỏ để nhỏ mắt, mũi rồi chuyển đến nơi an toàn nuôi tiếp. Và theo liệu trình như sau:

Nhỏ mắt, mũi, mồm Lasota hoặc ND-IB lần 1 lúc gà 3-4 ngày tuổi.

Cho uống Lasota hoặc ND-IB lần 2 lúc gà đạt 18-24 ngày tuổi.

Tiêm dưới da Newcastle H1 hoặc Clone 45 lúc gà đạt 35-38 ngày tuổi.

Riêng đối với gà nuôi trên 2 tháng phải tiêm lại H1 hoặc Clone 45 lúc 90 ngày tuổi và 15 ngày trước khi gà vào đẻ.

Ngoài ra, thì BTV – Kháng thể GUM – NEW sản xuất có hàm lượng kháng thể newcastle cao, bình quân cho phản ứng với hiệu giá rất tốt. Được sử dụng để điều trị bệnh có hiệu quả tốt.

Liều lượng 1ml – 2ml cho gà dưới 500g – 1000g.Có thể tiêm lặp lại sau khi gà khỏi bệnh 5 ngày.Đối với gà nuôi công nghiệp thì đến 50-60 ngày tuổi đã xuất bán thịt có thể dùng BTV – Kháng thể GUM – NEW tiêm 0,5ml ở ngày thứ 5 để phòng bệnh. Đến ngày thứ 10 dùng vaccin Lasota. Chỉ dùng vaccin cho đàn gà khoẻ mạnh.Kết hợp với cho uống nước có pha BTV-PARACE kết hợp BTV-GLUCAN.

Kết hợp sử dụng các loại thuốc kháng sinh phổ rộng như BTV-DOXTIN, Ampi Anticoli, Amocin Y 50, BTV – GenDoc, …

Các bạn tránh sử dụng các xác gà hoặc gà nhiễm bệnh làm thực phẩm mà nhất định phải tiêu hủy bằng cách chôn, rắc vôi bột.Nếu gà mắc bệnh với phạm vi cả đàn, bà con cần thông báo cho các cơ quan chức năng, tránh trường hợp dịch bệnh lây lan trên diện rộng.Từ những nội dung mà Đá gà 360 đã cung cấp ở phía trên, thì xin chúc mọi người bà con có thêm kinh nghiệm để chăn nuôi gà càng thêm hiệu quả.

Tìm Hiểu Bệnh Marek Ở Gà ( Bệnh Liệt Chân )

Vi rút gây bệnh được nhà bệnh lý học người Hungary (Jozsef Marek) mô tả lần đầu tiên ở Hungary vào năm 1907. Ở Việt Nam bệnh đã xuất hiện từ năm 1978 và xảy ra nặng những năm 1980, do chăn nuôi gà công nghiệp phát triển.

Vi rút gây bệnh thuộc nhóm herpes gây ra. Đến nay người ta đã phân lập được 3 týp vi rút herpes (trong đó chỉ có týp 1 là týp có độc lực).

Vi rút có trong các nang lông, có thể lan truyền rất xa trong không khí. Bệnh lây lan trực tiếp từ gà ốm sang gà khoẻ bằng con đướng hít thở. Ngoài ra bệnh còn lây lan gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và cơ sở ấp trứng có chứa mầm bệnh. Căn bệnh truyền theo phân không có vai trò lớn, tuy nhiên trên lớp độn chuồng sau 4 tháng vẫn còn tìm thấy vi rút có độc lực.

Bệnh Marek thường ủ bệnh sau khi nhiễm 3- 4 tuần ,tiến triển chủ yếu ở hai thể cấp tính và mãn tính:

a) Thể cấp tính chủ yếu ở gà 4 – 8 tuần tuổi, có thể sớm hơn. Bệnh ít có triệu chứng điển hình, ngoài hiện tượng chết đột ngột. Tỷ lệ chết thường cao, có khi tới 20 – 30%, thường thể hiện triệu chứng ủ rũ và gầy yếu trước khi chết. Gà thường bỏ ăn, ỉa phân lỏng và giảm tỷ lệ đẻ, đi lại khó khăn, bại liệt, xã cánh một bên do viêm dây thần kinh vận động.

b) Thể mãn tính hay thể cổ điển chủ yếu xảy ra ở gà 4 – 8 tháng tuổi thường ở hai thể, thể thần kinh và thể mắt.

