【#1】Giới Thiệu Khái Quát Huyện Nga Sơn

Mỗi lần đọc Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, lòng tôi lại chộn rộn bao cảm xúc khi nghĩ về quê hương, đất nước mình. Thấy yêu quý, thấy tự hào về đất Việt biết bao. Mỗi bài viết trong Thương nhớ mười hai là một chuyến hành trình đưa ta về với những miền đất đẹp giàu, với những sản vật nổi tiếng theo từng tháng ở miền quê bắc bộ. Và đúng như giáo sư Hoàng Như Mai trong lời mở đầu của tác phẩm đã nhận xét ” những sản vật ấy gợi lên tình cảm đất nước quê hương đằm thắm…..”. Về với mảnh đất Nga Sơn, một vùng quê mang nhiều màu sắc huyền thoại, lòng tôi cũng không khỏi xốn xang khi được nghiên cứu, tìm hểu về văn hóa sống của người dân nơi đây, trong đó có văn hóa ẩm thực. Qua đó mới thấy, trên dải đất cong cong hình chữ S, bất cứ nơi đâu, cũng có một nét đặc trưng riêng biệt, một món ăn đậm đà tính quê hương. Nếu như người ta vẫn nhắc đến Phở Hà Nội, nhắc đến Bưởi Thanh Trà, đến nhãn lồng Hưng Yên, bánh Cu Đơ Hà Tĩnh,… Thì khi nhắc đến Nga Sơn ta sẽ phải nghĩ tới: gỏi Nhệch Nga Liên, Dê núi Nga An, rượu Chính Đại Nga Điền, rượu Nga Bạch, Nga Liên,…… những đặc sản thấm đậm tình người, tình quê xứ Thanh.

Đi và ăn rồi mới thấy cách ăn, cách chơi, thú ẩm thực của Xứ Thanh cũng đầy thanh tao, cầu kỳ, sành sỏi và khoa học. Cũng bằng thứ nguyên liệu giống nhau, nhưng cách chế biến và thưởng thức của người dân Nga Sơn thì hoàn toàn đặc biệt và khác lạ. Nó tạo nên cho các món ăn nơi đây hương vị độc đáo đầy ấn tượng, chỉ thưởng thức một lần, cũng nhớ mãi không quên.

Đến với Nga Sơn, mà không thưởng thức dê núi Nga An thì thật là thiếu sót. Dê núi Nga Sơn không nức tiếng, không ồ ạt, ồn ã như Dê núi Ninh Bình, nhưng chắc chắn chỉ 1 lần được thưởng thức Dê núi Nga An – Nga Sơn thì bạn đã có thể hiểu được sự đặc biệt của những món ăn được chế biến từ Dê. Tại sao nên ăn thịt Dê núi? Vì thịt Dê lành, loài Dê ít ốm đau bệnh tật, Dê lại ăn lộc, lá cây trên núi, đó là những lạo thảo dược chứa nhiều vitamin, và khoáng chất tốt cho sức khỏe. Nhất là đối với nam giới, thịt Dê thực là một loại chất bổ. Nếu như Dê núi Nga An cũng được chế biến như Dê núi Ninh Bình thì chắc hẳn nó đã không thể để lại được ấn tượng sâu sắc đến thế! Vậy, điều khác biệt của những món ăn này nằm ở đâu, cách chế biến có bí quyết gì mà gây được nhiều thiện cảm đến vậy?

TIỀM NĂNG DU LỊCH NGA SƠN

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này. Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích

Nga Sơn nằm trên quốc lộ 10, cách thành phố Thanh Hoá hơn 40km, thị xã Sầm Sơn chừng 60km, (nếu đi theo đường biển từ cửa Lạch Sung đến đảo Nẹ đến Sầm Sơn khoảng chừng 30km). huyện Nga Sơn nối với các điểm du lịch phía Bắc, cách nhà thờ đá Phát Diệm chừng 15km, từ Nga Sơn dọc theo quốc lộ 10 đến Quảng Ninh, Hải Phòng chỉ nửa ngày đường.

Do giáp với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, có nhà thờ đá Phát Diệm – một điểm du lịch khá phát triển và cách chùa Bái Đính khoảng 60km là điểm thu hút được rất nhiều khách du lịch nhất là khách du lịch quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện Nga Sơn thu hụt được nguồn khách du lịch từ Ninh Bình đến thăm.

Phía nam giáp với huyện Hậu Lộc, phía tây giáp với huyện Hà Trung – hai huyện có nhiều điểm du lịch nổi tiếng. Vì vậy, huyện Nga Sơn có thể kết hợp với hai huyện để xây dựng một số tuyến du lịch nhằm khai thác có hiệu quả những tài nguyên du lịch của địa phương.

Là một vùng do đất phù sa bồi tụ nên địa hình Nga Sơn nói chung được kiến tạo theo dạng lượn sóng, tạo thành ba vùng: Vùng chiem trũng, vùng đồng màu và vùng ven biển. Độ cao giữa các vùng chênh lệch 0,3-0,5m. Với địa hình như vậy rất thuận lợi cho việc đi lại, thăm quan của khách du lịch. Các điểm du lịch của Nga Sơn phân bố ở những nơi có địa hình không quá khó khăn nên tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch và xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch.

Vị trí địa lí mang lại cho Nga Sơn loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nền nhiệt cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tương đối nóng, lượng mưa trung bình. Nhiệt độ trung bình năm là 23-24 0 C. Lượng mưa trung bình là 1700-1900mm. Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến thàng 10). Có hai thời kỳ khô ngắn là tháng 5,6 và tháng 10,11.

Khí hậu của Nga Sơn không quá khắc nghiệt tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch diễn ra quanh năm và có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch.

Nga Sơn có khu vực biển nông chạy dài từ Nga Tân đến Nga Bạch khoảng 10km, vùng bãi triều có thể trồng được: sú, vẹt, nuôi ngao…ngoài khơi có nguồn lợi hải sản phong phú.

Với tài nguyên như vậy, Nga Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, ở vùng bãi triều đã trồng rừng sú, vẹt (ở xã Nga Tân) rộng tới gần 100ha, đây là điểm du lịch thuận lợi để thu hút khách du lịch tới tham quan. Vùng biển Nga Sơn có nguồn hải sản phong phú, đây là nguồn cung cấp thực phẩm cho các nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống của khách du lịch về thăm Nga Sơn.

Nga Sơn nằm giữa các con sông Hoạt và sông Lèn. Sông Lèn thuộc hệ thống sông Mã đoạn chảy qua huyện dài 11km, sông Hoạt là nhánh của sông Lèn đoạn chảy qua huyện khoảng 15km. Tổng lưu lượng nước mùa mưa của các con sông lên tới 1.720m 3/s. Trong các cuộc kháng chiến giữ nước trước đây, sông Hoạt và sông Lèn là đường giao thông thuỷ rất quan trọng. Không những thế, đôi bờ sông Hoạt là dãy núi Tam Điệp còn có những cảnh quan kỳ thú “sơn thuỷ hữu tình”.

III. Tài nguyên du lịch tự nhiên.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này.

Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng như: Động Từ Thức, cảnh đẹp Chùa Tiên, Hồ Đồng vua, đền thờ Mai Anh Tiêm trên núi Quả Dưa, Chùa Thạch Tuyền, chùa Bạch Tượng…dọc đôi bờ sông Hoạt theo dãy núi Tam Điệp còn có biết bao cảnh quan kỳ thú như động Lục Vân, Động Trúc Sơn, cửa Thần Phù, Núi Bia Thần, Núi Lã Vọng, Núi “Rồng Hổ tranh ngọc”, “Giếng thần”, Động Bạch Á … Mật độ di tích “dày đặc” lại rất tự nhiên nằm tập trung ở vùng phía bắc tại dãy núi Tam Điệp và đôi bờ sông Hoạt nên rất thuận lợi cho hoạt động du lịch. Và cũng chính nơi đây từ xưa đã có rất nhiều nhà sử học, bác học như: Phan Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, …các nhà vua, chúa như: Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông, chúa Trịnh Sâm, và cả thái tử nước Lào…vãn cảnh thăm thú tức cảnh, đề thơ trên núi. Đồng thời vùng quê cổ tích này còn hội tụ những di tích lịch sử như: Chiến khu Ba Đình, đền thờ Trần Hưng Đạo, đền thờ Triệu Quang Phục, đền thờ nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh, đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn…

Nga Sơn từ lâu đã nổi tiếng với danh thắng Động Từ Thức, là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng độc nhất vô nhị ở trời Nam. Bởi chỉ có động Từ Thức mới có huyền thoại “Từ Thức gặp Tiên” – một câu chuyện tình đầy lãng mạn, đầy tính nhân văn mà không ở nơi nào có được, một điểm có giá trị rất lớn đối với sự phát triển du lịch của huyện Nga Sơn nói riêng và Thanh Hoá nói chung.

Động Từ Thức còn có tên gọi khác là Động Bích Đào, vì ở ngay cửa động có một quả đào to (tất nhiên bằng đá). Nhưng vì gẵn với câu chuyện Từ Thức gặp Tiên nên dân gian thường gọi là Động Từ Thức.

Động Từ Thức thuộc xã Nga Thiện huyện Nga Sơn, nằm trong dãy núi đá vôi Tam Điệp ở phía đông bắc tỉnh Thanh Hoá. Dưới chân núi trước cửa động có hàng cây cổ thụ xum xuê tán lá, tiếp đến là con kênh dẫn nước, cánh đồng lúa bằng phẳng, xóm thôn xanh ngắt một mầu.

Thắng cảnh Động Từ Thức gắn liền với câu chuyện truyền thuyết Từ Thức gặp Tiên – nàng Giáng Hương.

Tương truyền Từ Thức vốn là người Hoá Châu (Thanh Hoá) thuộc xã Cẩm La huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), làm quan tri huyện ở Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Năm Quang Thái thứ 9 nhà Trần (1396).

Cạnh huyện có ngôi chùa cổ, vườn chùa có cây Mẫu đơn, đến mùa hoa nở người người, lớp lớp chen chân vào xem hoa, gọi là Hội xem hoa.

Tháng 2 năm Bính Tí có ngươi con gái nhan sắc tuyệt trần, vào xem hoa có vịn cành hoa không may bị gãy, vì là Tiên không có tiền chuộc nên người trông giữ hoa bắt lại. Quan huyện tể Từ Thức đến xem hội thấy người con gái xinh đẹp, lại bị trói vào cành hoa, chàng liền cởi áo da cừu trắng đến tăng phòng nộp cho nhà chùa, chuộc người con gái ấy.

Nhân dân ca tụng ông là người nhân từ. Từ Thức là người phóng khoáng đi chơi thường mang theo bầu rượu, cây đàn, túi thơ du ngoạn các nơi có phong cảnh đẹp. Một số quan trên của ông thường hay quở mắng: Cha là Quan cao chấp chính, con không làm được chức quan Huyện tể hay sao ?

Từ Thức than rằng: Ta không vì 3 đấu đậu đỏ (lương tháng) mà gởi thân vào trường danh lợi, lúc nào đó ta sẽ tìm đến non xanh, nước biếc du chơi, chắc là nơi ấy không nỡ phụ ta. Nói đoạn treo ấn từ quan rồi bỏ đi.

Đến Tống Sơn là nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều hang động, bói quẻ thấy đây là vùng đất lành, chim đậu, nên thường lui tới rong chơi, mang theo cây đàn, bầu rượu, túi thơ đến những khe suối nhỏ ngâm vịnh, không đâu thiếu thơ đề.

Một buổi sáng thức dậy nhìn lên cửa bể Thần phù thấy năm sắc mây kết tụ như đoá hoa sen , chèo thuyền đến nơi thấy đó là ngọn núi đẹp. Buộc thuyền, trèo lên thấy ngọn núi đá nhọn cao trên 100 trượng, người như có cánh bay lên. Trước cảnh sinh tình đề thơ rằng:

Thiên thoải bích thu quải trều diên

Hoa thảo nghênh nhân nhập động môn

Bàng giãn dĩ vô tăng thái dược

Diên lu thăng hửu khách tâm nguyên

Lữ du tư vị cầm tam lộng

Điếu đỉnh sinh nhai tửu nhất tôn

Nghĩ hướng vũ lăng ngư phủ vấn

Tiền lai viễn cận thực đào thôn.

Bạt ngàn cây biếc đón hương trời

Hoa quả mời ta đến động chơi

Sườn núi đã không sư hái thuốc

Bờ khe lại có khách tìm chơi

Lữ hành hứng thú đàn ba phiếm

Ngư phủ say sa rượu một hơi

Định đến vũ lăng tìm bạn hỏi

Thôn đào đâu phải quá xa vời.

Đề thơ xong bồi hồi xúc động ngắm nhìn, bỗng thấy vách đá nứt một lỗ hình tròn nhỏ nhưng có thể chui vào được. Từ Thức chui vào bước được mấy bước thì vách đá khép lại. Hoang mang bối rối, lấy tay xoa vách đá thấy một khe nhỏ cong queo như ruột dê, đi vào mấy dặm chợt thấy ngọn đèn treo trên vách đá, theo đường đi lên vòm bước lên đỉnh núi thấy bầu trời sáng sủa, nhìn quanh đến lâu đài cung các. Mây hồng tuyết trắng bám trên các lan can, hoa đẹp cỏ tươi quấn quýt gần xa, thật là một thâm cung nấu mình trong rừng thẳm.

Lòng Từ Thức lâng lâng trầm ngâm suy nghĩ miên man, bỗng thấy trước mắt hai tiên đồng mặc áo xanh đến thưa rằng: Phu nhân thấy chàng chui vào động nên sai chúng tôi ra đón. Qua đường ngầm nến đỏ có một cửa son đối diện cung ngân trên có bảng đề “Kinh hư điện Gác giao quang”. Trên gác có giường Bát Bảo, chăn trắng, bên cạnh đặt một bình hương nhỏ.

Một người mời Từ Thức ngồi và nói rằng: Chàng là người tốt, đã cưu người ở Hội hoa Mẫu Đơn Tiên Du, hạnh ngộ gặp nhau ở đây chả nhẽ lại quên ư. Từ Thức đáp: Tôi là dật sĩ ở Tống Sơn vui cảnh giang hồ làm sao biết được nơi đây Tử Phủ Thanh đô không hiểu sao tôi như tự sinh cánh mới lên được đây song lòng trần còn man mác, chưa hiểu tiền đồ ra sao. Người tiếp chuyện cười và nói rằng: Đây là động thứ sáu trong ba mươi sáu động. Tôi là Nam nhạc địa tiên Nga phu nhân, thấy chàng có nghĩa lớn hay cứu người bị gian nguy nên mời chàng đến đây, rồi đưa mắt bảo các cô gái gọi Nàng A lại.

Từ Thức lét nhìn mặt mũi thì ra là người ngày trước làm gãy cành hoa mẫu đơn ở huyện Tiên Du.

Tiên Nga chỉ vào Giáng Hương và nói: Đây là con gái của ta tên gọi Giáng Hương. Ngày trước nhờ chàng cứu nạn trong hội xem hoa, ơn nghĩa ấy không bao giờ quên, ngỏ ý muốn kết duyên để báo đáp công ơn chàng ngày trước.

Đêm hôm ấy tại Tiên động lấy mỡ Phượng đốt đèn hành lễ giao duyên, hai người báo đáp lễ thành hôn.

Hôm sau, các Nàng Tiên, người cưỡi Rồng, người ngồi võng Hạc, quần áo lộng lẫy đến nơi tụ tập mở yến tiệc trên Gác giao quang, bước lên gác trang trí nội thất toàn bằng lưu ly hổ phách chưa có ai ngồi. Tiên Nga gọi Kim Tiên quần nữ đến bái rước lên gác tiên, ca nhạc liên hoan. Có một người mạc xiêm y màu lam đến nói: Ta đến đây đã tám vạn năm, nay chàng du hành đến không ngại dương trần cách trở, thoả ước nguyện ba sinh, tưởng không phụ lòng nhau, đừng lấy thần tiên là chuyện hoang đường vậy.

Tiếp sau các tiên đồng chia nhau ca vũ, phu nhân ngồi làm chủ toạ, Giáng Hương chuốc rượi mừng vui. Bỗng có một tiên nữ mặc áo lam đến nói: Cần có một kế ước làm tin, vì sợ sau này lạc nhau trên tiên giới khó mà tìm gặp được nhau. Vì trên đời còn lắm quần nho.

Từ Thức có bộ áy náy trong lòng. Phu nhân nói tiếp: Tìm có thể gặp nhưng khó tìm, đạo không phải tu mà tự đến. Rồi đây đình lớn nhà cao bên sóng vỗ, sự đời diễn biến ra sao chưa thể biết trước. Chàng không nhớ chuyện Lộng Nga với Tiên Sử, Thái Loan gặp Văn Tiên, Lan Đã gặp Trương Thạc. Nhiều chuyện đã ghi chép rõ ràng, đó không phải là tấm gương soi hay sao. Nếu lấy việc hôn nhân làm chuyện đùa thì trước đến nay đều là vui đùa diễu cợt cả.

Chuyện vui đang tiếp diễn thì ánh tà dương xuyên qua cửa sổ, hoàng hôn buông xuống mọi người phân tán đi nơi khác.

Từ Thức vui đùa nói với Giáng Hương: Này duyên Tiên Trần phù hợp tại sao có chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, Tăng Nho – Chu Thái, tại sao lại có thơ Xuân Ngọc – Hoàng Lăng. Tuy cảnh có khác nhau nhưng tình là một. Bây giờ quần tiên đã đi xa, ở đây vắng vẻ mà lòng ta không hứng khởi, muốn hoà hợp với nhau mà tình chẳng động. Giáng Hương đáp lại: Đa số các chàng lấy khí huyền nguyên là một chân tình không thể phung phí cho nên đã lên nơi kim đàn mà thân nơi cửa khuyết, ở phủ Thanh đàn dạo chơi nơi xung hán không cần đèn mà lòng trong sáng, không vất vả mà chẳng động tình. Riêng phận thiếp thất tình chưa rửa sạch cho nên trăm loại tình đâu dễ phát sinh. Theo Châu Tử Mị Thiên Phủ mà lại mang nợ dưới cõi trần, thân trên chốn cung tiên mà lòng vẩn đục dưới trần thế. Mong chàng đừng lấy tự tình của thiếp mà so sánh với quần tiên.

Từ Thức đáp: Nếu đã như vậy thì ta không thể xa nàng được. Cả hai người cùng vỗ tay cười.

Phòng của Giáng Hương có bức bình phong, Từ Thức thường đề thơ. Nghĩ lại người xa nhà đã một năm nên nhiều lúc buồn rầu, đi đứng vội vã bất thường có lúc lại chậm chạp, yếu ớt. Nhiều đêm khí lùa vào cửa sổ, gối rơi khí lạnh cảnh vật chập chờn như ai gọi.

Một hôm nhìn xuống trần gian thấy thuyền bè qua lại đông vui bèn gọi Giáng Hương lại trông và nói rằng: Nhà ta ở đó, hiềm vì trời xa sóng cả nên không rõ đâu là quê hương. Có lúc lại nói với Giáng Hương: Ta là người vui thú với cỏ cây, hoa lá, lòng đa sầu đa cảm, dễ động tình nhớ đến quê hương xin nàng cho ta trở về thăm thú quê nhà, rồi sẽ lên đây cùng nàng sống bên nhau đến trọn đời.

Giáng Hương khóc và trả lời: Thiếp không buồn vì chàng trở lại dương trần, nhưng chỉ lo vì đường đi cách trở khó khăn, vả lại chàng ra đi đã lâu đến nay xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa khó mà nhận ra quê hương làng mạc cũ.

Từ Thức lại nói: Đây là ý nguyện khẩn thiết của ta, nàng hãy giúp ta. Giáng Hương can không được bèn tặng một cỗ xe mây chở chàng đi và trao cho chàng một phong thư, dặn chàng: Mai sau nếu không quên tình cũ, thì hãy xem thư này…nói đoạn rơi lệ tiễn biệt.

Về đến quê hương thì vật đổi, sao rời, xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa, mọi vật đều khác trước, người thân thích họ hàng không còn.

Từ Thức tìm đến các cụ già nói rõ họ tên và tìm hiểu thân thích xa gần, tất cả đều ngơ ngác. Duy chỉ một ông cụ nói: Khi còn nhỏ tôi có nghe ông cụ tổ ba đời của tôi cùng họ tên với ông lạc vào rừng cách đây đã tám mươi năm. Từ triều Trần nay đã chuyển sang Triều Lê. Năm Diên Ninh thứ năm.

Từ Thức vô cùng hối hận muốn trở lên tiên thì cỗ xe mây đã biến thành đám mây bay đi mất. Buồn rầu mở thư xem chỉ thấy Giáng hương ghi “Duyên xưa đã hết”. Nhìn trời biển bao la, Tiên trần cách biệt, hơn nữa dù có gặp lại Giáng Hương thì tình duyên đã hết. Từ chán ngán, mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, đi đến núi Hoàng Sơn (Nông Cống) rồi mất tích.

Truyền thuyết dân gian Từ Thức – Giáng Hương là nét đặc sắc độc đáo của thắng cảnh Từ Thức và cũng là nguồn hấp dẫn, thu hút nhiều khách từ xưa đến nay tới đây để vãn cảnh, đề thơ.

Chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương, một thiên tình sử lãng mạn đầy tính nhân văn sâu sắc.

Tạo hoá, như có một bàn tay siêu thần, có phép màu nhiệm tạo nên bao nhiêu cảnh đẹp như thực, như mơ, lung linh rực rỡ sắc màu vẻ huyền bí, bảng lảng vừa gần, vừa xa ở Bồng lai tiên cảnh, gần gũi đến lạ kỳ như giữa đời thường lúc nào cũng gặp bên ta. Cứ tưởng như khi ta chạm bàn tay vào các cảnh vật là Đá như có sự lay động, như có lời thầm thì của đá.

Trong động, trên vách đá, nóc động, nền động nhiều cảnh thơ mộng bởi thạch nhũ. Các bức “phù điêu”, “tượng” rất thực với đời sống thường ngày của con người, của hạnh phúc lứa đôi, mà cảnh là một tác phẩm kỳ ảo của thiên nhiên lưu lại những kỷ niệm trùng hợp của đôi trai tài, gái sắc.

Khi ta bước vào trong động đến khi thăm hết động, cảnh vật trong động được tạo hoá sắp xếp tuần tự, chỉnh chu như một “bài văn mẫu” kể về chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương.

Động Từ Thức được chia làm 3 động nhỏ: Động ngoài, động giữa và động trong. Hay thường gọi là ba cung.

Động ngoài rộng, trần động hình vòng cung như chiếc bát úp khổng lồ. Phía dưới vòng cung ở giữa động một nhũ đá trông như trái Đào Tiên, nhiều bông hoa Mẫu Đơn, một chiếc áo treo bên cạnh của chàng Từ Thức, một cây bút thần. Trung tâm của động ngoài này là cảnh “Quần Tiên hội ẩm” giữa quần tiên ca múa nhân ngày Từ Thức kết duyên với Giáng Hương là hình ảnh Từ Thức đội mũ cánh chuồn đứng sau nàng Giáng Hương xinh đẹp, đôi lứa đang tràn đầy hạnh phúc.

Bước vào phần động giữa là một thế giới kỳ ảo của nhiều cảnh trí mà chỉ có tạo hoá mới tạo ra được. Đầu tiên chúng ta sẽ thấy những kho Tiền, kho Muối, kho Vàng lấp lánh, thật ngạc nhiên khi ta bắt gặp “Rồng chầu ấp trứng” một con Rồng như phù điêu tuyệt đẹp mà có lẽ “chỉ có trời ” mới tạo ra được đẹp như thế. Rồng uốn lượn đang “co” lại “ấp” trứng, những quả trứng rồng mới đẹp làm sao. Quả tròn, to nhỏ nhiều cỡ, vở quả trứng bên ngoài như quả na vừa vàng, vừa thẫm đen trông thật kỳ thú. Rồi những phiến đá nhũ đá mỏng, màu trắng ngà rủ từ trần xuống-những nhũ đá đó gọi là dàn “đàn đá”, “trống đá”. Bởi vì chỉ cần gõ nhẹ vào những thanh nhũ đá, sẽ nghe âm thanh vang lên với những cung bậc khác nhau. Tiếng trầm hùng như từ ngà xưa vọng lại. Tiếng “kim ” như cao vút tận trời xanh.

Càng vào sâu lòng động càng rộng ra, chúng ta sẽ thấy ngỡ ngàng khi gặp bàn cỗ tam sinh có đủ lợn, trâu, dê…một mâm xôi trên có miếng thịt lợn giống như thật. Rồi những dấu tích về tình yêu của Từ Thức và Giáng Hương như: “Buồng tắm” của Giáng Hương và “thư phòng” của Từ Thức, những Bông hoa, những quả Đào tiên, Vầng trăng và có cả những Đôi chim thạch nhũ, một “Bức triện” được khắc tinh xảo như dấu ấn từ quan của Từ Thức. Đối diện là cảnh Ao bèo, Bụi tre, Quả mít, cây Táo, những con Voi, con Dê… gợi hình tượng quê hương trong sự tưởng nhớ của chàng thư sinh Từ Thức. Ngước lên trần là cảnh Từ Thức cùng Giáng Hương đang “cưỡi Xe mây” du ngoạn Bồng lai Tiên cảnh. Cảnh Từ Thức – Giáng Hương cùng che “lộng Vàng” đọc sách, ngâm thơ. Cảnh những con chim Đại bàng sải cánh rộng bay chao đảo giưa bầu trời rộng mênh mông…Đi tiếp là một ngã rẽ, một ngả theo tương truyền là đường lên cõi Tiên của Từ Thức. Tại đây có quán nghỉ chân bằng đá mà chàng nghỉ suốt dọc hành trình và còn có những mắc treo áo, treo mũ bằng đá. Bên cạnh đường lên Tiên là một ngả rẽ hẻm sâu theo đường xoáy ốc vẫn bí ẩn bao đời nay, nhân dân quen gọi là đường xuống Âm phủ tối đen. (dân ở đó kể rằng khắc dấu vào quả bưởi thả xuống, quả bưởi sẽ trôi ra mãi cửa Thần Phù)

Động Trong: Cảnh Từ Thức từ giã Giáng Hương về thăm quê, một đôi dày của Từ Thức thô sơ như bao đôi dày dân giã, một dãy núi có 5 ngọn núi nhỏ “tựa như Ngũ hành sơn”. Nơi Từ Thức đến những bông hoa mẫu đơn, có một bông thật to rủ xuống bên cạnh ngôi mộ của chàng Từ. (Bông hoa Mẫu đơn, mà nàng Giáng Hương vô ý đã làm gãy cành-Duyên cớ đó cho đôi lứa nên duyên vợ chồng). Phía cuối động có vòm thấp, phải cúi đầu mới vào được đó là “lầu cô lầu cậu” rất linh thiêng, những cặp vợ chồng thường vào đó để cầu tự sinh trai tài, gái sắc.

Ở những thế kỷ trước nhiều thi nhân tới động Bich Đào , tức cảnh sinh tình, những vần thơ “thiên cổ kỳ bút” đã sinh ra từ đây để lại cho hậu thế. Hai câu thơ của cụ Huỳnh Thúc Kháng vịnh về động Bích Đào còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ và trong thi đàn Việt Nam:

“Thơ ngọc vội đưa người viễn khách

Động Bích Đào còn để lại tiếng danh sơn”

Nhà thơ, nhà bác học Lê Quý Đôn, trạng nguyên Nguyễn Thượng Hiền, chua Trịnh Sâm đều sáng tác những vần thơ đẹp ngợi ca động Bích Đào.

Sách “Truyền kỳ mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ dành cả một chương viết về kỳ quan thiên nhiên động Bích Đào và câu chuyện Từ Thức. Tập truyện nôm khuyết danh “Từ Thức tân truyện”, rồi “Từ Thức Tiên hôn” của tác giả Lê Khắc Khuyết viết vào đầu thế kỷ XX và những thế kỷ trước, các sách “Thanh Hoá kỳ thắng”, “Thanh Hoá danh thắng”…đều hết sức ca ngợi động Từ Thức.

Bài thơ của bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726-1784):

Trên đảo bầy Tiên chuyện lạ thường

Bích Đào cửa động quá hoang lương !

Đất trời manh áo đày Từ Thức

Mây nước đôi mày đoạ Giáng Hương !

Trống đá tiếng lay vầng nhật sớm

Muối non vị nhạt đẫm thu sương

Người đời khổ bởi mơ tiên cảnh

Ai biết thiên thai cũng hí trường.

Mờ mịt thần tiên ngất dặm dương

Bích Đào động khẩu dấu thê lương

Áo gai phiêu bạt thân Từ Thức

Mây nước già dăm mặt Giáng Hương

Trống đá nghe khuya lay động sớm

Sương thu chăng đượm cát sa trường

Thiên thai bao kẻ từng xây mộng

Nào biết thiên thai cũng hí trường.

Bài thơ của chúa Trịnh Sâm:

Rời thuyền thừa hứng viếng Từ công

Cửa động y nguyên khoá ánh hồng

Xiêm ráng vách treo rờn gấm vóc

Phượng reo đá gõ vọng cung thương

Duyên tiên từ thủơ ba sinh hẹn

Bể khổ nay đà mấy độ dâng.

Chớ bảo giao trì ngày thấm thoát

Chơi đây nào khác dạo Bồng Lang.

(Nguyễn Hữu Vĩ viết – Hồng Phi phiên âm và dịch)

Bài thơ của Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niên (1886-1955) Tổng đốc Thanh Hoá:

Lâng lâng nhẹ gót viếng Đào Nguyên

Mới rõ trần gian chửa dứt nguyên

Vinh lộc đã cam từ huyện ấn

Ái tình còn nặng lụy duyên tiên

Nghê thường mờ mịt chòm mây sớm

Thạch nhũ đầm đìa bóng nguyệt đêm

Hoạn lộ cười mình về quá muộn

Gặp nhau cửa động mới không nên

Nguồn đào thanh thản bước chân

Tiếc thay lòng vẫn duyên trần đa mang

Đã hay treo ấn từ quan

Ái tình còn lụy mơ màng chốn tiên

Nghê thường óng ả mây xiêm

Trăng soi thạch nhũ hồn đêm ngậm ngùi

Ta chưa về cũng đáng cười

Gặp nhau cửa động khôn lời nói năng.

Lâng lâng nhẹ bước tới Đào Nguyên

Trần thế lòng còn vướng nợ duyên

Danh lợi xem khinh treo ấn tín

Ái tình mang nặng luỵ non tiên

Nghê thường nhuộm vĩ mây chiều xám

Thạch nhũ vương hồn bóng nguyệt đêm.

Về muộn ai cười ta đó tá

Gặp nhau cửa động chẳng hàn huyên.

Động Từ Thức là “Bồng lai, Tiên cảnh”. Thiên nhiên ban tặng cho Nga Sơn.

Câu chuyện tình duyên, thắm nồng và dang dở giữa chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương chỉ là một huyền thoại, nhưng được gắn với cảnh động Từ Thức đã tôn thêm tính hiện thực. Tiên cảnh và trần thế, hư và thực đan xen trong câu chuyện, chứng tỏ chất lãng mạn, lạc quan, yêu cuộc sống là bản tính của dân tộc Việt Nam. Danh thắng động Từ Thức mãi mãi xứng danh với “Danh sơn đệ nhất động” ở trời Nam.

Một thắng cảnh nổi tiếng của Nga Thiện đó là núi Bia Thần, nơi thuở xưa có một mỏm đá nhô ra sông thuyền bè có thể đi luồn dưới gầm núi, trên núi có khắc một chữ “Thần” bằng chữ Hán rất lớn, nét chữ khoẻ mạnh, phóng khoáng, ngạo nghễ và oai nghiêm. Sách “Đại nam nhất thống chí” chép rằng: Tương truyền Lê Thánh Tông là tác giả của đại tự trên. Mới đây nhờ khảo sát kỹ của Hồng Phi và Hương Nao các chữ nhỏ khắc hai bên (đã bị ai đó đục phá), mới phát hiện người đề chữ này là “Nhật Nam Nguyên chủ”, tức là chúa Trịnh Sâm. Chữ “Thần” được khắc ở vị trí núi non hiểm trở này, muốn chứng tỏ rằng nước Nam có thần linh canh giữ, không để những kẻ ngoại xâm vào xâm chiếm.

Điều đặc biệt ở vùng “huyền thoại” và “cổ tích” này nhiều địa danh được gắn với chữ Thần (Thần Phù, Bia Thần, Giếng Thần). Chữ Thần ở núi Bia Thần chỉ độc một to lớn ở xã Nga Thiện và cũng ở Động Bạch Á xã Nga Thiện có tấm bia cổ lớn có độc một chữ “Phật” . Các danh thắng như Động Từ Thức, Núi Bia Thần, Động Bạch Á, Núi Lã Vọng, Giếng Thần, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh…các di tích “dày đặc” ở cùng một xã, mà động Từ Thức là “trung tâm”

3. Động Bạch Á xã Nga Thiện

Động Bạch Á là một thắng cảnh nổi tiếng từ xưa, hay còn được gọi là Động Bạch Ác, Bạch Nha. Động Bạch Á thuộc địa phận làng Tri Thiện xã Nga Thiện. Bạch Á (hay Bạch Nha) nghĩa chữ Hán là “quạ trắng”. Người xưa đặt tên là “quạ trắng” có lẽ bởi vì từ xa nhìn về cửa động trước thấy giống như một con quạ khổng lồ đang dang rộng cánh giữa một khoảng trời rộng lớn màu bạc, đất trong động màu ngà, sông nước bao bọc xung quanh nên moi vật dường như màu trắng.

Ngoài các tên gọi trên Động Bạch Á còn là nơi có rất nhiều dơi cư trú. Vì vậy, từ xưa tới nay, nhân dân địa phương còn gọi động theo tên khác nữa là động Dơi.

Động Bạch Á nằm trong lòng một núi đá đứng độc lập thuộc phía đông bắc huyện Nga Sơn. Núi này thường được gọi là núi Bạch Á (hay Bạch Ác, Bạch Nha).

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây đã được các bậc vua chúa và các danh nhân thưởng ngoạn, đề thơ. Đây là một trong những nơi có cảnh đẹp thiên nhiên ban tặng cho vùng quê này.

Ngoài vẻ đẹp thiên nhiên, động Bạch Á còn có chùa thờ Phật. Đây là một trong những ngôi chùa có niên đại từ rất sớm. Trải qua thời gian tồn tại, nơi đây đã trở thành nơi vãn cảnh, thưởng ngoạn và sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh, khách thập phương.

Hiện tại Động Bạch Á còn lưu giữ rất nhiều hiện vật có giá trị về nhiều mặt như hệ thống tượng đá, tượng gỗ, các điêu khắc hình rồng hai bên bậc lên xuống…Điều đó minh chứng cho sự tồn tại của ngôi chùa cũng như sự phát triển của phật giáo khi du nhập vào nước ta, cũng như về vẻ đẹp của động Bạch Á.

Động Bạch Á là một thắng cảnh đã có từ rất lâu. Xưa kia nơi đây là vùng cửa biển. Sau thời gian được phù sa bồi đắp, vùng đất này đã trở nên bằng phẳng và đông dân cư như ngày nay.

“Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú khi chép về động Bạch Á đã viết: “Động Bạch Nha ở bãi biển huyện Nga Sơn, ngọn núi cao đứng sững lên, giữa núi có động sâu, gắn với động Từ Thức”.

Động Bạch Á nằm trong ngọn núi có độ cao khoảng gần 50m so với mực nước biển. Từ trên ngọn núi này chúng ta có thể quan sát cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của vùng đông bắc huyện Nga Sơn một cách rõ ràng.

Để vào động Bạch Á có bốn lối theo bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Các lối vào phía đông và phía nam nằm cao trên lưng chừng động nên ít được sử dụng ra vào, chủ yếu chỉ sử dụng hai lối phía tây và phía bắc, phía tây là cửa ra vào chính phía bắc là lối đi phụ.

Từ phía tây vào , chúng ta phải đi tử dưới lên trên cao khoảng 7m để vào động bằng các bậc lên xuống. Hai bên lối lên xuống là 6 con rồng bằng đá nguyên khối (4 con lớn, 2 con nhỏ).

Tiếp đến là cổng tam quan được xây dựng bằng gạch vữa. Phía trong là sân rộng lớn. Giữa sân đặt tượng Quan Âm Bồ tát.

Tiếp giáp với sân là cửa động rộng, cao thoáng mát. Phía trên của động có khắc 3 tấm bia Ma Nhai.

Qua cửa động vào bên trong được chia thành 3 cung với kích thước khác nhau đều rộng rãi và cao ráo.

Từ cung trong cùng được mở rộng ra hai phía bắc và phía nam khoảng không rộng rãi thông ra ngoài bằng hai cửa nhỏ, cửa phía bắc và cửa phía nam. Tại các vị trí này đều có dấu vết của nền móng xây dựng cũ (có thể đây là nhà chính tẩm cũ). Phía sau được thông ra ngoài bởi một lối nhỏ, phía trên cao hơn so với nền khoảng 4m.

Nhờ có 4 cửa thông nhau nên trong động quanh năm luôn thoáng đãng, khô ráo và mát mẻ. Trên vách động không có nhiều nhũ đá như những động khác, ở phía đông động có một hình “được vẽ” và “tô đắp” như hình Giáng Hương dang đôi cánh bay xuống du ngoạn động này.

Động Bạch Á còn là nơi lưu giữ rất nhiều tượng điêu khắc bằng đá, bia như: Tượng Vũ Sĩ, tượng Phật, tượng Rồng được chạm khắc công phu trên những phiến đá tảng lớn, các bia…

Sách xưa cho biết, trước cửa động có một tấm bia rất lớn từ thế kỷ XII thời Lý đặt trên lưng rùa, nhưng sau này bị mất. May mắn, mới đây đã tìm lại được tấm bia này, đó là bia chữ “Phật”. Bia hình chữ nhật, kích thước cao 1.83m (trán bia hình bán nguyệt, cao 0.26m, đế cao 0.2m). Trên trán bia có khắc tám chữ triện, được giáo sư Hà Văn Tấn dịch là: “Trùng tu Diên Linh chân giáo tự bi” (Bia trùng tu chùa Diên Linh chân giáo). Phải chăng “Diên Linh chân giáo” là tên chữ của ngôi chùa ?. Xung quanh cả 4 mặt đều chạm khắc hoa văn, cành lá, hình rồng thời Lý rất tinh xảo. Nhưng một số chữ đã bị bào mòn, trong đó có niên đại của tấm bia.

Đặc biệt ở động này còn có các tấm bia ma nhai, là nơi lưu giữ được các bút tích của các bậc vua chúa đề thơ ở đây. Trong đó có các bài thơ chữ Hán của các vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Chúa Trịnh Sâm.

Năm 1467, vua Lê Thánh Tông đã dùng thuyền thăm thắng cảnh Bạch Á, sáng tác thơ khắc trước cửa động:

” Ngàn non xanh biếc tựa tầng không

Chùa cổ hang mây quá mịt mùng

Trời nhẹ khí lành xuân bóng toả

Tiết đầy sắc thắm gió không rung

Sau buổi hồng hoang trời đất mở

Trong khuôn tạo hoá quỷ thần thông

Ơn chị Oa Hoàng dành chỗ đẹp

Để ta ghi lại thái bình công”

44 năm sau, Lê Tương Dực cũng tới đây vãn cảnh, cảm hứng sáng tác hai bài thơ khắc trong động có những câu thơ sau ca ngợi vẻ đẹp của thắng cảnh Bạch Á.

” Nghìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mâu qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió êm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Nữ Oa dành lại đó mà

Để ghi công đức triều ta thái bình”

“Nguy nga núi đá điệp trùng trùng

Dấn bước lên cao cảm hứng nồng

Muôn vạn sóng xanh vờn ánh nhật

Một bầu cỏ biếc giỡn xuân phong

Khói mây mờ mịt xa vời ngắm

Hoa cỏ âm thầm thấp thoáng trông

Cảnh trí bút nào mô tả nổi

Lung linh trước mắt đẹp vô cùng”

“Chon von núi cổ điệp trùng trùng

Lên tới non cao thi tứ nồng

Cờ phướn phất phơ vờn ánh nhật

Xiêm đai rực rỡ giỡn xuân phong

Sấm rền vang dội kình vài tiếng

Hoa rực sáng bừng đuốc mấy bông

Cảnh vật bầu trời đầy trước mắt

Cõi Nam cảnh trí đẹp vô cùng”

(Hồng Phi phiên âm, dịch theo bản khắc trên vách động)

Phía trên hai bút tích này là bài thơ Đường luật của Nhật Nam nguyên chủ tức Chúa Trịnh Sâm:

“Động bày riêng chiếm một càn khôn

Chót vót vòm cao núi độc tôn

Vách đá trong ngoài xây lớp lớp

Cửa mây đôi mặt hướng tây đông

Bia hàn khói toả chùa sâu thẳm

Khánh cổ gió lùa xa xóm thôn

Đai ngọc vòng quanh ta thưởng ngoạn

Càn chi ra đó viếng Đào nguyên”

(Hồng Phi phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ)

“Cảnh bày riêng một cõi kiền khôn

Cao chọc vòm trời thế độc tôn

Đá biếc bao từng xây động núi

Cửa mây bốn mặt dựng sườn non

Móc phong bia lạnh nơi chùa thẳm

Gió thổi phương xa tiếng khánh dồn

Đai ngọc vòng quanh trông ngoạn mục

Đào nguyên ngoài đó chẳng đâu còn”

(Tố Nguyên – Nguyễn Thọ Dực dịch)

Ở chính giữa động còn hai bài thơ Đường luật của vua Lê Hiếu Tông.

I. “Thuyền rồng đưa khách thuận buồm dong

Đến viếng Bỗu tiên cảnh thắm hồng

Ngao gắng sức nâng Thiên Phủ quốc

Thu triều xa đỡ Thuỷ Tinh cung

Song cao khoá kín vân hà lặng

Cửa phật treo cao tục lợi không

Những sợ sơn hà không thắng cảnh

Quân vương thi tứ bỗng thêm nồng.”

II. “Hoa non như gấm, cỏ như chăn

Thượng giới chuông rền, đôi phía vang

Cửa động hương xuân bày bướm lượn

Bờ sông nắng ấm áng mây vần

Há không thành kính gìn tâm Phật

Nên xét lò than chống diễn văn

Muôn dặm Tây kinh cờ trở lại

Tạm dừng dưới núi trú ba quân ”

(Hồng Phi – Hương Nao dịch)

Động Bạch Á là một thắng cảnh có giá trị rất lớn về nhiều mặt mỹ thuật, lịch sử, văn hoá và du lịch. Động Bạch Á đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, năm trong khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh. Đồng thời là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh.

Động còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ có giá trị rất lớn như: Tượng cổ bằng gỗ, các tượng phật, tượng quan hầu, tượng rồng bằng đá…thể hiện phong cách nghệ thuật điêu khắc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.

Nơi đây cũng đã lưu giữ nhiều những tác phẩm thi ca đã được nhiều thi nhân thưởng thức và thán phục.

Núi Lã Vọng người dân nơi đây thường quen gọi là núi Lão Vọng (Ông lão ngồi câu cá). Từ bên này Động Từ Thức leo qua Eo “Đầu Lợn” sang bên kia, đi dọc cánh đồng của làng Hoàng Cương chừng gần 200m, ngoảnh mặt nhìn hướng đông có một hòn núi mà trên đỉnh núi có một ông già đang ngồi mặt nhìn hướng đông, nét mặt “đăm chiêu” như đang chứng kiến bao cảnh thăng trầm, bao sự biến thiên của lịch sử. (Cũng nhìn chếch về hướng đông bên kia sông Hoạt Giang là núi Bia Thần). Tương truyền núi Lã Vọng được gắn với câu chuyện đạo sĩ họ La tên Viện. Chuyện kể rằng: Theo truyền thuyết và sử cũ thì năm 1044, vua Lý Thánh Tông đi đánh quân Chiêm Thành, khi đến cửa Thần Phù gặp mưa to, gió lớn thuyền không qua được Bỗng trên núi có một người tự xưng họ La tên Viện tâu với Vua rằng: “Thần sẽ giúp nhà Vua thoát qua cửa biển Thần Phù”. Nhà Vua cho mời đạo sĩ xuống thuyền. Quả nhiên khi đạo sĩ ngồi ở mũi thuyền thì sóng yên, biển lặng. Khi thắng trận trở về, vị đạo sĩ họ La đã mất, nhà vua biết ơn cho lập đền thờ ở chân núi Đường Trèo ( xã Nga An) và phong “áp lãng chân nhân tôn thần” (Người có công đè sóng giúp vua được tôn thành thần)

Non nước Thần Phù vừa linh thiêng, u minh vừa nên thơ.

“Núi vút ngàn trùng non dựng đứng

Rắn bò một giải nước quanh đi”

Đây là một địa danh lịch sử xa xưa gắn với nhiều truyền thuyết, thực chất là một vùng đất nằm ở hai bên cửa biển cũ, nay đã lùi xa trong đất liền hơn 10km. Cửa biển Thần Phù hiện thuộc ranh giới giữa hai xã Yên Lâm huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình và xã Nga Điền,Nga Sơn, Thanh Hoá.

Cửa biển Thần Phù ngày xưa là một cửa biển sóng to, nước giữ nên ca dao Việt Nam đã có câu:

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Thần Phù và vùng cửa biển Thần Phù cũng là một địa danh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam về các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Năm 40 SCN, Lê Thị Hoa – nữ tướng của Hai Bà Trưng đã tổ chức quân đội, phất cao ngọn cờ độc lập chống lại sự tấn công của lão tường Mã Viện.

Vào cuối thế kỷ X, khi vua Đinh Tiên Hoàn vừa mới mất (năm 979), Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn là nhiếp chính. Phò mã Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm tiến ra Hoa Lư đánh nhà Đinh. Nhưng vừa tới cửa Tiểu Khang (cửa Thần Phù) thì bị gió bão đánh chìm. Ngô Nhật Khánh chết đuối, chúa Chiêm may mắn thoát nạn.

Dưới thời Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 (năm 1285), thượng tướng thái sư Trần Quang Khải đã lập một phòng tuyến ở đây để chặn đánh 10 vạn quân Toa Đô từ phía nam (Chăm Pa) đánh ra, đập tan kế hoạch trong đánh ra, ngoài đánh vào của viên tướng tổng chỉ huy Thoát Hoan.

Năm thứ 7 đời Xương Phù(1388), triều vua Trần Hiệu Đế (1377-1388), tướng Nguyền Đa Phương và Hồ Quý Ly đã đánh cho quân Chăm một trận thất bại nặng nề, buộc chúng phải tháo chạy về nước.

Với những giá trị trên, cửa biển Thần Phù cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của huyện Nga Sơn. Đến với cửa biển Thần Phù, chúng ta không chỉ được hiểu biết thêm về lịch sử đấu tranh anh dũng của ông cha ta, mà còn được ngắm phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp mà tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất Nga Sơn.

Cửa biển Thần Phù không chỉ ghi dấu nhiều chiến công của ông cha ta mà còn có những cảnh đẹp đó là động Lục Vân- theo nghĩa là động có sáu tầng mây – động bên Sông Hoạt từ bờ sông leo lên cửa động chừng 20m đường thoai thoải dễ đi. Nhìn bên ngoài động hình vòng tròn như miệng con rồng lớn. Vào trong động, ngay cửa động ở trên vách đá có hình một bên hình con rồng màu vàng đang cuốn mình nhô ra cửa động. Một bên hình con Hổ màu vàng đen cũng đang nhìn ra cửa động. Ngoài cái tên động Lục Vân dân ở đây còn gọi là động “Rồng Hổ tranh quang” vào sâu trong động phải men theo các tầng mây để tìm hiểu thăm thú. Càng vào trong động càng rộng, du khách có cảm giác như đi trên các “tầng mây” có tầng mây rộng thoáng đủ cho cả 5-7 chục người đứng ngắm cảnh.

Năm 1771 chúa Trịnh Sâm đã dừng chân thưởng ngoạn đêm trăng và cảm hứng đề thơ lên vách núi, đến nay vẫn còn:

“Gió đưa, thuyền dâng trăng sáng trôi

Lênh đênh chiếc lá thuận dòng chơi

Làn sông ngấm biếc bèo đôi phía

Rặng núi hang xanh bóng giữa vời

Thấp thoáng mây xanh am cổ hiện

Thập thình chày ngọc giọt thu rơi…”.

Xưa kia trước động có chùa và những điêu khắc chạm trổ trực tiếp lên đá núi. Nhưng hiện nay không còn, chỉ còn thấy một số bút tích chữ Hán của người xưa đến vãn cảnh để lại trong và ngoài động. Trong số đó, có thơ của vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Hoàng giáp Ngô Thị Sĩ (1726-1780), đứng trước cửa động, ngắm nhìn núi non, sông nước hữu tình, và các bài thơ của các thi nhân khắc trên vách đá thì trong lòng cảm thấy xốn sang man mát:

” Khe núi bóng tà hoa lấp lánh

Hàng dương xuân đến điểm râm ran

Suối trong rửa lòng tê tái

Nhà tối đèn treo mộng rảnh rang…”

” Mặt đất chung cùng đôi nhật nguyệt

Bầu tiên riêng chiếm một càn khôn

Chén trôi bóng ngọc theo dòng nước

Đá hoá bầy dê rải động mòn

Cửa chống trời dành riêng có ý

Để trời đêm gắm ánh chiều tuôn”

“Thìên quang bát ngát ngọc xuyên sơn

Ngạo nghễ tầng non giữa thủ yên

Muôn dặm quan hà xa dã ngoại

Một bầu trời hoa có rực quang tiền

Mây già thấp thoáng vui chiêm ngưỡng

Chiếm cả bầu tiên xuân vũ trụ

Thi nhân thêm đẹp thái bình niên”

(Hồng Phi dịch theo bản khắc trên đá)

Động Lục Vân có sức hấp dẫn đối với những nam thanh, nữ tú. Họ thường rủ nhau “leo lên” các tầng mây, những ngọn nến lung linh, ánh sáng huyền ảo càng làm cho cảnh đẹp động Lục Vân thêm thơ mộng, thần tiên.

