【#1】Mua Bán Gà Tre Thái Tại Tây Ninh Trảng Bàng Trong Chuyên Mục Con Giống

Phong trào chơi gà tre Thái diễn ra rất mạnh ở việt Nam vào những năm gần đây, gà tre Thái là giống gà chabo hay là gà Nhật Bản hoặc còn gọi là gà Tre Nhật Bản. Đây là giống gà đẹp được ưa chuộng để chọn làm gà kiểng, nuôi loại gà này khá công phu. Ở Việt Nam thường gọi là gà tre Thái hay gà Tre Thái Lan do nhập về Viêt Nam qua đường Thái Lan là chủ yếu.

Đặc điểm Gà tre Thái

Gà tre Thái có thân hình thấp và trọng lượng nhỏ vào khoảng 600g/con trống, 350g/ con mái, thông qua hình dáng trọng lượng bên ngoài có thể phân biệt con trống và con mái.

Thân hình gà tre Thái

Đặc điểm đặc trưng thân hình thấp ngực nở, đuôi dựng thẳng, mào lớn và dựng chia thành 4 hoặc 5 lá cổ ngắn ngả về phía sau, lông bờm nhiều. Nhìn tổng quát thì thân gà tre Thái tròn và rất ngắn ngực rất tròn nhô rõ về phía trước nhìn rất oai vệ.

Đuôi gà tre Thái

Một đặc điểm khi nhìn vào gà tre Thái thì sẽ thấy lông đuôi dựng cao hơn đầu và xòe đều thẳng như lưỡi kiếm, đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên một cách duyên dáng, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không ngã về phía trước quá nhiều. Đuôi không cong như những loại gà thông thường khác mà thẳng đứng như lá của cây hoa Diên Vĩ.

Lông gà tre Thái

Bộ lông gà tre thái có nhiều màu sắc, giá trị của Gà càng cao nếu lông có màu sắc rõ ràng và không bị lem. Lông rất nhiều và dày ngoài dạng lông thông thường còn có dạng lông xù hoặc mịn.

Các loại gà tre Thái đẹp

Ngoài giống gà tre thái thông thường thì một số biến thể của giống gà tre thái cũng được lọt tóp và ghi nhận là giống gà đẹp đạt chuẩn và ấn tượng như:

Gà tre Thái (Nhạn)

Màu lông phải trắng tinh, lông hơi vàng nhưng không được vàng quá, nếu lông hơi trong mà dính màu lạ là loại không đạt tiêu chuẩn.

Gà tre Thái (đuôi đen)

Có đặc điểm lông đuôi ít đen hay cổ dính ít đen.

Gà tre Thái (Ô Long)

Lông đen tuyền và hơi dính màu ánh Kim thì được chấp nhận, màu ánh Kim chuyển sang màu tím coi như bị lỗi. Nếu hắc sắc tố phát triển mạnh ở vùng mặt (mồng, tai, mắt) bị nhiễm đen thì cũng bị lỗi.

Nguồn gốc gà tre Thái

Gà tre Thái xuất hiện trong hội họa Nhật ngay sau thời kì đóng cửa với thế giới bên ngoài vào những năm 1635 và nó cũng xuất hiện trong hội họa Hà Lan trong cùng thời điểm. Cũng có ý kiến cho rằng các thương gia Hà Lan đã vào gà tre Thái vào Nhật từ những cảng biển vùng Đông Nam Á như Hội An (Việt Nam) hay java (Indonesia).

Gà Tre Thái xuất hiện ở Đức vào đầu thế kỷ 19 sau đó xuất hiện ở Anh vào năm 1860 và được triển lãm rộng rãi từ năm 1910.

Kỹ thuật nuôi gà tre Thái

Để sở hữu những chú gà tre Thái đẹp đòi hỏi người nuôi phải vững kĩ thuật nuôi và cách chăm sóc hiệu quả tốt nhất mới mang lại hiệu suất lợi nhuận cao cho người nuôi.

Điều kiện chăm sóc gà tre thái

Gà tre Thái chỉ có thể nuôi ngoài trời vào mùa khô ráo, vì nhỏ con và nhẹ cân nên chúng không thích hợp để nuôi ngoài trời vào thời tiết lạnh hay ẩm ướt. Gà tre Thái có thể nuôi quanh năm trong nhà trại để tránh những tác động của thời tiết mà vẫn sạch sẽ và khô ráo. Vào mùa đông thì có thể sử dụng ánh sáng đèn đẻ kéo dài thời gian ban ngày cho gà ăn và quan sát gà được kĩ hơn.