– Thể thần kinh: gà bệnh đi lại khó khăn, liệt nhẹ rồi dần dần bại liệt hoàn toàn. Đuôi gà có thể bị rủ xuống hoặc lệnh sang một bên. Cánh sã xuống một bên hoặc cả hai bên.

– Thể viêm mắt: Trong nhiều ổ dịch gà thường viêm mắt. Bệnh bắt đầu bằng hiện tượng viêm mắt nhẹ. Con vật tỏ ra rất mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong. Dần dần viêm màng tiếp hợp rồi viêm mống mắt. Mủ trắng đóng dầy khoé mắt, khả năng nhìn kém dần, không mổ trúng thức ăn và cuối cùng có thể bị mù.

– Thể cấp tính: bệnh tích chủ yếu là hình thành các khối u ở nội tạng. U thường có ở gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, túi fabricius, dịch hoàn … gan, lách sưng to hơn nhiều lần so với bình thường, nhạt màu và bở.

-Thể mãn tính: bệnh tích chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi. Dây thần kinh hông, thần kinh cánh bị sưng to, có khi to hơn 4 – 5 lần so với bình thường và có thể bị phù thũng.

Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, mổ khám bệnh tích bằng việc phát hiện các khối u ở da, gan, thận, phổi, buồng trứng, lá lách, trong cơ các tổ chức mềm khác của gà bị bệnh Marek.

Bệnh không có thuốc chữa đặc hiệu.

Cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh sau đây :

– Tiêm vắc xin phòng bệnh Marek bắt buộc cho gà con 1 ngày tuổi dùng để sinh sản (gà ông bà, bố mẹ, gà nuôi lấy trứng) tại cơ sở ấp trứng.

– Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng để ngăn chặn bệnh Marek lây lan trong khu chuồng nuôi. Hàng ngày quét, nhặt thu dọn lông và đốt hết lông vì vi rút tồn tại lâu trong chân lông.

– Đối với các trại gà chăn nuôi công nghiệp nhất thiết phải có khu riêng biệt nuôi gà mái đẻ và khu nuôi gà con, phải tuyệt đối chấp hành nguyên tắc: cùng nhập, cùng xuất (gà đưa vào nuôi cùng một lúc, xuất ra cùng một lúc). Sau khi xuất chuồng phải tiến hành tổng tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi bằng các loại thuốc khử trùng ,sau đó chuồng trại phải để trống ít nhất 1 tháng. Riêng đối với đàn đã nhiễm bệnh trước đó để trống chuồng ít nhất 3 tháng và thường xuyên vệ sinh tiêu độc khử trùng.

– Thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Chú ý không nuôi gà lớn, gà con lẫn lộn.

– Giám sát phát hiện sớm;

– Cách ly đàn mắc bệnh, không được vận chuyển gà trong đàn nhiễm bệnh ra ngoài;

– Tiêu huỷ toàn bộ đàn mắc bệnh (bằng cách đốt, sau đó chôn giống như đối với bệnh cúm gia cầm), đồng thời xử lý các chất tồn dư (phân, rác vv..);

– Cấm nhập gà giống về nuôi trong thời gian xử lý đàn gà bệnh;

– Để trống chuồng ít nhất 3 tháng.