Đây là một ngọn núi được xem như chiếc cọc tiêu định hướng cho thuyền bè đi lại trên cửa biển Thần Phù xưa kia. Ngọn núi này thuộc thôn Văn Đức xã Nga Phú. Núi Chích Trợ hay thường gọi là núi Chiếc Đũa, núi được tạo nên bởi các phiến đá phẳng cạnh, vuông góc xếp chồng lên nhau, cao khoảng 300-400m, nằm trơ trọi giữa cánh đồng lúa . Xưa kia vùng này còn là biển cả mênh mông, nhiều vua chúa, danh nho Việt Nam đã qua đây, dừng thuyền lên núi thưởng ngoạn và sáng tác thơ văn ca ngợi. Hiện ở vách núi phía bắc còn thấy bài thơ chữ Hán của vua Lê Hiếu Tông vào mùa xuân năm Cảnh Thống thứ tư (1501) và bài thơ của chúa Trịnh Sâm sáng tác vào tháng 2 năm Tân Mão (1771). Những bài thơ của các tác giả đã thể hiện cảm hứng của mình trước cảnh đẹp hùng vĩ của thắng cảnh “Chích Trợ sơn”:

“Vin mây ngồi ngóng sóng triều tuôn

Sừng sững giữa dòng dễ mấy non

Đâu Suất trời tây trên mặt nước

Bồng Lai phía trái tại nhân gian

Sáu ngao đứng vững bền khuôn đất

Muôn ngọn xô vào biển rộng hơn

Vây dựng sóng kình nay đã bặt

Anh hùng như thấy tiểu trần hoàn.”

(Thơ của vua Lê Hiếu Tông – Hồng Phi dịch)

“Bát ngát trông vời biển sắc thâu

Trời đen Chích Trợ chắn dòng sâu

Một mình sừng sững nâng ngao cực

Ai dán nghênh ngang ép thẩn lâu ?

Hơn chục biển bờ nêu trụ đá

Ba ngàn cõi thế dáng tiên châu

Ôm non vượt biển anh hùng chí

Thủa trước nào ta có nghĩ đâu.”

(Thơ của chúa Trịnh Sâm – Hồng Phi dịch)

Núi Chích Trợ có một hang nhỏ xuyên từ bên này sang bên kia chân núi, có thể dễ dàng chui qua mà không cần phải đi vòng. Nếu trèo lên đỉnh núi phóng tầm mắt ra bốn phía ruộng đồng, sông biển sẽ thấy hết được những cảnh đẹp, những điều thú vị và sẽ thây thoải mái , thấy yêu quê hương mình.

Đi từ xa ngắm nhìn Chích Trợ sơn thì thấy ngọn núi này không giống như chiếc đũa chút nào, mà hình giáng như một toà sen nơi cửa Phật. Bởi thế, từ thế kỷ thứ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn đã có những câu thơ nhận xét:

“Viễn chiêm chinh tự liên hoa toạ

Hà dự danh vi Chích Trợ sơn “…

( Xa xem như thể toà sen biếc

“Chiếc đũa” tên này bởi tại sao?…)

Dọc theo sông Hoạt, từ cửa “Thần Phù” xuôi về phía tây chừng hơn 1km chúng ta sẽ gặp núi “Rồng Hổ tranh ngọc” và bên trong ngọn núi là thung lũng rộng chừng cả vài ha, phía cuối thung lũng là chùa Trúc Lâm.

Người xưa kể lại rằng: Non nước Thần Phù, cảnh vật “Sơn thuỷ hữu tình” lại vô cùng thiêng liêng. Trên núi có Hổ là chúa tể sơn lâm, dưới sông nước có Rồng là chúa tể muôn loài. Ngọc Hoàng nhiều lần xuống hạ giới để thăm thú cảnh Thần Phù, Người muốn ban tặng cho Thần Phù một báu vật là “Viên ngọc quý” và rất linh nghiệm. Vừa là “quà tặng” cho một nơi “Sơn thuỷ hữu tình” vừa để “Viên ngọc quý” có phép thuật linh nghiệm giúp dân qua cửa Thần Phù.

Rồng và Hổ cả hai “chúa tể” đều muốn nhận vật quý của Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng phân vân chưa biết giao “viên ngọc quý” cho chúa tể nào vì cả hai đều tài giỏi, kẻ trên núi cao, kẻ dưới sông nước. Một vị thần tâu với Ngọc Hoàng rằng: Bẩm Ngọc Hoàng – Người hãy tung Viên ngọc quý ấy xuống trần gian, chúa tể nào lấy được thì giao cho chúa tể đó. Ngọc Hoàng cho là phải bèn “tung” Viên Ngọc quý đó xuống trần gian. Cả hai “chúa tể” tranh nhau, trổ hết tài nghệ để giành lấy vật báu. Cuộc tranh giành diễn ra nhiều ngày. Rồi đến một hôm Viên Ngọc rơi đến “thung” chùa Trúc Lâm. Bên cạnh thung gần sông Thần Phù, Viên Ngọc rơi xuống sông, cả Hổ và Rồng đều lao xuống nước để “mò” Viên Ngọc quý. Cuối cùng Rồng đã dành được.

Thần Phù là nơi núi non hiểm trở, nhưng cũng là nơi biển rộng, sông sâu, sóng to gió lớn, dân trong nam ra bắc và bắc vào nam từ xa xưa đều đi thuyền qua nơi này vì vậy “ý trời” là muốn giao Viên Ngọc quý cho chúa tể Rồng để giúp dân, giúp nước.

Núi “Rồng Hổ tranh ngọc” hiện còn ở xã Nga Điền – phía tây ngọn núi là hình vị chúa tể Hổ. Phía đông ngọn núi là hình vị chúa tể Rồng. Trong miệng Rồng đang ngậm “Viên Ngọc quý”. Hình núi tạo ra hai vị chúa tể nhìn giống như thật, ở giữa quả núi nơi hai vị chúa tể đang nhìn nhau “một bên tỏ ra tức giận, tiếc nuối, một bên tỏ ra vui vẻ, mãn nguyện”. Dưới cái khoảng không của núi đó là một “thung lũng” khá rộng và bằng phẳng – có nhiều hòn đá nằm rải rác, trong thung có hòn giống con Rùa, có hình giống con Hổ, con Rồng, con Dê, con Cá,…trước cửa thung lũng là hai ngọn núi “chạm đầu” vào nhau tạo ra một cửa nhỏ chỉ đủ cho một người đi qua, ai đi qua cũng phải “cúi đầu” mới vào được bên trong. (Một khách của Tây Ban Nha – tìm hiểu vùng “Thần Phù” rất ngạc nhiên, tò mò và thích thú phát hiện ra cái “kỳ lạ” của hai hòn “đá núi” ở đây). Không giống nhiều đá ở nơi khác, đá núi ở đây giống như “xi măng bỏ quên” của mấy ông thợ xây: Các viên đá nhỏ nhưng liên kết với nhau rất vững chắc.

Trong cùng của thung lũng là ngôi chùa cổ. Dưới chân ngôi chùa cổ rất nhiều hòn đá cả to, cả nhỏ đều giống hình con rùa. Giáo sư – Phó tiến sĩ Hà Đình Đức người được coi là “nhà nghiên cứu Rùa” khi đến thăm nơi đây đã thốt lên: “Ở vùng Thần Phù này sao nhiều Rùa thế”.

Chùa nơi đây có cái tên là Chùa Trúc Lâm (có lẽ xưa ở thung lũng này có nhiều tre, trúc ?). Chùa toạ ở dưới một cái hang khá rộng. Trong chùa có nhiều tượng phật (dân địa phương nói: Sau chùa có một con đường nhỏ có thể đi qua để sang bên Ninh Bình).

Cảnh đẹp, chùa thiêng nên thường có nhiều khách đến tham quan vào những ngày rằm tháng giêng cả mấy trăm người từ Ninh Bình đem theo lều trại, thức ăn, nước uống các tư trang cần thiết vào “cắm trại” ở khu “thung lũng” của ngôi chùa này vừa để vui chơi thưởng ngoạn, vừa để thắp hương cầu nguỵên cho một năm mới mọi điều an lành.

6. Chùa Vân Lỗi xã Nga Lĩnh

Người dân Nga Sơn có câu ca:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm Tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

Chùa Sỏi tức là chùa Vân Lỗi, chùa Sùng Nguyêm hay chùa Vân Hoàn (Vân là mây, hoàn là tụ lại. Vì có nhiều mây màu sắc rực rỡ tụ lại, nên cảnh chùa càng đẹp càng lung linh bởi thế mà có nhiều nàng Tiên giáng xuống để du ngoạn). Chùa Sỏi bởi trước đây nằm ở làng Sỏi, có cả hồ Đồng Sỏi. Về sau làng Sỏi đổi tên thành làng Vân Hoàn nên chùa Sỏi cũng đổi tên là chùa Vân Hoàn.

Chùa Vân Lỗi được toạ lạc trên núi Vân Nham, chùa nằm ở lưng chừng núi, cách mặt đất chừng 20m, trên nóc mái chùa là hang động cao, những thạch nhũ “thả xuống” treo lơ lửng làm cho cảnh chùa càng huyền ảo nên thơ:

“Đông có xóm làng cửa nhà đông đúc, có thể làm nơi phú quý giàu sang.

Nam gần sông dài chảy ra cửa biển khơi có thể làm chốn mênh mông cho thế giới.

Tây có kinh mạch lạc len lỏi đến hương Đại Lỵ, núi Ma Ni có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện.

Bắc kề đường lớn, ăn thông với cửa biển Thần Đầu có thể làm nơi nghỉ đáng tin cho kẻ qua người lại” (Sách đd trang 137)

Xưa kia có một tảng đá lớn nhô ra, như mái hiên nhà che cho chùa. Đứng ở chùa gió nam thổi lồng lộng, hương hoa lá cỏ cây thơm ngào ngạt, cảm giác thật sảng khoái, thanh tao.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” thế kỷ XIX miêu tả “Lên núi trông ra ngoài cửa biển Bạch Câu thì thấy chim biển, thuyền buồm hiện ra trước mắt”.

Ninh Tốn (1743-1790) là tiến sĩ làm quan dưới triều Lê-Trịnh nổi tiếng thơ văn khi đến vãn cảnh chùa có bài ký:

” Kìa núi xanh rậm mà vút lên thẳng đứng như bức bình phong ngọc, lại như trướng gấm thế kia…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của núi Vân Lỗi ư? Phía trước núi là dòng sông lớn, triều dâng sóng cuộn, lồng lộng vòng eo, thuỷ triều lên xuống sớm chiều nhiều vẻ…Đó chẳng phải là cái hùng tráng, dũng mãnh của dòng sông bên sườn Vân Lỗi kia ư? Giữa eo núi hương thơm sắc toả, mịt mùng như móc như mây, lại như lầu gác cô đơn mà cao vút lên, thấp thoáng trong mây, lúc ẩn lúc hiện…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của chùa Vân Lỗi này ư?

Sao cảnh trí nơi đây xưa kia u ám mà ngày nay lại vui tươi nhộn nhịp thế này. Phải chăng cảnh vật cũng có thời bĩ thái?

Ôi! từ khi có vũ trụ, liền có giang san. Núi cao vút thế này và dòng sông cuồn cuộn thế kia, đâu phải chỉ ngày nay mà không biết chúng đã trải qua bao lần hoa khai lá rụng mới có lần này dương mi ngước mắt, để được nhìn, được nói, há lại chịu nhường phần cho những giai thắng như Lục Vân Bạch Á, mà chẳng xếp chúng vào cùng loạilãm xảo của tạo hoá có từ hàng trăm ngàn năm về trước ư?

(Những bút tích Hán-Nôm hiện còn ở các hang động, vách núi đá xứ Thanh – NXB Giáo dục Võ Hồng Phi, Hương Nao năm 2007)

Trước chùa có Phật Quan Thế Âm bồ tát, bên cạnh chùa một chân dung toàn thân vị sư khắc trên vách núi đường nét thần tình, màu sắc rực rỡ tươi sáng, khiến ai nhì cũng tưởng người thật. Vị sư khắc trên vách núi chính là chân dung vị sư trụ trì ở chùa Vân Lỗi này có tên là Thích Từ Di Nguyễn Phúc Công, tự Hụê Xúc, đạo hiệu Vĩnh Toàn Thiền Sư.

Chùa Vân Lỗi có nhiều tấm bia ký (trước đây có tới hơn chục bia) nay còn lại 5 bia. Trong đó đặc biệt có tấm bia ký của danh nho nổi tiếng Phạm Sư Mạnh, đời Trần thế kỷ thứ XIV và tấm bia ký của Tĩnh Vương Trịnh Sâm.

Bài của Phạm Sư Mạnh:

“Đây núi Vân Lỗi

Am sát ven sông

Ai người tạo dựng

Hoàn hảo vô cùng

Giúp kẻ sống chết

Ngàn năm phúc chung

Đức lớn rũ lòng

Chúng sinh cứu vớt

Trên dẫn bến mê

Dưới đưa cõi sống

Người người phấn chấn

Chốn chốn nghe danh

Đạo huyền sâu sắc

Biết đâu là cùng

Tìm về cõi thực

Thoát chốn trần tục

Thần hồn mung lung

Nét vàng thêm sắc

Hiển hiện sáng trưng

Thần non phù trợ

Tín đồ cúng dâng

Ngày đêm không ngót

Khắp chốn giàu sang

Lời này minh ấy

Rạng trang sử vàng”

Bài thơ của Tĩnh Vương Trịnh Sâm:

“Danh thắng nêu cao đệ nhất châu

Dáng non như mực nước như dầu

Am mây nửa khép mong huyền hạc

Bãi cát dường ngăn cợt bạch âu

Nẻo tuyết tiều men chân đá cứng

Đường sao khách vượt bước nghềnh sâu

Cao trông sóng cuộn theo tầm mắt

Trời đất mênh mang một sắc thâu”

Bài thơ của Ninh Tốn:

“Châu Ái lắm kỳ quan

Trong số có Vân Nham

Núi xanh ngôi chùa ẩn

Vách đá chữ vua ban

Non cao xa hướng lại

Nước bạc lượn quanh ngang

Cỏ cây xưa nay đủ

Sông núi tự bận nhàn

Trèo lên phóng tầm mắt

Trong mình mây ngàn”

Chùa Vân Lỗi – Chùa Vân Hoàn là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng, chùa Vân Lỗi cũng rất linh thiêng, nơi đây cũng ghi lại dấu tích của mặt trận quyết chiến thời Trần. Khi quân Nguyễn chia làm ba hướng tấn công vào Thăng Long, một hướng từ phía bắc kéo đến, một hướng từ phía biển kéo vào, một hướng từ phía nam do tướng Toa Đô kéo ra. Trận quyết chiến giữa quân Toa Đô và quân Trần do Thái sư Trần Quang Khải chỉ huy đã diễn ra ở khu vực sông Lèn. Bên kia sông Lèn là xã Quang Lộc (Hậu Lộc ngày nay), bên này là xã Nga Lĩnh, Nga Thạch bây giờ. Xác giặc chết ngổn ngang, máu chảy đỏ cả dòng sông (vì vậy đoạn sông xã Nga Thạch còn gọi là sông Thắm). Sau khi chiến thắng quân Nguyên lần thứ III Hoàng thái hậu nhà Trần về chùa Vân Lỗi làm lễ cầu siêu cho các vong hồn của cả quân Nguyên và quân Trần được siêu thoát. Dân làng Vân Hoàn cũng kéo đến rất đông và “sáng tác” trò diễn “Bát man” (Giết chết 8 tên tướng giặc) để mua vui cho Hoàng thái hậu.

Tương truyền có một vị quan ở Tàu, vì tuổi cao mà vợ vẫn không sinh được con để nối dõi tông đường, vị quan đó đã đến chùa Vân Lỗi (là một trong 6 ngôi chùa thiêng ở nươc Nam) để cầu tự. Sau đó ông sinh được con sống ở đó cho đến khi chết.Trên đỉnh núi Vân Hoàn có một cái hang, không rộng lắm nhưng rất sâu người dân nối nhiều sợi dây thưng buộc hòn đá vào đầu dây thả mãi, thả mãi hòn đá xuống nhưng không chạm đất bao giờ. Người dân Vân Hoàn kể lại cứ hàng năm vào dịp đầu năm hoặc một con bò, hoặc một con dê lăn xuống đó để tế thần núi.

Chùa Vân Lỗi rất linh thiêng, những ngày mừng một, rằm, ngày tết, lễ hội rất đông dân ở khắp vùng đến thờ cúng mong mọi điều tốt lành. Đặc biệt vào ngày lễ hội nhân dân làng Vân Hoàn lại tổ chức lễ hội, khách thập phương nhiều tỉnh thành kéo về rất đông.

7. Các di tích lịch sử văn hoá

Đây là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng của huyện Nga Sơn, có rất nhiều người đã biết đến địa danh Ba Đình này. Chiến khu Ba Đình nằm ở xã Ba Đình, cách thị trấn Nga Sơn khoảng 4km về phía tây bắc. Trước đây, chiến khu này là một khu thành luỹ nằm trong vùng ngập nước, bùn lầy của ba làng: Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê. Vào mùa mưa, căn cứ này như một hòn đảo nổi lên giữa cánh đồng nước mênh mông cách biệt giữa các làng khác. Chiến khu này có tên là Ba Đình và mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia. Tại đây đã diễn ra cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cuộc khởi nghĩa này do Đinh Công Tráng, Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt lãnh đạo. Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là luỹ tre vững chắc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Ở trong là một lớp đất cao 3m, chân rộng 8-10m. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai sẵn sang chiến đấu. Thành rộng 400m, dài 1200m. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc, ở hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ “chi”, nhằm hạn chế thương vong. Ở mỗi làng, tại vị trí ngôi đình được xây dựng một đồn đóng quân. ở Thượng Thọ có đồn Thượng, ở Mậu Thịnh có đồn Trung, ở Mỹ Khê có đồn Hạ. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến với nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độc lập. Có thể nói rằng ăn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình đã diễn ra rất ác liệt, thực dân Pháp lúc đó đã phải huy động rất nhiều binh linh để đánh phá căn cứ này.

Cuộc khởi nghĩ Ba Đình và lãnh tụ Đinh Công Tráng được lịch sử đánh giá rất cao. Chính người Pháp cũng phải công nhận rằng: “1886-1887, cuộc công hãn Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất”.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh sau này đã chọn cái tên Ba Đình để đặt tên cho quảng trương Ba Đình, nơi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Chiến khu này đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Đến thăm chiến khu Ba Đình, chúng ta không chỉ hiểu thêm được lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta mà chúng ta còn tự hào về ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam ta. Di tích lịch sử chiến khu Ba Đình đang được đầu tư để tôn tạo xây dựng để xứng đáng là một di tích lịch sử quốc gia. Hằng năm, cứ vào dịp 26 tháng 11 nhân dân Nga Sơn nói chung, nhân dân Ba Đình nói riêng lại tổ chức “lễ hội” Ba Đình. Nhiều năm lễ hội Ba Đình được tổ chức với quy mô cấp tỉnh hoành tráng thu hút hàng vạn khách đến tham dự.

Di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia chùa Thạch Tuyền thuộc thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn.

Bản thần phả được lưu giữ tại đền Trung (Nga Thạch), do quan Hàn lâm viện đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1672 ghi rõ về hai sự kiện quan trọng trên đất Nga Thạch. Đó là vào năm Nguyên Phong thứ nhất(1251) đê sông Lèn bị vỡ, lượng nước mưa rất lớn, mùa màng mất hết, nhân dân lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, bệnh dịch phát sinh, vua Trần Thái Tông đã về đất Nga Thạch chỉ huy quân dân hàn đê cứu dân(Thần Phả đền Trung). Ngày nay, quanh khu vực đồng bằng thuộc khu vực sông Lèn còn nhiều ao hồ, là vết tích của những trận lũ lụt trong các thế kỷ trước. Sau trận lũ lụt, vua Trần Thánh Tông cho xây dựng chùa, đền ở Nga Thạch, để tạ ơn phật thánh đã phù hộ cho việc cứa dân.

Sau trận lũ lụt, vua Trần đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh phương Nam, trên đường hành quân :”…nhà vua Trần đi đến đất khu Đạc Châu, Vạn Bảo, Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, thì thấy trong không trung gió mây bay từ Đông về Tây, vua Trần cho là trước kia đã có linh thiêng( trận lụt năm 1251), phù hộ, bèn bí mật cầu nguyện”(thần phả- tài liệu đã dẫn).

Tiếp đến các sự kiện vào năm 1382-1389, quân chiêm Thành đánh vào Thanh Hoá, quân đội nhà Trần đóng ở Hàm Rồng. Hải quân đóng ở cửa biển Thàn Đầu, Nga Thạch nằm trong tuýen phòng thủ chống giặc.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược, triều đình nhà Trần đã rút lui theo đường biển qua hải phận Nga Thạch- Nga Sơn (1285).

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc giệt giặc Thanh (1877), đóng quân tại phòng tuyến dãy Tam Điệp và đảo Biện Sơn thuộc địa phận và hải phận huyện Nga Sơn và Tĩnh Gia. Nga Thạch nằm ở vị trí tiếp giáp gữa miền Bắc và miền Trung, kề cận giữa hai tuyyén giao thông thuỷ bộ từ Bắc vào Nam đó là con đường bộ thiên lý qua đèo Ba Dội (Bỉm Sơn) và đường biển. Do vị trí địa lý đặc biệt như vậy, nên những biến cố lịch sử của đất nước trong nhiều thế kỷ qua tác động sâu sắc đến vùng quê này, trước hết là con người nơi đây, được tôi luyện ý chí để sống và phát triển.

Nhiều dòng họ đã có mặt rất sớm ở Nga Thạch , cùng đoàn kết để xây dưng quê hương, đã đạt được những thành quả đáng tự hào như dong họ Nguyễn, họ Mai, họ Phạm, họ Lê, họ Trần, họ Hoàng, họ Ngô, họ Phan, họ Vũ có tới 22 người trong các dòng họ đỗ đạt khoa cử và binh nghiệp (văn bia Nga Thạch) qua các triều đại: Triều Lý có 9 vị, triều Trần có 3 vị, triều Lê có 4 vị, triều Nguyễn có 6 vị. Văn có Thám hoa Mai Anh Tuấn, làm thị độc giản tại Hàn lâm viện và nhiều người khác được phong làm Đại học sĩ. Võ có người giữ chức thượng tướng được phong đến chức Hầu. Trong văn học dân gian có câu ca dao, ca ngợi đất Thạch Tuyền có nhiều người học giỏi, thành đạt:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

(Chùa Sỏi ở xã Nga Lĩnh, chùa Bạch Câu ở xã Nga Bạch, chùa Thạch Tuyền).

Sáu mươi đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam dành cho ngôi đền tại Nga Thạch (hiện chỉ còn 12 đạo) là bằng chứng hùng hồn về sự tôn vinh của lịch sử đối với các vị anh hùng của nơi này.

Chùa Thạch Tuyền được xây dựng trong khoảng không gian văn hoá thấm đẫm tính nhân văn như vậy khiến ý nghĩa của ngôi chùa vượt ra ngoài nhận thức trực quan về giá trị văn hoá vật chất của công trình (gồm kiến trúc, các biểu tượng về Phật).

Chùa được xây dựng vào thời Trần (thế kỷ XIII), sau những biến cố lớn xảy ra ở đây (lũ lụt, chiến tranh với Chiêm Thành). Buổi đầu chùa còn đơn sơ làm bằng tre lợp lá cọ, đến triều Cảnh Hưng (1740-1786) được xây dựng kiên cố hơn. Năm 1936 chùa được trùng tu tôn tạo một lần nữa.

Đặt tên chùa thể hiện niềm mơ ước của nhân dân nơi đây về làng quê mình. Thạch có nghĩa là biểu tượng của sự bền vững, rắn chắc. Tuyền có nghĩa là dòng suối, suối thì phải có nước, là nguồn gốc đầu tiên của sự sống muôn loài.

Chùa Thạch Tuyền được đặt ở nơi có vị trí linh thiêng. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính nhận xét về thế đất Thạch Tuyền:

” Hình Quy (Rùa) toạ ở phía tây, hướng đông, chính Cục Càn Tốn là đất cấm anh linh.

Toạ bắc hướng nam, chính cục Quý Đinh, trước Giang Châu trì (ao) bãi là đất cát địa”. (đất có hình con Rùa-Rùa là con vật linh thiêng trong tứ linh:Long, Ly, Quy, Phượng). “Toạ ở phía tây, quay về hướng đông, tinh thần thuận đạo đất trời, đó là đất rất linh thiêng. Toạ ở phía bắc, quay về hướng nam, phía trước có sông Quý, có ao hồ, đồng bãi là đất lành, rất tốt”(Thần phả hệ lưu trữ tại đền Trung, xã Nga Thạch).

Chùa Thạch Tuyền quay về hướng chính nam, bên trái (phía đông) có sông chảy qua. Một không gian rộng mở về phía nam, có ao hồ quanh năm đầy nước, có cánh đồng lúa, bãi bằng phẳng. Hướng tây và hướng bắc chùa có làng xóm quần tụ trong cảnh màu xanh của cây trái. Chùa Thạch Tuyền toạ lạc trên thửa đất với diện tích 4068m 2. Trong khuôn viên chùa có nhiều loại cây che phủ bóng mát như cây đa – còn gọi là cây Dung Thụ, ví như mái nhà. Cây Gạo nở hoa đỏ rực sân chùa vào mùa hạ như bầu trời đầy tinh tú. Cây Đại mỗi năm thay lá thay hoa một lần, là cây thiêng chùa nao cũng có.

Cổng chùa Thạch Tuyền được kiến trúc với quy mô khá đồ sộ, bố trí trên mặt bằng hình thang cân, cổng gồm hai tầng. Hai cầu thang được xây dựng vững chắc ở hai cạnh bên, dẫn lên tầng 2 được sử dụng làm gác chuông. Tầng 2 có 5 cửa cuốn vòm, hai bên cửa thấp dẫn xuống theo chiều mái cổng chồng diêm, với 8 vòm uốn cong, tổng cộng có 16 đầu đao cũng theo thứ tự từ thấp lên cao dần, tăng vẻ bề thế cho công trình. Hai cột nam hình khối vuông xây ốp sát vào hai bên hông cổng.

Đến thăm chùa Thạch Tuyền-một di sản văn hoá cấp quốc gia, cùng phong cảnh nơi đây chúng ta không khỏi bồi hồi, xúc động tưởng nhớ về những thế hệ đã đi qua trong nhiều thế kỷ, bằng sức lao động kiên trì và sáng tạo để tạo lập nên một miền quê trù phú, với một truyền thống văn hoá tốt đẹp góp phần vào lịch sử hào hùng của dân tộc.

7.2.2 Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn

Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch. Ngôi đền được xây dựng lại năm 2008, đến năm 2010 UBND tỉnh Thanh Hoá đã quyết định xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Ngôi đền được xay dựng ngay bên cạnh chùa Thạch Tuyền. Ngôi đền nhỏ dáng thanh thoát, như tâm hồn con người Thám hoa Mai Anh Tuấn “một danh nhân văn hoá, một vị quan trung quân ái quốc…một vị quan cương trực đầy khí phách giàu tinh thần tự tôn dân tộc” (Giáo sư Đinh Xuân Lâm – Viện trưởng Viện sử học Việt Nam).

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tên thật là Mai Thế Tuấn sinh năm Ất hợi (1815) tại làng Lang Miếu phường Thịnh Hào, Hà Nội.

Chuyện xưa kể lại rằng: Bà mẹ đêm nằm mơ đi thăm động Từ Thức, khi ra đến cửa động bà nhin thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, tay cầm cây bút. Cụ già đến gần và nói: Ta cho ngươi một cây bút thần về ngươi sẽ sinh hạ được một cậu con trai tài giỏi, tuấn tú hơn người. Bà đem chuyện đó kể lại với chồng. Ông chồng cho là điềm tốt lành, bèn đem lễ vật về động Từ Thức để lễ tạ. Quả nhiên sau đó bà sinh hạ được một cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, ông bà đặt tệ là Mai Thế Tuấn.

Mai Thế Tuấn sinh ra trong một gia tộc cả 8 đời đều làm quan phục vụ triều Lê, được người đương thời quý trọng khen là:” Hiển hoạn cao khoa, lệnh danh hoàn tiết”,( tiếng tốt, nghĩa trọn).

Cụ thân sinh ra Mai Thế Tuấn là Mai Thế Trinh,hiệu là Đoan Thận , có tiếng hay chữ, nhưng vì tổ tiên đã làm tôi nhà Lê lâu đời, nhà Lê không còn nên không thi cử, không làm quan. Đến khi nhà nguỹen lên, trong nước đã đại định, vua Gia Long xuống chiếu cầu hiền, tìm các danh nho, trung quân Đô thống Thành Quận công Nguyễn Văn Thành Tổng trấn Bắc thành chọn cụ Mai Thế Trinh làm tr huyện Thanh Trì, Thanh Lâm, Tứ Kỳ, được thăng chức Hàn lân viện thị giảng Học sỹ. Cụ có tập thơ” Mông Trai” lưu hành. Cụ bà chánh thất họ Uông, cụ bà thứ thất họ Dương là mẫu sinh của cụ Mai Anh Tuấn. Hai cụ đích mẫu và sinh mẫu đều được phong Tùng ngũ phẩm nghi nhân.

Thuở nhỏ Mai Thế Tuấn đã nổi tiếng học giỏi, năm 1837 đi thi Hương đỗ giải Nguyên, năm ấy ông 22 tuổi. Năm 1843 thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu Bình Nguyên (khi đó luật triều đình nhà Nguyễn bỏ tước Hoàng hậu, Tể tướng và Trạng nguyên, nếu không có luật bỏ ba tước đó thì Mai Thế Tuấn đỗ đầu là Trạng nguyên). Vua Thiệu Trị rất ái mộ bài văn của Mai Thế Tuấn, để tỏ lòng mến tài của Mai Thế Tuấn, nhà vua đã đổi tên Thế Tuấn thành Anh Tuấn, đối với bậc anh tài của đất nước.

Sau khi đỗ Thám hoa, ông được bổ chức Hành Tẩu ở Bí thư sở Toà nội các, và chức Thị độc Viện hàn lâm. Tiếp sau đó ông được bổ nhiệm Án sát Lạng Sơn. Trong trận đánh chống giặc bảo vệ biên cương, ông đã hi sinh anh dũng ở Thất Khê ngày mùng 6 tháng 8 năm Tân Hợi (1881). Nghe tin này, nhà vua ân hận thương tiếc bèn cho triều thần đưa thi hài ông về sinh quán chôn cất long trọng tại làng Hoàng Cầu phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.

Ghi nhớ công lao của một vị Thám hoa cương trực, dũng cảm vì dân vì nước, nhiều nơi trên đất Hà Nội, Thanh Hoá, những con đường được mang tên Mai Anh Tuấn, trường học Mai Anh Tuấn. Dòng họ và nhân dân xã Nga Thạch đã xây dựng lại đền thờ ông để tưởng nhớ tới một con người trung hiếu của quê hương.

Đền thờ ông luôn được dòng họ bà con nhân dân Nga Thạch, nhân dân Nga Sơn, nhất là các sĩ tử thường đến thắp hương cầu nguyện đỗ đạt thành tài. Cầu mong mọi điều tốt đẹp.

7.2.3 Đền thờ Bà Chiêu Nghi Mai Thị Ngọc Tiến Tôn thần

Chuyện xưa kể rằng: Trong tiết xuân ấm áp, trăm hoa đua nở, nhà vua đời Lê đi du xuân ở xứ Thanh, đến vùng đất Thạch Tuyền thấy cảnh sắc đẹp, thuyền vua đi chậm lại, nhà Vua thấy người con gái xinh đẹp đang cầm liềm cắt cỏ ven sông, nhà Vua liền đọc vế đối đại ý rằng: “Người con gái đẹp cắt cỏ ven sông”. Người con gái đẹp kia nghe vậy liền ứng khẩu đáp lại rằng: “Nữ tướng cầm gươm diệt ngàn giặc cỏ”. Nhà vua thấy người con gái nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nên Người vời về cung giúp nhà Vua dạy dỗ con cháu trong hoàng tộc. Bà Mai Thị Ngọc Tiến là con gái đầu của Mậu Quân công, làm quan trong triều Lê. Bà được Chúa Trịnh Tạc (1657-1682) sùng ái đứng đầu trong hậu cung. Bà được phong là Chiêu nghi là bảo mẫu của chúa Khang hương Trịnh Cán (1682-1709). Bà là người có công với dân với nước, khi bà mất nhà Vua rất thương tiếc và gửi câu đối đến viếng đại ý rằng: Khi sống bà là Mẹ của nước, khi chết bà là Thần của nước. Đền thờ bà hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch.

7.3.1 Chùa Tiên (Chùa Mậu Nam) – Di tích quốc gia.

Chùa tiên thuộc địa phận xã Nga An, toạ lạc trên một khu đất rộng đên 8ha. Phía trước là một cánh đồng cát khô khá rộng. Phía sau và hai bên chùa được bao bọc bởi những ngon núi cao và một hồ Đồng Vụa rộng tới 20ha. Chùa Tiên được toạ lạc ở nơi cảnh trí nên thơ, sơn thuỷ hữu tình. Vì vậy mà những vần thơ vịnh cảnh của nhà vua – tao đàn nguyên suý thời Lê (thế kỷ XV) – vẫn còn nguyên một sức sống bất tử để rung ngân ở nơi đất chùa xưa này:

“Nhìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mây qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió ôm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Đây là cảnh tiên, đất Phật và là nơi ra đời của thiên tình sử Từ Thức-Giáng Hương một truyền thuyết sống mãi với thời gian và in sâu trong tâm thức của người xứ Thanh, đất Việt.

Đến với chùa Tiên ai cũng cảm thấy xốn xao và dạt dào rung cảm, bởi không gian văn hoá-lịch sử, thiên nhiên ở đây đã thấm đượm vào nhau một cách thật đặc biệt. Bất kể cảnh trí nào cũng trở thành di tích của lịch sử, di tích của huyền thoại, di tích của tình yêu và nỗi nhớ… trên mỗi cột chùa có câu đối chữ Hán, tổng cộng đến 12 đôi, trong đó có câu:

“Mẫu lĩnh từ vân cao nhất điểm huyền tâm vân tác lữ

Namthiên hồng nhật lệ thiên thu đạo pháp nhật tàng quan”.

(Núi mẹ có một đám mây cao màu huyền tựa người con gái

Trời nam mặt trời đỏ có ngàn điểm sáng ẩn bóng kẻ tu hành).

Trong chùa có treo một chuông đồng nặng khoảng 30kg và ngoài sân có dựng một tấm biađá, là những di vật từ thời phong kiến.

Cứ đến ngày rằm tháng 3 âm lịch là hội chùa. Khách thập phương và phật tử đến bái lễ, vãn cảnh, Chiêm ngưỡng và chiêm nhiệm những giáo lí của đạo Phật. Không ở đâu chúng ta lại có một cảm giác cụ thể hơn về một thuở nguyên sơ của một thiên nhiên tĩnh lặng đến nao lòng, dù cho nền xưa, chùa cũ và cảnh vật có thay đổi ít nhiều. Dân gian đã có thơ ca ngợi cảnh đẹp chùa Tiên như sau:

“Trăng trong gió mát thảnh thơi

Thuyền trà mượn chén hồng mai thay trà

Có cây trăm thước bốn mùa nở hoa…”

Chùa Tiên ở ngày sát hồ Đồng Vụa và dựa lưng vào núi Nhà Bà. Đến chùa, du khách nào cũng muốn trèo lên đỉnh núi Nhà Bà để xem bàn cờ Tiên-một bàn cờ đá thiên tạo rất rộng có rất nhiều hình thù giống quân cờ. Nếu đứng ở đây phóng tầm mắt ra xa sẽ thấy cảnh chùa, núi, hồ, đảo, cây cối, làng mạc một cách thật ngoạn mục.

Nếu như chùa Tiên là cảnh tiên, cõi Phật thì liền kề với nó về phía tây là hồ Đồng Vụa (tên là Đồng Vua – hồ đẹp nên nhiều Vua Chúa đến vãn cảnh, người dân tên “Huý” của Vua nên gọi lái đi là “Vụa”) – một hình ảnh thiên nhiên như được tô điểm thêm cho nó. Hồ được cấu tạo trong đá phiến và đá vôi rộng trên 20ha, ôm bọc lấy ba mặt của hồ (đông-bắc-tây) là núi Vạn Sơn thuộc hệ thống núi Tam Điệp. Nước trong hồ được dồn về từ các thung lũng núi xung quanh. Nước trong xanh đến lạ lùng, nước hồ sâu đủ để du khách du thuyền vãn cảnh. Giữa hồ nhô lên một ngọn núi nhỏ ttrông như hình một “ông rùa”, một hòn non bộ. Đã nhiều thế kỷ đi qua, với biết bao mùa xuân, hạ, thu, đông hồ vẫn trong xanh như thế và không bao giờ cạn. Sắc núi quanh hồ lú thì xanh, lúc thì tím, lúc thì trắng tuỳ theo sự thay đổi của thời tiết. Đến hồ Đồng Vụa vào lúc ban mai, lúc chiều tà và mành đêm buông xuống hoặc những buổi sương mù bao phủ hay những ngày nắng rực rỡ có những đám mây lãng đãng trên trời và quanh đâu đó những đàn dê gặm cỏ chúng tôi mắt và trái tim của ta không chỉ dừng lại ở đường biên lòng hồ mà tất cả những hình ảnh đó đều gợi cảm như ở trong một thế giới của huyền ảo, lung linh lay động tâm hồn mỗi du khách khi đến thăm nơi này.

Từ hồ Đồng Vụa về phía tây nam, nơi cuối hồ có một lèn đá thấp như một cái đĩa. Chỉ cần vượt qua lèn đá này 200m đường núi là chúng ta đến với phủ thông, phủ nằm trong lòng động Phủ Thông. Động này là một động thiên tạo nằm trên vách núi Thông, sát con đường quốc lộ 10, ở trong khu vực của vườn đào xưa. Động này có vòm cửa rộng khoảng 9-10m và cao khoảng 8-9m. Trong lòng động rộng bằng mấy gian nhà, có vách ngăn cửa đi vào phía trong. Đỉnh động có một cửa thông lên trời, làm cho lòng động sáng và thoáng mát. Nhũ đá trong động có nhiều hình thù kỳ thú. Người dân nơi đây đã xây dựng đền Mộu, nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn từ xưa đến nay. Đó chính là Phủ Thông.

Cụm di tích xã Nga An là những di tích đẹp có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh tiên và cõi Phật với khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ, thơ mộng.

7.3.4 Phủ Trèo Nga An – nơi có dấu chân Người Khổng lồ và Mộ Ông Rùa.

7.3.4.1 Dấu chân Người Khổng lồ

Phủ Trèo nằm ở cạnh đường Trèo – nơi có “dấu chân người khổng lồ” dấu chân in sâu lõm vào đá, có tất cả chục bàn chân in lõm sâu vào đá (giống như người ta đi giẫm bước chân vào bãi cát). Người dân nơi đây kể lại rằng: Người Khổng lồ gánh đá để xếp thành những ngọn núi khi đến vùng đất này gần biển lớn để ngăn những đợt sóng lớn Người Khổng lồ đã xếp thành ba dãy núi liền kề nhau gọi là dãy núi Tam Điệp để ngăn sóng to, gió lớn. Vì phải vội vàng để hoàn thành việc gánh đá, ông Khổng lồ đã gánh hai hòn đá lớn, chân ông dẫm xuống đá, đá “lõm sâu” vì qua nặng nên cái đòn gánh bị gãy, hai hòn đá văng ra cách núi chừng 10m. Hiện nay ở đường Trèo, phủ Trèo vẫn còn hai hòn núi đá to. Một hòn giống cái mũ “quan văn”, một hòn giống cái mũ “quan võ”. Người dân nơi đây thường gọi là núi Văn, núi Võ.

Trên đường trèo có “mộ Ông Rùa” tương truyền rằng: ngày xưa ở hồ Đồng Vụa (chùa Tiên) Rùa tu đã chính quả, từ hồ Đồng Vụa rùa leo lên núi theo đường Trèo. Vì phải leo lên núi cao, sức lại yếu nên Rùa phải ăn lá cây “Sống đời” để tiếp tục leo núi. Đến đỉnh đường Trèo thì tịch ở đó. Người dân đi qua thấy có điều lạ Rùa to lại tịch ngay ở bên đường, bên cạnh có cây “Sống đời”. Thấy điều lạ dân chúng chôn cất Rùa chu đáo và cứ người đi qua, người đi lại mỗi người một hòn đá, người nắp đất, người bẻ cây sống đời đắp lên lâu ngày thành mộ to.

Kỳ lạ sau khi hôm ông Rùa mất tối hôm đó gió to, mưa lớn và sáng hôm sau một cây gỗ thật lớn và nhiều gỗ, cây tre trôi dạt vào chân núi, gần mộ ông Rùa, dân cho là điềm lành liền dựng lên đền thờ, sau đó xâycả Chùa, cả Phủ đến mùa Lễ hội dân thập phương kéo về rất đông để chiêm bái cầu mong cho mọi việc tốt lành.

Đây là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng cấp tỉnh của huyện Nga Sơn. Ngôi đền này được gắn liền với huyền thoại được lưu truyền bao đời nay đó là truyền thuyết về Mai An Tiêm và quả dưa hấu đỏ.

Theo truyền thuyết, Mai An Tiêm là con rể của vua hùng thứ 18 vốn tư chất thông minh, lại chăm chỉ nên vua yêu quý giao cho nhiều trọng trách vị vậy mà An Tiêm ngày càng trở nên giàu có. Nhiều quan lại đem lòng ghen tỵ. Một lần trong bữa tiệc, một tên quan nịnh thần nói: Của cải An Tiêm là do Vua ban mà có. An Tiêm nói: Của cải là do tiền nhân để lại, do bàn tay ta làm nên. Nhân cơ hội này bọn nịnh thần đã tâu lại với vua. Vua nổi cơn giận dữ: Đã thế ta đầy đi đảo hoang để xem có phải do bàn tay nó làm ra không. Nói rồi lệnh cho quân lính đầy An Tiêm ra đảo hoang chỉ cho một ít lương ăn và một thanh kiếm cùn. Nơi đảo hoang bốn bề là biển cả mênh mông, chỉ có núi và đá. Vợ chồng An Tiêm phải mò cua, bắt ốc, tối ngủ hang qua ngày.

Rồi một hôm có đàn chim lạ bay đến, chúng ăn một trái lạ: vỏ đen, ruột đỏ. An Tiêm mừng lắm và nói: Trời không nỡ bỏ ta, trời cứu ta rồi, chim ăn được chắc là người cũng ăn được. Nói rồi An Tiêm đem hạt dưa trồng. Ngày qua tháng lại quả dưa lớn dần An Tiêm bổ dưa cả nhà cùng ăn. Dưa vừa ngọt lại mát lành, ăn vào thấy người khoẻ hẳn. Những năm sau dưa trồng càng nhiều, nhớ về quê cha đất tổ An Tiêm khắc tên mình vào quả dưa rồi thả xuống biển. Những quả dưa có tên An Tiêm trôi vào đất liền, những lái buôn đi qua đảo An Tiêm đã đem theo lương thực và các vật dụng để vào xin đổi dưa An Tiêm. Nhờ vậy mà gia đình An Tiêm ngày càng trở nên sung túc, giàu có trong nhà chẳng thiếu thứ gì.

Lúc bấy giờ vua Hùng ốm đau, nhiều bậc thần y đến chữa, thuốc thang những loại tốt nhất đều được sắc uống nhưng bệnh tình không những không thuyên giảm mà còn nặng thêm. Triều đình bấy giờ vô cùng lo ngại cho long thể của người. Chợt có người đi qua hoàng cung rao bán dưa nói rằng: “Ăn dưa vào bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ, bệnh nặng đến đâu cũng khỏi hết”. Vua vội cho gọi người bán dưa vào. Thần dân dâng cho vua quả dưa có khắc chữ “An Tiêm”. Vua sai cận thầm bổ dưa ra cho vua ăn. Quả nhiên khi ăn một lát dưa vừa ngọt lại vừa mát lạnh, vua thấy trong mình khoẻ mạnh, rồi ngồi dậy. Ăn vài lát nữa thần sắc vua thay đổi hẳn. Vua vui vẻ, tươi cười đứng lên đi lại, lòng khoan khoái. Trầm ngâm dây lát rồi vua nói: Nghe kẻ nịnh thần ta đã đầy An Tiêm ra đảo hoang. An Tiêm không chết mà còn cho ta vị thuốc thần diệu và đem lại cho muôn dân trái ngọt. Nói rồi Vua lệnh cho các quần thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về ban thưởng chức tước, bổng lộc và lệnh đem giống Dưa An Tiêm để trồng trong cả nước.

Ngôi đền Mai An Tiêm nằm dưới chân một ngọn núi, có hình như một quả dưa nên mọi người ở đây gọi là núi quả Dưa. Khung cảnh thiên nhiên ở đây gần như còn nguyên sơ, hoang vắng. Trải qua bao biến thiên của thời gian, sóng biển xô vào vách núi, tạo ra những “Vòm hang động”. Biển đã lùi xa nhưng nơi đây nước vẫn còn bao bọc quanh núi An Tiêm. Một khoảng nước rộng trước cửa đền, bên núi “Quả dưa” dân chúng tổ chức thi bơi thuyền nhỏ, nấu cơm thi. Có nhiều vòm rộng thuyền có thể “chui qua” gầm núi. Bên kia đền leo qua cái eo cao khoảng 50m là bãi Dưa Mai An Tiêm. Bãi Dưa rộng đền gần cả 2ha, một thung lũng được bao bọc bốn bên là núi đá. Đứng trên ngọn núi nhìn xuống một phong cảnh đẹp vô cùng. Xa xa phía đông là biển, những hôm trời trong sáng, nhìn thấy những cánh buồm thấp thoáng. Dưới chân núi phía nam, phía bắc là làng quê trù phú đồng xanh, lúa tốt. Những ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo thấp thoáng xen trong những ngôi nhà dân ngói đỏ tường rêu. Phong cảnh làng quê thật ngọt ngào, thanh bình nên thơ.

Quần thể di tích nữ tướng Lê Thị Hoa và danh tướng Trịnh Minh thuộc thôn Ngũ Kiên xã Nga Thiện, là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng câp tỉnh vào ngày 20 tháng 9 năm 1993. Quần thể di tích này thờ bà Lê Thị Hoa – một nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thờ danh tướng Trịnh Minh – thời Trần có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông (1258).

Bà Lê Thị Hoa quê ở thôn Thượng Linh, xã Cảo Linh, huỵên Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Nam Sơn (nay là tỉnh Ninh Bình). Năm 18 tuổi, bà kết hôn cùng Mai Tiến, người cùng huyện văn võ song toàn. Nhưng sau đó, chồng bà bị Tô Định hãm hại bắt giết vào năm Bính Tuất. Bà cùng các con đã đi đến vùng đất Yên Nội (nay thuộc Nga Thiện) để khởi nghiệp trả thù cho chồng và đánh đuổi quân xâm lược. Bà đã có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược, không những thế bà còn là người có công khai phá vùng đất Nga Thiện ngày nay. Tấm lòng trung trinh với dân, với nước của bà Lê Thị Hoa ngay từ thuở ấy, nhân dân Nga Sơn đã lập đền thờ bà ngay tại xã Nga Thiện. Ngày nay, ngôi đền này vẫn còn tồn tại. Tại đền thờ bà Lê Thị Hoa có đôi câu đối bất hủ:

“Thệ báo Tô cừu, thanh Bắc Khấu

Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang”

Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc.

Giữ nghĩa phò Trưng Vương, khôi phục nước.

Tại đền thờ của Bà có một tấm bia lớn ghi về công trạng của Bà.

Ông Lê Thái và vợ họ Dương, khi có mang mơ thấy bắt được con rắn bạch hoa xà năm sắc mà sinh một con gái vào rằm tháng 11 năm Mậu Ngọ ở thôn Thượng Linh Cảo Linh huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (Hà Nam Ninh ngày nay). Ông bà nay đặt tên con là Lê Thị Hoa môi hồng, má phấn. Khi Lê Thị Hoa 18 tuổi có nhà Mai Thông xã Phúc Cốc cùng huyện quen thân ông Lê Thái, đã hỏi Lê Thị Hoa cho con trai mình là Mai Tiến vừa 19 tuổi.