Mặc dù gà tre Thái có bề ngoài khác biệt hầu hết các giống gà khác nhưng chúng có thể được cho ăn tương tự.

Thức ăn cho gà tre Thái

Cám viên tổng hợp, ngũ cốc, sạn & nước dành cho gà tre Thái.

Cám hay viên tổng hợp

Ngày nay các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng cám hay viên luôn có sẵn và tiện lợi để nuôi gà thức ăn viên dưới dạng khô được hầu hết người chơi gà sử dụng.

Cám có hai loiaj khô và ướt, cám ướt là có điểm thuận lợi là ít bị vương vãi ra khỏi máng ăn khi gà mổ nhưng cần tính toán để gà ăn hết trong ngày bằng không cám sẽ bị chua phải bỏ đi, máng thức ăn cũng cần được rửa thường xuyên. Các loại cám và viên khô luôn có sẵn trong các tiệm bán thức ăn gia súc.

Ngũ cốc

Cũng có thể cho gà ăn ngũ cốc xen kẻ với thức ăn viên hoặc trộn cả hai. Nên nhớ không cho gà ăn một lượng thức ăn lớn khác bên cạnh thực đơn đã cân bằng nếu không bạn sẽ phá vỡ nó.

  • Bột mì có thể trộn với thức ăn viên theo tỉ lệ 5:5 hoặc ăn dặm trước khi gà đi ngủ.
  • Bột ngô sẽ khiến gà bị mập nếu cho ăn quá nhiều, điều này không tốt vì gà sẽ bị yếu và khó sinh sản, nhưng nếu cho ăn ít và thỉnh thoảng nó sẽ giúp cho chân và mỏ gà vàng tươi.
  • Yến mạnh là loại thức ăn chất lượng nhưng không cân bằng như bột mì.

Sạn

Gà sử dụng sạn vào hai mục đích chính, sạn sử dụng để nghiền các loại thức ăn cứng chảng hạn như ngô, gà phải được cung cấp sạn nếu trong thức ăn có ngô nếu không chúng không thể tiêu hóa một cách thích hợp.

Sạn được chưa trong bộ phận gọi là mề và đó là nơi xay nhỏ ngô. Công dụng khác của sạn là tiết ra canxi để gà phát triển và duy trì sức khỏe và đặc biệt là để tạo vỏ trứng.

Có thể mua loại thức ăn có hai công dụng trong đó đã cung cấp sẵn canxi hoặc thỉnh thoảng vãi một nắm sạn, không phải sạn nào cũng có canxi nhưng sạn được giả từ vỏ ốc sò… thì chắc chắn có.

Nước

Phải luôn cung cấp sẵn nước sạch, khi gà đẻ trứng chúng sẽ tiêu thụ một lượng nước lớn. Chén nước để dưới sàn rất dễ bị bẩn, nên để nước trong nhiều kiểu vòi hay chụp khác.

Cách chọn lựa giống gà tre Thái

Chọn giống gà tre Thái rất quan trọng vì nếu con giống tốt bạn sẽ không mất nhiều công chăm sóc hay lo lắng chúng bị bệnh .

Chọn lựa gà tre thái Với gà trống

Chọn những con nhỏ thấp, ngưc nở và đuôi dựng thẳng. Hình dáng phù hợp với mồng rất to, tính cách lanh lợi và dáng đi lệt bệt, lông nhiều và dày. Lưng rất ngắn và rộng nếu nhìn ngang thì có hình chữ u hẹp do vách cổ và đuôi tạo thành, tuy nhiên hình dạng này không thể duy trì một khi gà hoàn toàn trưởng thành. Cánh dài với chóp chấm đất ở ngay điểm cuối ở thân hông rất ngắn và không lệ rõ

Đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên, lông phải cao hơn đầu, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không được ngả về phía trước quá nhiều. Đầu to và rộng cử động mạnh mẽ và cong đều mắt to, cổ tương đối ngắn và cong về phía sau và có nhiều lông bờm phủ lên vai.