Tìm Hiểu Về Giống Gà Đông Tảo

Gà thích môi trường nuôi thả vườn

Đăc điểm khác biệt từ giống gà quý hiếm này

Đặc điểm nổi bật của giống gà này là có cặp chân sù sì, to và hơi thô so với những giống gà khác. Với cặp chân bề thế thì thân hình đối với giống gà này cũng sẽ rất khác biệt, hình dáng rất bề vệ, dũng mãnh, da màu đỏ và có một cái đầu rất oai vệ. Cặp chân của gà trống trông khá là to, chân được bao quanh bởi một lớp vẩy xếp không thẳng hàng, bốn ngón chân của nó chỉa thẳng, từng ngón chia ra rõ nét, cấu trúc chân như thế mang đến những bước đi vững chắc cho gà cho dù thân hình nó cao lớn, bệ vệ đến đâu đi nữa

Cũng như nhiều giống gà khác thì giữa gà đông tảo trống và gà mái cũng có sự khác biệt lớn ở phần mào. Với gà trống, mào sụn tương đối ngắn và thun lại với nhau, màu sẽ có màu đỏ tía, nhìn vào trông gà đông tảo có vẻ rất khỏe khoắn với chiếc mào của mình. Còn về gà mái, mào gà cũng tương tự vậy nhưng nhỏ hơn khá nhiều

Và ở giống Gà đông tảo trống cũng như là con mái thì chúng có điểm chung là da của chúng đều có màu đỏ ở những phần không có lông trên da, ta còn bắt gặp ở con mái là phần lông cổ lúc nào cũng có pha trộn nhứng chiếc lông màu vàng. Đối với gà mở nở thường có màu long trắng đục, và có khối lượng khoảng 30 – 40 gam, còn những con trưởng thành thì khoảng 6 -7 kg ( đối với con trống ) và khoảng 4 – 5 kg ( đối với con mái ).

Nuôi gà đông tảo

Chẳng những là giống gà quý hiếm của Việt Nam, giống gà này cũng rất khó tính và cũng không dể dàng nuôi chúng, Ở giống gà này chúng cần có sự thoải mái và tự do chạy nhảy thì cần phải có một khoảng sân rộng và chuồng trại phải rộng rãi, bởi vì chúng không quen nhốt. Chính vì thế ở giống gà này cho ta thịt rất ngon, chất lượng và rất săn chắc, chúng được cho ăn cám tự nhiên không cần thuốc tăng trưởng. Gà mái thời gian bắt đầu sinh sản khoảng 160 ngày tuổi. Nếu để gà tự sinh sản , 10 tháng chúng ta có thể thu được 70 quả, khối lượng trứng từ 48 – 55gam.

Thịt gà đông tảo rất đỏ

Giá thành giống gà đông tảo cao hơn nhiều so với những giống gà khác

Gà đông tảo không chỉ thu hút người ta bởi cái nhìn thực tế ngoài đời mà còn thu hút cả trên bàn ăn từ phương Đông cho đến phương Tây. Gà đông tảo được chế biến rất đa dạng và trông rất ngon và bổ dưỡng khác xa với vẻ ngoài xấu xí mà nó đang khoác trên da của nó. Chính bởi sự khác biệt so với những giống gà khác nên nó cũng rất thu hút các nước bạn như Mỹ, Nhật, . . . có ý định nhập khẩu về để nghiên cứu giống gà này. Tuy nhiên bởi nó rất quý hiếm nên hiện nay rất nhiều hộ dân cũng đang có ý định nuôi giống gà này, trung bình con khoảng tầm 1 kg thì giá bán tại vườn lên đến 700 – 800.000/kg, đó là giá bán lấy thịt , riêng những gà giống thì 200 – 300.000/con.

Phân biệt thịt gà đông tảo với những loại thịt gà khác

Bởi lợi nhuận của giống gà này mang lại rất cao mà trên thị trường Việt Nam hiện nay đã xuất hiện tình trạng thịt gà đông tảo giả, gà thải hay còn gọi là gà già ( gà đẻ trứng đã hết chu kỳ khai thác ), với những đặc điểm dể dàng nhận dạng ở gà này là da trắng muốt, mỏ trên của gà sẽ ngắn hơn so với mỏ dưới. Do đó, để biết được đâu là thịt Gà đông tảo và đâu là thịt gà đông tảo giả mạo thì phải xem đôi chân, chân gà đông tảo thường to hơn những giống gà khác rất nhiều, khi thịt ra chân màu đỏ đậm. Ngoài ra, da bụng của gà sẽ hơi sần sùi, có màu hơi thâm

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Về Căn Bệnh Mồng Gà trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!