Lấy chồng được hai năm cha mẹ đều mất, Lê Thị Hoa hết lòng hiếu thuận thờ cha mẹ. Lúc này Thái thú Tô Định nghe tiếng tài năng của Mai Tiến, vời về làm quan huyện Gia Lâm, từ chối mãi không được vợ chồng, con cái phải dắt nhau đến Gia Lâm làm quan huyện được 3 năm thi thố ơn huệ với nhân dân. Tô Định thấy Lê Thị Hoa đẹp, bèn giết Mai Tiến để cướp bà làm tỳ thiếp. Lê Thị Hoa ăn ở với chồng được 11 năm sinh được bốn người con trai: Mai Đạt 9 tuổi, Mai Thoả 7 tuổi, Mai An 5 tuổi và Mai Tri 2 tuổi đều khôi ngô, thông minh, tuấn tú. Lê Thị Hoa đưa các con về quê hương, nhiều người lại đến cầu hôn bà. Lê Thị Hoa than rằng “Thôi thà làm quy trinh phụ chứ không làm người phụ bạc”. Lê Thị Hoa bèn bán hết gia tài cứu giúp bà con quanh vùng Phú Cốc, thượng linh được hơn hai ngàn người ra đánh nhau với Tô Định bị thua chạy về thôn Yên Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà.

Khi về Trang Nội, con trai cả vừa 12 tuổi, thực sự đã biết chữ, mẹ con bàn bạc thấy đầu trang Yên Nội khoảng 100 mẫu đất, sầm uất có khu đất cao, rộng một sào, bằng phẳng, dân cư thưa thớt, bèn dựng ngôi nhà tranh và thuê người khai khẩn hơn một năm được mấy chục mẫu ruộng. Lê Thị Hoa bèn gọi những nhà họ Mai cùng lân cận ở Phú Cốc, họ Lê ở Thượng Đình vào ở hương Yên Nội được hơn chục nhà, bà con điaj phương cũng theo bà vào ở, mới vài năm đã lên tới mấy chục gia đình. Lê Thị Hoa vẫn nuôi mối thù không đội trời chung với Tô Định, bà đã nuoi dưỡng bốn người con trưởng thành: Mai Đạt đã 22 tuổi, Mai Thoả 20 tuổi, Mai An 18 tuổi, Mai Trí 15 tuổi các cậu thông minh xuất chúng vượt mọi người. Lúc này mẹ con bà Lê Thị Hoa nghe tin hai Bà Trưng khởi binh ơ của sông Hát Giang, huyện Phú Lạc, phủ Quốc Oai, đạo Hà Tây, đang muốn đi theo thì có tướng của hai Bà Trưng đến dụ bảo. Bà Lê Thị Hoa được cai quản đội nữ, bốn con trai bà Hoa xung làm tả, hữu tiền phong truyền hịch kêu gọi các phủ huyện được hơn 6 vạn người theo, kéo binh thẳng tới đô thành đánh quân Tô Định, Tô Định thua to chạy về nước Bắc. Hai Bà Trưng lên ngôi phong thưởng các quân tướng. Mẹ con bà Lê Thị Hoa không nhận phong thưởng chức tước, chỉ xin được trở về Trang An Nội Nga Sơn tiếp tục khai khẩn đất hoang, được phép miễn thuế và phục dịch. Hai Bà Trưng cho phép hơn bốn chục nhà trang An Nội đều nhường họ Mai làm cả. Đó là thực ấp của của mẹ con bà Lê Thị Hoa. Ngày 25 tháng 8 năm 41, bà Lê Thị Hoa ốm rồi mất. Hai Bà Trưng nghe tin than rằng: “Bà Lê Thị Hoa tính hiền từ lại làm việc thiện, giỏi dạy con nên ban hiệu là Từ Thiện tặng phu nhân”, sai sứ thần về chọn chỗ đất tốt để an táng ở xứ bãi sở, dựng miếu thờ trên nền nhà ở An Nội, nay thuộc Ngũ Kiên xã Nga Thiện, Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.

7.5.2 Đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh

Gần với đền thờ bà Lê Thị Hoa là đền thờ danh tướng Trịnh Minh, một danh tướng thời Trần đã có công lớn trong cuộc kháng chíên chống quân Nguyên lần thứ nhất (năm 1258). Thần phả Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh ghi lại rằng: Đêm ông nội Trịnh Minh nằm ngủ ông bàng hoàng bỗng nghe tiếng ở bên ngoài nói rằng: “Mau dậy mở cửa, mau dậy mở cửa trong kiếm lại được thưởng đoạn nhà Khanh Tướng”. Ông dậy mở cửa không thấy ai. Ông vào nhà thấy thai nương đang đau bụng, sinh được một cậu con trai, mặt mày sáng sủa, khôi ngô, thân thể cao lớn, ông cho đó là phúc trời ban cho vậy. Sớm mai lúc đi ra giếng thấy thanh gươm nổi trên giếng. Ông vớt lấy gươm đem về đặt riêng một chỗ. Từ đó khiến việc nuôi con ngày một cao lớn lạ thường, vẻ mặt hiền hoà, tính bẩm trung hậu, thiên tư đĩnh ngộ, vì thế ông đặt tên là Trung Phụ.

Đến năm 13 tuổi Trung Phụ đi học được mấy năm , văn tài quán triệt, võ nghệ tinh thông, ngàn sử của trăm nhà không có gì là không hiểu. Lúc đó không may bố mẹ cùng mất , ông Trung Phụ một mình làm tang lễ. Mấy năm học đã thành tài, năm 19 tuổi ông dùng tài ra đời đi chu du thiên hạ, các nhân tài thấy đều kính sợ, tôn nhường ông. Rồi ngày qua tháng lại ông đi tơi địa sở trang An Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá thấy dân phong thuần hậu ông xin cư thân ở đó.

Năm ông 23 tuổi, khoảng triều Lí Thái Tông, nhà Vua bèn hạ chiếu tuyển nhân tài, ông đến ứng tuyển. Nhà Vua thấy ông có tài yêu mến lắm và giao phó chức, phong tước. Ông nhận chức tước trở về địa sở ở cũ trang An Nội huyện Nga Sơn hạ lệnh cho bản trang khu đất lập cung dồn sở lấy làm tuần trú ở vậy. Nhân dân ở trong khu đó hết thảy đều xưng thần quy phục và yêu mến ông. Phần những nơi ông đi tuần qua người người phục tùng làm thần tử, trong trấn hạt đều khen là yên ổn nên ông được nhận chức tới quyền kiêm Đô Thống Đại Tướng Quân, đã lâu năm.

Đến cuối triều nhà Lý, thế nước sắp hết ông vì cớ ốm cáo trở về đồn sở khu thượng trang An Nội, ở đó 3 tháng làm lễ mừng, ban thưởng cho nhân dân. Xong việc ông thẳng tiến về quê quán, đi qua nhánh sông Tô không biết sao trời tự nhiên nổi gió mưa lớn, ông đi đến đó thì mất (ngày mùng 6 tháng 3) nhân dân nghe tin mà cảm thương ơn trạch của ông để lại, tự tiến hành lễ điếu viếng ở bản khu cung sở, phụng thờ hương khỏi vậy.

Từ đó về sau nhân dân thường mơ thấy ông trở về cung sở. Nhân dân làm lễ vọng thường linh nghiệm phó thác vào đồng bảo rằng: “Đô tống thần quan, nhân dân tả nghênh đón tế thờ được hưởng phúc thái bình”.

Lại nói về sau: Bỗng đến triều nhà Trần khởi tạo đăng cực thực ấp lên ngôi Hoàng Đế (tức triều thần Thái Tông). Đến năm Thiên Ứng bỗng có giặc Nguyên Minh nổi lớn tích trữ binh lương xâm chiếm đất đai quấy nhiễu dân cư, nhà vua cho là hoạn nạn. Vua thân xuất bản binh đi tuần thiên hạ để chinh phạt giặc. Đánh một trận mưu phân thắng bại. Nhà vua bèn lui quân dồn trú tại một nơi để đặt mưu lập kế. Bỗng từ khi lui quân về qua các nơi đến địa sở khu thượng trang An Nội nhà vua thấy địa sở khu vực này rộng rãi, nhân dân đông bèn trú ở đó. Một đêm nhà Vua mơ thấy một quân nhân mũ áo chỉnh tề đứng trước nhà vua tâu rằng: “Thần là danh tướng triều Lý sắc mệnh Hoàng Thiên trấn trị ở đất linh thiêng này, là phúc thần của dân. Nay nghe Hoàng đế thân chinh muốn dẹp tướng giặc để yên dân”. Tâu xong bỗng biến mất nhà Vua sực tỉnh biết là mơ bèn lệnh cho nhân dân khu ấp làm lễ bái yết rồi triệu tập nhân bản khu hỏi rõ các nhân tài. Nhân dân bèn tâu hết với nhà Vua các con trai nhà họ Trịnh tài tinh thông võ nghệ, sức địch nổi trăm người, hùng cường oai dũng, diện mạo trang nghiêm thế gian hiếm có người như thế ( tức sinh ngày 24 tháng 4 năm Giáp Thìn) tên của ông, tên kiêng huý là Khanh, mẹ là Đỗ Thị Sùng còn ông kiêng tên huý là Minh. Lúc đó ông Minh ra yết kiến trước nhà vua. Nhà vua thấy ông có tài nghệ hơn người, hình giáng xuất chúng bèn thử tài ông, không ai đich nổi ông. Nhà vua bèn ban làm Quyền kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân. Ông Minh nhận chức đó xong bèn cùng các xứ sở cùng các họ nhân dân khu bản, làm gia thần thủ tục, cho gia dựng đồn sở, vì nhà Trần mưu trận lập các cơ ngũ. Ông bái yết nhà vua xin thay nhọc thân mình tiền phong lên trước, chia thành thuỷ, bộ hai đạo cùng tiến đến đồn sở giặc dựng làm 5 đồn gọi là Ngũ Kiên đồn. Trận lập xong giáp chiến một trận, thuỷ bộ đều đánh. Tướng giặc thấy uy lực của ông hết thảy đều khiếp sợ, tranh nhau chạy trốn, tan vỡ chết vô số. Dẹp yên giặc ông bèn lui binh dôn đồn ở đất núi Tam Điệp, dồn binh trú ở đó 3 tháng. Nhà vua nghe tiếng ban cấp ruộng công6 mẫu 7 sào để làm lộc thưởng cho ông. Sau đó ngày 10 tháng 4 ông bỗng nhiên bị ốm rồi mất, nhân dân nghe tin đồn về dáng ở xứ Đường hào bản địa tự tâu với vua. Vua nghe cho đó là công thần có công lao huấn nghiệp với việc mất, ban mệnh Đinh thần đến bản khu (tức nhân danh hiệu khu Ngũ Kiên) làm lễ yết tạ bản đền thờ thiêng, về sau làm lễ tạ vọng điếu ông Minh. Ban thưởng thêm tiền công 100 quan cho nhân dân bản khu, thưởng 100 cân bạc để làm tiền công làm đền thờ, lăng miếu để phụ thờ hương khói, lại phong thưởng 4 vị mỹ tự thượng đẳng phép phúc thần cho phép miễn nhân dân bản khu binh lương các việc tạp dịch trong 5 năm, xếp hạng cùng đất nước lớn lao mãi mãi là hình thức:

– Phong dương cảnh Thành Hoàng dực thánh khuôn quốc, hiền trung cư sỹ, Đô thống thượng đẳng phúc thần Đại Vương.

– Phong bản cảnh Thành Hoàng phụ thắng uỷ trợ kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân huý Trịnh Minh thượng đẳng thần đại vương.

– Cho phép khu Ngũ Kiên (hiện cũ thượng khu) xã An Nội huyện Nga Sơn phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá là bảo hộ phụng thờ hương hoả đền thờ.

Ngày lành xuân nam đào hồng phúc 1672.

Đông các Đại học sĩ viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn thiếu khanh ngày lành mùa đông năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737). Quản giam bách thần tri điện hùng lĩnh Nguyễn Hiền theo bản chính vâng sao.

Sau khi ông mất, vua Trần đã cho xây dựng đền thờ ông và tặng phong: Thượng đẳng phúc thần.

Tại đền thờ ông còn lưu các câu đối ca ngợi ông:

“Đâm xô năng danh tụ cổ dã dĩ

Thần chi vi đức kỳ thị hĩ hồ”

“Quan chức trấn Thanh Hoa, danh cao thập bát

Tướng tài thiên thuỷ kiêm thuỷ bộ tích Đông A”.

Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh hiện đang được nhân dân làng Ngũ Kiên, Nga Thiện thờ cùng một điểm (khu vực tây làng), trong đền thờ còn giữ được nhiều sắc phong, nhiều đồ thờ rất có giá trị nhân dân làng Ngũ Kiên nay và An Nội trước đây rất tự hào vì ở một làng nhỏ được thờ cả hai vị tướng. Dân làng thường gọi là “đền thờ tướng bà, tướng ông” các ngày rằm, ngày giỗ, ngày lễ hội. Con cháu dòng họ Mai Đức (dòng họ của chồng bà Lê Thị Hoa – ông Mai Tiến) nhân dân các xã Nga Trường, Nga Thiện, Nga Vịnh và nhiều nơi trong huyện, ngoài huyện về thắp hương ghi nhớ công ơn của hai vị tướng. Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh đã được UBND tỉnh cấp phép xây dựng, tôn tạo để trở thành một điểm đến du lịch tìm hiểu lịch sử, cùng với các di tích danh thắng: Động Từ Thức, Động Bạch Á, Bia Thần, núi Lã vọng,…tạo nên khu du lịch hấ dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Chùa Thung Sơn hay Thung Sơn Tự, nghĩa là chùa trong núi, còn có tên gọi là chùa Thông, còn gọi là chùa Báo Văn; theo tên làng của xã Nga Lĩnh. Chùa được xây dựng từ thời Nguyễn, khởi sáng trụ trì đầu tiên là hòa thượng Thích Vĩnh Phát.

Trong phong trào Cần Vương chống Pháp thế kỷ XIX để bảo vệ căn cứ chống giặc, núi Thông và chùa Thông đã trở thành vọng gác quan trọng của nghĩa quân Ba Đình – Đinh Công Tráng, Phạm Bành.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, núi Thông và chùa Thông là nơi nuôi giấu cán bộ. Trước và trong khi xây dựng căn cứ cách mạng ở làng Thượng, làng Sến (Nga Thắng), Tứ thôn (Nga Vịnh), Nga Thành…Các ông Tố Hữu, Trịnh Ngọc Điệt, Lê Tất Đắc, Hoàng Xung Phong và nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa khác lấy chùa Thông làm nơi trú chân, liên lạc và hoạt động. Chùa Thông được cấp bằng di tích lịch sử – văn hoá và cách mạng cấp tỉnh ngày 30 tháng 12 năm 1999.

Chùa gồm nhà thờ chính, cung thờ mẫu, nhà thờ tổ bốn vị tổ sư đã trụ trì tại ngôi chùa, các công trình phụ, vườn cây ăn quả, giếng nước…Chùa thông không những là nơi thờ Phật, nơi các tín đồ Phật giáo đến tu hành, mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của bà con trong làng, ngoài xã và trong vùng từ nhiều đời nay. Hiện chùa còn giữ được các bức đại tự, chuông đồng và các pho tượng cổ như tượng Hộ Pháp, tượng Đức Ông, tượng Bà và nhiều pho tượng Phật cùng với các bức chạm khắc có giá trị cao và được bảo quản khá tốt. Chùa Thông còn thờ vua Hùng, lễ hội vào mùng 10 tháng 3 Âm lịch (ngày giỗ tổ Hùng Vương). Ngoài ra còn các ngày lễ mùng 8 tháng Chạp (ngày đức Phật Thích Ca thành đạo), ngày Nguyên tiêu, rằm tháng Giêng, lễ Thượng nguyên, ngày 15 tháng 4 (ngày Phật đản), ngày 15 tháng 7 Âm lịch (ngày Vu Lan báo hiếu), lễ cuối năm…

Chùa Thông nằm trong khung cảnh thiên nhiên đẹp, gần gũi, gần sông, gần đường quốc lộ, tỉnh lộ. Ngoài nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân ngôi chùa còn có giá trị lịch sử và văn hoá.

Kim Quy cổ tự (tức là chùa Kim Quy) hay còn gọi là chùa Yên Hạnh, thuộc làng Yên Hạnh, nay thuộc Thị Trấn Nga Sơn là ngôi chùa thờ Phật, có công trình kiến trúc độc đáo và danh lam thắng cảnh từ bao đời.

Truyền thuyết kể lại rằng: Vùng đất của chùa Kim Quy bây giờ xưa kia là biển cả, ở đây có một con rùa vàng thường xuyên xuất hiện dẫn người dân đi đánh cá, cứu vớt người dân bị nạn khi gặp bão giông, giúp các nhà Vua vào nam ra bắc đánh giặc. Những việc làm đạo nghĩa của Rùa Vàng đã được nhân dân trong vùng biết đến và được tôn là thần Kim Quy. Nghĩa cử cao đẹp của Rùa vàng cũng đã thấu tới Phật Bà Quan Âm, một lần Phật Bà vi hành hạ giới để thử thách Rùa vàng lần cuối trước khi quy nạp về nơi Phật Tổ. Phật bà hoá thành chim Hồng hạc gãy cánh rơi xuống biển, thấy Hồng Hạc bị nạn, rùa vàng dìu chim Hồng hạc bị nạn trả về đàn. Nơi Hồng hạc đậu được nhân dân trong vùng gọi là Thiên Nga Lộ (bây giờ là làng Nga Lộ). Còn nhân dân các làng An Hạnh, An Trang, An Ninh, An Khoái, An Khang, An Lộc, An Đậu lân cận được Phật bà Quan Âm ứng hiện làm chùa thờ Phật, tên gọi là chùa Kim Quy ngay trên cồn cát có hình rùa vàng đang bơi ra biển.

Trước cách mạng tháng 8, chùa Kim Quy không chỉ là nơi thờ Phật, mà còn là nơi liên lạc bí mật của quân tự vệ cứu quốc. Sau cách mạng tháng 8 chùa vẫn là cơ sở cách mạng và là nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ Việt Minh. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa vẫn duy trì nhưng không mở lễ hội nhiều để tránh oanh tạc của pháo và máy bay giặc.

Từ ngày non sông thu về một mối, đất nước thống nhất, nhân dân địa phương trong vùng có điều kiện tôn tạo ngôi chùa để giữ gìn nét đẹp truyền thống, văn hoá tâm linh. Tháng 6 năm 1996 UBND tỉnh có quyết định tu bổ và tôn tạo chùa Kim Quy theo yêu cầu của nhân dân địa phương. Ngày 10 tháng 12 năm 1997 chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hoá. Năm 2009 chùa được xây dựng lại khá kiên cố, vững chắc, có cả nhà Mẫu, nhà Tổ tạo thành quần thể bề thế. Chùa toạ lạc ở trung tâm huyện nên ngày rằm, mùng một và dịp lễ hội du khách kéo về rất đông để cầu nguyện mong mọi việc tốt lành.

Cách động Từ Thức khoảng 1km về phía trái có một động khác, còn được ít du khách biết đến gọi là động Mắt Voi. Động này khá rộng, chứa được cả ngàn người, nằm cách chân núi khoảng 70m. Trước cửa động hiện có một ngôi chùa cổ, có tên là “Bạch Tượng tự” (đền Voi Trắng). Cửa chùa có một cây đại hàng mấy trăm tuổi, nằm bò ra phía trước, uốn lượn như một con rồng chầu. Trong chùa còn có một số đồ thờ rất cổ như: Mũ, kiếm, giầy của vua, cặp đèn đồng khổng lồ, con dấu bằng đồng có khắc năm chữ “Linh lang Đại Hành hoàng đế”. Đây là ngôi chùa cổ rất linh thiêng, gần đây mới phát hiện ra một cái động khá rộng, đẹp nằm ở ngay sau chùa. Dân khắp nơi kéo đến về thăm động rất đông. Động đang được bảo vệ để đưa vào khai thác đón du khách. Đây cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của Nga Sơn.

Ngôi chùa này nằm ở thôn Chính Đại xã Nga Điền. Toàn khu chùa có ba toà nhỏ nằm ngang nhau. Chùa nằm bên sông Chính Đại, bên hông chùa có bia Thần Phù để người qua đường có thể thắp hương cầu may.

Những di tích lịch sử – văn hoá ở huyện Nga Sơn không chỉ cho chúng ta thấy được lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn kết hợp với cảnh thiên nhiên đẹp, nguyên sơ càng làm tăng sức hấp dẫn với du khách và có giá trị phát triển du lịch rất lớn.

Trong đền có tượng đá Đại Vương được sơn vôi lại chất sơn đặc biệt, theo các nhà sử học đây là pho tượng đá quý hiếm hiện còn ở Thanh Hoá.

Đền Xuân Đài thuộc xã Nga Thuỷ (tên Xuân Đài là tên làng cổ xưa). Người dân kể rằng: Cách đây khoảng 600 năm, nơi đây là vùng bãi bồi, nhân dân theo các con lạch ra biển bắt tôm cá. Một hôm từ sáng sớm nhân dân đi biển thấy một khối đá lớn trôi dạt trên một mảng bè , dân làng thấy lạ, lấy nước rửa sạch xem thì thấy có chữ: “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”. Thấy vậy bà con dân làng coi đó là điều thiêng bèn rước về để thờ sau này được các thợ đặc tài khắc tác thành tượng Người. Đền Xuân Đài thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, đền rất linh thiêng, du khách thập phương tới thăm quan và thắp hương cầu nguyện rất đông.

Nghè Hậu thuộc xã Nga Bạch. Nghè được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, Nghè Hậu thờ vị Thánh Nương và ” Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Nghè Hậu được xây dựng ngay gần cửa biển Lạch Sung. Nghè Hậu đang còn giữ được vẻ cổ kính. Cổng nghè là hai cột trụ biển bằng đá, to cao, nhưng được chạm khắc hoa văn khá tinh xảo. Hai trụ bên có bốn câu đối với nội dung:nói về nơi thờ tự tứ vị Thánh Nương và năm tháng làm trụ biển, trong đền còn nhiều đồ thờ cúng cổ rất có giá trị , nhiều sắc phong của các đời vua chúa.

Nghe Hậu thờ: tứ vị Thánh Nương và “Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Thần là Hoàng hậu Triều Nam Tống. Khi vua Đoan Tông nhà Tống bị giặc nguyên bức bách phải nhảy xuống sông tự vẫn. Thần cùng với 3 công chúa cũng phải nhảy xuống sông tự vẫn. Xác của 3 người trôi dạt đến Diễn Châu ( Nghệ An) chỗ cửa biển Cần Hải. Nhân vớt xác đem chôn có nhiều hiểu ứng linh dị lớn, nhân dân lập đền thờ rất linh ứng. Các triều vua Lê đem quân đi đánh giặc đều được tán trợ cho thnàh công. Vua Lê phong tặng thần là” Nam Hải” ,”Phúc Thần” các triều đại sau này đều có phong tặng.

Nhiều nơi ở các cửa biển, các cửa Lạch đều lập đền thờ Hoàng hậu và 3 công chúa để cầu mong đi ra khơi sóng yên, biển lặng, tôm cá đầy thuyền.

Thần họ Hoả tên Nguyệt Nga ở xã Bạch Câu(Nga Bạch), thời vua Nhân Tông nhà Lê(1443- 1459) có giặc Chiê Thành vào quấy phá. Vua thân chinh đi đánh, khi qua châu thị huyện Nga Sơn trông thấy vua bằng lòng và lấy làm vợ. Thần bèn hiến kế là cho lập quấn bên đường cho giặc thấy vào quán ăn mà không đề phòng rồi thừa cơ dánh úp. Hôm đó trời nắng to, nhà vua tiến đánh rồi lại lui binh, cho đến trưa rồi vờ thua bỏ chạy. Quân giặc đuổi theo, không thấy quân lính nhà vua, thấy hai bên đương núi nhiều lều quán ăn, trời nóng, bụng đói, trưa lại đến nên quân giặc lao vao quán, ăn uống lo say thừa cơ quân nhà vua tiến vào đánh úp. Quân giặc bị trúng kế, vua bắt sống được vua Chiêm Thành đem về triều và phong cho thần là Hoàng Phi.

Sau thần về thăm quê, đi đến cửa Bạch Câu gặp gió to sóng lớn thì thuyền bị chìmvà hoá. Hay tin vua vô cùng thương tiếc và ban cho dân ở đây tiền và ruộng để lập đền thờ.(Đền thờ Hoàng Phi ở làng TrungĐức xã Nga Trung, nhưng do chiến tranh đền không còn, dòng họ Hoả, nhân dân xã Nga Bạch đã rước vong bà về thờ ở Nghè Hậu. Nơi bà sinh ra ở đó).

8. Những lễ hội truyền thống.

Mùa lễ hội từ đầu tháng Giêng đến tháng tư (âm lịch), Nga Sơn có rất nhiều lễ hội thu hút cả hàng nghìn khách đến thăm quan, dự lễ hội như: Lễ hội chùa Tiên, Mai An Tiêm, Từ Thức, lễ hội Ba Đình và hàng trăm hội làng diễn ra liên tục, hấp dẫn. Trong số đó có một số lễ hội tiêu biểu như:

Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Nga Phú. Đây là lễ hội dân gian gắn liền với truyền thuyết “Quả dưa đỏ” phổ biến rộng rãi trên đất nước ta. Lễ hội Mai An Tiêm ca ngợi thành quả lao động và mang đậm ý nghĩa phồn thực của người dân vào thời kỳ khai hoang lập ấp.

Cũng như các lễ hội khác, lễ hội Mai An Tiêm cũng được tiến hành theo hai phần là phần lễ và phần hội.

Phần lễ bao gồm các công việc:

1. Lễ rước sắc phong đức Thánh Mai An Tiêm từ làng văn hoá Văn Đức đến đền thờ Mai An Tiêm. Lễ rước được tổ chức với quy mô trọng thể và hoành tráng. Thứ tự các đoàn rước gồm:

Dẫn đầu là đội rồng lân (1 rồng, 2 sư tử, 2 kỳ lân)

1.1 Đội cờ dẫn gồm:

– 1 lá cờ tiết.

– 5 cờ ngũ hành: trắng, xanh, đen, vàng, đỏ.

– 4 cờ tứ linh: long, ly, quy, phượng.

– 8 cờ bát quái.

1.2 Ban chinh cổ

– 1 trống cái to đặt trên xe

– 1 chiêng đồng.

1.3 Đội Bát biểu chấp kích:

– 16 người vác bát biểu.

– 16 người vác chấp kích.

– 1 người vác biển gỗ có chữ Thượng đẳng và lịch triều.

1.4 Kiệu hương án.Trên kiệu có:

– Một quả dưa hấu to.

– Hộp sắc phong có hai lộng đi hai bên để che kiệu.

1.5 Phường đồng văn.

– 1 trống cái.

– 8 trống ban.

– 8 trống bản, hai não bạt.

1.6 Phường bát âm.

– 2 đàn nguyệt, 2 sáo, 1 nhị, 1 mõ, 1 sanh tiền, 1 tiu cảnh.

1.7 Kiệu bát cống.Trên kiệu đặt:

– 1 khám thờ có bài vị Mai An Tiêm.

– 2 mâm ngũ quả, có hai lộng đi hai bên che kiệu.

1.8 Kiệu long đình. Trên kiệu đặt: Mũ, áo, hài của thần Mai An Tiêm có hai lộng che hai bên kiệu.

1.9 Kiệu võng

(Kiệu rước Công chúa).

1.10 Đoàn rước rễ (đi hàng đôi)

– Quan viên bô lão.

– Các bản hội của các xã trong toàn huyện gần 3000 người. Ăn mặc trong trang phục lễ hội.

– Đoàn khách (tỉnh, huyện, xã)

– Dân làng văn hoá Văn Đức.

– Dân quanh vùng và khách thập phương

2. Nội dung tế lễ

2.1 Đội tế gồm có:

– 2 đông xướng và tây xướng.

– Gần 3000 người trong các bản hội chấp sự.

3.2 Nội dung cuộc tế.

– Tích cổ tam thống (đánh 3 hồi trống).

– Hai vị đông xướng, tây xướng trong nghi trang tế lễ ra đứng ở vị trí có bày hương án hô to: “Khởi chinh cổ” (nổi chiêng trống).

– Hai người chấp sự đi đến bên giá chiêng, giá trống một người đánh 3 hồi chiêng, một người đánh 3 hồi trống, rồi mỗi người đánh thêm 3 tiếng nữa sau đó vào vái 1 vái rồi lui ra.

– Nhạc sanh tượng vị (ban nhạc về chỗ ngồi).

– Nhạc tác (khởi nhạc).

– Sau đó đánh 3 hồi trống.

3.3 Chúc văn: Ca ngợi công đức Mai An Tiêm.

Kính cáo Anh Linh

Thánh thuỷ tổ khảo

Lạc hầu hàng duệ vương triều

Dực bảo trung hưng linh phù chi thần

Gia phong đoan túc tôn thàn

Mai công huý vển, tự An Tiêm.

Huý nhật: Tam nguyệt, thập nhị nhật

Vĩnh thế chân linh thần chú

Kính các anh linh thượng hạ, tả hữu thờ theo thánh tổ

Mừng hôm nay;

Trống đồng vang dậy núi sông

Trời đất Nga Sơn ngút ngàn linh khí

Rộn rã trống chiêng

Tưng bừng cờ đỏ

Dâng hương ân bái ân đức tiên nhân

Châm nến phụng thờ công lao thánh tổ

Nhớ ngày xưa…

Nước có nguồn, cây có gốc.

Uống nước trong nhớ nguồn chảy từ đâu?

Ăn quả ngọt biết công ai khó nhọc?

Đó chính là truyền thống nhân văn.

Đó cũng chính là tự hào dân tộc.

Nhớ ngài xưa.

Dòng giõ các vua Hùng.

Tư chất thông minh ngay từ thưở nhỏ.

Tin sức mình nuôi chí tự cường.

Chống quân tham, ghét quân bợ đợ.

Câu nói xưa còn vang:

“Của biếu là của lo”

Lời tâu nay còn nhớ:

“Của cho là của nợ”

Phật ý vua cha.

Lệnh đầy biệt xứ

Đây đảo hoang nước biển mênh mông.

Kìa rừng rậm hãi hùng tiếng hổ.

Tất cả trông vào: ba tháng lương ăn.

Một thanh gươm cùn, một hòn đá lửa.

Tin đôi tay ắt sẽ vượt qua.

Sẵn ý chí đâu nào có sợ.

Lượm trái cây lót dạ qua ngày,

Bẫy thú rừng lần hồi qua bữa.

Bỗng một hôm, thấy lũ chim trời,

Đang tranh ăn một loài quả lạ,

Vỏ xanh thẫm,

Ruột đỏ tươi.

Đuổi chim đi, lấy hạt gieo trồng.

Kỳ trái chín ăn vào mát rượi.

Ngày ngày sức lực tăng cường.

Tháng, năm khó khăn đã vợi.

Khắc tên vào quả,

Thả xuống biển khơi.

Tấp nập thuyền buồn ghé vào mua, đổi.

Qủa ngon, trái ngọt,

Dâng tiến vua Hùng.

Thấu hiểu ngọn ngành vua cha liền vội,

Cho thuyền vượt cửa Thần Phù.

Nhắm hướng đảo hoang thẳng tới.

Đón An Tiêm về đất Phong Châu.

Quân xiểm nịnh thảy đều chịu tội.

Vua truyền: Dưa đỏ trồng khắp nơi nơi.

Nức tiếng ngọt, ngon ngàn đời ca ngợi…

4:+Khai mạc lễ hội.

+ Dâng hương tưởng niệm

+ Đánh trống khai hội

+ Múa rồng, lân

+ Biểu diễn nghệ thuật của các đoàn nghệ thuật trong tỉnh gồm: 200 diễn viên chuyên nghiệp, 500 diễn viên quần chúng, tái hiện lại cảnh: cảnh An Tiêm bị đi đầy- cảnh vợ chồng An Tiêm ngoài đảo hoang- cảnh nhà vua cho cận thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về triều đình. Nhà vua ban tước , lộc cho vợ chồng An Tiêm và lệnh cho dân cả nước trồng dưa hấu An Tiêm.

Phần hội:Tổ chức ngày 12-13 tháng 3(âmlịch)

Tổ chức Hội tại các làng văn hoá tiêu biểu toàn huyện: Thi các tiết mục văn nghệ, múa rồng , múa lân. Tổ chức các trò chơi đân gian: thi kéo co, đua thuyền, hái dưa, phóng lao, nấu cơm thi…

Mức độ ảnh hưởng của lễ hội lan rộng khắp huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung và một số huyện ở các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Nam Định…

Lễ hội Bơi Chải truyền thống này diễn ra ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch. Lễ hội truyền thống này ra đời sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938), nhằm vận động con cháu ra tòng quân cứu nước. Lễ hội đã trở thành một ngày hội vui khoẻ của dân làng nơi này. Lễ hội Bơi Chải là hình thức cầu ngư, cầu cho năm mới mưa thuận gió hoà, ngư dân ra khơi tôm cá đầy ghe. Lễ hội còn thể hiện tinh thần thượng võ, nối tiếp giá trị truyền thống của ông cha.

Trước năm 1975 lễ hội này vẫn được tổ chức đều đặn ở thôn Bạch Hải, nhưng khi đất nước thống nhất vì nhiều lí do khác nhau nên lễ hội không được tổ chức nữa. Vừa qua lãnh đạo và UBND xã Nga Bạch và phòng VHTT huyện Nga Sơn đã gửi đơn Sở VH-TT-DL tỉnh xin khôi phục lễ hội này và được đồng ý. Trong dịp tết nguyên đán 2010-2011, vào ngày 3và 4 tết lễ hội bơi chải truyền thống ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch đã được tổ chức lại. Lễ hội thu hút được rất nhiều người tham gia.

9. Một số chợ tiêu biểu ở Nga Sơn

Nga Sơn không chỉ có nhiều lễ hội đặc sắc mà còn có nhiều những sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tiêu biểu là: Chợ chiếu Hói Đào, chợ Hôm sung xã Nga Bạch, chợ Hoàng xã Nga Văn,…

Trước đây Nga Sơn còn có cả chợ Hôm Giún tại thôn Bái Nại xã Nga Hải. Nhưng chương trình lấn biển vào những năm 1980-1990 đã làm cho biển rời xa , con sông Hưng Long trước đây thông từ cửa biển tới chợ Hôm Giún đã bị chặn bởi cống Mộng Giường. Hết sông, hết biển, hết cả làng chài Bái Nại, chợ cũng không còn nữa.

Hiện nay chỉ còn có chợ Hôm Sung ở xã Nga Bạch, là chợ mang đậm văn hoá ở vùng biển Nga Sơn. Chợ vẫn giữ được vẻ sầm uất xưa. Chợ Hôm Sung chỉ họp vào buổi chiều khi tan việc đồng áng cũng là lúc thuyền chài cập bến. Lúc đó, phụ nữ thì tất tưởi gồng gánh cua bể, tôm, cá, mực…còn các bác thuyền chài với những gọng xiếc và chiếc giỏ khổng lồ lớn cũng hối hả rảo bước cho kịp chợ Hôm. Việc mua bán các sản vật địa phương như cá, tôm, gạo, ngô, khoai…chỉ diễn ra chóng vánh trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Chạng vạng tối chợ đã không một bóng người

Chợ chiếu Hói Đào thuộc xã Nga Thanh giáp danh với làng Ngọc Liên xã Nga Liên, nơi đây có nhiều gia đình với các gian hàng chiếu cói đủ các chủng loại màu sắc rực rỡ. Chợ chiếu được họp từ 7 giờ sáng đến khoảng gần 10 giờ là tan. Tấp nập đông vui nhất là khoảng 8 đến 9 giờ. Các sản phẩm của quê chiếu: Chiếu cải, chiếu đậu, chiếu in hoa đủ các kích cỡ. Các loại thảm trải sàn, làn đựng đồ, túi sách, lẵng hoa…và thật dễ thương là chiếc mũ cói ngộ nghĩnh vẫn còn thơm mùi cói khi đội lên đầu. Sản phẩm ở muôn nơi đem đến, rồi các sảp phẩm này từ chợ chiếu lại toả đi muôn nơi đến các thị trường, trong tỉnh trong nước và cả nước bạn. Người bán kẻ mua tấp nập, các phương tiện đem chiếu đến chợ bán, rồi các phương tiện đem chiếu đi ngược xuôi tấp nập. Chợ chiếu chỉ họp tron buổi sáng nhưng ngày nào cũng đều đặn, mưa gió rét buốt chợ vẫn họp bình thường. Sau khi chợ chiếu tan bấy giờ các bà nội trợ quê chiếu tranh thủ ghé sang chợ thực phẩm cạnh đó để mua thức ăn bồi dưỡng cho gia đình sau một ngày lao động vất vả. Các ông chồng cũng tranh thủ tự thưởng cho mình một tô phở nóng, vài cốc bia hơi.

Sau một ngày đi thăm quan các điểm du lịch, du khách có thể tham gia vào những phiên họp chợ tấp nập cùng những người dân vùng biển Nga Sơn để hiểu thêm về văn hoá và con người nơi đây.

10. Nghề chiếu cói truyền thống

Nga Sơn không chỉ có động Từ Thức, núi Mai An Tiêm, di tích lịch sử Ba Đình… Nga Sơn có nhiều làng nghề truyền thống như nghề chiếu cói, nghề mộc, mỹ nghệ, mây tre đan xuất khẩu… Trong đó tiêu biểu là nghề chiếu cói – một làng nghề truyền thống đã nổi tiếng từ rất lâu, nói đến Nga Sơn là chúng ta nhớ tới chiếu cói với câu ca dao nổi tiếng:

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông

Huyện Nga Sơn được trời phú cho dòng phù sa từ sông Đáy, sông Hồng, sông Hoạt bồi đắp mà thành ruộng, thành làng. Tại những vùng đất phù sa mới bồi bị nhiễm mặn rất phù hợp với cây cói, được sử dụng rộng rãi để lợp nhà, dệt chiếu và làm các vật dụng khác. Cây cói, cây đay đã có từ xa xưa, đến nay cũng chưa ai biết cụ thể, chỉ được nghe các cụ kể lại sự tích cây cói, cây đay:

Chuyện xưa kể rằng: Có cô con gái nhà nghèo nhưng xinh đẹp nết na, da trắng như tuyết. Nàng lại có mái tóc dài, đen óng ả. Nàng đem lòng yêu mến chàng trai làng chân quê vùng biển khoẻ mạnh, giỏi nghề chài lưới. Những đêm trăng sao họ hẹn hò nhau ra cửa Lạch, cùng chờ trăng lên, ngắm biển cầu mong cho duyên số viên thành. Ánh trăng sáng như dát ngọc xuống biển, khuôn mặt của nàng đang độ tuổi trăng tròn đã xinh càng thêm đẹp rực rỡ. Tóc nàng vờn bay ve vuốt tấm lưng vạm vỡ của chàng, hương bồ kết thoang thoảng thơm càng làm cho đôi tình nhân thêm nồng thắm. Họ yêu nhau ngọt ngào, đẫm đượm hương phù sa của biển.

Trước ngày về làm dâu nhà người, nàng hẹn chàng trai đến cửa Lạch. Đêm đó trăng mờ nhạt, những đám mây vần vũ, bỗng trôi nổi cơn giông. Nàng chờ mãi, chờ mãi mà chẳng thấy chàng đến. Những giọt lệ của nàng rơi xuống, càng xót thương cho duyên số chẳng thành. Nàng quay đầu nhìn về làng, những tưởng sẽ nhìn thấy bóng chàng đang tới nhưng vô vọng. Nàng nói thầm trong sự tuyệt vọng: Em xin chàng hãy tha lỗi cho em, hẹn chàng ở kiếp sau. Nói đoạn, nàng cầm con dao cắt mái tóc của mình thả vào trong gió, trong đêm.

Những sợi tóc của nàng theo gió bay khắp cả vùng rồi nàng gieo mình xuống biển.

Chàng trai chạy vội vã đến gặp nàng, nhưng chẳng thấy người yêu của mình chỉ có mùi thoang thoảng hương bồ kết và những sợi tóc dài còn vương lại. Chàng vô cùng đau khổ đã giận bản thân mình không bảo vệ được nàng. Chàng biết, để giữ lời thề ước thuỷ chung, nàng đã gieo mình xuống biển. Mắt chàng đăm đắm nhìn ra biển cả mênh mông, vô vọng, thương nhớ, rồi chàng cũng gieo mình xuống biển. Biển cả mênh mông đã ôm trọn đôi tình nhân vào lòng.

Tình yêu thuỷ chung của đôi trai gái đã làm động lòng các vị thần linh. Thần linh đã cho người con gái hoá thành cây Cói còn người con trai hoá thành cây Đay. Sáng hôm sau, thật kỳ lạ cả một vùng rộng lớn những cây Cói xanh mướt, dài óng ả, mọc lên, bên cạnh lại có những cây Đay cứng cáp xanh rờn. Người dân cho đó là điều lành, bèn cắt cây Cói, nhổ cây Đay về, rồi dùng sợi Đay, sợi Cói dệt thành chiếu. Họ mong muốn cho cây Cói, cây Đay mãi mãi gắn bó với nhau. Để nhớ về một mối tình chung thuỷ, son sắc. Sau này ở Nga Sơn và lan rộng ra cả nước có tục lệ “trải chiếu cho cô dâu, chú rể trước đêm động phòng để mong cho sự thuỷ chung hạnh phúc và sinh con đàn cháu đống”.

Nghề chiếu cói Nga Sơn có hầu hết ở các xã trong huyện, nhưng tập trung ở 8 xã ven biển là Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ, Nga Tiến, Nga Tấn. Trong đó các xã Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ được coi là nghề dệt chiếu toàn tòng. Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng mượt. Điều đặc biệt ít có nơi nào trồng được cói dài như nơi này, loại cói chuyên dùng để dệt nên những tấm chiếu vừa đẹp lại vừa bền.

Theo lời các cụ xưa kể rằng chiếu cói Nga Sơn cùng với chiếu Kim Sơn (Ninh Bình) là một trong những vật cống tiến triều đình, được các bậc vua chúa, quý tộc ưa dùng. Trải qua hơn 150 năm tồn tại với không biết bao là thăng trầm, chiếu cói Nga Sơn đã làm nên thương hiệu cho địa phương, góp phần tạo việc làm, đem lại thu nhập cao cho người dân.

Có nhiều loại chiếu khác nhau như: chiếu đậu, chiếu hoa, chiếu kẻ hình, …Mỗi loại chiếu có những ưu điểm riêng. Trong đó chiếu đậu là loại chiếu đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và giá cũng đắt nhất. Chiếu đậu còn gọi là chiếu trơn, mắt tròn, sợi ken phưng phức, nặng, đổ nước không thấm qua. Chiếu có tốt, có đẹp, có thực là chiếu Nga Sơn phải nhìn vào biên chiếu. Chiếu Nga Sơn là món quà quý và nặng tay, nhưng nặng hơn cả là tình của đất, của người làm nên nó.

Hiện nay, người dân Nga Sơn không chỉ đơn thuần dệt chiếu cói mà còn làm ra nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ với những hoạ tiết hoa văn đẹp như làn, mũ dép, hộp, tấm thảm, đồ dùng trang trí khác…bằng cói rất được ưa chuộng.

Mọi người biết đến Nga Sơn với những đặc sản nổi tiếng chỉ có riêng ở vùng đất này đó là: gỏi cá nhệch, rượu Chính Đại, dê núi ủ trấu…đó không chỉ là những món ăn ngon mà mang cá những nét văn hoá của người dân Nga Sơn.

Cá nhệch là loại cá chỉ có ở vùng biển nước lợ, thường to bằng cỡ ngón chân cái, hình dáng gống con lươn đồng,nhưng dài hơn phần đầu có cái mang phòng to hơn. ở các vùng đầm lầy ngập mặn như Nga Sơn, Kim Sơn – Ninh Bình, Giao Chỉ – Nam Định thường rất sẵn, nhưng chỉ có ở Nga Sơn mới có cách chế biến đặc biệt hơn cả thành đặc sản ” gỏi cá nhệch” và đã trở thành món” đặc sản”của nhiều du khách trong,ngoài tỉnh và cả du khách nước ngoài ưa thích. Người ta nói: đến Nga Sơn ngoài việc thăm thú” Sơn thuỷ hữu tình”nếu chưa thưởng thức” Gỏi cá nhệch” thì coi như chưa đến Nga Sơn.( nhiều người ở nơi xa, chuyện vui là chưa đến Nga Sơn, nhưng biết Nga Sơn qua chuyện Động Từ Thức, Mai An Tiêm, Chiếu Nga Sơn và đặc biệt “Đặc sản gỏi cá nhệch”).

Gỏi cá Nhệch được làm qua rất nhiều công đoạn: Cá sống được bắt về bỏ trong chậu, cho một ít nước vôi trong vào để cá nhả hết nhớt rồi vớt ra rửa sạch. Mổ bỏ nội tạng, lột da và lọc riêng phần nạc rồi đem thái thành từng miếng nhỏ cỡ to hơn sợi mỳ tôm. Cá sau khi thái được ngâm chừng 5 phút trong nước dừa tươi có pha một chút muối, rồi vớt ra vắt thật khô, cho vào một chiếc bát tô sứ to rồi vắt vào đó nước riềng để thấm cá, trộn đều cho đến khi cá ngấm nước riềng chuyển sang màu vàng ngà thì lại vắt cho thật khô rồi bầy lên đĩa xong trộn với thính. Thính để trộn gỏi cũng phải được chế biến rất cẩn thận, hai phần gạo trộn với một phần ngô, ngâm chừng 15 phút rồi vớt ra đem rang nhỏ lửa cho chín vàng, đem xay mịn là được. Nước ăn gỏi thì chẻo là quan trọng nhất nó là chất kết dính của gỏi và các loại gia vị. “Chẻo” được chế biên rất công phu, bao gồm da và xương cá rán giòn, xay nhuyễn, thịt nạc rán giòn xay nhuyễn mẻ ngấu lọc kỹ cùng với hành tỏi, mắm muối, mì chính…được chế biến thành cùng một loại nước đặc biệt với rất nhiều hương vị. Rau sống ăn gỏi gồm: lá Sung, lá Vọng cách, lá Lộc vừng, lá húng…và không thể thiếu đĩa ớt, riềng thái nhỏ để ăn kèm.

Lấy một chiếc lá sung to quấn lại thành hình chiếc phễu, cho gỏi cá cùng các loại rau thơm, gia vị vào trong, cuối cùng là một thìa chẻo đặc sánh rồi gói lại…chén rượu nỏ đưa cay, vài miếng bánh đa vừng, ngồi trên thuyền mà lòng man mát, ngất ngây niềm vui cùng bạn bè tâm đắc, thực khách cứ vừa nhân nhi, vừa vui chuyện về vùng đất Nga Sơn cho đến tàn canh lúc nào không biết

Sau khi thăm quan, leo núi thấm mệt du khách thưởng thức món gỏi cá Nhệch với rượu Chính Đại thì sẽ thấy rất ngon miệng và sức khoẻ dường như được phục hồi. Vì cá Nhệch là loại cá rất khoẻ, bởi thế người ta tin rằng ăn cá Nhệch là một món ăn bổ, có tác dụng tăng gân cốt, khí huyết và sức khoẻ của con người.

Ở Thanh Hoá, các loại rượu ngon nổi tiếng như nếp Cẩm Cẩm Thuỷ, rượu Nếp cái hoa vàng, rượu Tăng làng Quảng, rượu Cần Bá Thước…nhưng có lẽ làm say lòng khách du lịch nhất chính là rượu nếp Nga Sơn. Kinh nghiệm dân gian cho thấy rằng để có được mẻ rượu ngon phải hội tụ đủ các yếu tố đó là: “thiên thời – địa lợi – nhân hoà”. Thì đây, Nga Sơn vốn sẵn có nguồn nước đã từng tạo ra giống dưa Mai An Tiêm ngon, mát, giống nếp cái hoa vàng ngát hương, cộng với loại men bí truyền và kinh nghệm ngàn đời của người nông dân cần cù chịu khó và các yếu tố hài hoà kết hợp với nhau để tạo ra một sản phẩm đặc biệt là rượu nếp Nga Sơn.

Gạo nếp được nấu gọi là nếp lật, tức là gạo nếp chỉ được xay bỏ lớp vỏ trấu, hạt gạo đang còn nguyên lớp vỏ lụa bao phủ bên ngoài. Cơm rượu được đồ chín tới rồi tãi ra nong cho nguội, trộn với men và ủ kỹ trong chum sành, độ vài ba ngày khi chum rượu toả mùi thơm quyến rũ là được. Quy trình chưng cất rượu cũng bằng phương pháp thủ công truyền thống, nồi nấu rượu bằng kim loại nhưng bình ngưng (nơi hơi rượu ngưng lại thành dòng rồi chảy vào chai) lại được làm bằng gỗ mít và lò rượu nhất thiết chỉ được đun bằng củi, như vậy là để cho rượu được đằm không bị sốc và quan trọng là không bao giờ bị khê rượu. Phương pháp truyền thống này cho năng xuất không cao nhưng bù lại cho chất lượng rượu không thể chê vào đâu dược.

Nhấm một chút rượu đã có cảm giác thơm đầu lưỡi của mùi nếp mới, cay cay của men say nơi cuống họng, còn khi chép miệng một cái thì cái cay đã hoá thành cái ấm nóng dần lan toả tới mọi huyết mạch cơ thể…và đó chính là cái duyên của rượu nếp Nga Sơn.