Cẳng chân cực ngắn nhẵn nhụi, mạnh mẽ và khủy chân sắc góc, bốn ngón chân phải thẳng và xòe đều.

Chọn lựa gà tre Thái với Gà Mái

Đuôi xòe đều và vương quá đầu, lông đuôi phải rộng cặp lông phụng chủ phải hơi cong như lưỡi kiếm. Mồng lớn gai mồng phân đều, dựng thẳng mặc dù mồng đổ về một bên không phải tật. Các đặc khác của gà mái phải theo sát những mô tả với gà trống.

Bán gà tre Thái ở TPHCM

Hoạt động bán gà tre Thái đẹp cũng diễn ra sôi nổi nhưng chủ yếu tập trung ở khu vực phía Nam cụ thể là TPHCM.

Thông thường khi bán gà tre Thái giá sẽ tùy thuộc vào tháng tuổi và hình thái đẹp chuẩn hay không, giá có thể lên đến vài triệu bạc dành cho những chú gà chuẩn đẹp và chỉ tầm vài trăm đối với những chú gà bình thường, người mua gà cần có một ít kinh nghiệm căn bản về gà tre Thái và nên chọn những đơn vị cung cấp uy tín để lưa chọn cho mình những chú gà Thái phù hợp.

Hiện nay ở khu vực TPHCM cũng có nhiều cơ sở uy tín chuyên cung cấp các giống gà tre Thái trên toàn quốc, liên hệ trực tiếp để được tư vấn và hỗ trợ tốt nhất.

【#2】Mua Bán Gà Tre Thái Tại Tây Ninh Gò Dầu Trong Chuyên Mục Con Giống

Phong trào chơi gà tre Thái diễn ra rất mạnh ở việt Nam vào những năm gần đây, gà tre Thái là giống gà chabo hay là gà Nhật Bản hoặc còn gọi là gà Tre Nhật Bản. Đây là giống gà đẹp được ưa chuộng để chọn làm gà kiểng, nuôi loại gà này khá công phu. Ở Việt Nam thường gọi là gà tre Thái hay gà Tre Thái Lan do nhập về Viêt Nam qua đường Thái Lan là chủ yếu.

Đặc điểm Gà tre Thái

Gà tre Thái có thân hình thấp và trọng lượng nhỏ vào khoảng 600g/con trống, 350g/ con mái, thông qua hình dáng trọng lượng bên ngoài có thể phân biệt con trống và con mái.

Thân hình gà tre Thái

Đặc điểm đặc trưng thân hình thấp ngực nở, đuôi dựng thẳng, mào lớn và dựng chia thành 4 hoặc 5 lá cổ ngắn ngả về phía sau, lông bờm nhiều. Nhìn tổng quát thì thân gà tre Thái tròn và rất ngắn ngực rất tròn nhô rõ về phía trước nhìn rất oai vệ.

Đuôi gà tre Thái

Một đặc điểm khi nhìn vào gà tre Thái thì sẽ thấy lông đuôi dựng cao hơn đầu và xòe đều thẳng như lưỡi kiếm, đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên một cách duyên dáng, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không ngã về phía trước quá nhiều. Đuôi không cong như những loại gà thông thường khác mà thẳng đứng như lá của cây hoa Diên Vĩ.

Lông gà tre Thái

Bộ lông gà tre thái có nhiều màu sắc, giá trị của Gà càng cao nếu lông có màu sắc rõ ràng và không bị lem. Lông rất nhiều và dày ngoài dạng lông thông thường còn có dạng lông xù hoặc mịn.

Các loại gà tre Thái đẹp

Ngoài giống gà tre thái thông thường thì một số biến thể của giống gà tre thái cũng được lọt tóp và ghi nhận là giống gà đẹp đạt chuẩn và ấn tượng như:

Gà tre Thái (Nhạn)

Màu lông phải trắng tinh, lông hơi vàng nhưng không được vàng quá, nếu lông hơi trong mà dính màu lạ là loại không đạt tiêu chuẩn.

Gà tre Thái (đuôi đen)

Có đặc điểm lông đuôi ít đen hay cổ dính ít đen.