Thịt dê vốn là một loài thực phẩm bổ dưỡng được nhiều người ưa thích, với những người sành điệu thì tiết canh dê hay các món ăn chế biến từ thịt dê thực sự là món khoái khẩu. Trong thực đơn thịt dê có thể chế biến được thành rất nhiều món như lẩu dê, dê sào lăn, dê tái chanh, cháo dê…nhưng món dê thui cả con có lẽ chỉ có ở vùng núi đá Nga An- Nga Sơn mới có. Thực đơn của món dê thui thật đơn giản chỉ có ba món chính là tiết canh dê, dê tùng xẻo và cháo dê nhưng cách chế biến thì quả thật công phu tốn nhiều công sức.

Tiết dê được hãm đóng vào chai dành để đánh tiết canh, dê được cạo lông sạch sẽ rồi khéo léo mổ moi hết nội tạng ra ngoài( đặc biệt phái lấy được hai hạch hoi của dê nằm ở đoạn gáy dê nơi tiếp giáp với bả vai để thịt dê được thơm ngon). Dùng các loại lá thơm nhồi vào bụng dê như lá ổi, lá sả, lá bưởi…. Khâu kín lại, bọc bên ngoài bằng một lớp lá chuối tươi rồi để luôn lên nền đất ẩm. Vật liệu để thui (đốt) dê chủ yếu là rơm nếp trộn với trấu, cho phủ kín con dê rồi mới quạt lửa,trở đi trở lại con dê độ bốn năm lần, mỗi lần độ năm sáu mươi phút thì mới đạt yêu cầu. Sức nóng của lửa rơm từ bên trên cộng với hơi ẩm từ lòng dất hoà quyện làm cho thịt dê chí mền và có một hương vị đặc biệt quyến rũ thực khách, dê ủ trấu chín đều không bị mất mùi và thịt rất ngon.

Bát tiết canh đỏ tươi để khai vị, tiếp đó là đĩa thịt dê đốt nóng hổi ăn kèm với các loại rau thơm chấm với tương gừng, lâng lâng men rượu nếp Nga Sơn…thì chỉ cần thêm bát nhỏ cháo xương dê nấu với đậu xanh nữa là để du khách thêm một lần lưu luyến với Nga Sơn.

Đây cũng là một đặc sản của Nga Sơn. Thông thường thịt dê được chế biến thành các món như: dê tái, dê xào…Nhưng ở Nga Sơn thịt dê được chế biến theo một cách rất đặc biệt. Sau khi thịt dê được làm sạch, người ta để nguyên cả con, ướp da vị vào bên trong bụng của con dê. Sau đó người ta làm chín con dê bằng cách vùi vào trấu, sức nóng của trấu sẽ làm chín được thịt dê. Vì thế mà thịt dê vẫn giữ nguyên được hương vị thơm ngon và màu của con dê không bị thay đổi. Chính những điều này đã làm nên đặc trưng riêng cho món ăn mà chỉ có ở Nga Sơn.

Mức độ đa dạng: Nga Sơn có giá trị nổi bật về tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên có sức hấp dẫn mạnh, đặc biệt là động Từ Thức và đền thờ Mai An Tiêm, chùa Tiên là những điểm đến thu hút nhiều khách du lịch.

Khả năng tiếp cận tài nguyên cũng rất thuận lợi do địa hình của huyện khá bằng phẳng, đặc biệt là mạng lưới giao thông đi lại tại các điểm du lịch khá tốt. Trong những năm gần đây, các điểm du lịch như động Từ Thức, đền thờ Mai An Tiêm di tích lịch sử Ba Đình…các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hoá khác vẫn đang được tiếp tục đầu tư, trùng tu tôn tạo lại tổ chức nhiều lễ hội với quy mô cấp tỉnh để nhằm phục vụ, thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan nhiều hơn.

Những tài nguyên du lịch ở Nga Sơn đang được sử dụng, khai thác hợp lí hơn, nghành du lịch cũng đang được Đảng bộ và nhân dân huyện quan tâm phát triển nhiều hơn.

Ở Nga Sơn có một số cơ sở dịch vụ phục vụ cho nhu cầu ăn nghỉ của du khách như: Khách sạn 2 sao thương mại Nga Sơn (Thị Trấn), Hồng Chương (Thị Trấn), Hảo Phụng (Nga Thanh), nhà hàng ẩm thực gỏi Thịnh Lịch (Nga Liên), nhà hàng dê ủ trấu Ngọc Toản, Hoàng Việt (Nga An), Quy mô các cơ sở đang được mở rộng và nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Số lượng khách du lịch đến tham quan các điểm du lịch ở Nga Sơn liên tục tăng từ năm 1990 đến 2006, trong đó chủ yếu là khách du lịch nội địa. Năm 1990 có 2500 khách nội địa, 3 khách quốc tế, 13 khách doanh nghiệp đến thăm quan du lịch ở Nga Sơn. Đến năm 2021 đã tăng lên 5 khu du lịch đó là:

+ Khu du lịch Động Từ Thức (xã Nga Thiện): Động Từ Thức, Động Bạch Á, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, tướng Trịnh Minh.

+ Khu du lịch Mai An Tiêm: Khu di tích Mai An Tiêm (Nga Phú), Chùa Tiên, Hồ Đồng Vụa (Nga An). Đặc biệt Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức hàng năm vào ngày 12, 13/3 âm lịch với quy mô cấp huyện, hoặc tỉnh thu hút hàng vạn nhân dân và khách thập phương.

+ Khu du lịch chiến khu Ba Đình (Xã Ba Đình)

+ Khu di lịch sinh thái dọc sông hoạt: Của Thần phù, Chùa Hàn Sơn, Núi “Rồng hổ tranh ngọc” và chùa Trúc Lâm, Động Lục Vân (Nga Điền), Lã Vọng, Bia Thần (Nga Thiện).

+ Khu du lịch sinh thái biển.

Việc tổ chức quản lý ở các điểm du lịch cũng đang được quan tâm nhiều hơn. Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang được bảo vệ và tôn tạo để nhằm mục đích phát triển du lịch Nga Sơn.

Ngày 10/7/2009 UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 2166/QĐ-UBND về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch động Từ Thức và các di tích, danh thắng huyện Nga Sơn đến năm 2021 và định hướng đến năm 2021.

Ngày 05/8/2011 UBND huyện Nga Sơn ban hành Quyết định số 1389 /QĐ-UBND về việc phát triển du lịch đến năm 2021 và tầm nhìn 2021. Đề án đã đánh giá thực trạng, tiềm năng du lịch Nga Sơn, những hạn chế tồn tại đặc biệt đề án đã đề ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả để đẩy mạnh phát triển du lịch của Nga Sơn. Trong những năm tiếp theo và tầm nhìn đến năm 2021 để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa phương, quy hoạch xây dựng nông thôn mới Nga Sơn giàu, đẹp, văn minh.

【#2】Thông Tin Báo Chí Viết Về Nam Định Ngày 21/10/2020

THÔNG TIN VỀ NAM ĐỊNH QUA BÁO CHÍ

Nhờ bí quyết cho chim trĩ ăn chuối chín và uống nước tỏi mà đàn chim trĩ của chị Nguyễn Thị Tươi (34 tuổi) ở xóm 7, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy (tỉnh Nam Định) đẻ sòn sòn. Mỗi tháng chị Tươi xuất bán hơn 2.000 con chim trĩ giống, bỏ túi hơn 20 triệu đồng.

Dẫn phóng viên Báo điện tử DANVIET đi thăm quan mô hình nuôi chim trĩ, chị Tươi vui vẻ nói, với hơn 10 năm kinh nghiệm nuôi loại chim này, chị khẳng định cho chim trĩ ăn thêm chuối chín và uống nước tỏi là đàn chim phát triển tốt nhất. Chim vừa nhanh lớn, khỏe mạnh và đặc biệt dù nuôi số lượng lớn chẳng bao giờ lo chim bị bệnh tật.

Hiện tại, gia đình chị chủ yếu nuôi chim trĩ mái sinh sản và có nuôi thêm chim trĩ bán Tết nhưng số lượng ít. Vào vụ chim sinh sản, mỗi tháng gia đình chị xuất bán hơn 2.000 chim trĩ giống, mang về doanh thu hàng chục triệu đồng.

Nói về cơ duyên với loại chim này, chị Tươi cho biết, trước đó mẹ chồng chị có nuôi một ít chim trĩ, nhưng chủ yếu nuôi để ăn và có bán được một ít, nhưng không đáng kể.

Thấy loại chim trĩ này dễ nuôi, tính toán kỹ ra thì cũng kinh tế hơn nuôi gà, trong khi đó thì nuôi chim trĩ có chẳng khác gì nuôi gà, thậm chí còn nhàn hơn nuôi gà.

Nghĩ là làm, đầu năm 2010, chị Tươi xây dựng chuồng trại và mua hàng nghìn con chim trĩ giống về nuôi. Được mẹ chồng hướng dẫn cách chăm sóc nên đàn chim trĩ phát triển tốt, tỷ lệ hao hụt thấp. Chị Tươi lựa những con đẹp ra để làm giống cho vụ chim năm sau, số còn lại chị bán chim trĩ thương phẩm hết.

“Lứa nuôi đầu tiên đó, tuy chỉ bán đi nửa nhưng tôi đã có lãi mấy chục triệu đồng, thấy nuôi chim trĩ lời quá mà ham. Cũng từ đấy mà tôi đam mê với loài chim trĩ này hơn và dành thời gian chăm sóc chúng”, chị Tươi nói.

Đến vụ chim trĩ sinh sản năm sau, nhờ chọn được những cá thể chim bố mẹ chuẩn và được chăm sóc cẩn thận nên đàn chim đẻ cũng khá đồng đều, nhưng năng suất vẫn chưa cao.

Sau đó chị Tươi lại nghiên cứu bố sung thêm khẩu phần thức ăn cho chim trĩ như: rau xanh, thóc, ngô…. nhưng chim đẻ năng suất cũng không tăng là bao nhiêu.

Đặc biệt, mỗi khi nắng mưa thất thường đàn chim trĩ lại bị các bệnh cúm, đường ruột…Tuy chữa đơn giản nhưng lại ảnh hưởng đến việc đẻ trứng của chim trĩ. Sau nhiều lần nghiên cứu, tham khảo sách báo… chị quyết định cho chim trĩ uống thêm nước tỏi.

“Tỏi không có nhiều tác dụng đối với sức khỏe con người mà còn có nhiều tác dụng rất rốt đối với gia cầm, trong đó có chim trĩ. Cho chim uống nước tỏi hàng ngày giúp đàn chim có sức đề kháng cao, ngăn ngừa các bệnh đường ruột và hô hấp trên đàn chim…” chị Tươi tiết lộ.

Chị Nguyễn Thị Tươi chia sẻ với báo điện tử chúng tôi nhờ cho chim trĩ ăn thêm chuối chín nữa mà chúng mới có bộ lông bóng bẩy, mượt mà…vậy đấy. “Nhờ đó mà vào dịp Tết lúc nào tôi cũng bán được giá cao hơn. Trong khi đó chuối chín ở quê lại vừa dễ kiếm, giá thì rẻ như rau, cứ mua cả xe về để chín dần cho chim trĩ ăn….”.

Hiện tại, gia đình chị Tươi đang có 500 con chim trĩ sinh sản, trong đó có khoảng gần 400 con chim mái và 150 con chim trống. Vào vụ sinh sản, trung bình mỗi tháng gia đình chị xuất bán được hơn 2.000 con chim trĩ giống, mỗi con có giá bán từ 16.000 – 17.000 đồng. Sau khi trừ hết chi phí, gia đình chị lãi khoảng 20 triệu đồng/tháng.

Ngoài ra, chị Tươi còn nuôi thêm gần 1.000 con chim trĩ thịt thương phẩm, chủ yếu cung cấp cho thị trường dịp Tết Nguyên đán. Hiện giá chim trĩ đỏ, chim trĩ xanh nuôi bán thịt luôn giữ ở rmức ổn định, dao động từ 180.000 – 220.000 đồng/con.

“Năm nay do ảnh hưởng của dịch Covid 19 khiến nhiều loại con nuôi đặc sản mất giá, thậm chí còn ế ẩm. Nhưng riêng đối với con chim trĩ, nhất đối với chim trĩ giống lại thụ rất tốt, thậm chí còn tốt hơn cá năm trước”, chị Tươi chia sẻ.

Theo chị Tươi tính toán, 1 nhân công có thể nuôi 500 chim trĩ sinh sản và gần 1.000 chim trĩ thịt thương phẩm.

Nuôi loại chim này cũng không khác nuôi gà là mấy, cách chăm sóc cũng tương tự như nhau, chỉ khác là chúng biết bay nên chuồng nuôi phải rào chắn kín khỏi chúng bay ra.

“Thức ăn chính của chim trĩ là cám công nghiệp, đặc biệt từ tháng thứ 2 trở đi cho chim ăn thêm chuối chín, chim trĩ rất thích loại thức ăn này. Ngoài ra, có thể bổ sung thêm: ngô, thóc, cám gà, bèo, rau xanh. Một con chim trĩ từ khi nở đến khi trưởng thành chỉ tiêu tốn hết 70.000 đồng chi phí thức ăn”, chị Tươi nói.

Về chuồng trại phải thiết kế có sân chơi cho chim trĩ tắm nắng, vận động, nhảy múa…Bố trí thêm nhiều cành cây trong chuồng để chim bay đậu cho thoải mái để chim nhanh lớn và có lông đẹp.

Nền chuồng nuôi chim trĩ và khoảng sân phía ngoài phải cao, được rải cát sỏi dày 6cm để hút ẩm để đảm bảo cho lông đuôi công không bị dính bẩn mỗi khi di chuyển. Quá trình nuôi chim trĩ sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý phân chim, mỗi tháng khử trùng chuồng trại 2 lần.

Sau khoảng 8,5 tháng nuôi, chim trĩ xanh sẽ trưởng thành và sinh sản; chim trĩ mái nặng 1,4- 1,5kg; chim trĩ trống từ 1,6-1,7kg/ con. Trong 7 tháng đầu từ khi chim mái sinh sản tỷ lệ trứng ấp nở tốt nhất đạt 70%, ngoài 7 tháng sẽ thải đàn chim trĩ bán thành chim trĩ thịt thương phẩm và gây đàn chim bố mẹ mới…

https://danviet.vn/nam-dinh-cho-chim-tri-an-chuoi-uong-nuoc-toi-ma-de-son-son-nong-dan-8x-bo-tui-hang-tram-trieu-moi-nam-20201020204438327.htm

Sau nhiều năm loay hoay tìm phương án “giải cứu” dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa quy mô cấp vùng 700 giường, tỉnh Nam Định đã tìm được phương án thích hợp cho dự án này.

Dự án Bệnh viện đa khoa quy mô 700 giường bệnh được khởi công xây dựng từ tháng 11/2007, do UBND tỉnh Nam Định làm chủ đầu tư, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và một số nguồn vốn hợp pháp khác. Dự án này được xem là công trình y tế trọng điểm của vùng nam đồng bằng sông Hồng.

Ban đầu công trình có vốn đầu tư 598,5 tỷ đồng, nhưng đến cuối 2009 được tăng lên 850,8 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Bệnh viện được thiết kế hiện đại gồm nhiều khu nhà cao tầng, có cả sân đỗ trực thăng.

Sau hơn 10 năm kể từ lúc bệnh viện được khởi công đến nay, những tưởng dự án này sẽ đáp ứng được kỳ vọng của chính quyền và người dân nơi đây, nhưng sau thời gian dừng thi công do thiếu vốn, dự án bệnh viện này phải dựng chân tại chỗ.

Cụ thể, tỉnh Nam Định đã công bố nghị quyết số 37/NQ-HĐND về việc chấp thuận chủ trương dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định (trên cơ sở điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng BV Đa khoa quy mô 700 giường cũ).

Theo nội dung nghị quyết, dự án Đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định có mục tiêu tạo lập cơ sở vật chất, hạ tầng dịch vụ y tế hoàn chỉnh, hiện đại và chất lượng cao; tạo điều kiện thuận lợi cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh hiện hữu chuyển sang hoạt động, phục vụ khám chữa bệnh, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân tỉnh Nam Định và vùng lân cận. Quy mô đầu tư 700 giường bệnh với các khoa, phòng phù hợp với Bệnh viện đa khoa cấp tỉnh.

Dự án có tổng mức đầu tư hơn 1.467 tỷ đồng. Trong đó, phần giá trị đã phê duyệt quyết toán (phần dự án cũ đã đầu tư) là hơn 271 tỷ đồng; phần giá trị thực hiện các hạng mục còn lại là hơn 1.196 tỷ đồng. Trong đó vốn ngân sách Trung ương gần 262 tỷ đồng, còn lại là ngân sách tỉnh và các nguồn vốn hợp pháp khác. Thời hạn hoàn thành dự án là năm 2025.

Trong kỳ họp thứ 2 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định khóa XX, nhiệm kỳ 2021-2025, ông Đoàn Hồng Phong, Bí thư Tỉnh ủy Nam Định chỉ đạo tập trung triển khai quy hoạch chung xây dựng thành phố Nam Định đến năm 2040, tầm nhìn 2050; triển khai các bước lập quy hoạch tỉnh Nam Định thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2045 trên cơ sở nhiệm vụ Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tập trung nghiên cứu xây dựng quy hoạch Khu kinh tế Ninh Cơ.

https://dantri.com.vn/kinh-doanh/benh-vien-tram-ty-cap-vung-se-chuyen-huong-thanh-benh-vien-tinh-20201019203023507.htm

Tính đến hết tháng 9/2020, Bộ GTVT đã khởi công và hoàn thành 24 dự án. Dự kiến, trong 3 tháng cuối năm 2021 sẽ có thêm 4 dự án khởi công và 20 dự án hoàn thành, nâng số lượng công trình giao thông được khởi công và hoàn thành trong năm 2021 lên 48 dự án, nhiều nhất trong vòng 4 năm qua.

cuối tháng 5/2020, sau 27 tháng thi công, dự án đầu tư xây dựng cầu Thịnh Long trên địa bàn tỉnh Nam Định được Bộ GTVT tổ chức thông xe. Dự án có tổng mức đầu tư 1.158 tỷ đồng được đưa vào khai thác đã hiện thực hóa ước mơ ngàn đời của người dân hai huyện Hải Hậu và Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) về một cây cầu nối liền đôi bờ sông Ninh Cơ.

Ông Trương Mạnh Khiêm, Phó giám đốc Sở GTVT Nam Định cho biết, cầu Thịnh Long là công trình có ý nghĩa rất lớn đối với hệ thống hạ tầng giao thông tỉnh Nam Định. Cây cầu có nhiệm vụ kết nối vùng kinh tế biển của tỉnh Nam Định với đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ – Ninh Bình.

“Đặc biệt, cầu Thịnh Long còn nối liền hai huyện Nghĩa Hưng và Hải Hậu, là vị trí giao cắt của nhiều tuyến giao thông huyết mạch như: QL21, QL21B, tuyến đường bộ ven biển, TL490C… rút ngắn khoảng cách 15km trên tuyến vận tải thị trấn Thịnh Long với TP Nam Định, góp phần nâng cao khả năng kết nối với các tỉnh trong khu vực trên tuyến đường ven biển, tiết kiệm chi phí vận tải, thúc đẩy phát triển KT-XH”, ông Khiêm nói.

Theo thống kê của Cục QLXD&CLCTGT, tính từ đầu năm đến hết tháng 9/2020, Bộ GTVT đã hoàn thành, đưa vào khai thác 8 dự án gồm: Dự án mở rộng tuyến tránh QL1 đoạn qua TP Tân An, tỉnh Long An; Dự án thành phần 2 thuộc dự án cầu Cổ Chiên; Dự án cầu Thịnh Long thuộc tuyến đường bộ ven biển tỉnh Nam Định; Dự án nâng cấp QL217 giai đoạn 2; Dự án cầu Sông Chùa thuộc dự án cầu Đà Rằng, Sông Chùa trên QL1 cũ, tỉnh Phú Yên…

https://www.baogiaothong.vn/ky-luc-khoi-cong-hoan-thanh-cac-du-an-giao-thong-d483038.html

Năm 2021, Đài Thơm 8 chiếm khoảng 16% gạo xuất khẩu của Nam Định.Năm nay dự tính các giống lúa của Vinaseed chiếm 30 – 40% trên tổng số 7 triệu tấn gạo xuất khẩu.

Đài Thơm 8 là giống lúa thuần chất lượng cao do Công ty Cổ phần Tập đoàn giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed) nghiên cứu, chọn tạo. Đây là giống cảm ôn, gieo trồng được cả hai vụ, thời gian sinh trưởng ngắn, cây cứng, chống chịu được đổ ngã, đẻ nhánh khỏe, bông hữu hiệu nhiều, độ kết hạt dày.

Thời gian sinh trưởng tại khu vực Bắc Bộ vụ Xuân 125 – 130 ngày; vụ Mùa 100 – 105 ngày (nếu gieo sạ thời gian sinh trưởng rút ngắn 5 – 7 ngày). Khu vực Bắc Trung Bộ thời gian rút ngắn 3 – 5 ngày so với khu vực Bắc Bộ. Khu vực Nam Trung Bộ vụ Đông xuân 105 – 110 ngày; vụ Hè thu 95 – 100 ngày (nếu gieo sạ thời gian sinh trưởng rút ngắn 5 – 7 ngày). Khu vực Tây Nguyên 110 – 115 ngày; vụ Hè thu 95 – 98 ngày. Khu vực Nam bộ vụ Đông xuân, Hè thu, Thu đông 100 – 105 ngày (nếu gieo sạ thời gian sinh trưởng 93 – 95 ngày).

Cây lúa Đài Thơm 8 cao 95 – 100 cm, đẻ nhánh khỏe. Bộ lá đứng, xanh, hạt thon dài, màu vàng sáng. Khối lượng 1.000 hạt 23 – 24 gram, hạt gạo dài 6,7 mm. Gạo trong không bạc bụng, cơm trắng bóng, dẻo, thơm, vị đậm.

Đài Thơm 8 cho năng suất ở vụ Xuân 220-250kg/sào, ở vụ Mùa 180-220kg/sào, chất lượng gạo ngon, cơm dẻo, mùi thơm nhẹ, vị đậm, tỉ lệ xay xát cao hơn 70%. Lúa Đài Thơm 8 sinh trưởng phát triển mạnh, đẻ nhánh khỏe, chịu rét tốt, cứng cây chống đổ tốt, chống chịu tốt với bệnh bạc lá trong vụ Mùa.

Hiện nay tại Nam Định, giống đã được gieo cấy đại trà tại tỉnh cả vụ Xuân và vụ Mùa, nhất là ở các huyện Mỹ Lộc, Ý Yên, Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu. Thậm chí có một số xã gieo cấy chủ yếu giống Đài Thơm 8 chiếm 70-80% diện tích đất lúa của xã.

Giống lúa đã được khảo nghiệm và trình diễn tại Nam Định từ vụ Mùa năm 2021 với quy mô 2 ha tại xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy; sau đó được tiếp tục trình diễn và mở rộng sản xuất ra các huyện từ năm 2021 đến nay.

Theo ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Nam Định, Đài Thơm 8 được đưa vào sản xuất tại Nam Định từ năm 2021 đã cho thấy nhiều ưu điểm: “Chất lượng gạo Đài Thơm 8 thuộc nhóm khá, năng suất ổn định. Giống lúa này của Vinaseed đã góp một phần vào cơ cấu giống lúa của tỉnh”.

Trong những năm gần đây, Nam Định chú trọng vào các giống lúa chất lượng để chọn vào cơ cấu. Cách đây khoảng 4 – 5 năm trở về trước thì giống lúa chất lượng chỉ chiếm khoảng 40 – 50% cơ cấu giống lúa. Hiện nay theo đề án định hướng tái cơ cấu của tỉnh quan trọng nhất bây giờ là giá trị và chất lượng. Giống lúa chất lượng cao chiếm đến 75% cơ cấu.

Ông Tiến cũng cho hay, đối với Nam Định hiện nay, kể cả năng suất có cao nhưng chất lượng không ngon thì sẽ không được người nông dân lựa chọn. Người dân sẽ tính toán sau khi gặt thì người ta bán được giá tốt hay không.

“Hiện nay về bệnh bạc lá trên đồng ruộng ở vụ Xuân thì chúng tôi tương đối yên tâm nhưng với vụ Mùa thì lại chống chịu kém hơn nên tỉnh vẫn loay hoay đi tìm giống lúa kháng được bệnh. Chúng tôi hi vọng giống Đài Thơm 8 này có thể mở rộng được diện tích gieo cấy cũng như bổ sung vào cơ cấu để thay thế cho các giống lúa khác hiện đang bị thoái hóa tại Nam Định”, ông Nguyễn Sinh Tiến cho biết.

Ông Trần Ngọc Chính, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Nam Định, cho biết với diện tích đất ít như tại Nam Định thì giống Đài Thơm 8 khá dễ tiêu thụ, đa số là các thương lái sẽ tới thu gom sản phẩm.

https://nongnghiep.vn/dai-thom-8-lan-at-cac-giong-lua-thuan-o-nam-dinh-d275634.html

Nhờ chăn nuôi đảm bảo an toàn dịch bệnh, đàn vịt hơn 10.000 con của gia đình ông Mai Văn Sơn (xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, Nam Định) luôn khỏe mạnh, đẻ nhiều.

Trứng vịt của gia đình ông đã được UBND huyện Hải Hậu chấm thẩm định, công nhận là sản phẩm OCOP cấp huyện đạt hạng 3 sao.

Sau nhiều lần liên hệ qua điện thoại, chúng tôi mới có dịp gặp và trò chuyện cùng với ông Sơn. Hiện, ông là một trong những thành viên tích cực, tiêu biểu của HTX Dịch vụ nuôi trồng thủy sản Hải Thanh.

Sinh ra và lớn lên ở huyện Xuân Trường, tuổi thanh niên ông lại bén duyên với mảnh đất huyện Hải Hậu. Trước năm 2009, ông Sơn chủ yếu sống bằng nghề buôn trứng, buôn vịt giống cho người dân trong tỉnh.

Đặc thù công việc là được tiếp xúc với nhiều chủ trang trại chăn nuôi vịt trên địa bàn huyện nên ít nhiều ông cũng học hỏi được kiến thức, kỹ thuật nuôi. Tích tiểu thành đại, có trong tay cuốn sổ kiến thức, đến giữa năm 2009 ông quyết định “treo” xe, bỏ nghiệp buôn trứng, buôn vịt giống, ước mơ trở thành ông chủ trang trại vịt.

Nghĩ là làm, ông Sơn tự mày mò, đi tìm mảnh đất phù hợp để khởi nghiệp làm giàu. Thuê được mảnh đất hơn 3 mẫu Bắc bộ tại xã Hải Thanh, ông cùng gia đình cải tạo lại ao nuôi, kiên cố bờ ao…, sau đó mua hơn 1.000 con vịt giống về thả.

Ông Sơn chia sẻ: “Từ khi mở trang trại chăn nuôi vịt đến nay, gia đình tôi chưa phải “đau đầu” vì một sự cố nào. Nhờ chăn nuôi đảm bảo an toàn dịch bệnh, nên chăn nuôi rất thuận lợi, đàn vịt luôn khỏe mạnh”.

Bởi thế, đàn vịt cứ năm sau nhiều hơn năm trước. Đến nay, sau 10 năm gắn bó với nghề nuôi vịt đẻ, ông Sơn sở hữu một trang trại rộng hơn 5ha với quy mô 10.000 con vịt siêu trứng và 4.000 con vịt bầu cánh trắng đẻ trứng để ấp làm con giống, cung cấp cho người dân.

Theo tính toán của ông Sơn, mỗi ngày gia đình ông xuất bán hơn 2.000 con vịt giống với giá 5.000 – 10.000đ/con, 9.000 quả trứng thương phẩm với giá 2.000 – 2.500đ/quả. Sau khi trừ tất cả các chi phí, mỗi năm gia đình ông thu về trên dưới 500 triệu đồng.

Khi được hỏi về dịch Covid-19 có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của trang trại không?, ông Sơn nói: “Mặc dù, dịch Covid-19 hoành hành lâu dài nhưng sản lượng trứng của trang trại vẫn xuất bán ra thị trường đều đặn. Thậm chí, thời điểm đó giá trứng còn tăng lên trên 2.500đ/quả”.

Chăn nuôi có khoa học, đúng quy trình, vịt được nuôi dưỡng trong môi trường an toàn, chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, do đó trứng vịt của trang trại luôn đảm bảo sạch, an toàn; được thị trường đón nhận.

Với quy mô 5ha, ông Sơn chia làm 5 ao nuôi; ao to nhất rộng 4 mẫu, ao nhỏ nhất rộng hơn 1 mẫu. Hệ thống bờ ao được kiên cố hóa, rộng 7 – 20m; xung quanh các ao được trồng nhiều cây xanh, tạo bóng mát cho vịt trú ngụ. Vịt được nuôi gối lứa và nuôi theo kiểu bán chăn thả, có sân chơi, ao bơi…

Theo ông Sơn, trang trại thường xuyên phun thuốc khử trùng định kỳ cả trong và ngoài chuồng, các ao nuôi được xử lý bằng dung dịch hóa chất và được thay nước thường xuyên. Nhờ vậy, xung quanh chuồng trại, ao nuôi luôn sạch sẽ, không bốc mùi hôi thối.

Chỉ tay về đàn vịt đang bơi lội dưới ao, ông Sơn nói, vịt siêu trứng và vịt bầu cánh trắng là loài thủy cầm dễ nuôi, sức đề kháng tốt, đẻ trứng sai. Trong đó, vịt siêu trứng đẻ từ 250 – 300 quả/con/năm, vịt bầu cánh trắng đẻ khoảng 200 quả/con/năm.

“Để đàn vịt đẻ luôn khỏe mạnh thì khâu chọn con giống rất quan trọng, ngoài ra phải tiêm vắc xin phòng chống cúm định kỳ cho đàn vịt… Khi vịt bắt đầu đẻ trứng bói thì dừng tiêm vắc xin, tập trung bổ sung thêm chất dinh dưỡng vào thức ăn để trứng thơm, ngon hơn”, ông Sơn chia sẻ.

https://nongnghiep.vn/nuoi-vit-an-toan-dich-benh-trung-dat-san-pham-ocop-d275692.html

Kinh tế tập thể (KTTT), hợp tác xã (HTX) với tư cách là một thành phần kinh tế, luôn đóng vai trò quan trọng, đóng góp tích cực trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy vậy, so với tiềm năng, lợi thế và nhu cầu của nền kinh tế, khu vực này phát triển còn chậm, tỷ lệ đóng góp GDP chưa đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi cần phải có những giải pháp đồng bộ, quyết liệt để tháo gỡ.

KTTT, HTX đã và đang trở thành phương thức tổ chức hoạt động kinh tế, đời sống của xã hội văn minh, phù hợp xu thế. Các thành viên trong xã hội đều hưởng lợi, không ai bị bỏ lại phía sau. Trong đó, các mô hình HTX kiểu mới đã đạt được nhiều thành công bước đầu, được coi là một trong những giải pháp quan trọng hiện nay nhằm tạo tính lan tỏa, thu hút thêm thành viên, người lao động cùng tham gia, góp phần ổn định phát triển kinh tế – xã hội.

Với địa thế ven biển, có hệ thống ao hồ, sông ngòi dày đặc, những năm gần đây, hoạt động nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Nam Định đã có những bước phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Ông Lê Văn Bản (sống tại xóm 15, xã Xuân Hòa, huyện Xuân Trường) sau nhiều năm loay hoay tìm kế sinh nhai, năm 2006 được UBND xã Xuân Hòa tạo điều kiện cho đấu thầu gần 3 ha vùng đất bãi ven sông Sò để đào ao, đưa cá vược vào nuôi thả. Thế nhưng, do thiếu kinh nghiệm và thời tiết “không chiều lòng người”, gia đình ông đã nhiều lần gặp thất bại. Không nản chí, từ năm 2009, ông tiếp tục nuôi thả giống cá vược xen lẫn cá lăng, cá trắm đen, trắm cỏ, chép, tôm sú… và bước đầu đem lại thành công. Trung bình mỗi năm, gia đình ông thu 1,5 tỷ đồng, lãi từ 500 đến 700 triệu đồng. Ông nhận thức được những khó khăn đến từ yếu tố thời tiết, dịch bệnh, thị trường, con giống, thức ăn,… nếu tiếp tục sản xuất đơn lẻ, từng hộ sẽ khó có thể chống chọi và đem lại hiệu quả cao. Vì vậy, cuối năm 2014, ông Bản và một số hộ dân khác trong xã đã cùng nhau thành lập HTX sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nuôi trồng thủy sản Xuân Hòa để cùng nâng cao tính cộng đồng trong bảo vệ môi trường vùng nuôi, đồng thời chia sẻ “vui buồn” trong kinh doanh.

HTX do ông Lê Văn Bản làm đại diện theo pháp luật, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc, đến nay đã phát triển lên 25 thành viên với số lao động thường xuyên khoảng 35 người, vốn điều lệ gần 6,7 tỷ đồng. Từ khi mới thành lập, HTX có 15 ha diện tích nuôi trồng thủy sản của thành viên, đến thời điểm hiện tại có tổng diện tích nuôi trồng là 25 ha, tổng số ao nuôi là 70 ha và được quy hoạch thành vùng nuôi trồng thủy sản của UBND tỉnh Nam Định. Năm 2021, tổng doanh thu của HTX đạt 21,7 tỷ đồng, thu nhập bình quân 8,5 triệu đồng/thành viên/tháng và 7,5 triệu đồng/người lao động/tháng.

Đến nay có thể nói, mô hình HTX nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Nam Định như HTX Xuân Hòa đã đem lại hiệu quả cao cho các hộ xã viên, tạo sự liên kết giữa các hộ gia đình trong toàn xã, tương trợ nhau trong ứng dụng công nghệ, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Qua hợp tác sản xuất, các hộ nuôi ở Xuân Hòa đã tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, bảo đảm về số lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường. Trong quá trình đó, HTX đã đứng ra giám sát về con giống, thức ăn, thuốc thú y và đối phó dịch bệnh, tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các hộ thành viên… và quan trọng hơn là tạo thu nhập ổn định cho các thành viên trong HTX.

Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, có thể nói liên kết, hợp tác trở thành một xu hướng phát triển tất yếu của HTX. Luật HTX năm 2012 được ban hành đã thể hiện tư duy mới về mô hình HTX kiểu mới với hạt nhân là “hợp tác”, góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất, phù hợp với cơ chế thị trường cũng như bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt. Thời gian qua, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động, nhất là đại dịch Covid gây ảnh hưởng nặng nề toàn diện đến mọi mặt kinh tế – xã hội, nhưng nhìn chung khu vực HTX vẫn hoạt động khá ổn định. Số lượng HTX tăng dần theo từng năm, phát triển khá đồng đều trên khắp các vùng miền, chất lượng hoạt động được nâng lên.

Theo báo cáo từ Liên minh HTX Việt Nam, sáu tháng đầu năm 2021, cả nước thành lập mới được 752 HTX, 10 liên hiệp HTX, 3.000 tổ hợp tác (THT), đạt 30% kế hoạch; các vùng miền trên cả nước đều có HTX thành lập mới. Trong đó, vùng Tây Bắc 120 HTX, Đông Bắc 161 HTX, đồng bằng Sông Hồng 152 HTX, Bắc Trung Bộ 46 HTX, Tây Nguyên 65 HTX, Đông Nam Bộ 48 HTX, đồng bằng sông Cửu Long 109 HTX. KTTT, HTX phát triển đa dạng trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ… Tính chung đến tháng 6-2020, cả nước có 25.282 HTX, tăng 2.002 HTX so cùng kỳ năm 2021; thu hút 7,2 triệu thành viên và 2,5 triệu lao động. HTX, liên hiệp HTX nâng cao năng lực quản trị, thu hút lao động trẻ, nhân rộng mô hình HTX sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao; các THT, HTX, liên hiệp HTX cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra, mang lại lợi ích cho các thành viên (21,5% tổng số HTX cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra và tiêu thụ sản phẩm cho thành viên, 13% tổng số HTX liên kết sản xuất, kinh doanh với doanh nghiệp). Nhiều HTX bị thiệt hại do đại dịch Covid-19 đã tự huy động nguồn lực để phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh. Đến nay, KTTT, HTX đã góp phần phát triển kinh tế – xã hội, mang lại nhiều lợi ích cho thành viên; thực hiện hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia. Theo tính toán sơ bộ, đóng góp trực tiếp của khu vực KTTT, HTX vào GDP cả nước trung bình đạt khoảng 4,8%; đem lại giá trị gia tăng cho kinh tế hộ thành viên, tác động thúc đẩy phát triển kinh tế cá thể, hộ gia đình, gián tiếp đóng góp hơn 30% GDP cả nước. Khu vực này cũng cung cấp dịch vụ sản xuất và đời sống cho thành viên, tích lũy khoảng 18.600 tỷ đồng lợi nhuận để tái đầu tư, mở rộng sản xuất. Đồng thời cũng là “hạt nhân” quan trọng thực hiện xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững. Nhiều HTX có tổ chức đảng và tổ chức chính trị – xã hội, góp phần ổn định đời sống cho người dân và địa phương.

Tuy vậy, theo đánh giá của Liên minh HTX Việt Nam, bên cạnh những đóng góp quan trọng, khu vực KTTT, HTX phát triển còn chậm so với tiềm năng, lợi thế và nhu cầu của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng còn thấp so với các khu vực kinh tế khác; tỷ lệ đóng góp GDP chưa đáp ứng yêu cầu. Phần lớn HTX quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng lực tài chính và quản trị yếu, phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, địa phương, giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp, khả năng huy động nguồn lực và áp dụng công nghệ cao còn hạn chế. Bên cạnh đó, Liên hiệp HTX chưa làm tốt vai trò “đầu kéo” hỗ trợ HTX thành viên; THT hoạt động chưa ổn định. Sự liên kết hình thành chuỗi giá trị giữa HTX, THT với các loại hình kinh tế khác còn hạn chế… Do đó, việc nhìn nhận rõ bất cập, hạn chế cũng như dự báo đúng xu hướng phát triển, tìm ra được những giải pháp tháo gỡ kịp thời sẽ trở thành chìa khóa giúp mở rộng cánh cửa hội nhập, hỗ trợ khu vực KTTT, HTX song hành phát triển bền vững cùng các thành phần khác trong nền kinh tế.

https://nhandan.com.vn/tin-tuc-kinh-te/mo-rong-co-hoi-phat-trien-kinh-te-tap-the-hop-tac-xa-621276/

Đến sáng 20/10, các đơn vị thi công đã tập trung khắc phục cơ bản sự cố hư hỏng nặng bờ kè khu du lịch biển Thịnh Long (thuộc thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định) do hoàn lưu bão số 7 gây ra.

Theo báo cáo UBND huyện Hải Hậu, ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 7 gây mưa to, rất to tại tỉnh này, cộng với triều cường khiến sóng biển tràn vào bờ, đánh sập 2 điểm trên tuyến kè biển tại thị trấn Thịnh Long gồm vị trí trước nhà nghỉ điều dưỡng Công an tỉnh (bãi 2) và trước nhà hàng số 22, 24 (bãi 1).

Tại các vị trí này, 640 m2 đường bê tông, mái kè bị sập, ăn sâu đến mặt đường nhựa của khu du lịch và tiền sảnh của nhà hàng số 22, 24. Tường chắn sóng cũng bị sập hoàn toàn với độ dài khoảng 80 m. Phần chân khay bờ kè dài 700 m bị sóng đánh bật bê tông, đổ chân kè.

Sạt, sụt bờ kè đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến 5 ki-ốt bán hàng của người dân tại khu du lịch biển Thịnh Long. Do nước lớn, hơn 130 ki-ốt, khách sạn với gần 800 lao động tại khu du lịch biển này cũng tạm thời dừng hoạt động để đảm bảo an toàn.

Trưa 19/10, khi nước xuống thấp, lực lượng chức năng huyện Hải Hậu và tỉnh Nam Định mới có thể tiến hành các biện pháp khắc phục sự cố.

Hiện lực lượng chức năng huyện Hải Hậu đang tập trung lực lượng, phương tiện máy móc để xử lý giờ đầu bằng cách: xếp các rọ thép đựng đá hộc phủ lên trên các vị trí bị sạt, sụt, liên kết các rọ thép lại với nhau bằng dây thép buộc chặt để hạn chế sạt, sụt lan rộng.

Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, biển động mạnh, sóng to, gió lớn kết hợp với triều cường, công tác khắc phục hiện nay chỉ là bước đầu. Vì vậy, Về lâu dài, huyện Hải Hậu đề nghị UBND tỉnh Nam Định, các cơ quan chức năng của tỉnh tiến hành khảo sát, hỗ trợ kinh phí cho địa phương đầu tư sửa chữa lại các vị trí bị hư hỏng do thiên tai gây ra.

Trước đó, ngày 14/10, do ảnh hưởng của bão, khu vực biển Nam Định có sóng cao kết hợp với triều cường đã gây sập, sạt tại một số vị trí ở mái kè Hải Thịnh 3, thuộc tuyến đê biển huyện Hải Hậu; tổng diện tích các hố bị võng, sập, sạt gần 280m2. Rất may các sự cố này đã được kịp thời khắc phục trước khi mưa lớn xảy ra tại Nam Định.

https://www.tienphong.vn/xa-hoi/nam-dinh-lai-sat-lo-them-2-vi-tri-bo-ke-tai-du-lich-bien-thinh-long-1737962.tpo

Khẩn trương khắc phục sự cố sạt kè khu du lịch Thịnh Long

https://nhandan.com.vn/tin-tuc-xa-hoi/khan-truong-khac-phuc-su-co-sat-ke-khu-du-lich-thinh-long-621186/

Tiền đạo Papa Kebe và hậu vệ Phùng Văn Nhiên phải rời sân trong trận đấu có tỷ số 2-0 nghiêng về chủ nhà Quảng Nam tối 20/10 trên sân Tam Kỳ.

Kebe lãnh thẻ đỏ trực tiếp vì ngăn cản cầu thủ Nam Định trước cơ hội ghi bàn rõ rệt trong hiệp 1. Tuy nhiên, cú sút phạt của đội khách sát vòng 16,5 m đã không chính xác. Ít phút sau, Văn Nhiên mắc lỗi tương tự trong vòng cấm địa giúp Quảng Nam hưởng quả 11 m.

Trọng tài FIFA Ngô Duy Lân rút thẻ vàng thứ hai cho cầu thủ 38 tuổi và mời anh rời khỏi sân. Đội trưởng Đinh Thanh Trung thực hiện thành công bàn mở tỷ số ở phút 38. Mưa càng lúc càng lớn ở Quảng Nam và ảnh hưởng rất lớn đến lối chơi của cả hai đội đến cuối trận.

Đến phút 90+4, ngoại binh của Nam Định ném biên nhưng bóng không đến được vị trí của thủ môn Đinh Xuân Việt. Tận dụng cơ hội này, tiền đạo Hà Minh Tuấn đoạt bóng và ấn định chiến thắng 2-0 quan trọng cho đội bóng Quảng Nam.

Trước đó vào phút 76 khi tỷ số đang là 1-0, tiền đạo Rafaelson đã đưa bóng vào lưới thủ môn Phạm Văn Cường nhưng trọng tài không công nhận. Trợ lý trọng tài số 1 K Đức Tuấn cho rằng một cầu thủ khác của đội khách đã việt vị. Đội Nam Định phản ứng mạnh.

Ngoài hai bàn thắng của Quảng Nam và hai thẻ đỏ chia đều cho hai đội, trận đấu không còn tình huống nào đáng chú ý. Thời tiết gây khó khăn lớn cho cầu thủ Nam Định tìm kiếm bàn gỡ. 3 điểm quý giá dành cho thầy trò ông Nguyễn Thành Công.

Chiến thắng này giúp đội Quảng Nam thu ngắn cách biệt với Nam Định xuống còn 5 điểm. Tuy nhiên, đối thủ trực tiếp Hải Phòng cũng giành chiến thắng 2-0 trước Thanh Hóa trên sân Lạch Tray cùng thời điểm này. Đội Quảng Nam vẫn đứng chót bảng với 12 điểm, thua Hải Phòng 4 điểm khi nhóm trụ hạng còn 2 lượt đấu nữa.

https://zingnews.vn/quang-nam-thang-nam-dinh-trong-tran-dau-co-2-the-do-post1144149.html

Nam Định thua đau Quảng Nam, Hải Phòng hạ Thanh Hóa

https://vietnamnet.vn/vn/the-thao/xem-truc-tiep-bong-da/nam-dinh-thua-dau-quang-nam-hai-phong-ha-thanh-hoa-682537.html

Quảng Nam đánh bại Nam Định trong trận cầu có hai thẻ đỏ

https://doisongvietnam.vn/quang-nam-danh-bai-nam-dinh-trong-tran-cau-co-hai-the-do-111056-11.html

Vòng 3 giai đoạn 2 V-League 2021: Quảng Nam tìm được niềm vui trước Nam Định, Thanh Hóa thua dễ Hải Phòng

http://kinhtedothi.vn/vong-3-giai-doan-2-v-league-2020-quang-nam-tim-duoc-niem-vui-truoc-nam-dinh-thanh-hoa-thua-de-hai-phong-399408.html

Hà Nội thắng khó, Hải Phòng, Nam Định vẫn còn nguy cơ rớt hạng

https://plo.vn/the-thao/ha-noi-thang-kho-hai-phong-nam-dinh-van-con-nguy-co-rot-hang-945204.html

Quảng Nam thắng trận vẫn… lâm nguy

https://giaoducthoidai.vn/the-thao/quang-nam-thang-tran-van-lam-nguy-bTqlZSpGR.html

Phát biểu trong buổi họp báo sau trận đấu giữa Nam Định và Quảng Nam, HLV Phạm Hồng Phú của CLB Nam Định tỏ ra thất vọng với công tác trọng tài trong trận đấu này.

Ở vòng đấu thứ 3 giai đoạn hai V.League Quảng Nam FC đã tận dụng triệt để lợi thế sân nhà để đánh bại đối thủ cạnh tranh trực tiếp vé trụ hạng Nam Định với tỷ số 2-0 với những pha lập công của Hà Minh Tuấn và Đinh Thanh Chung, qua đó nhen nhóm cơ hội trụ hạng ở mùa giải năm nay.

Đáng chú ý, trận đấu có hai thẻ đỏ, một trong số đó thuộc về Phùng Văn Nhiên, lão tướng 38 tuổi của đội khách Nam Định. Phút 34, hậu vệ Phùng Văn Nhiên phạm lỗi trong vòng cấm và phải nhận thẻ vàng thứ 2, đồng thời Quảng Nam cũng được hưởng một quả penalty. Pha bóng này mang tính bước ngoặt của trận đấu khi Đinh Thanh Chung ghi bàn mở tỷ số cho đội chủ nhà và mở ra thế trận thuận lợi cho đại diện của bóng đá miền Trung.

Phát biểu trong buổi họp báo sau trận, HLV Phạm Hồng Phú của CLB Nam Định tỏ ra thất vọng với công tác trọng tài trong trận đấu này.

“Tôi nghĩ tình huống đó không có phạt đền, va chạm trong bóng đá là chuyện bình thường, cầu thủ của đội bạn đang đuổi theo bóng chới với thì ngã thôi. Một quả phạt đền kèm thẻ đỏ là hơi nặng cho Phùng Văn Nhiên.

“Đây là trận đấu rất căng thẳng, nhưng không đến nỗi rút nhiều thẻ như vậy. Về tình huống chúng tôi ghi bàn, tôi chắc chắn tình huống đó không việt vị. Tôi nghĩ nên xem xét lại cách làm việc của trọng tài biên hôm nay, rất nhiều tình huống sai sót mà ràng nhất là bàn thắng của chúng tôi”, HLV Phạm Hồng Phú của Nam Định nói.

Trọng tài Ngô Duy Lân là trọng tài FIFA duy nhất đạt cấp Elite chuẩn LĐBĐ châu Á. Ông là vị vua áo đen được đánh giá cao nhất hiện nay ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên ở trận đấu giữa Nam Định và Quảng Nam ông nhận không ít lời than phiền từ BHL cũng như các cổ động viên của đội bóng thành Nam.

Về phía HLV trưởng CLB Quảng Nam Nguyễn Thành Công, ông cho biết đó là những quyết định của trọng tài và dĩ nhiên ông không có phàn nàn gì khi có 3 điểm để thu hẹp khoảng cách với đối thủ trực tiếp CLB Nam Định khi V-League đi vào khúc cua cuối.

https://doisongvietnam.vn/hlv-clb-nam-dinh-than-phien-ve-trong-tai-fifa-111076-11.html

Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Nam Định phối hợp với Hội Khuyến học tỉnh Nam Định vừa tổ chức trao học bổng 300 xe đạp cho học sinh con CNLĐ vượt khó, hiếu học năm 2021.

Năm 2021, dịch COVID-19 đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của công nhân lao động. Để chia sẻ khó khăn và động viên, khích lệ con công nhân lao động vượt khó, hiếu học, LĐLĐ tỉnh và Hội Khuyến học tỉnh phối hợp tổ chức trao tặng 300 suất học bổng bằng xe đạp với tổng số tiền 330 triệu đồng cho con công nhân, lao động thuộc LĐLĐ 10 huyện, thành phố, 4 Công đoàn ngành và Công đoàn các khu công nghiệp có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập. Trong đó, LĐLĐ tỉnh tặng 150 suất và Hội Khuyến học tỉnh tặng 150 suất, mỗi suất trị giá 1,1 triệu đồng.

Trong những năm qua, các cấp công đoàn trong tỉnh luôn quan tâm đến công tác dân số – gia đình – trẻ em, chăm lo cho con CNVCLĐ, đặc biệt con CNLĐ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học giỏi: Phối hợp với Quỹ Tấm Lòng Vàng Báo Lao Động và Ngân hàng BIDV trao 2.000 cặp phao và ba nô cứu sinh trị giá gần 400 triệu đồng cho các cháu học sinh con CNLĐ các huyện có nguy cơ đuối nước cao của tỉnh; tặng 300 chiếc đèn bàn trị giá 30 triệu đồng; tặng 5 xe đạp, 40 suất quà trị giá 20 triệu đồng; tặng 15 suất học bổng trị giá 15 triệu đồng cho con CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn học giỏi.

Triển khai chương trình “Trái tim và nụ cười trẻ thơ”, LĐLĐ tỉnh đã làm thủ tục đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Viêt Nam hỗ trợ kinh phí mổ tim cho 19 cháu trị giá 323 triệu; tổ chức các hoạt động vui chơi và tặng quà nhân dịp lễ và ngày Quốc tế thiếu nhi 1.6, Trung thu, thăm và tặng quà cho các cháu bị bệnh hiểm nghèo, các cháu trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Mỗi năm các cấp công đoàn trong tỉnh trao gần 2 tỉ đồng đồng cho con CNLĐ cùng nhiều hiện vật khác. https://laodong.vn/cong-doan/nam-dinh-trao-hoc-bong-300-xe-dap-cho-con-cnld-vuot-kho-hieu-hoc-846851.ldo

Báo điện tử Dân Việt nhận được đơn khiếu nại về việc Công an tỉnh Nam Định vi phạm tố tụng trong việc xử lý đơn tố giác tội phạm ở Nam Định.

Theo đó, hành vi này là vi phạm các Điều 147, 148 BLTTHS năm 2021; vi phạm các Điều 11 và 17 của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQPBNN&PTNT-VKSNDTC và Thông tư số 28 của Bộ Công an.

Trong đơn gửi Báo điện tử Dân Việt, ông Trần Nhật Linh (506 Trần Hưng Đạo, Phường Quang Trung, Thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) khiếu nại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định, về hành vi không thông báo kết quả giải quyết thông tin tố giác tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự.

Trình bày với Dân Việt, ông Linh cho biết: “Tôi là nhân viên làm thuê cho Công ty TNHH Một thành viên Xuất nhập khẩu Busan có địa chỉ tại Nam Định (viết tắt là Công ty Busan), từ tháng 10/2018 đến tháng 5/2020”.

Công ty là một pháp nhân chuyên nhập khẩu thiết bị máy móc, rượu và các mặt hàng khác từ đối tác là một công ty bên Nhật Bản. Theo đó từ khoảng thời gian tháng 3 /2019 đến giữa năm 2021 Công ty Busan đã nhập của bên bán (Công Ty RIBETO SHOJI CO.,LTD) lần lượt 9 container hàng.

Trong đó: Container số 1 hợp đồng ngày 26/3/2019: Thiết bị là hàng điện tử, hàng về Cảng Cái Mép -Vũng Tàu, số tờ khai hải quan: 102567754003 – Ngày khai hải quan đầu tiên: 3/4/2019 – số tiền nộp thuế của lô hàng này sau nhiều lần đóng là hơn 212 triệu đồng.

Container số 2 hợp đồng ngày 7/5/2019: Thiết bị là hàng điện tử, hàng về Cảng Cái Mép – Vũng Tàu, số tờ khai hải quan: 102633261952 – số tiền nộp thuế của lô hàng này sau nhiều lần đóng hơn 298 triệu đồng.

Ông Linh cho hay, trong thời gian làm việc cho Công ty, khi tính toán lại sổ sách ông phát hiện Công ty Busan đã dùng nhiều thủ đoạn để nhập khẩu hàng lậu, có dấu hiệu trốn thuế nhập khẩu, giả mạo chứng từ làm cho Nhà nước thất thu một khoản tiền rất lớn.

“Sự việc này tôi đã chủ động khai báo và tố cáo đến cơ quan chức năng là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định từ tháng 6/2020” – ông Linh trình bày.

Cụ thể, theo các tài liệu do ông Linh cung cấp, ngày 7/6/2020, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã có thông báo số 737, tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm của ông Linh chuyển đến Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Nam định giải quyết xem xét theo thẩm quyền.

Ngày 19/8/2020 tại trụ sở Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, ông Linh cũng đã bàn giao tài liệu cho Kiểm sát viên Đặng Thanh Nga.

Cũng theo ông Linh, thời gian qua, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nam Định đã nhiều lần triệu tập ông Linh, ông Linh cũng đã viết tường trình và có lời khai nội dung sự việc trên đến cơ quan điều tra Công an tỉnh Nam Định. Điều tra viên trực tiếp làm với ông Linh là ông Cao Xuân Tiến – Phạm Đức Sơn.

Tuy nhiên, kể từ ngày Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định chuyển thông tin tố giác tội phạm của ông Linh đến Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định đến nay đã là 4 tháng 13 ngày (7/6/2020 đến 20/10/2020), ông Linh vẫn chưa nhận được văn bản thông báo khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định.

Ngày 20/10, trả lời phỏng vấn của Dân Việt về trường hợp này, Luật sư Phạm Hồng Sơn – Trưởng Văn phòng Luật sư Phạm Sơn cho biết: “Theo các tài liệu mà ông Linh cung cấp, hành vi này có dấu hiệu vi phạm các Điều 147 BLTTHS năm 2021; Khoản 2, Điều 148 BL TTHS 2021; Điều 11, Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQPBNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29 tháng 17 năm 2021 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ NN và PTNN, Viện KSNDTC; Điều 17, Thông tư số 28, ngày 26/3/2020, có hiệu lực ngày 15 tháng 5 năm 2021 của Bộ Công an”.

Với tinh thần thượng tôn pháp luật, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Nam Định và các cơ quan chức năng tỉnh Nam Định nhanh chóng giải quyết sự việc theo quy định của pháp luật, trả lời cho bạn đọc được rõ.

https://danviet.vn/vi-pham-to-tung-trong-viec-xu-ly-don-to-giac-toi-pham-o-nam-dinh-20201021091233175.htm

Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam (20-10-1930 – 20-10-2020), sáng 20-10, thay mặt Thường trực Tỉnh ủy, HÐND, UBND tỉnh, đồng chí Lê Quốc Chỉnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy đã đến thăm, động viên cán bộ, hội viên Hội LHPN tỉnh.

Ðồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy đã tặng hoa, chúc mừng và phát biểu, biểu dương những nỗ lực, thành tích đạt được của các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh thời gian qua và nhấn mạnh: Những năm qua, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh đã có nhiều cách làm mới, chủ động, sáng tạo trong công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo, bảo vệ môi trường, xây dựng NTM, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Thời gian tới các cấp Hội và cán bộ, hội viên phụ nữ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn, bám sát nhiệm vụ chính trị ở địa phương, thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua và công tác Hội, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; góp phần đưa Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ XX vào cuộc sống.

Thay mặt cán bộ, hội viên Hội LHPN tỉnh, đồng chí Nguyễn Thị Hà, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh cảm ơn những tình cảm, sự quan tâm của đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo tỉnh đối với tổ chức Hội và cán bộ, hội viên. Trên cơ sở những chỉ đạo, định hướng của đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh sẽ đoàn kết, phát huy tiềm năng, năng lực, trí tuệ, sáng tạo, đổi mới để phong trào phụ nữ có nhiều hoạt động hiệu quả, thiết thực.

http://baonamdinh.com.vn/channel/5095/202010/dong-chi-pho-bi-thu-tinh-uy-chuc-mung-can-bo-hoi-vien-hoi-lien-hiep-phu-nu-tinh-2540421/

Tiến tới kỷ niệm 75 năm ngày truyền thống LLVT Quân khu 3 (31-10-1945 – 31-10-2020), vừa qua, tại xóm 7, xã Hải Tây (Hải Hậu), Bộ CHQS tỉnh phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức khánh thành và bàn giao nhà tình nghĩa cho gia đình ông Lê Ngọc Mễ, thương binh hạng 4/4, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở.

Sau gần 4 tháng thi công, ngôi nhà đã hoàn thành với diện tích 50m2, kết cấu vững chắc, mái lợp tôn chống nóng kiên cố, nền cao, thoáng mát. Ngôi nhà được xây dựng có tổng giá trị 110 triệu đồng; trong đó Bộ Tư lệnh Quân khu 3 hỗ trợ 80 triệu đồng; số tiền còn lại do Bộ CHQS tỉnh, các nhà hảo tâm và người thân trong gia đình đóng góp; cán bộ, chiến sĩ Ban CHQS huyện Hải Hậu và bà con, hàng xóm đã tham gia đóng góp 50 ngày công.

Ðây là việc làm thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, sự tri ân của thế hệ hôm nay đối với những người đã chiến đấu, hy sinh trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

http://baonamdinh.com.vn/channel/5095/202010/khanh-thanh-ban-giao-nha-tinh-nghia-cho-thuong-binh-nang-o-huyen-hai-hau-2540423/

Ngày 19-10-2020, UBND tỉnh ban hành Công văn số 855/UBND-VP3 yêu cầu các sở, ngành, địa phương tăng cường các biện pháp ngăn chặn tình trạng sử dụng chất độc, chất nổ, xung điện và nghề, ngư cụ cấm để khai thác thủy sản.

Theo nội dung công văn, hiện nay tình trạng người dân sử dụng xung điện, chất độc, chất nổ và nghề, ngư cụ cấm tại các thủy vực nội đồng, vùng biển ven bờ để khai thác thủy sản vẫn diễn ra. Ðây là một trong những hành vi khai thác bất hợp pháp, không theo quy định gây suy giảm nguồn lợi thủy sản, tác động xấu đến hệ sinh thái thủy sinh.

Ðể tăng cường bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản, tiến tới ngăn chặn và chấm dứt tình trạng nêu trên, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành: NN và PTNT, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, Sở TT và TT, UBND các huyện, thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm quy định tại Luật Thủy sản năm 2021 và các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản và tăng cường bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Tăng cường phối hợp tập trung thực hiện các nhiệm vụ: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng và hiệu quả, nâng cao nhận thức cho người dân về khai thác, bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là nghiêm cấm sử dụng xung điện, chất độc, chất nổ và nghề, ngư cụ cấm để khai thác thủy sản. Tăng cường tuần tra, kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm đối với hành vi sản xuất, buôn bán, tàng trữ vận chuyển trái phép và sử dụng hoá chất cấm, chất độc, chất nổ, kíp nổ, dây cháy chậm, xung điện, dòng điện, phương tiện, ngư cụ khai thác có tính huỷ diệt, tận diệt để khai thác thuỷ sản, nghề lưới kéo khai thác ở vùng biển, ven bờ.

http://baonamdinh.com.vn/channel/5083/202010/ngan-chan-su-dung-chat-doc-chat-no-xung-dien-va-nghe-ngu-cu-cam-de-khai-thac-thuy-san-2540424/

【#3】Chia Sẻ Cách Xem Vảy Gà Có Hình Minh Họa

Cách xem vảy gà đá hay

Đối với gà chọi kể cả gà đòn hay gà đá cựa sắt, mà đôi chân cũng là bộ phận vô cùng quan trọng. Khi mà đôi chân được xem là vũ khí dùng để có thể tấn công đối thủ. Bộ vảy của gà chọi được các sư kê ví như bộ giáp để giảm lực tấn công từ phía những con gà chọi khác.

Theo cách xem vảy gà chọi thì có một con gà có đôi chân khỏe, vảy khô và rõ ràng. Tất cả các ngón chân sức khỏe, không bị dị tật, cựa tốt và có những loại vảy quý hay linh kê dị tướng thì đó là con gà tốt.

Cấu tạo của một chú gà chọi tốt

Một con gà chọi tốt thì thường có đôi chân chuẩn như sau:

Phần cẳng chân to hoặc nhỏ tùy thuộc vào từng giống nhưng phải cân đối.

Có hai hoặc 3 hàng vảy nhưng mà đều không rõ ràng hoặc vảy khô.

Phần ngón chân khỏe, không bị dị tật hoặc cong queo.

Móng chân sắc nhọn,

Cựa gà tốt

Gà có các loại vảy đẹp, cựa đẹp và linh kê dị tướng.

Cách nhận biết gà đá bằng xem vảy gà đá

Bộ vảy của gà chọi được cá sư kê có thể thấy được khả năng đá gà của chúng, chân gà phải khô và không xuất hiện các nhược điểm trên.

Chân gà to thì ra đòn đá đau làm cho đối thủ bị thu nhanh và thường đi dưới, đá tấn công vào chân, đầu cổ.

Chân gà nhỏ, thanh thường ra đòn đá đau rát, khiến cho đối thủ choáng váng, vết thương gây khó chịu và thường tấn công vào mặt, lườm đối thủ.

Vảy khô hay đóng sát với nhau và khi sờ lại có cảm giác nham nhám, ra đòn đá sẽ rát hơn so với những loại vảy khác.

Gà mà có chân vuông và vảy vuông đóng từ sát chậu và vẩy nổi lên thì mới tốt.

Gà có chân trong và vảy mỏng và láng thì đòn đá mới chính xác được.

Các đặc điểm về các loại giáp ở gà chọi

Độc giáp: có vảy to, kích thước lớn hơn các loại vảy khác. Nếu như độc giáp nằm ở vị trí phía ngay cựa thì đó là giống gà tốt còn nếu như vảy độc giáp nằm ở những vị khác thì đây là gà chọi bình thường.

Đại giáp: gồm có 3 vảy thường dính lại với nhau, nếu như vảy đại giáp nằm ở ngay hành thành thì được gọi là đại giáp ngoại còn nếu vảy đại giáp nằm ở trên hàng quách được gọi là vảy đại giáp nội. Hầu hết những con gà chọi có đại giáp thường rất dũng mãnh và có đòn đá dữ, đặc biệt là biệt tài đá cựa rất hay.

Vảy án thiên: là một vảy lớn nằm ngay sát gối, nếu vảy nằm cách gối một hàng vảy được gọi là vảy Án Thiên còn nếu cách gối 3 hàng vảy thì gọi là vảy Án Thiên 3. Gà chọi có loại vảy này thì có sức khỏe tốt và bền bỉ, ra đòn chính xác là gà tốt.

Vảy phủ địa: có hình dáng gốn vảy Án Thiên nhưng vảy nằm dưới cựa, sắt được 4 ngón chân. Gà chọi có vảy phủ địa rất tinh, né đòn tốt, được đánh giá là gà chọi tốt.

Vảy Vấn Cán: có hình dáng giống với hai vảy trên nhưng có vị trí khác so với vị trí của Án Thiên và Phủ Địa, nếu vảy Vấn Cán nằm trên cựa thì không tốt mà theo cách xem vảy gà chọi hay thì cách xem vảy gà đá cựa sắt thì vảy này nằm ở gần gối nếu như 4 vảy trở lên thì không nên chọn.

Lưu ý: cách xem vảy gà giúp được các sư kê chọn lựa được những con gà chọi tiềm năng, các sư kê cũng cần xem đòn lối khi đá của gà chọi mà quyết định nuôi. Ngoài ra, khi đã có được gà tốt thì cách nuôi cũng phải đúng và hiệu quả.

Kết Luận:

【#4】Sách Kinh Kê Mới Được Cập Nhật Nhiều Kiến Thức Bổ Ích

Kinh kê gà chọi là gì?

Kinh kê là một cuốn sách chép tay, khắc ghi những kinh nghiệm về hình thức nhìn gà chọi, xem tông tướng để suy đoán nhân tài của mỗi gà . các gì được biểu thị trong sách đều là đúc kết trong khoảng thực tiễn , cho nên bình chọn tương đối chính xác về kỹ năng vần đòn, đá chọi, tư chất của đá gà . khác lạ hơn nữa, cuốn sách này để lại thời gian tìm hiểu qua thực tại, người ta thấy rằng những điều tiên đoán mà kinh kê chỉ ra nhiều phần với độ đúng đắn trong khoảng 80-90%. Chính cho nên , những sư kê vẫn thường lấy tứ liệu từ cuốn sách này làm cho kim chỉ nam vững chãi trong giai đoạn chơi gà hoặc chọn tông, giống…

Về thời kì xây dựng thương hiệu của cuốn sổ này, hiện vẫn chưa sở hữu viện dẫn đúng đắn để khẳng định. Cũng với thể, cuốn sách này xây dựng thương hiệu vào thời Tây Sơn, bí quyết đây hàng trăm năm.

Về nội dung, kinh kê chỉ bày cực kì rõ ràng phương pháp xem hùng kê đại chiến dựa vào những đặc điểm như vảy, cựa, sắc lông, màu mắt, … Thậm chí, với những dị bạn dạng chiếm hữu hình vẽ minh họa rõ ràng, tạo điều kiện cho đọc giả dễ bề phân biệt, nhận mặt dễ chơi dễ nhìn hơn mang các nội dung khá tinh vi.

Nội dung kinh kê chọi gà

Kinh kê chiến kê được viết theo thơ lục bát – thể thơ chiếm hữu trong khoảng lâu nên cực kì dễ nhớ. Trong đó, sở hữu các đoạn hướng dẫn kĩ về cách thức chọn đá gà , phương pháp xem cựa gà , mẹo chú tâm, cho ăn uống để nuôi dưỡng chơi đá gà thành những con linh kê sở hữu tài năng ra đòn hiểm bất lương trong sới.

“Bởi mình chẳng biết phổ biến bề,

Chẳng thông sanh khắc, bất kỳ mạng chi.

Tại mình coi chẳng hay suy,

với thua rồi trách sách gì dở thay,

Xin cho hợp lý lẽ như vầy,

Bá chiến bá thắng phương pháp nay đã truyền.

Sách xem phải nghĩ cho tàng (tường),

Hữu trung hình ngoại rõ ràng chẳng sai.

Người nhân hậu xem giả mạo biết tài,

Dở hay gì cũng hình thức hình dung”

Công thức thuốc chơi đá gà đá của VIP Cam Kết tỉ lệ thắng 90% (thắng 9 trong 10 trận)

bằng hữu chọn 1 trong 3 gói công thức:

  • Sim Mega giá 1 triệu 300 (7/10 trận) tỉ lệ thắng 70%, liều sử dụng 20 con
  • Sim Winner giá một triệu 900 (8/10 trận) tỉ lệ thắng 80%, liều dùng 20 con
  • Sim Max giá 2 triệu 100 (9/10 trận) tỉ lệ thắng 90%, liều sử dụng 15 con
  • Anh xem hạn chế tậu hàng nhái nhãn hàng hãy liên hệ trực tiếp chúng tôi để giảm thiểu bị thiệt thòi.

    Kinh kê 1 quyển đặt ra,

    Muốn chơi gà chọi phải xem cho tường,

    Mỗi trang năng thấy nên tường

    thành thục quen thông rẻ cho ròng rã thế hệ xuê

    có chơi rồi biết mới mê

    Thua không nhũn chí, ăn về hoan hô.

    Liều công chẳng tiếc nuối lúa bồ ,

    mến thương triu trớn, báo cô chẳng màng.

    Chỉ qua kê tướng rõ ràng,

    tương đối nghe cho khỏi, sai lạc chẳng chấm dứt .

    Kiếm chơi đá gà những kẻ chơi ròng ,

    Biết chọi phổ quát thế lẹ làng đá đau,

    Đói con, non trống chẳng màu,

    Dưỡng nuôi tức tưởi đá đâu có bền.

    Mỏ như se sẻ thì nên,

    Đã xuôi lại vắn: cắn liền, đá lia.

    Mỏ phệ , mỏ quặp thì chê,

    lờ lững , lười biếng cắn: hay bê khó lòng.

    Mồng dâu, mồng chốc, mồng công,

    Rờ lạnh như chết, nhỏ tuổi hòng lẹ thay,

    Mồng trập, mồng trích nào hay,

    mướp đắng , mồng lỗ thiệt rày chẳng nên.

    Qua, trập, lỗ, lái không bền,

    Trích thường đi dưới, lỗ thì hay thua.

    Lỗ mũi rộng lại cho to ,

    Lưỡi nhỏ lại sở hữu bớt: người cho kê thần.

    tình cờ miệng lưỡi thúi cùng ,

    ấy là chiến kê xấu: cắn ròng, rã thây.

    Ô bông, mắt ếch đá hay,

    mang tàn nhan đá trúng rày anh danh.

    Mắt nhì sắc, lại khác hình,

    Thần kê nuôi lấy, để dành chớ trao.

    Mắt trắng lại đỏ lẽ bền đâu,

    Nuôi chi thứ ấy sốt ruột nhọc lòng.

    Đầu hột xoài, con mắt sâu,

    Lẹ làng cắn đá, mựa hầu cổ vai.

    Cổ tròn lại vắn ít gai,

    Dĩa dưới lẩn tránh, vỉa hay vét lòn.

    Đầu gốc tre, cổ rựa tong (tong teo)

    Yếu cộng lờ đờ , chẳng dùng chớ nên.

    Cổ dài nhưng hẹp đi trên

    Vai chằng đôi thế hệ vững bền cứng gai

    Ít khi chiếm hữu hùng kê đại chiến quý thay,

    gìn giữ của quý thiệt là chẳng sai.

    Cánh ốp sát, ngang cộng dài

    Nào hễ sẻ đuôi đá hoài như không.

    hai cánh giáng không đồng,

    Thiệt hay đau mắt chẳng dứt chớ cầu.

    Cánh mặt nhì mươi bảy lông,

    hai lăm cánh trái ít hòng thấp đâu.

    lớn nách, nở hậu chẳng mầu,

    Đòn thì mau giảm, đá lâu gục đầu.

    Xương tròn lườn thẳng mới mầu,

    Mình như bắp chuối , đuôi hầu vổng lên.

    Vạch đuôi xem cánh chớ quên,

    Lông đuôi lông tượng thế hệ nên chơi đá gà tài.

    gà chọi mã đá hay lại bền,

    Mã ớt, mình nhỏ , tre phì sát xuôi.

    phao câu bự , bầu dầu đôi,

    Ghim sau rít rịt, lông đuôi cho nhiều .

    Đá chẳng ti, tiếp bồi theo,

    Xám khô, ô ướt đấy điều chiến kê hay.

    Lườn tàu thật dễ nuôi thay,

    Lườn sâu, vế chặt nào người nào chẳng sử dụng.

    dẻo dai , chiến kê thiệt mình gân,

    Don don đá lẹ, chọi hung chẳng vừa.

    Đuôi cứng ngắt đứng giọt mưa,

    Ưa đá sỏ mé, lẹ thôi vô ngần.

    Gối rùn, bộ đứng ngang chàng,

    ấy chơi đá gà dễ cáp, coi bằng (mà) cao vai.

    Hàng vảy hậu xuống cho dài,

    lớn đều khỏi cựa đá hay đá bền

    Nát gối hay vấp ngã chẳng nên,

    Vảy độ ngang cựa chạy lên cho đầy.

    Nát độ thua dễ nào sai,

    Cựa đóng dưới thấp: đâm hay là thường.

    Chưn hèo, chưn rắn, chưn xanh,

    Chân chì, chân nghệ vảy rành lấn vô.

    Vảy dày coi thể như thô,

    Vảy mỏng tanh láng ướt, cẳng cho thật tròn.

    Chân vuông thì phải khai mương,

    Phải được gần giống mới thường đá hay.

    Kê thần vấn gối 1 nhị ,

    Ẳn độ tới chết chẳng cần lo chi.

    Vấn ba mẫu kế nhằm gì,

    quy trình sấp xuống, mới thì chẳng dứt .

    Vấn cán chọi gà ấy chẳng sử dụng ,

    Vấn ngang nơi cựa cũng đồng hơi khuyên.

    Dặm cựa trái đâm mắt liền,

    Vảy hậu mười tư khiến cho sao cũng bền.

    Chân lông vảy chạ tương đối khen,

    Ba hàng thẳng rẳng đều liền chẳng chê.

    Chân trơn tuột sanh sứa nhiều chủng loại bề,

    Mé, hầu, ngang, sỏ nào hầu dở đâu

    Vấn Khâu, Vấn Xéo cũng mầu,

    Vấn chậu, Phủ Địa lại hầu yêu đương.

    Liên Giáp Nội thiệt hảo toàn,

    Hơn Liên Giáp Ngoại rõ ràng chẳng sai.

    Thân dưới cựa vảy nứt hai,

    Bể biên kỵ kẽm xổ hay thường thường.

    Đá độ thua chắc trăm tuyến đường ,

    Chớ nuôi gà chọi đó lọ lường về sau.

    Tam Tài thiệt nhỏ dại mới mầu,

    Dặm liền ba loại đá đau vô cùng .

    Nguyệt Luân cong cựa đâm lưng,

    Vảy sáo giữa cẳng, lại càng thấp xinh.

    Vấn Khâu ba vảy tam tinh,

    Đá đòn chúng xáng, thiệt tình dễ thương .

    tứ vấn nứt giữa Khai Vương

    Vấn ba, khai giữa cho tường chữ công

    chọi gà hay nuôi lấy mà sử dụng

    Vấn cựa, nứt tư đá hòng chết thay (vảy Cúc Bồn)

    Ba vảy dụm trên gối hay (Lạc Mai)

    Đá hầu tức sặc, ít người nào dám kình

    Vấn Xéo ngang cựa chớ khinh,

    Thủy ba là hiện tương đối dành để chơi,

    Cúc Bồn gần chậu vảy rời,

    bốn , năm dụm lại thiệt thời rất hay .

    Yến Chậu vảy lót bí mật thay,

    Ẩn Tinh cũng đó , đá đòn chúng la

    ác nghiệt Tinh nhỏ bé mà là

    Hình hột tấm mẳn, cũng là quý thay.

    Chân đen, chân trắng cũng hay,

    Kêu là Nhựt-Nguyệt đá tài đáng mê.

    Ngón giữa mười bảy vảy chê,

    Đá êm lại bở, phải dè chớ nuôi.

    Mười chín sắp lên hẳn hòi,

    Lại thêm thắt ngón, vô hồi đá đau.

    Dậm nội ngón trong cũng màu

    Dậm ngoại chẳng thấy hại đâu bao giờ

    nhị vảy dính áp ước mơ ,

    đấy là Liên Giáp ai ngờ dở chi.

    Liên Giáp nứt giữa vảy thì,

    Nhựt Thần đấy chút mấy khi thua tiền.

    Nhơn Tự vảy chẻ cũng hên

    Nứt ngoài đầu ngón giữa luôn chớ lòa

    nguyên tắc ba dặm ngoại ngón bìa,

    Đá bị vem mắt lúc thì đui chăng.

    Nhơn Tự ngón thới nên cầm,

    Đá thời nó lại hay đâm, sỏ cần.

    Ngón dài vảy ngắn mới sử dụng ,

    Ngón trong mười tư, ngoài chừng mười ba,

    Thới năm, sáu vảy chẳng xong

    Chân tiền là vảy ngón chong lên bàn.

    Vảy cho được mập , ngay hàng,

    Năng coi đều đặn, no tròn hơi khen.

    đấy xem cho thành thạo cho quen,

    Kẻo mà uổng lúa, thua tiền tốn công.

    Bồng thời túc mái, kêu con

    sở hữu gan chịu đòn đá thắng đến luôn

    Chân vấn sáo cũng chẳng hèn

    Chân cò, cổ diệc ai khen đâu là.

    Nhứt thời chụm ngón bỏ ra,

    nhì thời lắc mặt, thứ ba né lồng.

    đó gà sỏ mé hay hung,

    khá lo giữ giàng để dành lớp con.

    “Nhơn Tự Nội ăn vảy Son,

    Son ăn vảy Mực, Mực còn ăn Dương.

    Dương ăn Nhựt Tự lẽ thường,

    Nhựt ăn Công Tự cho tường chẳng sai.

    Công ăn Bán Nguyệt gà chọi tài,

    Bán Nguyệt ngoài móng ăn hoài Kim Kê.

    Kim Kê khẩu tự chớ lúc ,

    Khẩu Tự lại chẳng thua chi Cúc Bồn.”

    Chỉ cho những sắc rõ ràng,

    Đặng nhưng dè dặt kẻo nhưng mà chẳng an.

    Ô ăn tía, tía thua tiến thưởng,

    vàng thì thua xám, tía ăn ớt ròng rã .

    Xám ăn ớt, nhạn thua bông,

    gà đủ ngũ sắc mựa hòng sợ người nào.

    Tía, ô gắt, nhạn gáy dài,

    Ớt, xám gáy thúc, lau thì gáy rao.

    chọi gà bèo, chiến kê chuối gáy khao,

    gà chọi lai gáy quởn, chú ri gáy nhằn.

    Giọng mã là thiệt tốt hơn

    Thứ nhì ba dội, gáy trơn tuột chọi gà thường.

    Mỗi canh gáy trước yêu đương,

    Nội xóm ngang chạn quả tường ai qua.

    đá gà ô chân trắng mỏ ngà,

    Lau đuôi, giáng cánh quả là linh kê.

    Dở hay cho biết khen chê,

    Kê thần thiệt với đa dạng bề lạ thay.

    sở hữu con ngủ lại nằm dài,

    Xuôi đầu, xòe cánh chân ngay dị kỳ,

    Thả ra túc túc chẳng đi,

    Nội vườn chẳng có gà chọi chi dám vào,

    Đạp mái thì chẳng cắn đầu,

    có con lại rượt cây cao thế hệ kề.

    Cáp gà phải lựa mọi bề,

    ví như nhưng sút chạn ăn về khó nuôi,

    Sắc so, vảy luận ngành ngọn ,

    Thế thần hơi sánh, thế chơi phải tường,

    1 phân vảy, nhì phân xương,

    Đá chầu, chọi gió cáp thường thấy dai,

    Đá ngang, đá sỏ khá vật nài ,

    Cao hơn chọi gà chúng, đá rày mới nguyên.

    gà tơ chớ chơi đá gà niên,

    đá gà vườn chớ đá gà trên khiến cho gì,

    Chân suôn sẻ đụng cựa ít gì,

    Dầu cho vắng mấy thế hệ khi hiểm nghèo.

    Hãy còn thời vận dõi theo,

    Dẫu cho hay mấy số nghèo chẳng qua.

    đành rằng những thứ rõ thông

    Dựng chan ăn độ cho rành nghề thay

    Trống chấm niên lẹ lại hay

    Dường như xương cẳng, xương giao đã đành

    Ẳn độ rồi đã thừa danh

    Dưỡng nuôi cho mạnh để dành nối theo

    Xám tro, vàng trụ, mái mèo

    Mái râu, mái đất, mái hèo, mái xanh.

    Tướng kê chọn lựa đã rành,

    Cho ăn đầy đủ no cành mới xuôi.

    Chơi hùng kê đại chiến giống nòi , chạ chớ nuôi,

    Phòng đá gà láng giềng lui tới chẳng mầu.

    Chuồng trại sạch ráo cao,

    1 trống, một mái không cho chạ vào.

    Trong ngoài sạch sẽ là đầu,

    Bữa giam giữ , bữa thả chớ hầu với quên.

    Mười ngày bèn cột ổ lên,

    Cao chừng 1 thước, lót rơm cho đều.

    Ẳn tối thư hùng no đều,

    Lựa gút lúa sạch, trứng nhiều con sung.

    Chớ rượt đuổi chạy khiến cho lung,

    kinh hoàng chơi đá gà hoảng, đẻ không chiếm hữu chừng.

    gà chọi đẻ phải lấy bớt lần,

    Để phổ biến sợ bể hoặc xong xuôi đi chăng.

    Trứng nhọn chơi đá gà mái đã tường,

    Trứng tròn chiến kê trống nào hòng sở hữu sai.

    Trứng nặng chiến kê lớn xương thay,

    Trứng nhỏ dại hùng kê đại chiến đ** ấp thời thất công.

    Trước đèn đốt rọi xem coi,

    Quầng thâm chẳng thấy thiệt không mang cồ.

    Trứng vỏ mỏng chớ bỏ vô,

    Là bữa gà chọi đói, chó chồn rượt vây.

    hùng kê đại chiến già đẻ ít trứng thay,

    Xế chiều lên ổ: con hay bao giờ.

    Trứng bé dại , chẳng đều đá gà so,

    Lông hay giòn bể, chớ cho ấp nhiều ,

    Ổ lót sạch , cột chắc, treo

    Để nơi khuất tịch, dễ trèo dễ lên

    Chớ để đá gà khác sắp bên,

    khiến cho nhúc nhắc chẳng yên ổn mái nằm.

    Chớ để mưa tạt, dửa bầm,

    Nắng đứng dọi thấu, trứng khiến cho hầm hư.

    Mỗi trưa cho mái xuống ăn

    Thả xuống đi rảo, kẻo nằm mạt sanh

    Đừng cho hùng kê đại chiến trống rượt dành,

    Phơi lông, dúi bụi rồi lên ổ liền.

    Lìa trứng lâu cũng chẳng nên,

    ví như nhưng giá lạnh , trứng bèn hư đi.

    phương pháp chừng một khắc vị chi,

    bởi vì gà chọi lên ổ phải coi kỹ càng,

    ví như lấm bùn phải rửa lau,

    Kẻo để nó ung, ấp càng thất công.

    Ấp năm bữa xem trứng trong

    như chơi cồ phải toan hòng lấy đi.

    Xám đen là trứng với cồ,

    Mười lăm ngày nhúng lõi thời rung rinh

    Còn trứng xục xịch là hư,

    Chùi trứng ráo rẽ bỏ vô ổ liền,

    Ấp đặng nhị mươi mốt ngày

    Trứng thời khẻ mỏ, nở rày cũng mau.

    Trứng sát cứ gỡ chẳng sao,

    Đợi chiến kê vững chắc , xuống vào ban trưa.

    Lấy tay cạy mỏ chớ chừa,

    Khỏi rút mỏ trấu, ngăn ngừa về sau.

    Tấm mẳn ăn lúc ban sơ ,

    Nước sôi để nguội làu làu chớ quên.

    Cho ăn thiếu thốn chẳng bền,

    Đói con, non trống nào bền nào dai!

    Bắt đá gà lẻ mẹ không hay,

    ngẫu nhiên để vậy lâu ngày một sung.

    nếu trời ướt át chớ quên,

    Cho ăn khô ráo: khỏi hen, khỏi sò.

    hùng kê đại chiến sáu tháng đổ lông giò,

    Biết gáy một tháng phải lo tích mồng,

    Nửa tháng xổ nhấp một lần,

    Đặng quen đòn đá đứng lâu đá bền.

    một nhang trở lại làm cho ngăn,

    ban sơ xổ ít, lần lần ngày càng tăng .

    chiến kê tơ chớ xổ gà niên,

    đá gà vừa chạn, sợ hư xương mềm.

    Vỉa, khấu chớ để đá luôn,

    Can ra xổ lại, phòng chiến kê hư chăng.

    1 chặp cho uống nước sơ,

    Thổi hơi, tấn công cán để chờ chi lâu.

    Xổ rồi phải nhớ vỗ hen,

    Vỏ trầu sở hữu muối cho ăn khỏi sò.

    Mài ngải chiếm hữu rượu xức vô,

    Cánh hông đầu cổ đặng cho tan bầm.

    Cẳng chiến kê cũng phải đem dầm,

    Vừa tới đầu gối kẻo hòng hư chân.

    Sau mười phút nhớ phơi lông,

    Tắm nắng vừa phải, chớ không nướng gà chọi .

    chạm mặt mái chớ để theo rà,

    Tối cho ăn uống theo đà mỗi đêm,

    Cây lót để ngủ chớ quên,

    tránh ko sở hữu gió và khô chỗ nằm.

    Thục địa, cam thảo, da tây,

    Nấu cho uống dặm: đá rày bền lâu.

    Chớ cho đạp mái lần nào,

    Kẻo đứng không vững, khuya thì run chân.

    Cứt khô, ngủ chẳng giấu đầu,

    Là hùng kê đại chiến sung mạnh chớ khiếp sợ gì.

    ví như hùng kê đại chiến đau mắt phải lo,

    Lá khế non, muối cộng nhai phun vào.

    Hoặc con mắt sở hữu hạt cườm,

    Ốc bươu đốt, xức thế mà rất hấp dẫn .

    hùng kê đại chiến cước chậu thế hệ khó cho,

    Để dầm nước lã thì giò bớt sưng.

    Hoặc lấy mắm nêm bó chưn,

    Lâu ngày mới hết, nhớ ngưng xổ gà chọi .

    Bị trĩ: ỉa rặn không ra,

    Lá mồng tơi đỏ ăn nhưng mà rất hay .

    Dầu đu đủ uống hàng ngày,

    Thì trơn tuột loại ruột, bịnh rày bớt đi.

    Ẳn không tiêu chẳng hại gì,

    Cho ăn chút muối, uống thì nước hâm.

    chiến kê bận rộn gió (dùng) rau húng đâm,

    Lấy nhưng cho uống, dầu phong xức mình.

    kỹ lưỡng những việc đã bày,

    nếu mà làm cho đúng, ít khi thua người,

    do chỉ rõ lời cao ngoan,

    Bắt vần đủ kiểu, miễn là dễ tường,

    Lời thô, tiếng tục phổ biến ,

    Xin người kinh sử văn học chớ cười.

    vẩy gà – kinh kê

    Ngũ hành sanh khắc

    Tương sanh

    Kim sanh thủy

    Thủy sanh Mộc

    Mộc sanh Hỏa

    Hỏa sanh Thổ

    Thổ sanh Kim

    Tương khắc

    Kim khắc Mộc

    Mộc khắc Thổ

    Thổ khắc Thủy

    Thủy khắc Hỏa

    Hỏa khắc Kim

    lưu ý : giả dụ mình sanh nó thì mình hơn nó. trái lại , nó bị mình khắc thì nó lại thua mình.

    Tính tháng âm lịch

    Tháng giêng thuộc Dần

    Tháng hai thuộc Mẹo

    Tháng ba thuộc Thìn

    Tháng bốn thuộc Tỵ

    Tháng năm thuộc Ngọ

    Tháng sáu thuộc Mùi

    Tháng bảy thuộc Thân

    Tháng tám thuộc Dậu

    Tháng chín thuộc Tuất

    Tháng mười thuộc Hợi

    Tháng mười 1 thuộc Tý

    Tháng chạp thuộc Sửu

    Quý

    Tháng một , nhì, 3 thuộc mùa Xuân hành Mộc

    Tháng 4, 5, 6 thuộc mùa Hạ hành Hỏa

    Tháng 7, 8, 9 thuộc mùa Thu hành Kim

    Tháng 10, 11, 12 thuộc mùa Đông hành Thủy

    chú ý : bắt đầu từ ngày 13 đến 30 trong tháng cuối của mỗi quý thuộc về bốn Quý, hành Thổ.

    Mùa Xuân

    Mộc vượng Xám

    Hỏa tướng Điều

    Kim ưu Nhạn

    Thổ tù quà

    Thủy tử Ô

    Mùa Hạ

    Hỏa vượng Điều

    Thổ tướng vàng

    Mộc ưu Xám

    Thủy tội nhân Ô

    Kim tử Nhạn

    Mùa Thu

    Kim vượng Nhạn

    Thủy tướng Ô

    Thổ ưu vàng

    Hỏa tù túng Điều

    Mộc tử Xám

    Mùa Đông

    Thủy vượng Ô

    Mộc tướng Xám

    Kim ưu Nhạn

    Thổ phạm nhân vàng

    Hỏa tử Điều

    Xuân: Mộc vượng, Hỏa tướng, Kim ưu, Thổ tù hãm , Thủy tử.

    Vượng, ưu, tội phạm , tử sở hữu tánh cơ chế không giống nhau. Vượng và tướng đều thạnh mà vượng thì có phần hơn (vì chánh mùa). Ưu, tù nhân , tử đều suy nhưng mà ưu còn khá hơn tù đọng , tử (chữ tử: chết là suy nhất).

    Mộc: Xám chánh mùa thạnh hơn Điều (Tía): Hỏa vì Mộc sanh Hỏa, ví như Xám mã và cánh xám mà có lộn mã đỏ cũng tốt do đỏ thuộc Hỏa, nhị sắc đều thạnh cả. Còn Điều mã đỏ, cánh đen, sắc đen thuộc Thủy: suy. Điều chiếm hữu sắc thạnh lẫn sắc suy.

    tương tự, Xám đá sở hữu Điều, Xám sở hữu phần lấn về sắc là được 1 phần hơn. ví như vây vi tốt hơn thì nhất quyết Xám sẽ thắng. Thế là Xám hơn Điều ấy là so sắc thạnh có nhau.

    Kim ưu Nhạn

    Thổ tù đọng vàng

    Thủy tử Ô

    Trong ba sắc trên Ô là sắc suy nhất, giả dụ đá vàng có Ô thì sắc vàng sẽ tương đối hơn Ô. Hơn nữa Thổ khắc Thủy thì vàng sẽ thắng Ô. đấy là nhắc về mùa, còn lấy nhật thần mà suy thì cũng thêm phần thắng theo phương qui định vận dụng như sau:

    【#5】Sách Gà Chép Tay (Sưu Tầm)

    **************************************************************

    **************************************************************

    Đây là một cuốn sách gà chép tay mà ban biên tập diễn đàn sưu tầm được. Nội dung bao gồm Kê kinh và một số phần khác bao gồm Ngũ Hành luận, Kê Kinh luận, Cách nuôi gà chọi và bộ sưu tập hình vẽ về vảy gà. Trong dân gian hẳn có nhiều sách gà như vậy với nội dung ít nhiều khác biệt bởi mỗi người đều có thể thêm thắt, chỉnh sửa tùy vào kinh nghiệm và hiểu biết của mình. Những sách như vầy trước đây là dạng bí truyền bởi đâu ai dại gì mà đưa cho người khác đọc để “đá” ngược lại mình!

    Về nguồn gốc, bên trong có ghi ” sao y theo sách đá gà của một ông chức sắc đạo Cao Đài ở tòa thánh Tân An, ngày 15-2-1960 “, tuy nhiên vì nội dung được chép trên cuốn vở học sinh sản xuất năm 1993 nên chúng tôi đoán nó không phải bản sao lần đầu, mà là bản sao của bản sao, tức sao chép lẫn nhau, người này sao chép của người kia. Chỉ biết một bản đến tay của Thắng (carom), do ba của cô bạn gái trước khi xuất cảnh gửi tặng (có lẽ ổng muốn hại đời anh bạn carom nhà ta, lý do tại sao thì không rõ, chỉ biết đấy là khởi đầu của một cuộc đời sa ngã).

    Chúng tôi chọn đăng một phần nội dung ngoại trừ bài Kê kinh diễn nghĩa và bộ sưu tập về vảy gà (vốn đã phổ biến). Các bài “Kê kinh luận” và “Cách nuôi gà chọi” có tham khảo và bổ sung từ một nguồn sưu tập khác là sách ” Thú đá gà : kê kinh, kê kinh diễn nghĩa, cách nuôi và xem gà đá ” của Huỳnh Ngọc Trảng, nhà xuất bản T.P. Hồ Chí Minh – 1990. Theo chúng tôi, tác giả Huỳnh Ngọc Trảng cũng sưu tầm được một bản sách gà chép tay lưu truyền trong dân gian, nhưng riêng phần “Kê kinh diễn nghĩa”, ông lấy từ báo Nông cổ mín đàm. Bởi vậy sách mới đăng đúng tên “Kê kinh diễn nghĩa” thay vì “Kê kinh” như trong các bản chép tay; cách gọi ngắn gọn tuy phổ biến nhưng dễ nhầm lẫn với bản gốc bằng tiếng Hán-Nôm của Phạm Công. Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng đã nhầm lẫn khi gọi phần “phụ lục” của “Kê kinh diễn nghĩa” là… “Kê kinh”! Để tiện phân biệt, chúng tôi xin đặt lại là “Kê kinh luận”.

    Bản Kê kinh trong sách gà chép tay có nhiều sai biệt so với bản gốc trên báo, nhất là phần về ngũ hành đã được sửa đổi cho đơn giản và dễ hiểu hơn (tuy nhiên, “vận tam lâm” bị bỏ qua khiến cho việc tính toán nhật thần sinh khắc không khỏi thiếu sót). Các bạn có thể tham khảo phần dưới cùng.

    “Bởi mình chẳng biết nhiều bề,

    Chẳng thông sanh khắc, bất kỳ mạng chi.

    Tại mình coi chẳng hay suy,

    Có thua rồi trách sách gì dở thay,

    Xin cho hợp cách như vầy,

    Bá chiến bá thắng cách nay đã truyền.

    Sách xem phải nghĩ cho tàng (tường),

    Hữu trung hình ngoại rõ ràng chẳng sai.

    Người hiền xem mạo biết tài,

    Dở hay gì cũng bề ngoài hình dung”

    Kinh kê một quyển đặt ra,Nhứt thời chụm ngón bỏ ra,

    Muốn chơi gà chọi phải xem cho tường,

    Mỗi trang năng thấy nên tường

    Thạo quen thông tốt cho ròng mới xuê

    Có chơi rồi biết mới mê

    Thua không nhũn chí, ăn về tung hô.

    Liều công chẳng tiếc lúa bồ,

    Nâng niu triu trớn, báo cô chẳng màng.

    Chỉ qua kê tướng rõ ràng,

    Khá nghe cho khỏi, sai lầm chẳng xong.

    Kiếm gà những kẻ chơi ròng,

    Biết chọi nhiều thế lẹ làng đá đau,

    Đói con, non trống chẳng màu,

    Dưỡng nuôi tức tưởi đá đâu có bền.

    Mỏ như se sẻ thì nên,

    Đã xuôi lại vắn: cắn liền, đá lia.

    Mỏ to, mỏ quặp thì chê,

    Chậm, làm biếng cắn: hay bê khó lòng.

    Mồng dâu, mồng chốc, mồng công,

    Rờ lạnh như chết, nhỏ hòng lẹ thay,

    Mồng trập, mồng trích nào hay,

    Khổ qua, mồng lỗ thiệt rày chẳng nên.

    Qua, trập, lỗ, lái không bền,

    Trích thường đi dưới, lỗ thì hay thua.

    Lỗ mũi rộng lại cho to,

    Lưỡi nhỏ lại có bớt: người cho kê thần.

    Khi không miệng lưỡi thúi cùng,

    Ấy là gà xấu: cắn ròng, rã thây.

    Ô bông, mắt ếch đá hay,

    Có tàn nhan đá trúng rày anh danh.

    Mắt hai sắc, lại khác hình,

    Thần kê nuôi lấy, để dành chớ trao.

    Mắt trắng lại đỏ lẽ bền đâu,

    Nuôi chi thứ ấy lo âu nhọc lòng.

    Đầu hột xoài, con mắt sâu,

    Lẹ làng cắn đá, mựa hầu cổ vai.

    Cổ tròn lại vắn ít gai,

    Dĩa dưới trốn tránh, vỉa hay vét lòn.

    Đầu gốc tre, cổ rựa tong (tong teo)

    Yếu cùng chậm chạp, chẳng dùng chớ nên.

    Cổ dài mà hẹp đi trên

    Vai chằng đôi mới vững bền cứng gai

    Ít khi có gà quý thay,

    Giữ gìn của quý thiệt là chẳng sai.

    Cánh ốp sát, ngang cùng dài

    Nào hễ sẻ đuôi đá hoài như không.

    Hai cánh giáng không đồng,

    Thiệt hay đau mắt chẳng xong chớ cầu.

    Cánh mặt hai mươi bảy lông,

    Hai lăm cánh trái ít hòng tốt đâu.

    To nách, nở hậu chẳng mầu,

    Đòn thì mau giảm, đá lâu gục đầu.

    Xương tròn lườn thẳng mới mầu,

    Mình như bắp chuối, đuôi hầu vổng lên.

    Vạch đuôi xem cánh chớ quên,

    Lông đuôi lông tượng mới nên gà tài.

    Gà mã đá hay lại bền,

    Mã ớt, mình nhỏ, tre phì sát xuôi.

    Phao câu lớn, bầu dầu đôi,

    Ghim sau rít rịt, lông đuôi cho nhiều.

    Đá chẳng ti, tiếp bồi theo,

    Xám khô, ô ướt ấy điều gà hay.

    Lườn tàu thật dễ nuôi thay,

    Lườn sâu, vế chặt nào ai chẳng dùng.

    Dẻo dai, gà thiệt mình gân,

    Don don đá lẹ, chọi hung chẳng vừa.

    Đuôi cứng ngắt đứng giọt mưa,

    Ưa đá sỏ mé, lẹ thôi vô ngần.

    Gối rùn, bộ đứng ngang chàng,

    Ấy gà dễ cáp, coi bằng (mà) cao vai.

    Hàng vảy hậu xuống cho dài,

    Lớn đều khỏi cựa đá hay đá bền

    Nát gối hay té chẳng nên,

    Vảy độ ngang cựa chạy lên cho đầy.

    Nát độ thua dễ nào sai,

    Cựa đóng dưới thấp: đâm hay là thường.

    Chưn hèo, chưn rắn, chưn xanh,

    Chân chì, chân nghệ vảy rành lấn vô.

    Vảy dày coi thể như thô,

    Vảy mỏng láng ướt, cẳng cho thật tròn.

    Chân vuông thì phải khai mương,

    Phải được như vậy mới thường đá hay.

    Kê thần vấn gối một hai,

    Ăn độ tới chết chẳng cần lo chi.

    Vấn ba cái kế nhằm gì,

    Thứ tự sấp xuống, mới thì chẳng xong.