Gà tre Thái (Ô Long)

Lông đen tuyền và hơi dính màu ánh Kim thì được chấp nhận, màu ánh Kim chuyển sang màu tím coi như bị lỗi. Nếu hắc sắc tố phát triển mạnh ở vùng mặt (mồng, tai, mắt) bị nhiễm đen thì cũng bị lỗi.

Nguồn gốc gà tre Thái

Gà tre Thái xuất hiện trong hội họa Nhật ngay sau thời kì đóng cửa với thế giới bên ngoài vào những năm 1635 và nó cũng xuất hiện trong hội họa Hà Lan trong cùng thời điểm. Cũng có ý kiến cho rằng các thương gia Hà Lan đã vào gà tre Thái vào Nhật từ những cảng biển vùng Đông Nam Á như Hội An (Việt Nam) hay java (Indonesia).

Gà Tre Thái xuất hiện ở Đức vào đầu thế kỷ 19 sau đó xuất hiện ở Anh vào năm 1860 và được triển lãm rộng rãi từ năm 1910.

Kỹ thuật nuôi gà tre Thái

Để sở hữu những chú gà tre Thái đẹp đòi hỏi người nuôi phải vững kĩ thuật nuôi và cách chăm sóc hiệu quả tốt nhất mới mang lại hiệu suất lợi nhuận cao cho người nuôi.

Điều kiện chăm sóc gà tre thái

Gà tre Thái chỉ có thể nuôi ngoài trời vào mùa khô ráo, vì nhỏ con và nhẹ cân nên chúng không thích hợp để nuôi ngoài trời vào thời tiết lạnh hay ẩm ướt. Gà tre Thái có thể nuôi quanh năm trong nhà trại để tránh những tác động của thời tiết mà vẫn sạch sẽ và khô ráo. Vào mùa đông thì có thể sử dụng ánh sáng đèn đẻ kéo dài thời gian ban ngày cho gà ăn và quan sát gà được kĩ hơn.

Mặc dù gà tre Thái có bề ngoài khác biệt hầu hết các giống gà khác nhưng chúng có thể được cho ăn tương tự.

Thức ăn cho gà tre Thái

Cám viên tổng hợp, ngũ cốc, sạn & nước dành cho gà tre Thái.

Cám hay viên tổng hợp

Ngày nay các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng cám hay viên luôn có sẵn và tiện lợi để nuôi gà thức ăn viên dưới dạng khô được hầu hết người chơi gà sử dụng.

Cám có hai loiaj khô và ướt, cám ướt là có điểm thuận lợi là ít bị vương vãi ra khỏi máng ăn khi gà mổ nhưng cần tính toán để gà ăn hết trong ngày bằng không cám sẽ bị chua phải bỏ đi, máng thức ăn cũng cần được rửa thường xuyên. Các loại cám và viên khô luôn có sẵn trong các tiệm bán thức ăn gia súc.

Ngũ cốc

Cũng có thể cho gà ăn ngũ cốc xen kẻ với thức ăn viên hoặc trộn cả hai. Nên nhớ không cho gà ăn một lượng thức ăn lớn khác bên cạnh thực đơn đã cân bằng nếu không bạn sẽ phá vỡ nó.

  • Bột mì có thể trộn với thức ăn viên theo tỉ lệ 5:5 hoặc ăn dặm trước khi gà đi ngủ.
  • Bột ngô sẽ khiến gà bị mập nếu cho ăn quá nhiều, điều này không tốt vì gà sẽ bị yếu và khó sinh sản, nhưng nếu cho ăn ít và thỉnh thoảng nó sẽ giúp cho chân và mỏ gà vàng tươi.
  • Yến mạnh là loại thức ăn chất lượng nhưng không cân bằng như bột mì.

Sạn

Gà sử dụng sạn vào hai mục đích chính, sạn sử dụng để nghiền các loại thức ăn cứng chảng hạn như ngô, gà phải được cung cấp sạn nếu trong thức ăn có ngô nếu không chúng không thể tiêu hóa một cách thích hợp.

Sạn được chưa trong bộ phận gọi là mề và đó là nơi xay nhỏ ngô. Công dụng khác của sạn là tiết ra canxi để gà phát triển và duy trì sức khỏe và đặc biệt là để tạo vỏ trứng.

Có thể mua loại thức ăn có hai công dụng trong đó đã cung cấp sẵn canxi hoặc thỉnh thoảng vãi một nắm sạn, không phải sạn nào cũng có canxi nhưng sạn được giả từ vỏ ốc sò… thì chắc chắn có.