    Vấn cán gà ấy chẳng dùng,

    Vấn ngang nơi cựa cũng đồng khá khuyên.

    Dặm cựa trái đâm mắt liền,

    Vảy hậu mười bốn làm sao cũng bền.

    Chân lông vảy chạ khá khen,

    Ba hàng thẳng rẳng đều liền chẳng chê.

    Chân trơn sanh sứa nhiều bề,

    Mé, hầu, ngang, sỏ nào hầu dở đâu

    Vấn Khâu, Vấn Xéo cũng mầu,

    Vấn chậu, Phủ Địa lại hầu yêu đương.

    Liên Giáp Nội thiệt hảo toàn,

    Hơn Liên Giáp Ngoại rõ ràng chẳng sai.

    Thân dưới cựa vảy nứt hai,

    Bể biên kỵ kẽm xổ hay thường thường.

    Đá độ thua chắc trăm đường,

    Chớ nuôi gà ấy lọ lường về sau.

    Tam Tài thiệt nhỏ mới mầu,

    Dặm liền ba cái đá đau vô cùng.

    Nguyệt Luân cong cựa đâm lưng,

    Vảy sáo giữa cẳng, lại càng tốt xinh.

    Vấn Khâu ba vảy tam tinh,

    Đá đòn chúng xáng, thiệt tình dễ thương.

    Bốn vấn nứt giữa Khai Vương

    Vấn ba, khai giữa cho tường chữ công

    Gà hay nuôi lấy mà dùng

    Vấn cựa, nứt bốn đá hòng chết thay (vảy Cúc Bồn)

    Ba vảy dụm trên gối hay (Lạc Mai)

    Đá hầu tức sặc, ít ai dám kình

    Vấn Xéo ngang cựa chớ khinh,

    Thủy ba là hiện khá dành để chơi,

    Cúc Bồn gần chậu vảy rời,

    Bốn, năm dụm lại thiệt thời rất hay.

    Yến Chậu vảy lót kín thay,

    Ẩn Tinh cũng đó, đá đòn chúng la

    Ác Tinh nhỏ xíu nhưng là

    Hình hột tấm mẳn, cũng là quý thay.

    Chân đen, chân trắng cũng hay,

    Kêu là Nhựt-Nguyệt đá tài đáng mê.

    Ngón giữa mười bảy vảy chê,

    Đá êm lại bở, phải dè chớ nuôi.

    Mười chín sắp lên hẳn hòi,

    Lại thêm thắt ngón, vô hồi đá đau.

    Dậm nội ngón trong cũng màu

    Dậm ngoại chẳng thấy hại đâu bao giờ

    Hai vảy dính áp ước mơ,

    Ấy là Liên Giáp nào ngờ dở chi.

    Liên Giáp nứt giữa vảy thì,

    Nhựt Thần đó chút mấy khi thua tiền.

    Nhơn Tự vảy chẻ cũng hên

    Nứt ngoài đầu ngón giữa luôn chớ lòa

    Cách ba dặm ngoại ngón bìa,

    Đá bị vem mắt khi thì đui chăng.

    Nhơn Tự ngón thới nên cầm,

    Đá thời nó lại hay đâm, sỏ cần.

    Ngón dài vảy ngắn mới dùng,

    Ngón trong mười bốn, ngoài chừng mười ba,

    Thới năm, sáu vảy chẳng xong

    Chân tiền là vảy ngón chong lên bàn.

    Vảy cho được lớn, ngay hàng,

    Năng coi đều đặn, no tròn khá khen.

    Ấy xem cho thạo cho quen,

    Kẻo mà uổng lúa, thua tiền tốn công.

    Bồng thời túc mái, kêu con

    Có gan chịu đòn đá thắng tới luôn

    Chân vấn sáo cũng chẳng hèn

    Chân cò, cổ diệc ai khen đâu là.

    Hai thời lắc mặt, thứ ba né lồng.

    Ấy gà sỏ mé hay hung,

    Khá lo gìn giữ để dành lớp con.

    “Nhơn Tự Nội ăn vảy Son,

    Son ăn vảy Mực, Mực còn ăn Dương.

    Dương ăn Nhựt Tự lẽ thường,

    Nhựt ăn Công Tự cho tường chẳng sai.

    Công ăn Bán Nguyệt gà tài,

    Bán Nguyệt ngoài móng ăn hoài Kim Kê.

    Kim Kê khẩu tự chớ khi,

    Khẩu Tự lại chẳng thua chi Cúc Bồn.”

    Chỉ cho các sắc rõ ràng,Gà ô chân trắng mỏ ngà,

    Đặng mà dè dặt kẻo mà chẳng an.

    Ô ăn tía, tía thua vàng,

    Vàng thì thua xám, tía ăn ớt ròng.

    Xám ăn ớt, nhạn thua bông,

    Gà đủ ngũ sắc mựa hòng sợ ai.

    Tía, ô gắt, nhạn gáy dài,

    Ớt, xám gáy thúc, lau thì gáy rao.

    Gà bèo, gà chuối gáy khao,

    Gà lai gáy quởn, chú ri gáy nhằn.

    Giọng mã là thiệt tốt hơn

    Thứ nhì ba dội, gáy trơn gà thường.

    Mỗi canh gáy trước yêu đương,

    Nội xóm ngang chạn quả tường ai qua.

    Lau đuôi, giáng cánh quả là linh kê.

    Dở hay cho biết khen chê,

    Kê thần thiệt có nhiều bề lạ thay.

    Có con ngủ lại nằm dài,

    Xuôi đầu, xòe cánh chân ngay dị kỳ,

    Thả ra túc túc chẳng đi,

    Nội vườn chẳng có gà chi dám vào,

    Đạp mái thì chẳng cắn đầu,

    Có con lại rượt cây cao mới kề.

    Cáp gà phải lựa mọi bề,

    Nếu mà sút chạn ăn về khó nuôi,

    Sắc so, vảy luận đầu đuôi,

    Thế thần khá sánh, thế chơi phải tường,

    Một phân vảy, hai phân xương,

    Đá chầu, chọi gió cáp thường thấy dai,

    Đá ngang, đá sỏ khá nài,

    Cao hơn gà chúng, đá rày mới nguyên.

    Gà tơ chớ đá gà niên,

    Gà vườn chớ đá gà trên làm gì,

    Chân trơn đụng cựa ít gì,

    Dầu cho vắng mấy mới khi hiểm nghèo.

    Hãy còn thời vận dõi theo,

    Dẫu cho hay mấy số nghèo chẳng qua.

    Đành rằng các thứ rõ thông

    Dựng chan ăn độ cho rành nghề thay

    Trống chấm niên lẹ lại hay

    Hình như xương cẳng, xương giao đã đành

    Ăn độ rồi đã thừa danh

    Dưỡng nuôi cho mạnh để dành nối theo

    Xám tro, vàng trụ, mái mèo

    Mái râu, mái đất, mái hèo, mái xanh.

    Tướng kê chọn lựa đã rành,

    Cho ăn đầy đủ no cành mới xuôi.

    Chơi gà nòi, chạ chớ nuôi,

    Phòng gà hàng xóm tới lui chẳng mầu.

    Chuồng trại sạch sẽ ráo cao,

    Một trống, một mái không cho chạ vào.

    Trong ngoài sạch sẽ là đầu,

    Bữa nhốt, bữa thả chớ hầu có quên.

    Mười ngày bèn cột ổ lên,

    Cao chừng một thước, lót rơm cho đều.

    Ăn tối trống mái no đều,

    Lựa gút lúa sạch, trứng nhiều con sung.

    Chớ rượt đuổi chạy làm lung,

    Thất kinh gà hoảng, đẻ không có chừng.

    Gà đẻ phải lấy bớt lần,

    Để nhiều sợ bể hoặc ngừng đi chăng.

    Trứng nhọn gà mái đã tường,

    Trứng tròn gà trống nào hòng có sai.

    Trứng nặng gà lớn xương thay,

    Trứng nhỏ gà đẹt ấp thời thất công.

    Trước đèn đốt rọi xem coi,

    Quầng thâm chẳng thấy thiệt không có cồ.

    Trứng vỏ mỏng chớ bỏ vô,

    Là bữa gà đói, chó chồn rượt vây.

    Gà già đẻ ít trứng thay,

    Xế chiều lên ổ: con hay bao giờ.

    Trứng nhỏ, chẳng đều gà so,

    Lông hay giòn bể, chớ cho ấp nhiều,

    Ổ lót sạch, cột chắc, treo

    Để nơi khuất tịch, dễ trèo dễ lên

    Chớ để gà khác gần bên,

    Làm cho động đậy chẳng yên mái nằm.

    Chớ để mưa tạt, dửa bầm,

    Nắng đứng dọi thấu, trứng làm hầm hư.

    Mỗi trưa cho mái xuống ăn

    Thả xuống đi rảo, kẻo nằm mạt sanh

    Đừng cho gà trống rượt dành,

    Phơi lông, dúi bụi rồi lên ổ liền.

    Lìa trứng lâu cũng chẳng nên,

    Nếu mà lạnh ngắt, trứng bèn hư đi.

    Cách chừng một khắc vị chi,

    Vì gà lên ổ phải coi kỹ càng,

    Nếu lấm bùn phải rửa lau,

    Kẻo để nó ung, ấp càng thất công.

    Ấp năm bữa xem trứng trong

    Như không cồ phải toan hòng lấy đi.

    Xám đen là trứng có cồ,

    Mười lăm ngày nhúng lõi thời rung rinh

    Còn trứng xục xịch là hư,

    Chùi trứng ráo rẽ bỏ vô ổ liền,

    Ấp đặng hai mươi mốt ngày

    Trứng thời khẻ mỏ, nở rày cũng mau.

    Trứng sát cứ gỡ chẳng sao,

    Đợi gà cứng cáp, xuống vào ban trưa.

    Lấy tay cạy mỏ chớ chừa,

    Khỏi rút mỏ trấu, ngăn ngừa về sau.

    Tấm mẳn ăn lúc ban đầu,

    Nước sôi để nguội làu làu chớ quên.

    Cho ăn thiếu thốn chẳng bền,

    Đói con, non trống nào bền nào dai!

    Bắt gà lẻ mẹ không hay,

    Tự nhiên để vậy lâu ngày càng sung.

    Nếu trời ướt át chớ quên,

    Cho ăn khô ráo: khỏi hen, khỏi sò.

    Gà sáu tháng đổ lông giò,

    Biết gáy một tháng phải lo tích mồng,

    Nửa tháng xổ nhấp một lần,

    Đặng quen đòn đá đứng lâu đá bền.

    Một nhang trở lại làm ngăn,

    Ban đầu xổ ít, lần lần tăng thêm.

    Gà tơ chớ xổ gà niên,

    Chọi gà vừa chạn, sợ hư xương mềm.

    Vỉa, khấu chớ để đá luôn,

    Can ra xổ lại, phòng gà hư chăng.

    Một chặp cho uống nước sơ,

    Thổi hơi, đánh cán để chờ chi lâu.

    Xổ rồi phải nhớ vỗ hen,

    Vỏ trầu với muối cho ăn khỏi sò.

    Mài ngải với rượu xức vô,

    Cánh hông đầu cổ đặng cho tan bầm.

    Cẳng gà cũng phải đem dầm,

    Vừa tới đầu gối kẻo hòng hư chân.

    Sau mười phút nhớ phơi lông,

    Tắm nắng vừa phải, chớ không nướng gà.

    Gặp mái chớ để theo rà,

    Tối cho ăn uống theo đà mỗi đêm,

    Cây lót để ngủ chớ quên,

    Tránh không có gió và khô chỗ nằm.

    Thục địa, cam thảo, da tây,

    Nấu cho uống dặm: đá rày bền lâu.

    Chớ cho đạp mái lần nào,

    Kẻo đứng không vững, khuya thì run chân.

    Cứt khô, ngủ chẳng giấu đầu,

    Là gà sung mạnh chớ lo sợ gì.

    Nếu gà đau mắt phải lo,

    Lá khế non, muối cùng nhai phun vào.

    Hoặc con mắt có hạt cườm,

    Ốc bươu đốt, xức vậy mà rất hay.

    Gà cước chậu mới khó cho,

    Để dầm nước lạnh thì giò bớt sưng.

    Hoặc lấy mắm nêm bó chưn,

    Lâu ngày mới hết, nhớ ngưng xổ gà.

    Bị trĩ: ỉa rặn không ra,

    Lá mồng tơi đỏ ăn mà rất hay.

    Dầu đu đủ uống hàng ngày,

    Thì trơn cái ruột, bịnh rày bớt đi.

    Ăn không tiêu chẳng hại gì,

    Cho ăn chút muối, uống thì nước hâm.

    Gà mắc gió (dùng) rau húng đâm,

    Lấy mà cho uống, dầu phong xức mình.

    Kỹ càng các việc đã bày,

    Nếu mà làm đúng, ít khi thua người,

    Bởi chỉ rõ lời cao ngoan,

    Bắt vần đủ kiểu, miễn sao dễ tường,

    Lời thô, tiếng tục tầm thường,

    Xin người kinh sử văn chương chớ cười.

    Tương sanh

    Kim sanh thủy

    Thủy sanh Mộc

    Mộc sanh Hỏa

    Hỏa sanh Thổ

    Thổ sanh Kim

    Tương khắc

    Kim khắc Mộc

    Mộc khắc Thổ

    Thổ khắc Thủy

    Thủy khắc Hỏa

    Hỏa khắc Kim

    Lưu ý: nếu mình sanh nó thì mình hơn nó. Ngược lại, nó bị mình khắc thì nó lại thua mình.

    Tính tháng âm lịch

    Tháng giêng thuộc Dần

    Tháng hai thuộc Mẹo

    Tháng ba thuộc Thìn

    Tháng tư thuộc Tỵ

    Tháng năm thuộc Ngọ

    Tháng sáu thuộc Mùi

    Tháng bảy thuộc Thân

    Tháng tám thuộc Dậu

    Tháng chín thuộc Tuất

    Tháng mười thuộc Hợi

    Tháng mười một thuộc Tý

    Tháng chạp thuộc Sửu

    Quý

    Tháng 1, 2, 3 thuộc mùa Xuân hành Mộc

    Tháng 4, 5, 6 thuộc mùa Hạ hành Hỏa

    Tháng 7, 8, 9 thuộc mùa Thu hành Kim

    Tháng 10, 11, 12 thuộc mùa Đông hành Thủy

    Lưu ý: kể từ ngày 13 đến 30 trong tháng cuối của mỗi quý thuộc về Tứ Quý, hành Thổ.

    Giải thích

    Xuân: Mộc vượng, Hỏa tướng, Kim ưu, Thổ tù, Thủy tử.

    Vượng, ưu, tù, tử có tánh cách khác nhau. Vượng và tướng đều thạnh mà vượng thì có phần hơn (vì chánh mùa). Ưu, tù, tử đều suy mà ưu còn khá hơn tù, tử (chữ tử: chết là suy nhất).

    Mộc: Xám chánh mùa thạnh hơn Điều (Tía): Hỏa vì Mộc sanh Hỏa, nếu Xám mã và cánh xám mà có lộn mã đỏ cũng tốt vì đỏ thuộc Hỏa, hai sắc đều thạnh cả. Còn Điều mã đỏ, cánh đen, sắc đen thuộc Thủy: suy. Điều có sắc thạnh lẫn sắc suy.

    Như vậy, Xám đá với Điều, Xám có phần lấn về sắc là được một phần hơn. Nếu vây vi tốt hơn thì nhất định Xám sẽ thắng. Thế là Xám hơn Điều đó là so sắc thạnh với nhau.

    Kim ưu Nhạn

    Thổ tù Vàng

    Thủy tử Ô

    Trong ba sắc trên Ô là sắc suy nhất, nếu Vàng đá với Ô thì sắc Vàng sẽ khá hơn Ô. Hơn nữa Thổ khắc Thủy thì Vàng sẽ thắng Ô. Đó là nói về mùa, còn lấy nhật thần mà suy thì cũng thêm phần thắng theo phương cách áp dụng như sau:

    Thí dụ: mùa Xuân, Ô suy mà đá nhằm ngày Thổ thì càng xấu vì ngày ấy khắc Thổ thì càng xấu hơn, khắc Thủy nếu bằng chạn, độ kém bằng nhau thì Ô phải thua. Nhiều khi Ô đang thắng mà nhằm ngày khắc khiến bị xui bay mỏ, đui mắt cho đến khi thủ huề hoặc thua ngược. Cứ theo các phương thức nói trên về mùa, sắc cũng như về nhật thần mà suy nghiệm để áp dụng cho những trường hợp khác thì chắc thắng nhiều hơn bại.

    【#6】Thư Hùng Kê, 7 Phút Chết Gà Phu.

    Tác giả

    Mình có con gà chân trắng chân chì. hôm qua mới đăng tin khoe với anh em. hôm nay nhảy thử chân xem thế nào. Vì mình rất cưng chú gà này với lại tơ quá nên bịt mỏ gà phu lại. thả gà vần được 5 phút thư hùng kê bỏ chạy. Mình nghỉ thôi xong rồi, gà phu đuổi theo nhưng bị bịt mỏ không cắn được. vừa lúc có điện thoại bóc lên nghe. Nghe anh em la lên quay lai xem không hiểu gà đá kiểu gì chạy không mà gà phu lăn đùng ra chết. Không đây 7 phút. Tức không xem được. https://www.chotot.com/binh-duong/mua-ban-vat-nuoi-thu-cung/ga-don-chanh-phu-hoa-29562956.htm# – https://www.chotot.com/binh-duong/mua-ban-vat-nuoi-thu-cung/ga-don-chanh-phu-hoa-29562956.htm# Nghe anh em khen nức nở, lần sau nhảy quay video.

    nghe cũng lạ tai và có sức hút phết nhỉ. con này mà cúng chắc các cụ khen ngon và phù hộ lắm nha.

    https://postimg.cc/image/ghqb3fifz/ –

    Người hiền coi mạo biết tài

    Vật hay nó cũng bày ngoài hình dung.

    Gà đá bùa à bác, thật là vi diệu

    Thật là Vi diệu! Thiên linh linh, địa linh linh,gà cũng “linh”, người thành “tinh”. Nói vuông là: linh tinh!

    gà chánh lưu viết:

    Mình có con gà chân trắng chân chì. hôm qua mới đăng tin khoe với anh em. hôm nay nhảy thử chân xem thế nào. Vì mình rất cưng chú gà này với lại tơ quá nên bịt mỏ gà phu lại. thả gà vần được 5 phút thư hùng kê bỏ chạy. Mình nghỉ thôi xong rồi, gà phu đuổi theo nhưng bị bịt mỏ không cắn được. vừa lúc có điện thoại bóc lên nghe. Nghe anh em la lên quay lai xem không hiểu gà đá kiểu gì chạy không mà gà phu lăn đùng ra chết. Không đây 7 phút. Tức không xem được. https://www.chotot.com/binh-duong/mua-ban-vat-nuoi-thu-cung/ga-don-chanh-phu-hoa-29562956.htm# – https://www.chotot.com/binh-duong/mua-ban-vat-nuoi-thu-cung/ga-don-chanh-phu-hoa-29562956.htm# Nghe anh em khen nức nở, lần sau nhảy quay video.

    Bác nầy mới chơi gà mà có vẻ họ hàng với Cuội rồi…

    1. Dọn lông là biết sư kê 90 tuổi kia bị viết lộn thành 09 tuổi thì phải…?

    2. Linh kê cựa mới nhú mà đã ghép đúc với con gà mái lai thế kia rồi…?

    3. Linh giời mà nhìn mặt mũi ngu ngơ non tơ thế kia ghép với phu bịt mỏ thì k điên cũng dở mới ghép vậy, chẳng lẽ lại quay post clip con gà mình vần với con phu buông tát cho bạn xem thì k lịch sự lắm…(!!!)

    Nhất tướng – Nhị tông – Tam lông – Tứ vảy

    Có sự hiểu lầm bạn ơi. 700k gà những em gà tơ trong nhà. mới nhảy 15 phút. Chú gà thư hùng kê này thời gian trước con đăng bán trên chợ tốt. giá là 7 triệu, khi nó chưa biết gáy. Mình tình cờ thấy tin đăng. Bỏ công việc ra phú yên mua nhưng người đăng tin là một người trẻ. Chủ thật sự của chú gà là một ông lão 90 tuổi. ông không bán vì tiếc con gà. Tiền đối với ông không quan trọng nữa chết không đem theo được và tất nhiên cũng không đem được gà theo. Mình buột ở lại phú yên một tuần. ngày nào cũng đến uống trà cùng ông. Sau này ông thấy thương và nghi mình có duyên với nó nên cho mình đem về không lấy tiền. Mình để lại cho người trong gia đình 10 triệu dặn khi nào mình về thì đưa lại cho ông. Ông cũng thừơng gọi dt và chỉ mình cách chăm sóc gà. hihi Nhưng vẫn giận chuyện tiền nông.

    https://postimg.cc/image/ghqb3fifz/ –

    hihi, mình thích chơi gà lắm. không hiểu nhiều về gà thì cứ tin vào sách vở thôi. Âu cũng là kinh nghiệm của người xưa. Bạn để ý từ nay về sau trong bạn có con gà nào chân mỗi chân một màu. Đòn lối như thế nào mình không quan trọng đâu 10 triệu đổ lại mình băt hết. Để cám ơn bạn cung cấp thông tin vào miền nam dt cho mình. Một chầu bia giao lưu bạn phương xa.

    Con gà mến ở cái thần. Đòn hay thế vững.

    Chiến cùng thắng vang. Trận chưa lâm đối thủ phủ đầu.

    Gà nhà chọi địch chủ công chọi người.

    gà hay bạn ta điều tin tưởng.

    Đặt trọn niềm tin, ra sức giũa mài.

    Bạn bốn phương người tung kẻ ném.

    Về bình dương ta đãi chầu bia.

    sao gạch đá ngta zữ vậy các bác?700k hay 10tr thì nó cũng là con gà độc thật còn gì?lần sau thớt có vần nhớ quăng clip lên cho ae soi nhá

    noonecp viết:

    sao gạch đá ngta zữ vậy các bác?700k hay 10tr thì nó cũng là con gà độc thật còn gì?lần sau thớt có vần nhớ quăng clip lên cho ae soi nhá

    Trừ mình ra nhá…hehehe….

    Mình không quăng đá đâu mà quăng cái này có lẽ không nhầm thì cặp chân này là của nó khi được vài tháng….Chắc chủ kê nhận ra….

    Nhất tướng – Nhị tông – Tam lông – Tứ vảy

    https://m.youtube.com/watch?v=AIo6wxpKUW4

    e cũng có con gà đá tự nhiên chết gà kia mà chả biết vì sao

    Nhờ bác nào đăng hộ clip:)

    aloha.ha123 viết:

    https://m.youtube.com/watch?v=AIo6wxpKUW4

    e cũng có con gà đá tự nhiên chết gà kia mà chả biết vì sao

    Nhờ bác nào đăng hộ clip:)

    Con mơ bị tháo khớp đòn mã kỵ trước khi ngã xuống đó bạn…

    Trước mình cho 2con gà phu đá để giảm ký, được 5 phút thì tèo 1con, mình thấy ae bảo đứt cóc hầu – trái khế. Nhưng mình tỉ mỷ mổ ktra chỗ ấy k bị giập vỡ, đứt gì hết, mà có 1 vết bầm lớn ở cần cổ nên đoán là bị tháo khớp mới chết nhanh vậy. Để ý cắt tiết gà cắt đứt luôn phần cóc, cuống họng với tất tần tập quan cổ con gà cũng còn lâu nó mới chết…

    Gía như bạn tò mò mổ để ktra thì tốt hơn, vì biết nguyên nhân của nó…Các cụ dạy chọn gà cần cổ đặc 1 phần cũng là vì lẽ này đấy bạn…

    Người sửa: @nh Vũ – 21/11/2016 lúc 7:13pm

    Nhất tướng – Nhị tông – Tam lông – Tứ vảy

    Kiếp sau xin chớ làm người

    Làm con gà trống sống đời tự do

    Nhàn dỗi thì gáy o o

    Hả hê đạp mái chẳng no mất tiền

    @nh Vũ viết:

    aloha.ha123 viết:

    https://m.youtube.com/watch?v=AIo6wxpKUW4

    e cũng có con gà đá tự nhiên chết gà kia mà chả biết vì sao

    Nhờ bác nào đăng hộ clip:)

    E có mổ xem nhưng cổ ko sao,có mỗi gáy nó bị tím mấy cái. Có ông lái xe quay xem mới thấy ko cũng chả hiểu sao chết :3

    aloha.ha123 viết:

    @nh Vũ viết:

    aloha.ha123 viết:

    https://m.youtube.com/watch?v=AIo6wxpKUW4

    e cũng có con gà đá tự nhiên chết gà kia mà chả biết vì sao

    Nhờ bác nào đăng hộ clip:)

    E có mổ xem nhưng cổ ko sao,có mỗi gáy nó bị tím mấy cái. Có ông lái xe quay xem mới thấy ko cũng chả hiểu sao chết :3

    bạn xem phim vỏ thuật thấy người ta chặt nhẹ 1 cái sau gáy thì thằng bị chặt củng nằm bất tỉnh nhân sự đó thôi. theo sách vỡ thì Gà bị đá trúng vào điểm khuyết ở gáy hoặc đầu lườn sẽ ra đi. những để vụt chân vào thì khó. chỉ có gỏ cựa vào đúng điểm ấy thì toi. như ở người thì bạn rờ tay lên đỉnh đầu sẽ có 1 điểm khuyết nhỏ đó là điển mềm và là nơi tập dễ bị tổng thương. nếu không may thằng lào gỏ cựa vào cái là cười nhắn rằng

    【#7】Năm Gà Nói Chuyện… Con Kê (Đỗ Chiêu Đức)

    NĂM GÀ NÓI CHUYỆN … CON KÊ !

    KÊ 鷄 là từ Hán Việt chỉ Con Gà, Gà là Kê, Kê là Gà, là… Gà Kê Dê Ngỗng. Bà con ta thường nói thành “Cà Kê Dê Ngỗng.” Năm Gà nói chuyện… con Kê là nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, chuyện bao đồng về con gà để nghe chơi khi trà dư tửu hậu.

    GÀ là KÊ 鷄, KÊ là chữ Tượng Hình trong Lục Thư, là cách đầu tiên trong 6 cách tạo hình của Chữ Nho… dễ học, theo diễn tiến của chữ viết như sau:

    Giáp Cốt Văn là hình tượng của con gà trống hiên ngang với cái mỏ hướng về bên trái và cái vương miện vươn cao ở trên đầu, hai cánh bên dưới xòe ra như đang đập cánh chuẩn bị cất cao tiếng gáy vào buổi sáng. Nhưng qua Đại Triện và Tiểu Triện do sự biến thiên của chữ viết qua các thời đại, chữ KÊ 鷄 được hình thành bởi Hình Thanh (Cách tạo chữ thứ 4 của Chữ NHO… dễ học) với chữ HỀ 奚 bên trái chỉ Âm và chữ ĐIỂU 鳥 bên phải chỉ Ý, nên chữ KÊ hiện tại được viết như thế nầy 鷄, chữ Điểu bên phải có thể thay bằng bộ CHUY 隹 là Loài chim đuôi ngắn, nên chữ KÊ cũng được viết như sau 雞. Ta có 4 hình thức của chữ KÊ :

    Giản thể Phồn thể

    鸡 鳮 雞 鷄

    7 nét 13 nét 18 nét 21 nét

    Vì đến 2 hình thức chữ Phồn Thể, mà chữ phức tạp nhất có đến những 21 nét, nên KÊ thuộc dạng chữ khó nhớ ngày xưa khi học chữ Nho, cho nên mới có câu chuyện vui “Tam Đại của Con Gà” sau đây về ông Thầy Đồ… dốt. Truyện kể:

    Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời “Xấu hay làm tốt, dốt hay… xổ Nho”, đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.

    Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.

    Một hôm, đang dạy sách Tam Thiên Tự 三千字, sau chữ “Tước 雀” là chim sẻ, đến chữ “KÊ 鷄” là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy quýnh qúa, nói đại nói càn: “Dủ dỉ là con dù dì.” Thầy cũng khôn, sợ lỡ sai người nào biết thì mắc cở, mới bảo học trò đọc nhỏ thôi, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn lo âu thấp thỏm.

    Nhân trong nhà có bàn thờ Thổ Địa Thần Tài, thầy mới đến khấn thầm xin ba keo âm dương để xem chữ đó có phải thật là “dù dì” không. Thổ công cho ba keo đều được cả ba.

    Thấy vậy, thầy lấy làm đắc ý lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:

    – Dủ dỉ là con dù dì ! Dủ dỉ là con dù dì…

    Ông cha của sấp nhỏ đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng con học, ngạc nhiên mới bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, rồi hỏi thầy :

    – Thầy ơi! Chữ “KÊ 鷄” là gà, sao thầy lại dạy thành “dủ dỉ” là con “dù dì”?

    Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm: “Mình đã dốt, Thổ Địa Thần Tài nhà nó còn dốt hơn mình nữa,” nhưng Thầy cũng lanh trí, nên vội nói đỡ là:

    – Tôi cũng biết chữ đó là chữ “kê 鷄”, mà “kê” nghĩa là “gà”, nhưng tôi dạy cháu như thế là dạy cho chúng nó biết tận Tam Đại 三代 của con gà kia!

    Chủ nhà càng không hiểu ất giáp gì cả, hỏi:

    – Tam Đại 三代 của con gà là nghĩa ra làm sao?

    DẬU đứng hàng thứ Mười trong Địa Chi, nhưng lại là Tháng Tám Âm lịch. Ngày Dậu là ngày được xếp sau ngày Thân và trước ngày Tuất. Giờ Dậu là từ 5 đến 7 giờ chiều tối, nên ông bà ta ngày xưa có để lại mấy câu nói sau đây:

    Mạc ẩm Mão thời tửu, 莫飲卯時酒,

    Hôn hôn túy đáo Dậu. 昏昏醉到酉.

    Mạc mạ Dậu thời thê, 莫罵酉時妻,

    Nhất dạ thụ cô thê. 一夜受孤凄.

    Có nghĩa:

    * Đừng uống rượu vào giờ Mão (từ 5 đến 7 giờ sáng) vì sẽ bị…

    Say sưa mơ màng cho đến giờ Dậu (từ 5 đến 7 giờ tối). Vậy là suốt ngày sẽ không làm ăn gì được cả!

    * Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì chiều tối mà vợ chồng giận nhau thì suốt đêm sẽ chịu lạnh lẽo cô đơn có một mình, cũng sẽ không “làm ăn” gì được cả!

    Tâm lý qúa cở “thợ mộc”! Ai bảo là ông bà ngày xưa không biết tâm lý tình cảm và bảo vệ hạnh phúc gia đình đâu!?

    DẬU kết hợp với TỴ và SỬU thành Tam Hạp. Trâu Bò hợp với Gà thì còn được, chớ Trăn Rắn làm sao mà hợp với gà cho được, thấy gà là chúng quấn cho nát xương rồi nuốt trửng nguyên con như chơi. Không biết mấy thầy Tử Vi tướng số ngày xưa căn cứ vào cái gì mà xếp cho con Gà và con Rắn hợp nhau? Rắn thì chắc OK rồi, nhưng gà mà gặp rắn là chạy “tét ghèn” luôn, làm sao mà hợp cho được!

    DẬU lại cùng với TÝ, NGỌ và MÃO, ta gọi là Tý Ngọ Mẹo Dậu thành một bộ Tứ Hành Xung. Ba lần bốn mười hai, cho nên hễ vợ chồng cách nhau 3, 6 hoặc 9 tuổi là lọt vào Tứ Hành Xung ngay! Nên ngày xưa đi cưới vợ phải coi tuổi là vì thế! Tuyệt đối kỵ 3, 6, 9, nhất là cách nhau 6 tuổi sẽ lọt vào số Chánh Xung, như: Dần và Thân, Tỵ và Hợi, Tý và Ngọ, Mẹo và Dậu, Thìn và Tuất, Sửu và Mùi đều cách nhau 6 tuổi, bảo đãm không xung không lấy tiền!

    Trong thần thoại, GÀ là MÃO NHẬT KÊ 昴日雞, là ngôi thứ tư trong Bạch Hổ Thất Tinh, thuộc 7 vì sao nằm ở phương Tây của Nhị Thập Bát Tú 二十八宿, hướng Tây thuộc mùa Thu, cũng là mùa thu hoạch nông phẩm xong, cửa nhà đã đóng, nên Mão Nhật Tinh thuộc nhóm Hung Tinh (Sao dữ), thường mang đến tai ương bất lợi, hung đa kiết thiểu (cho những người chưa thu hoạch hay bị mất mùa thất thu: Chắc chắn sẽ bị đói!)

    Mão Nhật Kê được tạo hình trong phim Tây Du Ký

    GÀ là một trong lục súc sống cùng với con người qua mấy ngàn năm lịch sử. Dựa theo các giả định Cổ Khí Hậu Học, có làm một nghiên cứu vào năm 1988 cho rằng gà được thuần hóa ở vùng Hoa Nam vào năm 6000 trước Công nguyên. Nhưng, một nghiên cứu khác vào năm 2007 cho rằng Gà xuất xứ từ Văn minh lưu vực sông Ấn (2500-2100 trước Công nguyên), nơi mà ngày nay thuộc lãnh thổ của Pakistan, có thể là nguồn chính cho sự lan truyền của các giống gà trên toàn thế giới.

    Trong Lục Súc Tranh Công, một tác phẩm văn học dân gian của ta, trước đây được xếp trong chương trình Cổ Văn của lớp Đệ Thất, đã cho con Gà nói về mình như sau:

    …………………………..

    Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:

    Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.

    Trên đầu đội văn quan một mũ;

    Dưới chân đeo hai cựa thần thương.

    Đã ghe phen đến chốn chiến trường.

    Lập công trận vang tai, lói óc,

    Thủa Tây Lũng tam canh trống thúc;

    Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,

    Một tiếng rằng: thiên nhật tác thì;

    Hai tiếng rằng: quốc tộ tác xương,

    Ba tiếng rằng: nhân gian tác lạc,

    Đã cứu nạn Mạnh Thường đặng thoát;

    Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

    Hễ ai toan cải dữ về lành,

    Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.

    Coi giò gà xét biết thịnh suy.

    Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,

    Cất tiếng gáy, toại lòng người đãi đán,

    ………………………………………..

    Ta thấy bài kể công trên, Gà có nhắc đến “…cứu nạn Mạnh Thường…” Mạnh Thường đó là Mạnh Thường Quân của nước Tề, một trong Chiến Quốc TỨ CÔNG TỬ 戰國四公子, là bốn Vương Tôn hào hiệp, chiêu hiền đãi sĩ thời Chiến Quốc, đó là:

    Mạnh Thường Quân ĐIỀN VĂN của nước Tề.

    Xuân Thân Quân HOÀNG YẾT của nước Sở.

    Không phải đương không mà Tứ Công Tử nầy bỏ tiền của ra để nuôi ba ngàn thực khách trong nhà, mục đích chiêu hiền đãi sĩ của những vị nầy là để chiêu mộ tất cả nhân tài trong thiên hạ để chống lại nước Tần lớn mạnh đang lăm le thôn tính Thất Hùng…

    Trở lại với MẠNH THƯỜNG QUÂN, người nổi tiếng nhất trong Tứ Công Tử và… con Gà đã cứu ông ta:

    Tần Chiêu Tương Vương nghe nói Mạnh Thường Quân tài giỏi, nên mời đến nước Tần, định phong làm Tể Tướng, nhưng lại lo ông ta là người nước Tề chỉ lo cho quyền lợi của nước Tề, không dùng, lại định giết đi. Mạnh Thường Quân biết tin lo sợ, mới tìm người sủng thiếp của Tần Vương mà cầu cứu. Người thiếp nầy thấy trước đây Mạnh Thường Quân có tặng cho Tần Vương một chiếc áo hồ cừu rất đẹp nên cũng muốn có một chiếc mới chịu giúp. Bí lối, vì chỉ có một chiếc duy nhất. Cũng may trong đám môn khách đi theo có một người chuyên đào tường khoét vách, đã lẻn vào cung vua Tần trộm chiếc áo hồ cừu đó ra để ông đem tặng cho người sủng thiếp. Nghe lời ỏn ẻn của người thiếp khi đầu gối tay ấp, Tần Vương thả Mạnh Thường Quân về nước. Không kịp đợi trời sáng, cả đoàn người ngựa kéo nhau lên đường. Tần Vương thả người xong thì hối hận, bèn cho binh lính đuổi theo bắt lại. Khi đoàn người của Mạnh Thường Quân chạy đến cửa thành thì trời chưa sáng, cửa thành chưa mở. Lại một môn khách đi theo có người giỏi nhái tiếng gà gáy, khi ông ta cất tiếng gáy lên thì tất cả gà trong thành đều cất tiếng gáy theo. Lính canh thành tưởng trời đã sáng bèn mở toang cửa thành ra. Thế là cả đoàn người của Mạnh Thường Quân ra thành… chạy tuốt! Khi quân Tần đuổi tới thì đoàn người đã đi xa lắc xa lơ rồi!

    Con Gà cứu Mạnh Thường Quân là con Gà… trong ba ngàn thực khách của ông ta, còn bầy Gà chỉ hùa theo tiếng gáy mà thôi! Con Gà trong Lục Súc Tranh Công không biết thấu đáo mà cho là công lao của mình. Nhưng xét cho cùng, không có bầy gà cùng gáy thì chưa chắc lính canh đã chịu mở cửa thành! Và… cũng vì tích nầy mà ta có được thành ngữ:

    KÊ MINH CẨU ĐẠO 雞鳴狗盜: là Gà gáy Chó trộm. Ý chỉ hai thực khách của Mạnh Thường Quân, một người chui lổ chó vào cung trộm áo; một người giả làm gà gáy sáng. Ý muốn nói những người tầm thường du thủ du thực nhiều khi cũng đắc dụng, cũng làm nên việc có ích hoặc cứu giúp lúc lâm nguy, chớ không phải hoàn toàn vô dụng. Nhưng thành ngữ nầy hiện nay thường dùng để chỉ hạng đầu trộm đuôi cướp, ba que xỏ lá, trộm gà bắt chó… mà đã mất đi ý nghĩa tốt đẹp của lúc ban đầu!

    Con Gà của Lục Súc Tranh Công còn kể lể:

    Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

    TẤN SĨ 晉士 : là Kẻ sĩ của nước Tấn; ở đây chỉ TỔ ĐỊCH 祖逖 (266-321) và LƯU CÔN 劉 琨 (271- 318) của thời Đông Tấn và Tây Tấn theo tích sau đây:

    Tổ Địch tự là Sĩ Nhã, người đất Yên Sơn. Ông là một Đại Tướng đầu đời Đông Tấn, có chí muốn khôi phục Trung Nguyên nên ra sức bắc phạt, từng lập được nhiều chiến công. Ông cùng với người bạn trẻ là Lưu Côn, tự là Việt Thạch, người đất Hà Bắc, là danh tướng đời Tây Tấn, là hậu duệ của Hán Trung Sơn Tịnh Vương. Lúc nhỏ cùng với Tổ Địch kết giao. Hai người thường bàn luận về chính sự, quốc sự đều tỏ ra rất tâm đắc, tuổi trẻ lòng đầy nhiệt huyết đều muốn cống hiến sức lực của mình cho Tổ quốc, nên mỗi đêm về sáng khi nghe được tiếng gà gáy là cùng nhau thức dậy để múa gươm luyện võ, trao dồi thể lực để mong có cơ hội ra giúp nước. Đêm đêm như thế, chẳng hề chểnh mảng đơn sai.

    Vì thế mà hình thành được thành ngữ VĂN KÊ KHỞI VŨ 聞雞起舞: là Nghe tiếng Gà gáy thì dậy mà múa. Múa ở đây là Múa Gươm, vừa rèn luyện thân thể, vừa ôn tập võ nghệ. Thành ngữ nầy còn dùng để chỉ những người có chí muốn phục vụ cho quốc gia dân tộc, sẵn sàng cống hiến sức lực và tài năng của mình kịp thời và đúng lúc để đáp lời sông núi. VĂN KÊ sẽ KHỞI VŨ ngay!

    Tiếng gà gáy sáng khi màn trời còn phủ sương đêm, làm ta chợt nhớ đến cô Kiều ” Đêm khuya thân gái dặm trường, Phần e đường xá phần thương dãi dầu!” khi trốn khỏi Quan Âm Các của Hoạn Thư một thân một mình với cảnh:

    Mịt mù dặm cát đồi cây,

    Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

    Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương” là lấy ý và thoát dịch một cách tuyệt vời 2 câu thơ trong bài THƯƠNG SƠN TẢO HÀNH 商山早行 của Ôn Đình Quân 溫庭筠 đời Đường là:

    Kê thanh mao điếm nguyệt, 雞聲茅店月,

    Nhân tích bản kiều sương. 人跡板橋霜.

    Có nghĩa:

    Tiếng gà xao xác gáy ở quán lá ven đường khi trăng còn chênh chếch bên trời, và…

    Trên chiếc cầu ván nhỏ bắt ngang qua lạch nước còn đẫm sương đêm đã có một vài dấu chân người đi qua.

    Cảnh vắng vẻ lạnh lùng của buổi sớm mai càng làm tăng thêm nỗi cô đơn thấp thỏm của người đang tìm đường tị nạn!…

    Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

    Con GÀ của Lục Súc Tranh Công còn tự hào về hình dáng của mình :

    Trên đầu đội văn quan một mũ;

    Dưới chân đeo hai cựa thần thương.

    Qủa là Văn Võ Song Toàn với ” văn quan một mũ” “hai cựa thần thương.” Hình dáng của con gà trống thì qủa thật không chê vào đâu được. Mỏ vàng mồng đỏ, lông cánh lông đuôi màu sậm, lông mình sặc sở đỏ vàng xanh, bước đi bệ vệ, vỗ cánh phần phật làm cát bụi tung bay đầy trời trước khi cất cao tiếng gáy: “Ò Ó O Ò O…” đó là Gà Việt Nam; còn Gà Tàu thì gáy: “wu wu ti 喔喔啼…” Hồi xưa khi mới đậu Đệ Thất, tới giờ học Pháp Văn mới lần đầu tiên nghe tiếng gà Tây gáy: “Cocorici, co-co-ri-co…” Bây giờ định cư ở Mỹ, nghe mấy đứa cháu nội cháu ngoại cho gà gáy bằng tiếng Anh: “Cock-a-doodle-doo, cock-a-doodle-doo… !” Thật cảm khái vô cùng!!!

    Gà oai phong là thế, đẹp rực rỡ là thế, nhưng khi có một con Hạc lạc vào thì lại trở nên tầm thường nhỏ bé, nên ta lại có thành ngữ: HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 có nghĩa là “Hạc đứng giữa bầy gà” đương nhiên Hạc trông cao ráo thanh thoát hơn hẵn bầy gà thấp lè tè bên dưới. Tiếng Việt ta còn nâng lên một cấp nữa, ta nói là “PHỤNG LỘN VỚI GÀ” Phụng chẳng những cao lớn hơn mà còn đẹp rực rỡ hơn gà nhiều! Câu “Hạc lập Kê Quần” có xuất xứ từ điển tích “Trúc Lâm Thất Hiền luận” của Đái Mục đời Tấn như sau:

    KÊ THIỆU làm quan Thị Trung cho Tấn Huệ Đế, người khôi ngô cao lớn thông minh anh tuấn, văn võ song toàn. Lúc bấy giờ hoàng tộc nhà Tấn đang tranh quyền đoạt vị, giết hại lẫn nhau, mạnh ai nấy xưng vương, sử gọi là “Bát Vương Chi Loạn.” Kê Thiệu vẫn một mực trung thành với Tấn Huệ Đế. Lúc kinh thành có loạn Kê Thiệu đứng chặn trước cửa cung, loạn quân thấy vẻ hiên ngang hùng dũng của Kê Thiệu khiếp đãm đến không dám xạ tiễn. Khi Tấn Huệ Đế thua chạy ở Thang Dương, tướng sĩ chết vô số, Kê Thiệu vẫn theo sát để bảo vệ Huệ Đế đến nổi thân mình trúng mấy mũi tên, máu nhỏ cả lên long bào của Huệ Đế và ông đã hy sinh trong trận chiến nầy. Sau đó, những người tùy tùng định tẩy giặt những vết máu trên long bào, Huệ Đế đã ngăn lại bảo đó là máu của Thị Trung Kê Thiệu không được giặt đi. Khi Kê Thiệu lần đầu đến Lạc Dương, đi trong đám đông người, thân hình cao lớn, khí vũ hiên ngang, như là con Hạc đứng giữa bầy Gà vậy, từ đó mà hình thành thành ngữ HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 để chỉ những người vượt trội hơn người khác chẳng những về sức vóc mà cả về tài năng nữa!

    KÊ THIỆU là con của KÊ KHANG, một trong TRÚC LÂM THẤT HIỀN:Gồm có Nguyễn Tịch 、Kê Khang 、Sơn Đào 、 Lưu Linh、 Nguyễn Hàm、 Hướng Tú、 Vương Nhung; Họ sống và ở ẩn giữa đời Ngụy và đời Tấn. KÊ KHANG chẳng những là Nhà Tư Tưởng, nhà Văn Học mà còn là Nhà Âm Nhạc nổi tiếng lúc bấy giờ với bản đàn Quảng Lăng Tán 廣陵散, mà cụ Nguyễn Du đã mượn NÓ để khen tài đờn của Thuý Kiều, khi cô đờn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên là:

    Kê Khang nầy khúc Quảng Lăng,

    Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.

    Hạc Lập Kê Quần Trúc Lâm Thất Hiền

    YAO MING 姚明: là Diêu Minh (người mặc áo đỏ trong hình trên), cầu thủ bóng rổ của Trung Quốc được Hội Bóng Rổ nhà nghề Rocket của thành phố Houston ký hợp đồng từ năm 2003 đến 2008 để tranh Giải Bóng Rổ Toàn Quốc Hoa Kỳ NBA. Yao Ming có thân hình cao 7’6″ (226cm)= 2 mét 26, nên khi đứng giữa các cầu thủ khác thì như là HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 vậy!

    Con GÀ trống oai vệ mạnh mẽ là thế, nên có những con người yếu đuối không thể khống chế nỗi con gà, ngay khi cả con gà đã bị kềm chế… thúc thủ chịu trói rồi mà còn trói không chặc, để đến đỗi mang tiếng là THỦ VÔ PHƯỢC KÊ CHI LỰC 手無縛雞之力 là Tay không đủ sức để trói gà. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những chàng thư sinh ngày xưa, tối ngày chỉ biết ôm lấy quyển sách, miệng luôn đọc câu THI VÂN 詩云…TỬ VIẾT 子曰… (Kinh Thi nói rằng… Khổng Tử dạy rằng…) mà không chịu rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh để đến nỗi không có sức trói nỗi con gà, ta nói là “Thứ cái đồ thư sinh trói gà không chặc!”

    Nhưng dù “Trói gà không chặc” nhưng các bà các cô ngày xưa cũng vẫn cứ… xáp vào! Và còn biện bạch là:

    Chẳng tham ruộng cả ao liền,

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ!

    Khéo mà nói xạo! Chẳng là vì “Cái bút cái nghiên” của anh đồ, một khi “ảnh” Kim Bảng Đề Danh thì sẽ có được “Ruộng cả Ao liền” như chơi mà thôi! Nên khi còn hàn vi thì đành bóp bụng mà GIÁ KÊ TÙY KÊ, GIÁ CẨU TÙY CẨU 嫁雞隨雞,嫁狗隨狗 Là Gả cho Gà thì theo Gà, Gả cho Chó thì theo Chó, mười hai bến nước, trong thì nhờ, đục thì… chịu khó “lóng phèn” mà thôi!

    Con Gà rất gần gũi với người nông dân Việt Nam, là gia cầm quen thuộc và gắn bó mật thiết với đời sống hàng ngày của dân nước nông nghiệp, nó còn xuất hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ để khuyên nhủ, nhắc nhở hay chê trách một điều gì đó trong cuộc sống, đôi khi lại cảm thông tưởng thưởng, như những người góa vợ mà chịu khó “Gà trống nuôi con”; những người biết nhẫn nhịn, không như “Con gà tức nhau vì tiếng gáy.” Khi chê trách thì không thiên vị người nào, kể cả các bậc vua chúa như Lê Chiêu Thống cũng bị quở là “Cõng rắn cắn gà nhà!” Anh em trong nhà thì luôn được nhắc nhở là “Anh em như thể tay chân”, nên:

    Khôn ngoan đá đáp người ngoài,

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau!

    Khuyên thì khuyên vậy, chớ đôi khi vì quyền lợi, tài sản, thậm chí chỉ vì miếng cơm manh áo vẫn có thể “Gà nhà bôi mặt đá nhau như thường!” Có được đứa “Con gái rượu” lấy chồng giàu sang quyền quý, thậm chí được làm Thiếp làm Phi của vua, như Dương Qúy Phi ngày xưa, hoặc như cô Giả Nghinh Xuân trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần thì cả nhà đều được vinh hoa phú qúy như có được “Con Gà đẻ trứng vàng” vậy! Trước mắt, các cô lấy chồng ngoại quốc, hay Việt Kiều Mỹ, Úc, Canada… thường xuyên gởi “đồ tiên” (là Tiền Đô) về cho gia đình chi dụng, cũng gọi được là có “Con Gà đẻ trứng vàng”, hay mỉa mai hơn thì nói là “Gia đình đó có được miếng đất xéo ở bên Mỹ đó!”

    Mấy đời mẹ ghẻ thương yêu con chồng!

    Nhắc đến Mẹ Gà Con Vịt ” lại nhớ đến bốn chữ “Đầu Gà Đít Vịt” của dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu… để chỉ các cô gái người Hoa lai… Miên. Các cô em nầy có nước da ngâm ngâm… bánh ít, với đôi mắt to đen lay láy, đặc biệt là hai hàng lông nheo dài cong vút thường hay chớp chớp như để hớp hồn người đối diện, nhất là các cô người Tiều Châu. Trong truyện ngắn “Đầu Gà Đít Vịt” của nhà văn Bình Nguyên Lộc, ông đã viết như thế nầy:

    …Người đàn bà cha Tàu mẹ Miên vừa có sắc đẹp, lại vừa ngây thơ, chân thật, dễ yêu lắm!

    Trứng gà, thịt gà với đủ các món như Ốp la, Ốp lết, Xé phay, Luộc, Nướng, Quay, Chiên, nấu Cà-Ri… luôn hiện diện hằng ngày trong các bửa ăn gia đình. Định cư ở Mỹ rồi thì lại càng “gần gũi” với thịt gà hơn, vì đây là món thịt rẻ nhất nước Mỹ, với 10 pounds (khoảng 4 ký Rưởi) Leg quarters (Phần tư gà có luôn đùi) lắm khi hạ gía chỉ còn có một đồng 99 xu mà thôi. Bửa ăn tiện lợi và nhanh nhất cho những ngày bận rộn là Fry chicken (Gà lăn bột chiên). Bảo đãm rất ngon miệng, rất no nê và sẽ… rất mau lên cân, rất mau lên máu! Và cũng sẽ rất mau… “quáng gà”, “Trông gà hóa cuốc”, đưa đến cảnh Ông nói gà bà nói vịt”: Đi chưa tới chợ mà mua tương cái nổi gì!

    Bà con miền Bắc nói: “Con gà cục tác lá chanh”, tôi không biết là họ đang làm món gì, chắc họ đang ăn gà luộc?! Tôi là dân Nam Kỳ lục Tỉnh chỉ biết “Rau răm nó hại con gà chết tươi!” Thịt gà “xé phay” thì không thể nào thiếu rau răm cho được. Thịt gà ngoài việc xào gừng, xào xã ớt, còn một món xào thật đặc sắc mà không dân nhậu nào không thích cả, đó chính là “Gà xào bún nấm củ hành!”, nhậu cũng “bắt” mà ăn cơm cũng “hết xẩy” luôn! Rất thực tế chân thật, không mĩa mai như miền ngoài:

    Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi.

    Nói đến đây, lại nhớ đến một câu chuyện dân gian về “ăn chia” thịt gà trong gia đình; để thay đổi không khí, xin được kể theo kiểu phóng tác của ông Ly Cu Tê ở CANADA, vừa có phong thái cổ điển lại vừa có hơi hám thời sự của hiện tình đất nước… Trích:

    Xưa bên nước Vệ có ông nọ làm quan đến chức Tể Tướng. Hơn thập niên nắm quyền sinh sát trong triều đình, của cải ngân lượng ở bá tánh thuộc về ông không biết cơ man nào mà kể. Ngày kia, biết mình đã sắp đến lúc bị cho về vườn giăng câu đặt trúm, chích thuốc dạo, Tể Tướng bèn sai gia nhân làm thịt một con gà mái dầu luộc chín bày lên dĩa, sau đó ông gọi các con lại mà rằng:

    – Các con nghe đây, tuổi cha nay đã cao, sức nhai sắp hết mà sức bú cũng chẳng còn, thời khắc giã từ mũ mão áo gấm không còn xa nữa. Hôm nay ta có con gà luộc, các con hãy tới chọn một bộ phận trên mình gà, rồi làm câu thơ ứng với thứ mình chọn để ta biết chí hướng của từng đứa mà lo đường công danh sự nghiệp mai sau cho!

    Bốn người con đồng thanh dạ ran. Chàng trưởng nam giơ tay xin ứng khẩu trước, anh bước tới đĩa ngắt lấy cái đầu gà bỏ vào chén mình, rồi dõng dạc ngâm:

    – Trai thời trung hiếu làm ĐẦU !

    Ông quan nghe vậy khoái chí phán:

    – Chọn đầu gà chứng tỏ con là người thao lược, lắm mưu nhiều kế. Để ta cho con làm quan ở bộ Xây, mỗi năm xây chừng mười cái tượng đài và tháp tàng hình thì mặc sức mà đếm ngân lượng!

    Đến phiên người chị cả bước lại bàn bẻ cặp đùi, hai cánh và chiếc phao câu, rồi thong thả ứng khẩu:

    – Gái thời tiết hạnh PHAO CÂU, CÁNH, ĐÙI!

    Tể tướng nghe xong vuốt tóc con gái tấm tắc khen:

    – Giỏi lắm con gái rượu của ta, chọn đùi cánh là số phải đi xa, chọn phao câu là người đảm đang có hậu. Được, ta cho con qua xứ Cờ Hoa du học, rồi kiếm thằng “Vệ kiều liu vong” nào bên ấy mà kết tình phu phụ đặng yên bề gia thất nghe chưa!

    Người thứ ba là cô con dâu, nàng rón rén bước lại đĩa gà bê nguyên bộ lòng e thẹn ngâm nga:

    – Phần con một DẠ một LÒNG!

    Thấy con dâu xinh đẹp mặt hoa da phấn chọn bộ lòng gà, Tể tướng gật gù:

    – Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, con đã chứng minh lòng hiếu thảo với gia đình ta, sau này con sẽ là đệ nhất phu nhân xứ Vệ!

    Người cuối cùng là chàng út có dung mạo giống cha mình hồi trẻ như đúc, anh nhanh nhảu bước lại đĩa rinh hết cái mình gà, rồi hí hửng đọc:

    – Công cha nghĩa mẹ hết MÌNH vì con!

    Ông quan vỗ đùi đánh đét một phát, rồi đưa tay vuốt vuốt chiếc cằm nhẵn thín, mặt ngửa lên trời cười ha hả ý chừng vô cùng khoái lạc:

    – Kha khá khá. Đúng là hổ phụ sanh hổ tử, chọn mình gà chứng tỏ biết bao quát nhìn xa trông rộng giống ta, nay ta cho con về cai quản vùng đất Trung phần, ở đấy rất thuận lợi cho việc thăng quan tiến chức của con sau này!

    Bốn người con cúi đầu vâng mệnh ai về chỗ nấy. Bắt đầu từ hôm đó cô chị cả được ông cho qua xứ Cờ Hoa du học, rồi yên bề gia thất với một chàng Vệ kiều lưu vong. Người con trai thứ được ông cho về bộ Xây, nghe đâu mới được thăng lên quan đầu tỉnh thuộc miền Tây giang thuỷ. Chàng út cùng cô dâu xinh đẹp giờ đang cai quản miền Trung nắng gió đầy sản vật, chuyện đến đây không có gì đáng nói.

    Nhiều năm sau, câu chuyện chia gà của ông quan Tể Tướng bị lũ dân đen bần nông vàng vẩu đất Vệ đồn đãi khắp hang cùng ngõ hẻm nên người trong thiên hạ mới có thơ rằng:

    Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định xóa sổ 2 sòng bạc lớn nhất Sài Gòn Chợ Lớn là Kim Chung và Đại Thế Giới, thì đề 36 không còn nữa. Nhưng nhóm quân đội người Nùng giúp Tổng Thống dẹp loạn Bình Xuyên vẫn còn xổ đề ở vùng Cây Da Xà Phú Lâm Chợ Lớn, và họ đã thêm vào 4 con nữa cho đủ 40. Bốn con thêm vào là 37 Thiên Công (Ông Trời), 38 Địa Chủ (Đất Đai), 39 Thần Tài và 40 là Táo Quân (Ông Táo . Theo đề 36, thì CON GÀ tên chữ là NHỰT SƠN, đứng đầu trong nhóm TỨ HÒA THƯỢNG mang số 28, nếu đánh theo Xổ số Kiến Thiết từ 00 đến 99, thì phải thêm một con 68 nữa là Con Gà Lớn, theo như…

    Sáng ra 28 cứ đà ghi ngay.

    Ai dè nó xổ…con Nai… hết tiền!

    Nạn đánh đề càng trầm trọng khi xã hội càng phân biệt giàu nghèo. Dân càng nghèo càng phải chạy theo cuộc sống và càng mê số đề hơn, và… càng thua nhiều hơn nữa, rồi càng phát sinh nhiều tệ nạn xã hội hơn và cuối cùng là xã hội càng băng hoại hơn đến nỗi phát sinh thêm một loại gà mới: “Gà Móng Đỏ!” Nghe mà đau lòng, vì đây không phải là Gà thật, mà là tiếng lóng dùng để gọi các cô gái ăn sương, bán trôn nuôi miệng, sống lang thang vất vưởng mà người đời miệt thị là hạng “Mèo mả Gà đồng”, như Hoạn Bà, mẹ của Hoạn Thư đã hạ nhục Thúy Kiều:

    Con này chẳng phải thiện nhân,

    Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

    Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào!

    Buồn thay số đề! Con Gà là NHỰT SƠN 日山, là Trời đã về chiều, mặt trời sắp lặn xuống núi. Theo số đề hoài thì đời sẽ sớm… về chiều và sẽ… lặn xuống núi luôn! Thua đề hết tiền thì đi vay nguội, vay nóng, vay xã hội đen ” ký giấy nợ với mức lời cắt cổ “Xanh xít đít đui (cinq six dix douze: Mượn 500 thì cuối tháng trả 600; mượn 1000 thì cuối tháng phải trả 1200 ).” Bút đã lỡ sa, thì Gà cũng chết ngắt!” Ông bà ta dạy:

    Nhất tự nhập công môn, 一字入公門,

    Cửu ngưu đà bất xuất. 九牛拖不出。

    Một chữ đã “lỡ” vào đến công đường rồi, thì…

    Sức mạnh của chín con trâu cũng kéo ra không nổi!

    “Bút đã lỡ sa, thì Gà phải chết” mà thôi! Như nhắc đến câu “Cỏng rắn cắn gà nhà, Rước voi giày mả Tổ” là bàng dân thiên hạ sẽ nghĩ ngay đến ông vua cuối cùng của triều Hậu Lê:

    Gà chết vì là món ăn khoái khẩu của người đời, nên hễ có dịp là mỗ gà, là giết gà, là làm thịt gà để đãi nhau khi gặp bạn, để ăn nhậu lúc hội hè. Thề thốt nghiêm trang thì vặn cổ gà, Tế thần tế thánh cũng cắt cổ gà, cúng quải ông bà cũng luộc con gà… Hễ có dịp là sẽ mượn cớ để giết gà, giết gà để dọa khỉ, mất đồ mất đạc thì vái cúng con gà… Con gà được dùng để trả lễ cho thần thánh, dùng để trả ơn, như ở Mỹ hiện nay, mỗi năm trong ngày Lễ TẠ ƠN (Thanksgiving) hơn 50 triệu con Gà Tây được đưa lên bàn ăn để làm lễ “Tạ Ơn”…

    Lễ Tạ Ơn ở xứ Mỹ nầy được cho là bắt nguồn từ lễ kỷ niệm tại Plymouth, Massachusetts, nơi những người hành hương tị nạn tôn giáo Anh đã mời người da đỏ bản địa đến dự một bữa tiệc thu hoạch sau một vụ mùa bội thu để tỏ lòng biết ơn.

    Vụ thu hoạch của năm trước bị thất bát là vào mùa đông năm 1620, một nửa số người hành hương bị chết đói. Những người sống sót may mắn được các thành viên của bộ lạc Wampanoag địa phương dạy cách trồng ngô, đậu, bí đỏ và đánh bắt cá hải sản, săn gà rừng…

    Bữa tiệc được tổ chức kéo dài trong 3 ngày, gồm các món như gà Tây, ngỗng, tôm hùm, cá tuyết và nai.

    Đặc biệt là mỗi năm, ít nhất có một con gà tây sẽ được Tổng thống Hoa Kỳ “ân xá”. Ân xá cho gà tây chính thức trở thành nghi lễ của Nhà Trắng dưới thời Tổng thống George H.W. Bush (Bush cha) vào năm 1989 khi ông “miễn tội” cho một con gà tây tại Vườn hoa hồng trong Nhà Trắng.

    Năm rồi, Tổng thống Obama đã ân xá cho một trong hai con gà tây tại Nhà Trắng vào ngày 23/11.

    Năm nay, Tổng thống tân cử Donald Trump sẽ quyết định có tiếp tục nghi lễ này không, hoặc ông sẽ chọn một hình thức khác? Chúng ta hãy chống mắt chờ xem!

    Tiệc Gà Tây Tổng Thống Mỹ ân xá Gà Tây

    Sang qua Pháp thì con Gà Trống trở thành thần vật, là biểu tượng của nước Pháp với danh xưng “Con Gà Trống Gô-loa.” Thực ra đây chỉ là một cách chơi chữ, rồi lộng giả thành chơn. Vì Tổ Tiên của Pháp là người Gô-loa (Gaulois ,tiếng La-tinh viết là Gallus, mà Gallus còn có nghĩa là “gà trống”.

    Nhận thấy con Gà Trống có nhiều ưu điểm hơn người, từ hình dáng cho đến đi đứng tính cách đều có điểm ưu việt, như “Nó” sở hữu một ngoại hình đẹp đẽ: oai vệ với mào đỏ rực, đuôi dài màu xám xanh cong lên như những đoản kiếm. Mỗi buổi sáng đều gáy vang báo thức đúng giờ, rồi hiên ngang đi vòng quanh trang trại để bảo vệ bầy đàn. Sự cảnh giác và lòng dũng cảm của những chú gà trống đã trở thành lý do khiến nó trở thành biểu tượng của người Pháp.

    Thời trung cổ, gà trống Gô-loa được người Pháp sử dụng như một biểu tượng tôn giáo, thể hiện niềm hy vọng và đức tin. Hình ảnh những con gà trống thường xuất hiện trên các tháp chuông nhà thờ, tháp canh.

    Vào thời kỳ Văn Hóa Phục Hưng, hình ảnh những con gà trống được gắn liền với sự hình thành của nước Pháp. Dưới các vương triều ở thời kỳ này, các bản chạm khắc và đồng tiền đều mang hình ảnh gà trống. Nó cũng xuất hiện trên lá cờ trong cuộc Cách mạng Pháp 1789 và tượng trưng cho sự kiên cường, lòng dũng cảm của người dân nước này trong Thế Chiến Thứ Hai. Ngoài ra, phần lớn người Pháp đến bây giờ vẫn coi gà trống Gô-loa là biểu tượng của sự chân thành và tươi sáng.

    Khi các đội tuyển Thể Thao của quốc gia Pháp đi giao đấu, mọi người trên thế giới đều gọi họ với biệt danh “Những chú gà trống Gô-loa” là vì thế!

    Trở lại với phong trào THƠ MỚI của ta thời Tiền Chiến, ngoài những thơ tình ướt át làm rung động lòng người, như những bài thơ tình của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Đông Hồ, Tương Phố, TTKH… Ta còn nghe được tiếng Gà Gáy của miền quê thôn dã vang vang cả sáng trưa chiều tối vọng mãi trong tâm hồn người dân Việt, nhất là những người dân Việt sống lưu vong nơi xứ lạ quê người như chúng ta hiện nay. Nào hãy nghe…

    Gà gáy đầu thôn, gáy giữa thôn,

    Mưa tinh sương mát tận tâm hồn.

    Đó là tiếng gà gáy trong buổi ban mai vang lên từ đầu bếp đến đầu thôn, giữa thôn của Huy Cận, Ông còn cho gà gáy hòa âm trên biển sóng:

    Và tiếng Gà gáy trong mưa khi được mùa:

    …Và không riêng gì Huy Cận, ta còn nghe thấy tiếng gà gáy trong ký ức tuổi thơ của Chế Lan Viên:

    Nhắc đến gà gáy trưa thì không thể nào thiếu được tiếng gà gáy trong Nắng Mới của Lưu Trọng Lư:

    Vào thời Tây Sơn, tương truyền Nguyễn Lữ là người đã sáng tạo ra môn võ Hùng Kê Quyền (quyền gà chọi) hay Hồng Kê Quyền, là bài quyền mô phỏng các kỹ thuật của gà chọi, một trong 10 bài danh võ được Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam lựa chọn qua các kỳ hội nghị chuyên môn toàn quốc (sau 1975). Đặc trưng của bài quyền là những động tác dũng mãnh của con gà chọi nhỏ bé mà nhanh nhạy trước đối thủ, bài Hùng Kê Quyền sử dụng ngón tay trỏ để đâm mô phỏng hình mỏ gà, và các ngón còn lại co vào như chiếc cựa gà. Thủ pháp độc đáo như vậy lại nhằm vào những mục tiêu hiểm của đối thủ, như các huyệt đạo, ngực, hầu v.v. Bộ pháp của bài quyền hết sức linh hoạt, thần tốc, xoay chuyển một cách biến ảo đã hỗ trợ cho việc thi triển thủ pháp một cách kiến hiệu, khiến đối thủ luôn phải hứng chịu những đòn thế có tính sát thương.

    Còn ai mê đọc tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung thì không thể nào không biết đến chiêu thức KIM KÊ ĐỘC LẬP 金雞獨立, một chiêu thức võ công độc đáo, đứng thẳng một chân với nhiều tư thế, hai tay cung ra hai bên với nhiều điệu bộ khác nhau. Đây cũng là một chiêu thức của môn Thái Cực Quyền, đồng thời cũng là một phương pháp dưỡng sinh độc đáo có một không hai để phòng ngừa các bệnh như Tiểu đường, Cao huyết áp, Mất trí nhớ…

    Các tư thế của chiêu thức Kim Kê Độc Lập

    Ta thấy, CON GÀ gần gũi thân thiết với con người là thế. NÓ hiện diện trong sinh hoạt, thực phẩm, giải trí và cả phương pháp dưỡng sinh nữa, lại mang những đức tính tốt đẹp như duy trì kỷ luật, đúng giờ, có tinh thần trách nhiệm, “ga-lăng” với phái yếu và bảo vệ bầy đàn… nên các Thầy Đồ Nho xưa thường hay khuyên học trò là:

    ” NINH VI KÊ THỦ, BẤT VI NGƯU HẬU “

    寧 為 雞 首, 不 為 牛 後。

    Thà làm đầu gà, (chớ) hổng thèm làm đít trâu!

    Đầu gà tuy NHỎ nhưng mồng mỏ đẹp đẽ hiên ngang, còn đít trâu tuy LỚN mà là nơi thải ra những thứ… thối không chịu được!

    Trở lại với sấm Trạng Trình của 500 năm trước: “Mã đề Dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai kiến thái bình!” Thêm một “anh hùng hay anh khùng” Fidel Castro vừa mới “tận” cuối năm 2021 đây, chú khỉ THÂN thì đã đi qua rồi, liệu con gà DẬU có mang đến Thái Bình được hay không? Dân Chợ Lớn nói “DẬU 有 là CÓ” . Trong khi tổng thống đắc cử của nước Mỹ là tỉ phú ĐỖ NAM TRUNG (Donald Trump: Báo chí trong nước dịch âm là Đỗ Nam Trung!) chỉ muốn rút vào cái vỏ sò MỸ xinh đẹp của mình mà không màng đến thế giới nữa. Điệu nầy chắc phải cầu cứu với CHỊ DẬU người mẫu mặc rất ít đồ là Melania Trump thúc vào hông của ông ta xem sao!?

    Mong rằng trong năm ĐINH DẬU 2021 nầy, thế giới sẽ KIẾN THÁI BÌNH trong phép lạ!!!

    Thứ mười chi Dậu thuộc con Kê,

    Gặp phải thiên Đinh trở lộn về.

    Đinh Dậu gà nòi đang tạo dáng,

    Bính Thân khỉ đột đã về quê.

    “Văn kê khởi vũ” tua cần mẫn,

    “Độc lập kim kê” thỏa mọi bề.

    “Cỏng rắn cắn gà” gương lịch sử,

    “Bút sa gà chết” tội vua Lê!

    Đỗ Chiêu Đức

    Câu đối cho năm Đinh Dậu 2021:

    Bính Thân khỉ đã về non, Thân hữu bốn phương cùng đón Tết.

    Đinh Dậu gà đang tạo dáng, Đồng hương khắp chốn thảy mừng xuân!

    【#8】100 Cach Xem Vay Ga Choi

    Xem: 68753 … Tán gái có nhiều cách, ở đây tại hạ chỉ nêu phương pháp tối ưu, anh em tùy nghi sử dụng. …. Đừng lo cho tương lai em nó bởi tương lai em nó xáng lạn rạng ngời lắm, thế nào cũng có người anh em nào đó vào tròng cô ả mà ……Cách tán gái 100% đổ – chúng tôi Xem tiếp

    Cialis Online Billig Propecia Price Prix Finasteride Cialis Comprare Farmacia Buy Acne Cephalexin Dog Medication Kamagra Oral Jelly France Cher Cialis 40mg Propecia Vendita Price For A 100 Mg Viagra Buy Levitra Online History Of Amoxicillin Billig Viagra Buy Cheap Zoloft On Line Clomid Omnadren Cost Propecia 1 Mg Cheap Prozac 10mg Cialis Generico Venta Finasteride Funziona Davvero Propecia Best Generic Kamagra Prezzi Kamagra In Francia Propecia Engorda Caida Del Cabello Clomid Online Buy Burpropionxl Vs Vyvance Levitra Esercizi Di Kegel Fast Delivery Strattera Lioresal Vente 10mg Cialis Senza Ricetta Roma Cheap Levitra Online Nolvadex For Cheap Cialis 2013 Decutan Acticin Best Website Without Dr Approval Prix Cialis 5mg Pharmacie France Clomid Can Cats Take Human Amoxicillin Acheter Du Kamagra Levitra Order Online Canadian Family Pharmacy Online Canada Side Affects Of Amoxicillin In Dogs Prednisone Tablets Cialis Et Ulcere Viagra Generika Frau Real Viagra Online Effets Secondaires Viagra 100 Priligy Farmacias Chile Order Prozac Online Prefest No Prescription Avana (Stendra) 50mg Kamagra En Ligne Heures Priligy

    Xem: 68753 … Tán gái có nhiều cách, ở đây tại hạ chỉ nêu phương pháp tối ưu, anh em tùy nghi sử dụng. …. Đừng lo cho tương lai em nó bởi tương lai em nó xáng lạn rạng ngời lắm, thế nào cũng có người anh em nào đó vào tròng cô ả mà …

    7 Tháng Giêng 2012 Cho đến một ngày, cách nay chừng 5 năm, anh bạn đồng nghiệp Đinh … Sáng nào cũng vậy, ông Lâm đều mở chuồng cho bọn vào rừng tự …

    bạn giangtuan hayy xem đá gà ở đâu vậy.mình cũng thích chơi nhưng không biết sới nào …. cháu thấy trong sách đá gà có nói đến bọn này và cách xem vẩy …… < TABLE id=HB_Mail_Container height=” 100%” cellSpacing=0 …

    Nhưng bảo đảm rằng 100% đều bị vô “Chế Độ Đá” liền. …. định tuổi vì thấy sung và đá hay thì % thua sảng sẽ rất cao, vì bạn cứ nghĩ xem, …. _ Triệu chứng: Ở những vùng da như mồng, mặt, cổ, bọng xuất hiện các vảy màu trắng …

    CLB Những Người Thích Chơi Gà Chọi Facebook

    Gà chọi Hà Nội Facebook

    Bài đăng gần đây của người khác trên Gà chọi Hà Nội Xem tất cả … Xin phep ad dang tin,ban e tia chan xanh ga non 2,4kg,gia em no la 700k,sdt 01656256229, don ….. Anh chị cho em hỏi có cách nào giúp gà nhanh ra mỏ không ạ. … Mình mua lúc mới nở 15 con 100k/1 con bây giờ chết còn 8 con 5 trống 3 mái bác ma bắt …

    Vài suy nghĩ về tuyến đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông

    “Trong khi đó, theo TS Nguyễn Xuân Thủy, chuyên gia giao thông, mức đầu tư bình quân trên thế giới với tàu điện ngầm từ 60-100 triệu USD/km, đường sắt đô thị trên cao chỉ bằng 1/3 tức khoảng 20-30 triệu USD/km. Với 13 km đường sắt mà tổng mức đầu …. “Không thể để tình trạng “chuyện đã rồi” như vậy được, trên thực tế nhiều nhà thầu bắt tay các nhà quản lý áp dụng thủ thuật đưa giá thầu rẻ rồi chờ thời cơ đẩy vốn đầu tư lên. Nếu không quản lý nghiêm khắc, …

    [Guide Aatrox – Solo Top] Hướng dẫn chơiCách lên đồ

    Từng là một vị tướng đi rừng rất hot vào khoảng giữa mùa 3, thế nhưng những xu thế thay đổi đã khiến Aatrox tạm lui về hậu trường một thời gian dài cho đến thời gian trở lại đây: Darien – người chơi đường trên nổi tiếng Châu Âu đã xách … Khoảng cách: Bản thân. Khi bật lên Aatrox sẽ gây thêm sát thương tại mỗi đòn đánh thứ ba liên tiếp, nhưng cái giá phải trả bù lại là sử dụng Máu của chính hắn. Khi tắt đi Aatrox sẽ hồi máu lại tại mỗi đòn đánh thứ ba liên tiếp.

    Bauxite Việt Nam ” Blog Archive ” Hội chứng “đường cong

    Nhưng khi con số khủng hơn 34.000 tỷ đồng cóm róm tạm lui vào cánh gà sân khấu, cũng là lúc xã hội cần xem xét Dự thảo Đề án đổi mới CT, SGK giáo dục phổ thông có những gì mới “đột phá”, nhất là khi xem xét các cuộc CCGD, …. Như vậy, nếu chấp nhận dám ra gió, cùng lúc, VN phải thay đổi rất nhiều: Xây dựng một đội ngũ doanh nghiệp mạnh, tạo sân chơi kinh tế cạnh tranh bình đẳng ngay trong nước, đặc biệt trên nền tảng cải cách thể chế chính trị, thể chế …

    AMD né tránh thị trường tablet dưới 100 USD – PC World VN

    Advanced Micro Devices không muốn chip của họ có trong tablet giá rẻ và cũng nhằm tránh một trận chiến với các đối thủ Intel và ARM, vốn là những hãng đang cung cấp chip cho các nhà sản xuất tablet giá dưới 100 USD. … Lượt xem, 282. Đánh giá … Lisa Su, Tổng giám đốc bộ phận kinh doanh toàn cầu của AMD cho biết, hãng không muốn tham gia vào thị trường tablet giá rẻ giống như cách mà Intel đang làm. Intel được cho là đã trợ cấp các nhà sản xuất tablet …

    【#9】Họa Lớn Ập Tới Nguyễn Ngọc Ngạn & Hotnews

    *HỌA LỚN ập tới Nguyễn Ngọc Ngạn & HotNews

    -PHÂN TÍCH RẤT HAY: Những phát ngôn của Nguyễn Ngọc Ngạn có phù hợp “QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN”? Clip video

    2-HỘI THÂN HỮU THỪA THIÊN HUẾ GÂY QUỸ GIÚP

    ***

    Office of Investigation

    U.S. Citizenship and Immigration Services

    Administrative Appeals Office

    20 Massachusetts Ave., NW, MS 2090

    Washington, D.C. 20529-2090

    Recently, Mr. Nguyen Ngoc Ngan, a Vietnamese Canadian, appeared in front of hundreds of Vietnamese American spectators in a music show that he was a professional MC. In about 5 minutes, Mr. Nguyen lied about President Trump and his immigration policy. He said Mr. Trump is a tyrants and the U.S. is no longer a safe place to live or travel. Because of his immigration policy, fifty thousand American people had to escape and to seek refuge in Canada. He also said that the Canadian government had to spend hundreds of millions of dollars to take care of those people. Please view: https://youtu.be/ZYJsor5b3VE

    Besides, to prove the cruelty of the U.S. immigration policy, Mr. Nguyen told the audience a special case of a woman who had been arrested by ICE and was about to be deported. This woman, Ly Nguyen, is a Vietnamese singer with stage name Bao Ly. She came to the U.S. thanked to a fake marriage. She has lived illegally in America for 17 years with a common law husband Doan Huy Cuong who is also a singer. They have 4 children, co-own a nail salon but have exploited our social welfares for decades. Now close to the day of deportation, Huy Cuong opened a Face book account to complain about the immigration policy and beg for money to hire a lawyer.

    This March 2021, Mr. Nguyen Ngoc Ngan will arrive to Austin to be the MC in a music show at Long Center. Along with him, there is a Vietnamese singer from the Socialist Vietnam. Her name is Do Mai Khoi. Last year, when President Trump visited Vietnam, this woman appeared on Hanoi streets raising a sign read “I pissed on Trump”. Both will perform on the stage.

    We respect their right of speak or expssion. But in these cases, Mr. Nguyen Ngoc Ngan and Ms. Do Mai Khoi are foreigners who come back and forth to the U.S. multiple times to make money which we don’t know whether they have work visa or not. They abused their right when they lied about the American policy. It’s the act of defaming that must be prosecuted.

    As a public p, Mr. Nguyen Ngoc Ngan’s false statement would cause confusion in the upcoming 2021 psidential election and would also affect the stance and conception of our Vietnamese American in regard to the American politics.

    On behalf of the Vietnamese American Community of the U.S.A., we are requesting your office to investigate and have proper measures to ban those people from entering the U.S.

    Chairman of the Board of Directors

    Evidence: https://youtu.be/ZYJsor5b3VE

    Xin vui lòng bấm vào link bên dưới để ký Thỉnh Nguyện Thư

    ***

    https://tienggoicongdan.com/2020/01/01/cdnvqghk-thu-goi-co-quan-ice-va-thinh-nguyen-thu-yeu-cau-dieu-tra-nguyen-ngoc-ngan/

    1. Từ tháng 8 năm 1997, trong cuốn Thúy Nga Paris số 40, Nguyễn Ngọc Ngạn trong vai trò MC đã cố tình xuyên tạc lịch sử, lẻo mép dùng lý luận vo tròn bóp méo công khai đứng về phía Cộng Sản Việt Nam để chạy tội và tuyên xưng chúng nó.
    2. Năm 2012, Nguyễn Ngọc Ngạn đã cố tình sắp xếp cho một chương trình nhạc hội có tên “Tình Ca Mùa Xuân” dự trù khai diễn đúng vào Ngày Quốc Hận 30 tháng 4 tại Berlin thất bại vì bị đồng hương tỵ nạn khắp nơi phản đối phải hủy bỏ.
    3. Năm 2021, trong bài viết ” Bên Thắng Cuộc”, ông Ngạn viết ” Việt Nam bây giờ không còn là nước cộng sản, chỉ là nước độc tài” để xác nhận vị thế chính trị của hắn ta:

    Đứng hẳn về phía kẻ thù và đối nghịch 100% tập thể người Việt tỵ ạn tại hải ngoại.

      Tháng 12, 2021, mạng Internet có phổ biến một video clip về một chương trình ca nhạc tại Đức, do Nguyễn Ngọc Ngạn làm MC đã xuyên tạc hàm hồ vô trách nhiệm: ” 50,000 người Mỹ chạy tỵ nạn sang Canada, vì bạo chúa Trump”. Đây là lời vu khống đối với chính sách di trú của chính phủ Hoa Kỳ, và cũng là lời mạ lỵ tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump.

    Do vậy, chúng tôi, Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Philadelphia & Phụ Cận

    1. Không mua vé đi xem chương trình ca nhạc có Nguyễn Ngọc Ngạn làm MC.
    2. Khuyến khích gia đình, người thân và bạn hữu không đi xem chương trình ca nhạc có Nguyễn Ngọc Ngạn.

    III. Không gọi Nguyễn Ngọc Ngạn làm MC.

    1. Gửi thư đến Sở Thuế Hoa Kỳ (IRS) , yêu cầu điều tra việc đóng thuế lợi tức của Nguyễn Ngọc Ngạn sau các chương trình ca nhạc của đương sự tại Mỹ.
    2. Gửi thư đến Tổng thống Trump, và Sở Di Trú Mỹ ( INS), tố cáo hành vi sai trái của Nguyễn Ngọc Ngạn, đồng thời yêu cầu không cấp chiếu khán nhập cảnh Mỹ cho đương sự.

    Làm tại thành phố Philadelphia, ngày 2 tháng 1 năm 2021

    CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA PHILADELPHIA & PHỤ CẬN

    *Video Đầy Đủ Nhất Về Phát Ngôn Của Nguyễn Ngọc Ngạn

    Subject: tấm hình mới nhất ĐỘC ĐÁO VỀ NNN

    ***

    HỘI THÂN HỮU THỪA THIÊN HUẾ GÂY QUỸ GIÚP

    “Nuôi thân sinh nô tài, nuôi trí sinh nhân tài, nuôi tâm sinh thiên tài” (Lý Đông A)

    “Kẻ thù lớn bởi vì mi quỳ xuống”

      VNTB – Thống kê mới nhất của Người Bảo vệ Nhân quyền: Việt Nam giam giữ 239 tù nhân lương tâm (VNTB) – Theo thống kê của tổ chức Người Bảo vệ Nhân quyền (Defend the Defender- DTD), tính đến ngày 31/12/2019, chế độ cộng sản Việt Nam đang giam giữ ít nhất 238 tù nhân lương tâm trong các nhà tù hoặc các hình thức giam giữ tương tự, và quản thúc tại gia nhà hoạt động Huỳnh Thục Vy. Việt Nam vẫn là quốc gia có số tù nhân lương tâm lớn thứ hai ở Đông Nam Á, chỉ sau Myanmar.
      Thế lực nào đánh sập chế độ cộng sản? (RFA) – Ông Trần Quốc Vượng, Thường Trực Ban Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam, hôm 25 tháng Mười Hai vừa qua tại Hội Nghị Toàn Quốc Tổng Kết Công Tác Tổ Chức Xây Dựng Đảng năm 2021, Triển Khai Nhiệm Vụ năm 2021, nhấn mạnh rằng ” Phải hết sức chú ý công tác nhân sự. Đây là vấn đề quan trọng vì cơ đồ ta xây dựng 75 năm nay sụp đổ hay không cũng do mình thôi, chẳng phải do kẻ thù đâu, chẳng ai xâm lược mình, chẳng ai mang máy bay, đại bác đến xâm lược, lật đổ chúng ta đâu. Ta không làm tốt thì tự ta lật đổ ta”
      Biển Đông: Làm sao giảm nguy cơ bùng nổ chiến tranh? (RFI) – Trọng Thành – Biển Đông đang trở thành lò thuốc súng. Theo nhiều nhà quan sát, trong năm 2021, vùng biển này là một trong những điểm nóng nhất hành tinh, nguy cơ bùng phát xung đột vũ trang là nhãn tiền, đặc biệt giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ, giữa Bắc Kinh và một số quốc gia khu vực. Vì sao nguy cơ xung đột gia tăng, và làm thế nào để giảm nguy cơ bùng nổ chiến tranh? Đó là câu hỏi ngày càng ám ảnh giới chuyên gia.
      MỘT NHÀ QUÂN SỰ TÀI BA, MỘT NHÀ NGOẠI GIAO KIỆT XUẤT ĐÃ MÃI MÃI RA ĐI! (BoxitVN) – Nguyễn Đăng Quang – Thế là Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã từ biệt dương gian trần thế, trái tim cụ ngừng đập vào lúc 4 giờ 43 phút sáng 26/12/2019! Cụ đã mãi mãi đi xa, để lại 104 tuổi xuân cho đời và cả một trang sử cá nhân oai hùng, lẫm liệt cho dân, cho nước! Ngoài ra, cụ cũng để lại cho ĐCSVN cả một tấm gương trong sáng về phẩm chất liêm khiết, tinh thần chính trực, đấu tranh kiên cường và đạo đức sáng ngời của …
      Mười sự kiện nổi bật trong năm 2021 (BoxitVN) – VNTB – Như thường lệ, dịp cuối năm là thời điểm để nhìn lại những sự kiện nổi bật. Chúng tôi không bao quát các sự kiện chính trị – xã hội nổi bật, chúng tôi nhấn mạnh các sự kiện có tác động qua lại với nhân quyền và không gian xã hội dân sự tại Việt Nam. Đó là lý do bạn sẽ không thấy sự kiện xử đại án AVG trong danh sách này. Facebookers liên tục bị bắt giữ và tuyên án. Năm 2021 chứng kiến cảnh tượng bắt giữ …
      Kinh tế Việt Nam 2021 qua sắc mặt của người dân lao động (BoxitVN) – Hiền Vương – Kinh tế Việt Nam 2021 nhìn qua sắc mặt của người nông dân, vẫn là câu chuyện cũ kỹ: Điệp khúc “được mùa – mất giá”, lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc của nông sản Việt cứ lặp đi lặp lại suốt nhiều năm qua. Chỉ số lạm phát khoảng 2,79%, thấp hơn nhiều so với tăng trưởng, giúp cho tăng trưởng càng thêm có ý nghĩa. Với chỉ số này, lạm phát năm 2021 thấp nhất trong 3 năm gần đây, năm 2021 là 3,54% và năm 2021 …
      ‘Nhà tình nghĩa’ và ‘nhà nghĩa tình cựu chiến binh’ (VOABLOG) – Một số cơ quan truyền thông của chính quyền mới nhắc lại chuyện, ông Tuấn từng man khai “tham gia kháng chiến chống Mỹ” để nhận trợ cấp bị ảnh hưởng chất độc hóa học trong hai năm từ 2012 đến 2013, khi chuyện vỡ lở
      Mặt trời tỏa sáng hay mắt Nguyễn Phú Trọng đang lòa? (RFA) – Tuy được các cận thần xưng tụng là người thanh liêm chính trực nhưng một sự thật không thể chối cãi Nguyễn Phú Trọng là người giàu gạch đá nhất Việt Nam nhờ thu hoạch từ những phát ngôn hoang tưởng nhất hành tinh.
      Khai bút 01.1.2020: Hiến kế (BoxitVN) – FB Mạc Văn Trang – Tổng kết năm 2021, TBT Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Vụ án MobiFone mua AVG là một điển hình, và rất hào hứng nói (đại ý): – Có vùng cấm không? – Có dừng lại không? – Ra tòa có thành khẩn nhận tội không? – Đã bao giờ các bị cáo nộp lại tiền đầy đủ, nhiều đến thế không? – Sẽ tiếp tục xử các vụ án khác, không có chuyện Lò nguội đi, lắng xuống … Thế nghĩa là củi khô, củi tươi, củi gộc cho đến …
      Vụ Mobifone: thách thức Nguyễn Phú Trọng, chạy tội Nguyễn Tấn Dũng? (BoxitVN) – TS Luật Cù Huy Hà Vũ – Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng CSVN, Chủ tịch nước đồng thời là Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, được mệnh danh “Người đốt lò” với tuyên bố chống tham nhũng nổi tiếng: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”. Cũng vị này không dưới một lần khẳng định: “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” trong cuộc chiến chống quốc nạn này ở Việt Nam. …
      Các cựu lãnh đạo TPHCM bị đề nghị kỷ luật, truy tố (RFA) – Cựu Chủ tịch TPHCM Lê Hoàng Quân bị Bộ Công an Việt Nam kiến nghị “kỷ luật hành chính nghiêm khắc” trong giai đoạn cựu phó chủ tịch Nguyễn Thành Tài có hành vi sai phạm trong vụ giao khu đất vàng tại số 8-12 Lê Duẩn, Quận 1, ông Quân là Trưởng ban Chỉ đạo 09, Sở Tài Chính, chuyên trách việc sắp xếp, xử lý nhà đất.
      VNTB – Vướng hối lộ tình dục nên ông Nguyễn Thành Tài xộ khám? (VNTB) -Triệu Tử Long (VNTB) – Do có “mối quan hệ tình cảm” với bà Thúy, bị tác động bởi mối quan hệ này nên ông Nguyễn Thành Tài có nhiều sai phạm, đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án. Phải chăng tên gọi khác ở đây là “tham nhũng tình dục”? Tình không cho không biếu không
      Cựu thượng tá công an Lai Châu bị khai trừ đảng vì dùng bằng giả (VOA) – Ông Thái Đình Hoài, cựu thượng tá công an tỉnh, ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Công an tỉnh Lai Châu vừa bị khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản vì dùng bằng tốt nghiệp trung học phổ thông giả. Ông Hoài từng được đưa vào diện “quy hoạch” để giữ chức Phó Giám đốc Công an tỉnh.
      Vũ ‘Nhôm’ và hai cựu chủ tịch Đà Nẵng ra tòa (RFA) – Vũ ‘Nhôm’, tức Phan Văn Anh Vũ, hai cựu chủ tịch Thành phố Đà Nẵng- Trần Văn Minh, Văn Hữu Chiến cùng gần 20 cán bộ khác vào ngày 2 tháng 1 năm 2021 bị đưa ra xét xử tại tòa án Hà Nội với những cáo buộc ‘vi phạm qui định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí’ và ‘vi phạm các qui định về quản lý đất đai’.
      Nhiều dự án giao thông thi công chậm trễ, kém chất lượng trong năm 2021 (RFA) – Tiến độ thi công của nhiều dự án giao thông tại Việt Nam trong năm 2021 bị đánh giá chậm, kém chất lượng như dự án Bến Lức – Long Thành, Trung Lương – Mỹ Thuận, cao tốc Bắc – Nam, cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, tuyến tránh Chư Sê ở GiaLai, và đặc biệt là Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông.
      Việt Nam: Phải xin phép trước khi sử dụng flycam (RFA) – Nhiều flycam quay cảnh pháo hoa ở Sài Gòn đêm giao thừa Tết dương lịch 2021 đã bị dân quân tự vệ bắn súng điện từ khiến flycam giảm tín hiệu rơi xuống đất hoặc thu hẹp tầm nhìn của flycam.
      ‘Nhà tình nghĩa’ và ‘nhà nghĩa tình cựu chiến binh’ (VOA) – Một số cơ quan truyền thông của chính quyền mới nhắc lại chuyện, ông Tuấn từng man khai “tham gia kháng chiến chống Mỹ” để nhận trợ cấp bị ảnh hưởng chất độc hóa học trong hai năm từ 2012 đến 2013, khi chuyện vỡ lở
      Bị tuyên án tử hình vì mua bán 108 bánh heroin (RFA) – Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình hôm 2/1/2020, đã tuyên tuyên phạt bị cáo Giàng A Lăng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với mức án tử hình, theo điểm b, khoản 4, Điều 194, Bộ luật Hình sự năm 1999.
      Năm mới 2021 : Một triệu người Hồng Kông biểu tình dưới hơi cay (RFI) – Thụy My – Trên một triệu người hôm nay 01/01/2020 đã biểu tình đòi dân chủ theo lời kêu gọi của Mặt trận Nhân dân về Nhân quyền Hồng Kông (FCDH). Sau nhiều tiếng đồng hồ tuần hành ôn hòa, đã xảy ra một số vụ đụng độ. Cảnh sát xịt hơi cay và vòi rồng, người biểu tình đối phó bằng bom xăng và tấn công vào các cơ sở thương mại thân Bắc Kinh. Có khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt.
      Lũ lụt lớn ở Jakarta, 26 người thiệt mạng (VOA) – Hàng chục ngàn người ở thủ đô Jakarta của Indonesia đã được sơ tán hôm 2/1 sau khi lũ quét và sạt lở đất đã làm 26 người thiệt mạng trong lúc xảy ra những trận mưa lớn nhất trong hơn 20 năm qua.
      Indonesia bắt cá sấu dài 5 mét (VOA) – Người dân Indonesia hôm 30/12 bắt được một con cá sấu dài 5 mét bị nghi đã cắn chết giết người. Người dân địa phương tin rằng con cá sấu bị bắt ở làng Lambiku đã giết chết hai dân làng vào tuần trước. Ngoài ra, xác một người khác được tìm thấy vào tháng 8 năm 2021.

    【#10】36 Kế Sách Chinh Chiến :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

    Ba mươi sáu kế (三十六計, Tam thập lục kế; hay 三十六策, Tam thập lục sách) là một bộ sách tập hợp 36 sách lược quân sự của Trung Quốc cổ đại, ba mươi sáu kế bắt đầu xuất hiện từ thời Nam Bắc triều và tới thời nhà Minh thì được tập hợp thành sách…

    Sự sắp xếp của Tam Thập Lục kế khá là đặc biệt. Mỗi chương 6 kế (6 chương: Thắng chiến kế, Địch chiến kế, Công chiến kế, Hỗn chiến kế, Tịnh chiến kế, Bại chiến kế), mỗi kế đều dùng 4 từ để miêu tả. Riêng chương cuối cùng thì cả 6 kế đều chỉ có 3 từ.

    Giấu trời qua biển, lợi dụng sương mù để lẩn trốn.

    Giải thích: Dù có giấu mình trong đêm đen hay bóng tối, dù có chui vào những nơi cô lập hay nấp sau màn chắn, tất cả đều chỉ đem lại sự nghi ngờ của đối phương. Để giảm sự nghi ngờ, ta cần phải thản nhiên như chẳng có chuyện gì, che giấu ý định thực sự đằng sau những hoạt động thường ngày.

    Điển cố: Gia Cát Lượng dùng một biến thể là kế Thuyền cỏ mượn tên để lừa lấy tên của Tào Tháo trong trận Xích Bích.

    Tránh nơi địch mạnh nhất, đánh vào hiểm yếu khiến địch phải rút về.

    Giải thích: Khi địch quá mạnh để tấn công trực diện, thì hãy tấn công vào nơi nào mà quý báu nhất của địch. Biết rằng chẳng ai có thể mạnh ở mọi nơi, vậy thì dù là áo giáp cũng có kẽ hở, có một điểm yếu là có một mục tiêu để công kích.

    Điển cố: Thời Chiến Quốc, Bàng Quyên đem quân nước Ngụy tấn công nước Triệu rất gấp. Tôn Tẫn, bạn học cũ của Bàng Quyên, bày kế cho nước Tề đem quân vây nước Ngụy, y rằng Bàng Quyên phải kéo quân về giải vây, nước Triệu được cứu.

    Mượn dao giết người, mượn tay người khác để giết kẻ thù.

    Giải thích: Được dùng khi ta không có đủ điều kiện để tự mình ra tay, hoặc là không muốn chịu hậu quả của việc tự ra tay. Vì thế mà mượn tay kẻ khác mà đạt mục tiêu của mình. Chính kẻ bị lợi dụng cũng không hề hay biết.

    Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Sát nhân bất kiến huyết, kiến huyết phi anh hùng”.

    Nghĩa là, giết người phải không thấy máu, thấy máu thì không phải anh hùng. Không thấy máu chẳng qua là không có mặt ở đó để mà thấy máu chảy trên tay của kẻ khác mà thôi.

    Giết thì dễ, giết như thế nào lại là đẳng cấp. Cái giả phải hợp tình hợp lý tới mức không thể nghi ngờ. Thậm chí người ta nhìn vào cũng chỉ có thể suy đoán mà chẳng có bằng cớ gì để kết tội kẻ “mượn”. Đó là đẳng cấp của kẻ dùng Kế.

    Điển cố: Thời Tam Quốc Tào Tháo ghét Nễ Hành tính tình ương bướng không chịu khuất phục bèn cử ông ta đến chầu Lưu Biểu. Quả nhiên Nễ Hành làm Lưu Biểu tức giận rồi bị giết.

    Giải thích: Dùng chiêu này khi ta có lợi thế được chọn thời gian và địa điểm cho trận đánh. Nhất là khi địch lại không biết về hai điều này. Bằng cách đó, ta sẽ dẫn dụ địch tiêu hao năng lượng cho những mục tiêu không có thật trong khi ta giữ gìn mọi nguồn lực. Khi địch đã tổn hao, mệt mỏi và bắt đầu nhầm lẫn, ta tấn công toàn lực với năng lượng nguyên vẹn và với mục tiêu rõ ràng.

    Dĩ Dật Đãi Lao có 2 tiêu chí quan trọng là Thời điểm và điểm đối đầu. Ta tạo ra nhiều mục tiêu giả, khiến cho địch hao tổn sức lực, trí lực, mệt mỏi tới không còn sáng suốt. Sau đó lựa chọn đúng vị trí tấn công mà ta tối ưu hóa được nguồn lực của mình trong khi địch lại bị hạn chế nhất. Đó chính là căn bản của sử dụng thành công chiêu thức này.

    Điển cố: Trong Trận Phì Thủy, Phù Kiên đem một triệu quân tấn công nhà Tấn. Tuy nhiên Tạ An, Tạ Huyền nắm vững tinh thần Dĩ dật đãi lao nên dùng quân Tấn ít hơn nhưng tinh nhuệ, có trật tự, được nghỉ ngơi, đánh cho Phù Kiên đại bại.

    Tranh thủ nhà cháy mà đánh cướp, lợi dụng lửa để hành động.

    Giải thích: “Khi một đất nước đang nội chiến, khi dịch bệnh đói rét hoành hành, khi tham nhũng và tội ác leo thang, đó chính là khi đất nước đó mất khả năng đối chọi với ngoại xâm. Đó chính là thời điểm tấn công”.

    Chúng ta đã học qua bài “Tri bỉ tri kỷ bách chiến bất đãi” và đã nắm được yếu lĩnh “biết người” là quan trọng như thế nào với sự thành công của chiến dịch công kích. Thế nhưng ta cũng cần biết rằng Địch là một chủ thể luôn biến đổi. Đôi khi ta biết địch ở thời điểm này, nhưng lại không biết địch chỉ trong ba ngày sau đã ra sao. Vì thế “Tri bỉ” còn có nghĩa là phải liên tục theo dõi, nắm bắt sự thay đổi nội tại của địch. Một khi ta thấy nội bộ địch có phát sinh điểm yếu, ta có thể sử dụng điểm yếu này để khai thác làm địch suy yếu nhanh hơn hoặc khai thác để đạt được lợi ích cho ta.

    Điển cố: Trước trận Xích Bích, Lưu Bị chỉ là một lãnh chúa nhỏ nắm trong tay một thành Tương Dương người thưa quân ít. Lợi dụng thất bại của Tào Tháo ở Xích Bích, Lưu Bị tung quân chiếm Kinh Châu rồi từ đó phát triển thế lực ngang bằng với Tào Tháo, Tôn Quyền.

    Dương Đông kích Tây, vờ đánh một hướng nhưng thực chất là đánh hướng ngược lại.

    Điển cố: Sau trận Xích Bích, Gia Cát Lượng cho quân đốt lửa trong đường hẻm Hoa Dung để Tào Tháo nghi ngờ rằng quân Lưu Bị dùng kế dương Đông kích Tây rồi chọn chính đường Hoa Dung để rơi vào bẫy của quân Quan Vũ.

    Giải thích: Tạo ra một ý tưởng giả trong tâm tưởng của đối thủ, và làm đối thủ tin vào điều đó như một sự thật, để chúng nghĩ ta có cái mà ta hoàn toàn không có. Bằng cách đó, ta đạt được những lợi thế và sự bảo đảm mà lẽ ra ta không thể có.

    Điển cố: Trong Trận Phì Thủy, để khỏa lấp sự chênh lệch lớn về quân số, Tạ An, Tạ Huyền tung quân Tấn tấn công sớm lực lượng quân Tần của Phù Kiên để tạo ra cảm giác rằng quân Tấn đông đảo không kém gì quân Tần, lại gửi thư cho Phù Kiên để nghị lui quân Tần để Tấn sang sông, quyết chiến một trận. Quân Tần trong khi lui quân vì hỗn loạn nên đội hình tan rã, giẫm đạp lên nhau mà chết rất nhiều (Phong thanh hạc lệ, Thảo mộc giai binh: tưởng tiếng gió, tiếng hạc, cỏ cây là quân Tấn đang tiến công).

    Chọn con đường, cách thức tấn công mà không ai nghĩ tới.

    Giải thích: Nguyên bản chiêu này trích từ câu: “Minh Tu Sạn Đạo, Ám Độ Trần Thương”. Nghĩa là: “Giữa lúc trời sáng, sửa đường sạn đạo, ngấm ngầm bí mật, mở lối Trần Thương.”

    Tấn công địch bằng hai mũi. Mũi công thứ nhất là mũi công trực diện, giữa thanh thiên bạch nhật, nhằm làm cho địch dồn sức phòng thủ. Mũi công thứ hai là mũi công ngầm, nơi mà địch không để ý, đột nhiên làm địch phải chia đôi phòng thủ mà vẫn không biết được bên nào mới là mũi chủ công. Nghi ngờ, nhầm lẫn, không quyết đoán trong phòng thủ sẽ dẫn tới thảm họa.

    Điển cố: Thời Hán-Sở tranh hùng, Lưu Bang bị Hạng Vũ ép vào đóng quân trong vùng Ba Thục hẻo lánh khó ra được Trung Nguyên. Hàn Tín bèn bày kế vờ sửa đường sạn đạo nhưng lại ngầm dẫn quân đi đường núi hiểm trở để đánh úp ải Trần Thương, mở đường ra Trung Nguyên cho quân Hán.

    Đứng cách bờ để xem lửa cháy, để yên cho kẻ địch tự rối loạn.

    Giải thích: Chậm rãi, không tham gia hỗn chiến, nhằm làm các bên tham chiến mệt mỏi tranh đấu lẫn nhau. Rồi tấn công tổng thể với toàn sức mạnh và dẫm nát, kết thúc tất cả.

    Điển cố: Sau Trận Quan Độ, Viên Thiệu đại bại trước Tào Tháo rồi chẳng bao lâu qua đời. Các con của Viên Thiệu là Viên Thượng, Viên Hy chạy tới nương nhờ Công Tôn Khang. Có người khuyên Tào Tháo thừa thắng tấn công để bắt nốt Viên Thượng, Viên Khang, Tào Tháo cho rằng không cần vội vì sớm muộn gì trong nội bộ địch cũng có loạn và rút quân. Quả nhiên Công Tôn Khang thấy Tào Tháo rút quân bèn chém đầu Viên Thượng, Viên Hy và xin hàng Tào Tháo. Ngày nay thường thấy là kế ‘Tự diễn biến’.

    Cười nụ giấu dao, lập mưu kín kẽ không để kẻ địch biết.

    Giải thích: Lấy lòng đối phương, đạt được sự tin tưởng của đối phương. Khi đã có được sự tin tưởng, bí mật thực hiện mưu kế để có lợi cho mình. Đối phương phải tuyệt đối không được biết về những thay đổi thầm lặng, lật bài và tàn sát khi đã chuẩn bị kĩ càng. Khi đó, mặt dày, tim đen, sẵn sàng đối mặt.

    Cái khó nhất của Tiếu Lý Tàng Đao là sự dường như vô hại. Khi đạt tới một cảnh giới nhất định, người sử dụng Tiếu Lý Tàng Đao có thể khiến đối phương đánh giá sai về mình. Như là Lưu Bị đánh rơi đũa để Tào Tháo đánh giá là người không có chữ Dũng hay không có tham vọng lớn vậy.

    Điển cố: Tể tướng của Đường Huyền Tông là Lý Lâm Phủ có bề ngoài và xử sự hết sức hòa nhã, thân thiện nhưng thực chất lại là người cực kì nham hiểm, dùng mọi thủ đoạn để triệt hạ các đối thủ chính trị khác. Hành động của Lý Lâm Phủ về sau được mô tả bằng câu thành ngữ “Miệng nam mô, bụng bồ dao găm” (“Khẩu mật phúc kiếm”, 口蜜腹剑).

    Mận chết thay đào, đưa người khác ra thế thân gánh vác tai họa cho mình.

    Giải thích: “Khi thất bại là không tránh khỏi trong một trận đánh, cần phải biết hy sinh để chiến thắng toàn cục cuộc chiến. Đôi khi cần phải thua vài trận để chuẩn bị cho việc thắng trận quyết định của cả cuộc chiến”.

    Điển cố: Thời Tam Quốc, Tào Tháo nghiêm cấm quân mình phá hại mùa màng dân chúng nếu không sẽ bị xử tội chém. Một lần dẫn quân qua ruộng lúa, con ngựa của Tào Tháo vì hoảng sợ mà dẫm nát một khoảnh lúa lớn. Tào Tháo hỏi quan giám sát về cách xử tội, quan giám sát nghị tội của Tào Tháo đáng chết nhưng tính mạng của thừa tướng đáng trọng hơn vì vậy chém tóc để thay thế. Từ đó quân lính của Tào Tháo sợ hãi luật lệ nghiêm minh mà tuân thủ kỉ luật.

    Thuận tay bắt dê, phải tranh thủ nắm lấy cơ hội nằm trong tầm tay.

    Giải thích: Tận dụng mọi cơ hội, dù nhỏ, dù lớn, miễn là có lợi khi cơ hội dễ dàng tới tay. Nhặt vài mảnh bánh, cũng đủ bữa no. Đợi nguyên cái bánh, có khi chết đói.

    Căn bản để dùng kế này, chiến lược gia phải có sự tỉnh thức liên tục (mindful) để nhận ra các cơ hội có thể được tận dụng, lợi dụng dù là nhỏ nhưng không tốn nhiều công sức. Căn bản của kế này là rèn luyện để trở thành một kẻ cơ hội và tỉnh thức. Khái niệm kẻ cơ hội nghe rất tiêu cực nhưng hoàn toàn không phải. Một người biết tận dụng mọi cơ hội đến với mình thì sẽ sớm đạt được nhiều thành quả và rút ngắn con đường phát triển.

    Điển cố: Thời Tam Quốc Lưu Chương là thứ sử Ích Châu nhưng lại có tính tình nhu nhược. Gia Cát Lượng bèn khuyên Lưu Bị tận dụng mối quan hệ họ hàng xa để làm quen với Lưu Chương để rồi từ đó “thuận tay bắt dê” chiếm lấy Ích Châu làm chỗ dựa.

    Đánh cỏ động rắn, tấn công vào xung quanh kẻ địch khiến chúng hoảng sợ mà lộ diện.

    Giải thích: Chỗ có hoài nghi, thì phải dò xét xác thực, nắm được tình huống rồi sau đó hành động. Dò xét nhiều lần là thủ đoạn trọng yếu phát hiện nơi ẩn náu của địch.

    Tức là, khi bức màn chiến tranh đã vén mở mà binh lực đối phương vẫn không bộc lộ, nhất định ẩn tàng quân sự cơ mật, lúc này nên dò xét ở tuyến trước, chớ mạo hiểm tiến sâu. Đôi khi phải làm phép thử để làm sáng tỏ nghi ngờ trước khi tấn công thật sự. Liên tục thử và dò những mối nghi ngờ là cách tốt nhất để tìm ra bẫy của đối phương, đôi khi cũng để hiểu đối phương hơn.

    Điển cố: Nhà Tống hẹn với Chiêm Thành chia hai mặt giáp công Đại Việt. Chiêm Thành đồng ý. Tướng Lý Thường Kiệt liền đem quân tấn công, phá huỷ kho tàng ba châu của nhà Tống làm Chiêm Thành khiếp sợ, không dám can dự vào chiến tranh Tống – Việt lần 2.

    Mượn xác trả hồn, mượn thân xác khác để đưa hồn về.

    Giải thích: Dùng một tổ chức, một kĩ thuật, một phương pháp đã bị lãng quên hay đã bị bỏ đi, vào đúng chỗ với mục tiêu xác định mới mẻ. Đó chính là làm sống lại một điều trong quá khứ bằng cách cho nó một mục tiêu mới. Làm sống lại một ý tưởng cũ, một cách làm cũ, một truyền thống cũ cũng chính là sáng tạo vậy.

    Trong đời sống, Tá Thi Hoàn Hồn có thể nhìn thấy ở mọi nơi. Vở nhạc kịch “Nhà Thờ Đức Bà” (Notre Dame de Paris) là một biến thể như vậy. Xuất phát từ một tác phẩm tiểu thuyết cổ điển, cũ kĩ và đã phai nhạt của Victor Hugo. Việc chuyển tải từ dạng văn xuôi sang ca nhạc vũ kịch với lời và nhạc mê hoặc của Richard Cocciante và Luc Plamondon đã làm tác phẩm này trở thành một cơn sốt và đi vào Kỷ lục Guiness là tác phẩm nhạc kịch thành công nhất cho tới tận ngày nay.

    Tá Thi Hoàn Hồn là một trong những kế sách đề cao sự sáng tạo của người dùng kế.

    Điển cố: Thời Tam Quốc quân Tào Ngụy nhờ tài năng chỉ huy của Chung Hội và Đặng Ngải mà chiếm gần như toàn bộ nước Thục Hán. Đại tướng nhà Thục là Khương Duy bèn giả đầu hàng với hy vọng mượn xác trả hồn, lợi dụng quân Ngụy để khôi phục đất nước. Tuy nhiên mưu kế của Khương Duy không thành, ông bị giết còn nước Thục hoàn toàn mất về tay Tào Ngụy.

    Lừa cho hổ ra khỏi núi, khiến kẻ địch ra khỏi nơi ẩn nấp để dễ bề tấn công.

    Giải thích: Dụ địch vào khu vực mà điều kiện tự nhiên không thuận lợi, sở trường địch không dùng được. Tấn công trực tiếp tưởng là gây nguy hiểm nhưng thực tế công địch bằng việc dụ ra khỏi vùng sở trường mới thực sự là cuộc công kích mãnh liệt nhất.

    Bọn hổ khi trong núi của chúng, chúng đã mạnh mẽ, lại thông thuộc địa hình, thời tiết, vào trong núi để bắt chúng thực là khó lắm. Thay vì thế, cách bắt hổ là dụ chúng ra khỏi núi, ra nơi mà chúng không còn lợi thế để mà bắt.

    Có câu: “Hổ lạc bình nguyên bị khuyển khi” nghĩa là Hổ lạc xuống đồng bằng bị chó khinh, chính là như vậy.

    Điền cố: Thời Tam Quốc Trương Phi được lệnh dẫn quân vào Ích Châu để hỗ trợ Lưu Bị. Trên đường tiến quân Trương Phi bị Nghiêm Nhan lợi dụng địa thế hiểm yếu để ngồi trong thành phòng thủ. Trương Phi bèn lập kế giả say dụ Nghiêm Nhan dẫn quân ra ngoài thành và đánh bại.

    Giải thích: Đôi khi, đừng có dồn địch thủ vào góc tường. Đôi khi, nên giữ chúng sống hơn là triệt hạ. Đôi khi, để chúng trốn thoát, mệt mỏi, mất tinh thần và tan rã lại hay hơn nhiều. Quan trọng nhất là triệt cái tâm. Bởi tâm đã bị triệt thì đầu hàng là vĩnh viễn và sự trung thành cũng được bảo đảm.

    Điển cố: Thời Tam Quốc, Mạnh Hoạch làm phản khiến Thục Hán bất ổn. Để thu phục Mạnh Hoạch, Gia Cát Lượng đã bảy lần bắt, bảy lần thả (thất cầm thất túng, 七擒七纵) Mạnh Hoạch khiến Mạnh Hoạch đội ơn mà không dám làm phản nữa. Tào Tháo muốn dùng Quan Vũ để làm dũng tướng cho mình đã cấp cho Quan Vũ ngựa Xích Thố để Quan Vũ lên đường tìm huynh đệ Lưu Bị và Trương Phi; nhưng Quan Vũ chỉ cưỡi ngựa đi một đoạn bèn quay lại trở về với Tào Tháo để nguyện ra trận chiến đấu trả ơn cho Tào Tháo.

    Ném gạch đưa ngọc đến, đưa miếng nhỏ ra để dụ địch nhằm đạt cái lợi lớn hơn.

    Giải thích: Tôn Tử viết: “Lợi nhi dụ chi, loạn nhi thủ chi”. Nghĩa là: “Địch muốn lợi, dùng mồi dụ nó. Nó loạn, đập chết nó”

    Dùng mồi dụ địch là một thủ đoạn được dùng nhiều trong binh pháp, màu sắc này có thể từng thấy trong các chiêu thức khác như Điệu Hổ Ly Sơn chẳng hạn. Tất nhiên trong Phao Bác Dẫn Ngọc tất phải có yếu tố khác biệt.

    Cho người ta xem một điều long lanh, vẻ như có giá, khiến đối phương đưa ra một thứ thực sự có giá trị để mà đổi hoặc cướp.

    Điển cố: Trong chiến dịch Chi Lăng năm 1428, quân Lam Sơn đã giả thua liền 3 trận để tướng Minh là Liễu Thăng chủ quan rồi dùng phục binh giết chết ông này.

    Giải thích: Địch dù quân mạnh, nhưng lại chỉ làm việc vì sợ hãi hay vì phần thưởng thì hãy nhắm thẳng vào Lãnh đạo của chúng mà quật. Lãnh đạo gục, toàn quân sẽ tự tan hoặc đầu hàng. Quân địch mà kết nối với Lãnh đạo của chúng bằng trái tim, trung thành từ tâm thì hãy cẩn thận, bởi cái chết của người lãnh đạo của chúng sẽ khiến toàn quân cảm tử trả thù.

    Căn bản của kế này là phải nắm được mối quan hệ tướng và lính trong quân địch. Nếu tướng địch không phải tướng sáng, chỉ dùng quyền lực và sự chết chóc để điều binh khiển tướng thì chỉ cần đập chết thằng tướng thì quân sẽ tự tan. Nền tảng đằng sau vẫn là làm sao chiến tranh tan rã mà bảo vệ được đất nước. Chứ không phải hiếu sát để sinh linh đồ thán, kiệt quệ nhân lực quốc khố trong chiến tranh.

    Kế này lại không thể thực hiện được nếu quân địch “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Với các tình tướng sĩ như cha con, việc giết chết tướng địch có khi lại là thảm họa khi địch quân liều chết báo thù. Khi đau thương được biến thành hành động cách mạng thì còn cái giải rút cũng đánh.

    Điển cố: Vua Lê Hoàn chống quân Tống lần thứ nhất năm 981. Vua dùng kế giả hàng rồi cho phục binh bắt sống chủ tướng Hầu Nhân Bảo. Quân Tống mất chỉ huy tan rã nhanh chóng.

    Rút củi đáy nồi, đánh tiêu hao hậu cần để làm quân địch dần phải thua.

    Giải thích: Sách Ngụy Thư viết rằng: “Trừu tân chỉ phất, tiễn thảo trừ căn”. Nghĩa là: Để nước khỏi sôi, rút củi; để cỏ không mọc, diệt rễ

    Khi không thể đối đầu với địch trực diện vì mình yếu hơn, vẫn có thể thắng bằng cách phá hoại nguồn lực và tinh thần của địch, khiến cho địch dù có muốn cũng chẳng có thể nào mà “sôi” lên được.

    Trong trận Chi Lăng-Xương Giang, nghe tin có viện binh, nhiều tướng muốn đánh để hạ gấp thành Đông Quan. Tuy nhiên, theo ý kiến của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho rằng đánh thành là hạ sách vì quân trong thành đông, chưa thể lấy ngay được, nếu bị viện binh đánh kẹp vào thì nguy; do đó ông quyết định điều quân lên chặn đánh viện binh trước để nản lòng địch ở Đông Quan. Điển cố:

    .

    Đục nước bắt cá, lợi dụng tình thế để ra tay đạt mục đích.

    Giải thích: “Khi địch hỗn loạn, mất phương hướng chính là lúc tìm sơ hở, khống chế và lấy đi lợi ích mà địch hoàn toàn không biết”. Nước trong thì khó bắt cá. Khó ở chỗ thò tay xuống là cá thấy mà chạy. Nước đục thì dễ bắt dù là bằng tay không.

    Kế này khi xuất chiêu thường được dùng cùng các kế khác như số 6 Sấn Hỏa Đả Kiếp, số 12 Thuận Thủ Khiên Dương để tối ưu hóa lợi ích đạt được.

    Kế 20 này phải nhìn từ hai hướng. Một là mình đừng có rơi vào nước đục để mà bị bắt. Hai là làm cho địch luôn rơi vào nước đục, như thế mới dễ bắt nó.

    Điển cố: Trong Trận Phì Thủy, sau khi nhận thấy quân Tần rối loạn sau đợt tấn công phủ đầu của quân Tấn, Tạ Huyền quyết định tận dụng thời cơ tung toàn lực tấn công, kết quả là quân Tần đại bại dù đông quân gấp 10 lần quân Tấn.

    21. Kim thiền thoát xác (金蟬脫殼)

    Ve sầu lột xác, sử dụng bộ dạng mới để làm quân địch bất ngờ trở tay không kịp.

    Giải thích: Bề ngoài giữ vẻ không thay đổi, nhưng bên trong đã tạo được thế mạnh, địch vẫn không ngờ, chẳng lo đối phó. Khi địch nhân còn mơ hồ chưa hiểu là lúc ta hành động.

    “Khi bị nguy hiểm hủy diệt, cách duy nhất là trốn để tập hợp quân, khi đó cần chế ra sự giả tạo. Khi địch tập trung vào điểm giả tạo này, bí mật rút lui chỉ để lại đằng sau sự giả tạo vô nghĩa”.

    Tôn Tử từng phân tích. Đánh trận dựa vào 2 lực lượng. Lực cứng là lực công kích (Striking Force) và lực mềm là lực lừa dối (Deceptive Force). Hai lực này khóa vào nhau như âm như dương không đầu không cuối. Học binh pháp phải biết biến hóa, dùng hai lực này nhuần nhuyễn.

    Điển cố: Trong chiến tranh chống Nguyên năm 1286, quân Trần trong khi triệt thoái đã cho thuyền rồng giả chèo ra biển để dụ quân giặc đuổi theo, trong khi đó vua Trần xuôi vào Nam tập hợp binh lực phản công.

    Đóng cửa bắt giặc, dồn giặc vào thế bí không thể chạy thoát.

    Giải thích: Tôn Tử viết: Cố dụng binh chi pháp, thập tắc vi chi, ngũ tắc công chi, bội tắc phân chi…

    Trong đó “Thập tắc vi chi” nghĩa là khi mình mười, nó một, bao vây nó. Chứ nếu dồn nó quá, nó cắn bừa, lại tổn thương mình.

    Nhưng căn bản của bao vây là gì? Là không cho nó có lối thoát. Còn nếu đuổi nó ào ào mà lối thoát vẫn chưa đóng, thì tức là vẫn còn có cơ hội cho nó. Lúc thấy cơ hội có thể bắt được giặc, lại là lúc không được nóng vội, phải bình tĩnh nhất vì đây là cơ hội triệt hạ đối phương toàn diện, làm tốt thì chiến tranh kết thúc. Cho phép kẻ địch trốn thoát là tạo ra hiểm họa tương lai. Vì muốn triệt hạ, lại phải bình tĩnh mà bao vây, đóng hết cửa thoát, rồi từ từ chọc tiết.

    Điển cố: Thời Chiến Quốc, Tôn Tẫn và Bàng Quyên ban đầu là hai học trò cùng thầy Quỷ Cốc tử, nhưng sau đó trở thành cừu thù và là địch thủ chính của nhau trên chiến trường. Trong trận chiến quyết định, Tôn Tẫn sai quân Tề dùng kế rút bếp để lừa Bàng Quyên và quân Ngụy tiến sâu vào đường hẻm Mã Lăng. Khi toàn bộ quân Ngụy đã rơi vào bẫy phục kích, Tôn Tẫn sai bịt đường hẻm và bắn tên, quân Ngụy đại bại, Bàng Quyên cũng bỏ mạng trong đám loạn tên.

    Xa thì giao thiệp, gần thì dùng vũ lực.

    Giải thích: “Khi điều kiện cho phép, kết giao, liên kết với kẻ địch ở xa để triệt hạ kẻ địch ở gần”.

    Vừa xích mích với thằng xóm bên, lại vừa hục hặc với thằng láng giềng. Vác dao sang xóm bên chiến đấu thì có khi ở nhà bị đốt lúc nào không hay. Thế nên, vượt qua địch nhân ở gần để đi đánh địch ở xa là bất lợi. Địch ở xa, chủ trương vẫn là thù địch và đối lập nhưng cũng chưa phịch được nhau ngay. Thế thì có khi phải liên minh tạm thời để nhằm lợi ích đánh chiếm ở gần.

    Thịt xong thằng ở gần rồi, vác quân đi xa cũng ko lo ở nhà bị đánh trộm.

    Điển cố: Thời Chiến Quốc, tể tướng nước Tần là Phạm Thư đề ra kế viễn giao cận công, theo đó với các nước gần, Tần sẽ dùng vũ lực uy hiếp, chiếm thành chiếm đất, với các nước xa không đem quân đi được thì lại dùng ngoại giao dụ dỗ làm đồng minh. Cứ như vậy Tần nhanh chóng trở thành bá chủ của cả sáu nước chư hầu, tạo điều kiện cho Doanh Chính thống nhất Trung Quốc sau đó.

    Mượn đường diệt Quắc, lợi dụng hòa hoãn địch để rồi quay lại tấn công bằng lợi thế do chính địch tạo ra cho mình.

    Giải thích: Dùng nguồn lực của bên thứ ba để chống lại kẻ thù chung. Dùng xong, không trả mà sử dụng chính nguồn lực đó để triệt hạ bên cho mượn.

    Điển cố: Tấn Hiến công theo lời Tuân Tức mang đồ vàng ngọc hối lộ nước Ngu với lý do mượn đường nước Ngu để đánh nước Quắc, thực chất là Tấn Hiến công sợ Ngu sẽ sai quân cứu nước Quắc. Sau khi Tấn đánh tan nước Quắc, Ngu chỉ còn trơ trọi một mình, Tấn Hiến Công bèn đem quân quay về diệt nốt nước Ngu.

    Trộm xà thay cột, phá hủy cơ sở của địch.

    Giải thích: Trong đánh trận ngày xưa, quân đội được chia thành các đội theo Đông, Tây, Nam, Bắc, trong đó hai đội tiền quân và hậu quân được gọi là đội Thiên Hoành và đội Địa Trục là hai đội quan trọng nhất của toàn quân, quan trọng cho cả tấn công và phòng thủ. Hai đội này đều được dẫn bởi các tướng lĩnh mạnh nhất. Giả như thay hai viên tướng mạnh dẫn hai đội này bằng tướng yếu thì lực tấn công và phòng thủ của toàn quân đều giảm mạnh. Hai viên tướng này được coi là rường cột của toàn quân.

    Kế Trộm Xà Thay Cột chủ yếu là: Tìm cách phá hoại cách địch vận hành, rút ra nguồn lực/sản phẩm trọng điểm và thay vào đó bằng loại chất lượng thấp khiến cho địch không thể vận hành tối ưu được.

    Điển cố: Nhà Tây Sơn bình định xong phía Nam nhưng quân Trịnh ở Bắc sông Gianh vẫn còn mạnh. Nguyễn Huệ bèn vượt biển, đánh thẳng vào đất căn bản của họ Trịnh ở Thăng Long. Hạ xong thành Thăng Long, quân Trịnh cũng tự tan rã.

    Chỉ cây dâu để mắng cây hòe, còn có biến thể khác là chỉ chó mắng mèo, tấn công gián tiếp kẻ địch thông qua một trung gian khác.

    Giải thích: “Để giáo huấn, khống chế, cảnh bảo người khác mà không cần đối đầu trực diện, dùng cách nói bóng, nói xoáy. Vì không trực diện đối đầu, kẻ bị đá xoáy không cách nào trả đũa ngay mà không tự mình rơi vào thế khó”.

    Người khác ở đây có thể là bất cứ ai mà bạn không muốn đối đầu vì để tránh khó xử cho cả hai bên hoặc việc đối đầu có thể đem lại một tình huống mà kết quả khó mà đoán được. Bạn muốn người bị đá xoáy có thời gian để suy nghĩ kĩ càng hơn.

    Ví dụ như khi bạn có một đối tác tiềm năng. Đối tác này lại đang lương lự suy nghĩ về việc nên lựa chọn hợp tác với bạn hay là với một bên thứ ba. Việc đối đầu trực diện và ép người ta phải lựa chọn chưa chắc đem lại một kết quả tối ưu. Bạn có thể chọn một thời điểm thích hợp, để nói bâng quơ về những gì bạn biết. Bằng những phép ẩn dụ mà người ta nhận ra rằng việc lựa chọn bạn tối ưu hơn là lựa chọn đối tác kia.

    Việc sử dụng Kế Chỉ Tang Mạ Hòe này phải làm sao người bị đá xoáy không phải đối đầu trực tiếp. Các bậc cha mẹ đã dùng rất là sai yếu lĩnh này khi sử dụng “Con nhà người ta” nhưng lại nói trực tiếp với con cái mình. Việc chửi trực diện, so sánh con cái nhà mình với con nhà người ta không đem lại kết quả gì tích cực. Nếu khéo một chút, giả vờ như lúc nói chuyện giữa vợ chồng không biết là lũ con đang nghe lỏm để khen con nhà khác, thì đó chính là Chỉ Tang Mạ Hòe một cách đúng đắn và khéo léo. Như vậy kết quả sẽ tốt hơn khi đứa trẻ tự nhận ra những khuyết điểm của mình mà không phải đối đầu trực tiếp với cha mẹ.

    Một điều quan trọng nữa trong ứng dụng của Chỉ Tang Mạ Hòe không chỉ giới hạn trong việc chửi mà còn cả trong việc khen. Khen một cách khéo léo thông qua bên thứ ba có thể làm cho nhân viên hay con cái cố gắng thêm một bậc. Năm cháu lớn nhà tôi lên 7 tuổi, một lần đi ngang qua quán pizza tôi thấy cháu đứng lại xem nhân viên nhà hàng gấp hộp pizza. Tôi hỏi cháu có muốn gấp không? Cháu nói là cháu muốn. Vậy là tôi vào hỏi ông chủ quán và ông đã đồng ý cho cháu gấp. Tôi lẳng lặng đưa cho ông chủ 50$ và nhờ ông là sau khi cháu gấp xong đống hộp thì thưởng cho cháu và “khen cháu là đứa bé ngoan, yêu lao động”. Về sau, cháu không bao giờ nề hà những việc lao động nhẹ ở nhà nên chỉ 7 tuổi đã có thể nấu cơm, giặt giũ, hút bụi, đổ rác, rửa bát và thậm chí có thể tự một mình bay máy bay sang nước khác để thi đấu cờ Vây được.

    Điển cố: Thời Tam Quốc trong lúc Tào Tháo đang đem quân đi đánh Viên Thuật thì lương thảo thiếu thốn, binh lính kêu than. Thấy vậy Tào Tháo mới lập kế đổ tội cho quan coi lương Vương Hậu là lừa dối trong cấp phát lương rồi chém lấy đầu Vương Hậu. Quân Tào từ đấy sợ không dám kêu ca nữa mà hết lòng đánh Viên Thuật.

    Giả ngu chứ không điên, làm cho quân địch coi thường mình mà không đề phòng.

    Giải thích: “Giấu sau mặt nạ một kẻ điên, một kẻ say, một kẻ ngu đần, để tạo ra hình ảnh giả tạo, giấu đi ý đồ và động cơ thực sự. Dẫn kẻ địch tới chỗ coi thường khả năng của mình, khiến địch trở nên tự tin thái quá, quên đi phòng thủ. Lúc đó, giết”.

    Trong bài “Bản chất của Kế” đã từng nhắc tới câu sau của Tôn Tử: Binh giả, ngụy đạo dã. Cố năng nhi thị chi bất năng. Dịch là: Đánh nhau là phải lừa nhau. Có khả năng phải giả vờ như không thể. Đây cũng là yếu lĩnh này.

    Điển cố: Thời nhà Tống, Nùng Trí Cao tự xưng đế ở phương Nam, hoàng đế nhà Tống phái quân đánh nhiều lần không được. Đại tướng Địch Thanh bèn bày kế giả đò sợ hãi làm quân của Nùng Trí Cao lơi là phòng bị, tức thì quân Tống tấn công đánh bại quân Nùng Trí Cao.

    28. Thượng ốc trừu thê (上屋抽梯)

    Lên nhà rút thang, còn có biến thể khác là qua cầu rút ván (tức Quá giang trừu bản).

    Giải thích: “Giả chi dĩ tiện, tọa chi sử tiền, đoạn kỳ viện ứng, hãm chi tử địa”

    Nghĩa là: Giả vờ lộ ra sơ hở cho địch nhân lợi dụng mà dụ nó vào đường cùng, sau đó cắt đứt quân hậu ứng của nó, giữ chân nó trong tử điạ.

    “Dẫn địch tới điểm không thể quay đầu bằng cách thả mồi nhử. Mồi có thể là những cơ hội và lợi lộc hay là bằng chính điểm yếu của mình. Khi tới điểm không thể xuống được, địch tiến cũng chết, lui cũng chết mà đứng yên cũng chết”.

    Điển cố: Nguyễn Hoàng xin Trịnh Kiểm cho mình vào trấn thủ Thuận Hóa để chống quân Chiêm Thành và nằm tránh bị Kiểm mưu hại. Sau Nguyễn Hoàng khai khẩn đất trong Nam, các con cháu ông lập thành nước riêng, không thần phục họ Trịnh nữa.

    Giải thích: Có câu: “Tá cuộc bố thế, lực tiểu thế đại”. Nghĩa là: Mượn cục tạo thế, lực tuy yếu mà thể hiện ra lại là thế mạnh

    Buộc hoa giả lên cây chết, tạo ảo tưởng như cây sống khỏe. Dùng nghệ thuật hóa trang, biến cái không có giá trị thành có giá trị, biến hiểm họa thành nơi an toàn, biến vô dụng thành hữu dụng.

    Điển cố: Khi Tôn Tẫn tới nước Yên làm Quân Sư, để đối phó với sự tấn công của Bàng Quyên, Tôn Tẫn đã bày mưu cho thái tử nước Yên Kế này. Với số quân ít ỏi khi ra đối phó với Bàng Quyên Thái tử đã cho binh sĩ chặt những cành cây kéo lê trên đường hành quân làm bụi tung mù mịt khiến mật thám của Bàng Quyên nghĩ rằng quân đội nước Yên đông gấp 10 lần do thám ban đầu. Bởi vậy Bàng Quyên đã rút quân.

    Từ chỗ là khách biến thành vai chủ, lấn dần dần đất của địch để đến chỗ địch không còn chỗ đứng.

    Giải thích: Có câu: “Thừa khích tháp túc, ách kỳ chủ cơ, tiệm chi tiến dã”, có nghĩa là: Nhằm chỗ sơ hở của địch mà đột nhập vào, nắm lấy cơ quan đầu não, từ đó tuần tự làm chủ tất cả mọi bộ phận.

    Phá hoại địch bằng cách chui vào trại địch, giả như hợp tác hay đầu hàng. Nằm trong trại địch, tìm điểm yếu. Khi địch không phòng bị, tấn công trực tiếp vào nguồn lực mạnh nhất, phá hủy và chiếm đoạt.

    Kế thứ 30 là 3 lần kế 10 là Tiếu Lý Tàng Đao rồi. Tại sao vậy? Bởi vì căn bản nhất, điều kiện cần của kế 30 chính nằm ở chữ “Khách”, tức là phải được “Chủ” mời vào nhà đã, rồi dần dần tìm kẽ hở mà đảo ngược thăng bằng trong khi Chủ chẳng mảy may nghi ngờ. Muốn làm được vậy thì hỏa hầu Tiếu Lý Tàng Đao cũng phải là dạng thượng thừa.

    Binh Gia Môn có một bộ cước pháp gọi là Phản khách thất cước.

    – Đệ nhất cước: được Chủ để ý và mời vào nhà

    – Đệ nhị cước: ở trong nhà, giữ thân phận khách

    – Đệ tam cước: tìm kẽ hở của chủ

    – Đệ tứ cước: nắm chắc kẽ hở

    – Đệ ngũ cước: dùng kẽ hở nâng vị thế ảnh hưởng tới chủ và môi trường trong nhà

    – Đệ lục cước: lật ngược, khống chế chủ

    – Đệ thất cước: củng cố vị thế, xóa bỏ mọi yếu tố cũ của chủ cũ có thể gây ảnh hưởng tới vị thế chủ mới của mình.

    Điển cố: Trong chiến dịch chiếm Hán Trung của Lưu Bị, Pháp Chính đã quân sư cho Hoàng Trung dùng kế phản khách vi chủ để cuối cùng chém chết được đại tướng của Tào Ngụy là Hạ Hầu Uyên.

    Dùng gái đẹp để làm rối loạn quân địch.

    Giải thích: Mỹ nhân là người đẹp chứ không nhất thiết là Nam hay Nữ. Như thế Mỹ Nhân Kế có thể tách ra là Mỹ Nam Kế hoặc Mỹ Nữ Kế (với thời nay, anh hùng có thể là nam, nữ, gay, les vv và mỹ nhân cũng có thể là nam, nữ, gay, les… Do đó, cái suy nghĩ về Mỹ Nhân Kế phải rộng ra là Người Hút Hồn. Hễ có người mà hút được hồn của ta thì người đó đang dùng Mỹ Nhân Kế với ta vậy)

    “Nhắm tới điểm yếu của tướng địch (dù là nam, nữ, gay, les …). Bởi đa phần con người có đam mê và có yếu đuối trước vẻ đẹp (trong và ngoài). Một khi bị hút hồn rồi, khả năng ra quyết định, đánh giá sẽ không còn tỉnh táo, chính xác và ý thức/vô thức của địch trở thành mục tiêu mà ta có thể khai thác được”.

    Điển cố: Thời Xuân Thu, Câu Tiễn nước Việt bị Ngô vương Phù Sai đánh cho suýt mất nước. Phạm Lãi và Văn Chùng bèn hiến kế cho Câu Tiễn dâng mỹ nhân nổi tiếng của nước Việt là Tây Thi cho Phù Sai khiến Ngô vương vì đam mê tửu sắc mà bỏ bê việc chính sự, tạo thời cơ cho Câu Tiễn trả thù.

    Và trong thời Tam Quốc, Vương Doãn lợi dụng con gái nuôi là Điêu Thuyền một thiếu nữ xinh đẹp, nhan sắc vạn người mê) dùng mỹ nhân kế chia rẽ tình cảm cha con Đổng Trác – Lã Bố khiến hai cha con họ tranh giành người đẹp. Và cuối cùng Đổng Trác bị con nuôi là Lã Bố giết tại cửa Bắc Dịch.

    Trong hoàn cảnh thành không có quân lại bị quân địch uy hiếp thì phải dùng những hành động kì lạ, trầm tĩnh khiến quân địch khiếp sợ tưởng có mai phục mà bỏ đi.

    Giải thích: Đôi khi, cách tốt nhất là phô trương hết điểm yếu ra như là điểm mạnh, làm địch hoài nghi mà không quyết định được, nghi ngờ tột đỉnh mà không dám làm gì vì sợ quyết định sai.

    Tôn Tử có câu: “Hư giả hư chi, nghi trung sinh nghi, cương nhu chi tế, nhi phúc kì”. Nghĩa là: Nếu sức quân yếu thì càng phải cố ý tỏ vẻ rất yếu, làm cho kẻ địch vốn đã nghi lại càng thêm nghi. Trong hoàn cảnh ta yếu, địch mạnh, vận dụng sách lược này sẽ đạt được sự kì diệu không lường được.

    Điển cố: Kế này gắn liền với điển cố về Gia Cát Lượng trong Tam quốc diễn nghĩa. Theo đó trong lúc Gia Cát Lượng đang giữ ngôi thành trống không có phòng thủ thì Tư Mã Ý bất chợt kéo quân đến. Đánh vào tính đa nghi của Tư Mã Ý, Gia Cát Lượng đã sai mở toang cổng thành, trên tường thành chỉ cắm tinh kỳ, lại sai người quyét dọn trước cổng làm như không có sự đe dọa của quân Ngụy. Cuối cùng Tư Mã Ý vì nghi ngờ mưu kế của Gia Cát Lượng nên đã rút quân, bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một để bắt sống địch thủ chính trên chiến trường.

    Lợi dụng kế của địch để biến thành kế của mình.

    Giải thích: Tôn Tử dùng cả một chương thứ 13 để dạy về Gián Điệp. Nay chỉ trích một số câu quan trọng:

    Cho nên, gián điệp có 5 loại: hương gián, nội gián, phản gián, tử gián, sinh gián. Dùng 5 loại gián điệp khiến địch không mò được qui luật hành động của ta, đó là phương pháp thần diệu khôn lường, là pháp bảo của quân vương. Hương gián là lợi dụng người dân bình thường trong nước địch làm gián điệp. Nội gián là dùng quan lại địch làm gián điệp. Phản gián là mua chuộc gián điệp của địch phái đến nước ta quay lại phục vụ ta. Tử gián là cố ý đưa tin tình báo giả tạo để gián điệp ta tiết lộ cho gián điệp địch, địch mắc câu bị lừa bèn giết gián điệp của chính nó. Sinh gián là phái gián điệp đến đất địch mà vẫn có thể trở về báo cáo.

    Cho nên, việc dùng người trong ba quân không ai thân tín bằng gián điệp, không ai được khen thưởng bằng gián điệp, không việc gì cơ mật bằng gián điệp. Không phải người tài trí hơn người không thể dùng được gián điệp; không phải người nhân nghĩa không thể sử dụng được gián điệp; không phải người khéo léo cẩn thận thì không thể trở thành gián điệp thành công trong hoạt động tình báo.

    Trong năm loại gián điệp này, ta chỉ bàn ở chiêu thức này vấn đề sử dụng Phản Gián mà thôi.

    – Thứ hai là dùng phản tư vấn để hại địch. Bằng nhiều phương tiện và quan hệ, hoàn toàn có thể cài đặt các tư vấn gia vào hàng ngũ địch để được tin cẩn, đặc biệt là những người có uy tín. Sau đó gài bài để những tư vấn gia này tư vấn bậy (nhưng nghe thì rất là có lý) cho địch sa vào đầm lầy một cách từ từ. Đến khi địch chết rồi mà vẫn chưa hiểu vì sao mình chết.

    Điển cố: Thời Tam Quốc, Tào Tháo phái Tưởng Cán, bạn học cũ của Chu Du sang Đông Ngô để dò xét lực lượng đối phương. Chu Du đoán được mưu của Tào Tháo nên đã sử dụng chính Tưởng Cán để làm Tào Tháo nghi ngờ hai hàng tướng cực kì thông thạo thủy binh của Kinh Châu để rồi giết hai người đó.

    Tự làm mình khổ nhục để đánh lừa quân địch.

    Giải thích: Tự gây thương tích có hai cách áp dụng. Cách thứ nhất, địch sẽ lơi lỏng, coi thường, không cho rằng ta còn là mối nguy nữa. Cách thứ hai, làm thân với địch bằng cách giả như bị thương bởi kẻ thù chung, mà từ đó đi vào hàng ngũ địch mà phá hoại.

    Khổ nhục kế là một trong những kế đau đớn nhất của chương Bại Chiến Kế. Vừa khổ, vừa nhục, đau đớn cả tinh thần và thể xác. Chỉ vì ở trong thế bại, có ít lựa chọn mà phải thực hiện.

    Cái khó của Khổ Nhục Kế là làm sao phải như thật, để không bị nghi ngờ. Bởi nếu bị lộ thì vừa khổ, vừa nhục mà chẳng đánh đổi được gì. Chiêu này thường được sử dụng bởi những người ở trong thế yếu mà lại muốn đạt mục đích nhanh vì sợ để lâu thì chống cự không nổi hoặc kết cục mất mát còn đau đớn hơn.

    Những hình ảnh trong phim truyền hình Hàn Quốc dùng rất nhiều kế này. Cảnh đứng trong mưa, ướt sũng, nức nở như cha chết, đón đường bắt gặp như vô tình, đau khổ vô biên để khiến người ta cảm động mà tụt quần tốc váy là một cảnh rất thường thấy vậy.

    Kế này muốn dùng được cũng phải hiểu đối phương khá rõ. Nếu nó coi mình kém cả súc vật thì việc mình tự gây thương tích để được thương cảm chẳng còn tác dụng. Có khi còn ăn đạp vào vết thương. Đây là sai lầm của bọn trồng cây si sai chỗ.

    Điển cố: Câu Tiễn sau khi thất bại trước Phù Sai thì hết lòng tận tụy phục vụ Phù Sai như người hầu, thậm chí nếm cả chất thải của Phù Sai để giúp thầy thuốc khám bệnh cho Phù Sai, tất cả chỉ để che giấu sự chuẩn bị trả thù của nước Việt.

    Sử dụng nhiều kế liên tiếp, muốn chiến thắng phải biết móc nối nhiều kế với nhau.

    Giải thích: “Khi đối đầu với cuộc chiến quan trọng, nên dùng nhiều kế phối hợp. Thiết lập các chuỗi chiến thuật với các hoàn cảnh khác nhau nhằm đạt được chiến lược cuối cùng. Như thế, dù một kế có không đạt thì vẫn còn có nhiều đường khác để tiến hành”.

    Liên hoàn kế là kế của các kế, muốn vận dụng được thành công cần có nội công thâm hậu, rèn luyện vững vàng chắc chắn ở từng chiêu thức, cân bằng cả nền tảng Cái biết, cái thấy, linh hoạt như nước chảy mây trôi.

    Trong bài Thiết vị phu vi Tướng giả có câu:

    “Bất động như Sơn Nhạc

    Nan trắc như Âm Dương”

    “Nan trắc” là khó dò tìm theo được một cách chính xác, khó như xác định thời điểm chuyển giao giữa âm và dương vậy. Sự linh hoạt của người sử dụng Liên hoàn kế ở chỗ, khi khởi đầu thiết lập chuỗi kế A, B, C…. nhưng khi thực hiện, lại như dòng nước, vấp tảng đá, lập tức linh hoạt đổi kế, uốn lượn theo dòng để đạt mục tiêu. Vì thế mà cần người sử dụng phải “Rộng lớn như trời đất, đầy đủ như kho tàng” như Gia Cát Lượng đã từng nói.

    Có câu: “Tướng đa binh chúng, bất khả dĩ địch, sử kỳ tự lụy, dĩ sát kỳ thế, tại sự trung cát, thừa thiên trùng dã”.

    Có nghĩa là:

    Khi lực lượng quân địch lớn mạnh thì không nên đánh bạt mạng. Nên vận dụng mưu kế để làm cho bọn chúng tự hãm chân lại, làm yếu lực lượng của bọn chúng. Nếu chủ soái biết khéo léo vận dụng linh hoạt chuỗi mưu kế thì việc chiến thắng quân địch cũng giống như được thiên thần giúp vậy.

    Kế thứ 35 này được chia thành 3 loại:

    – Liên hoàn tung kế: chuỗi kế tung ra cùng một lúc để bổ trợ lẫn nhau

    – Liên hoàn hoành kế: chuỗi kế tung ra nối tiếp nhau, kế này hoàn thành làm điều kiện để nảy sinh kế kia

    – Liên hoàn tung hoành kế: nhóm kế nối tiếp nhóm kế

    Chính sự phối hợp phức tạp như vậy mà Liên hoàn kế tạo ra vô số biến thiên, tức là tổ hợp của 36 kế đơn lẻ này khi phối hợp có thể tạo ra vô hạn cách sử dụng.

    Điển cố: Liên hoàn kế gắn liền với giai thoại về Vương Doãn do La Quán Trung kể lại trong Tam quốc diễn nghĩa. Vì thấy Đổng Trác quá bạo ngược hung tàn nên Vương Doãn sử dụng liên hoàn kế trong đó có mỹ nhân kế gửi Điêu Thuyền vào chia rẽ hai bố con nuôi Đổng Trác và Lã Bố, sau đó dùng kế đục nước bắt cá khơi gợi ở Lã Bố sự thù địch với cha nuôi để rồi cuối cùng chính Lã Bố cầm kích đâm chết Đổng Trác.

    “Thấy tiến được thì tiến, thấy khó thì nên lui”. Gặp kẻ địch mạnh thì kế chuồn là thích hợp hơn cả trong 36 kế.

    Giải thích: Tẩu Vi Thượng – Kế thứ 36 chính là khó ta rút lui. Rút lui là cao nhất khi không thể đối đầu.

    “Khi bị lấn chiếm trên tất cả các mặt trận, đừng chiến đấu, đừng đầu hàng, đừng thỏa hiệp. Đầu hàng là bại trận toàn diện, thỏa hiệp là bại một nửa. Chỉ có rút lui mới không bại. Chỉ cần không bại, còn có cơ hội quay lại và phản công”.

    Cái “Tẩu Vi” này không phải là hèn nhát mà lại chính là cái cốt lõi của việc thắng sau này. Lui lại tạo ra điểm yếu cho địch.

    Điển cố: Trong kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ I, nhận thấy không thể đối đầu với giặc quá mạnh, quá tinh nhuệ với số lượng đông đảo, nhuệ khí áp đảo vì đã đánh chiếm gần như toàn bộ lục địa Âu Á, vua quan nhà Trần đã quyết định lui bằng chiến dịch Vườn Không Nhà Trống mang đi hết của cải lương thực.

    Chính vì lui mà địch tự nhiên thiếu quân lương. Chiến lược đánh tới đâu cướp lương tới đó của quân Nguyên Mông thất bại dẫn tới phải rút quân rất nhanh trong chưa đầy có 10 ngày. Sau đó, quân dân nhà Trần truy sát tống tiễn toàn bộ giặc ra khỏi lãnh thổ.

    Bình thêm: Lui không chỉ để tránh thương vong và tìm cách đánh khác mà chưa nhìn thấy khía cạnh của việc ta lui lại có thể tạo ra thế mạnh của ta và thế yếu của địch. Ngoài ra, cũng chưa phân tích thêm về khía cạnh cái Thấy trong Tẩu Vi.

    Trong bức thư của Gia Cát Lượng gửi Tào Chân, mắng cho họ Tào hộc máu mà chết có mấy câu về cái Thấy này:

    “Biết thiên văn khi mưa khi nắng

    Thuộc địa lý chỗ hiểm chỗ thường

    Thế trận khó dễ cần phải hiểu

    Tài giặc hay dở cần phải tường”

    Trong đó có 4 từ thật là quan trọng: Biết – Thuộc – Hiểu – Tường, 4 giai đoạn của cái Thấy. Người trong Binh Gia Môn, học nội công nào, chiêu thức nào, đều sẽ phải trải qua bốn giai đoạn này của cái Thấy. Tất nhiên đỉnh cao nhất thì như là Lão Tử nói: “Tự Tri Giả Minh” (Tự thấy thì sáng) nhưng không có mấy người có ngộ tính cao để mà tự thấy.

    Cái Thấy này nó bao trùm cả cái Tri Bỉ là biết người mà tổ sư Tôn Tử đã dạy, ngoài biết tài giặc hay dở, còn phải biết cả Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa. Khi ấy thì ngay cả khi rút lui, cũng rút một cách khôn ngoan không tổn thất, tạo ra thế yếu cho địch chờ đợi dịp phản công.

    (Nguồn: Wikipedia và Binh Pháp Việt)