Nước

Phải luôn cung cấp sẵn nước sạch, khi gà đẻ trứng chúng sẽ tiêu thụ một lượng nước lớn. Chén nước để dưới sàn rất dễ bị bẩn, nên để nước trong nhiều kiểu vòi hay chụp khác.

Cách chọn lựa giống gà tre Thái

Chọn giống gà tre Thái rất quan trọng vì nếu con giống tốt bạn sẽ không mất nhiều công chăm sóc hay lo lắng chúng bị bệnh .

Chọn lựa gà tre thái Với gà trống

Chọn những con nhỏ thấp, ngưc nở và đuôi dựng thẳng. Hình dáng phù hợp với mồng rất to, tính cách lanh lợi và dáng đi lệt bệt, lông nhiều và dày. Lưng rất ngắn và rộng nếu nhìn ngang thì có hình chữ u hẹp do vách cổ và đuôi tạo thành, tuy nhiên hình dạng này không thể duy trì một khi gà hoàn toàn trưởng thành. Cánh dài với chóp chấm đất ở ngay điểm cuối ở thân hông rất ngắn và không lệ rõ

Đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên, lông phải cao hơn đầu, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không được ngả về phía trước quá nhiều. Đầu to và rộng cử động mạnh mẽ và cong đều mắt to, cổ tương đối ngắn và cong về phía sau và có nhiều lông bờm phủ lên vai.

Cẳng chân cực ngắn nhẵn nhụi, mạnh mẽ và khủy chân sắc góc, bốn ngón chân phải thẳng và xòe đều.

Chọn lựa gà tre Thái với Gà Mái

Đuôi xòe đều và vương quá đầu, lông đuôi phải rộng cặp lông phụng chủ phải hơi cong như lưỡi kiếm. Mồng lớn gai mồng phân đều, dựng thẳng mặc dù mồng đổ về một bên không phải tật. Các đặc khác của gà mái phải theo sát những mô tả với gà trống.

Bán gà tre Thái ở TPHCM

Hoạt động bán gà tre Thái đẹp cũng diễn ra sôi nổi nhưng chủ yếu tập trung ở khu vực phía Nam cụ thể là TPHCM.

Thông thường khi bán gà tre Thái giá sẽ tùy thuộc vào tháng tuổi và hình thái đẹp chuẩn hay không, giá có thể lên đến vài triệu bạc dành cho những chú gà chuẩn đẹp và chỉ tầm vài trăm đối với những chú gà bình thường, người mua gà cần có một ít kinh nghiệm căn bản về gà tre Thái và nên chọn những đơn vị cung cấp uy tín để lưa chọn cho mình những chú gà Thái phù hợp.

Hiện nay ở khu vực TPHCM cũng có nhiều cơ sở uy tín chuyên cung cấp các giống gà tre Thái trên toàn quốc, liên hệ trực tiếp để được tư vấn và hỗ trợ tốt nhất.

【#3】Mua Bán Gà Tre Thái Tại Tây Ninh Châu Thành Trong Chuyên Mục Con Giống

Phong trào chơi gà tre Thái diễn ra rất mạnh ở việt Nam vào những năm gần đây, gà tre Thái là giống gà chabo hay là gà Nhật Bản hoặc còn gọi là gà Tre Nhật Bản. Đây là giống gà đẹp được ưa chuộng để chọn làm gà kiểng, nuôi loại gà này khá công phu. Ở Việt Nam thường gọi là gà tre Thái hay gà Tre Thái Lan do nhập về Viêt Nam qua đường Thái Lan là chủ yếu.

Đặc điểm Gà tre Thái

Gà tre Thái có thân hình thấp và trọng lượng nhỏ vào khoảng 600g/con trống, 350g/ con mái, thông qua hình dáng trọng lượng bên ngoài có thể phân biệt con trống và con mái.

Thân hình gà tre Thái

Đặc điểm đặc trưng thân hình thấp ngực nở, đuôi dựng thẳng, mào lớn và dựng chia thành 4 hoặc 5 lá cổ ngắn ngả về phía sau, lông bờm nhiều. Nhìn tổng quát thì thân gà tre Thái tròn và rất ngắn ngực rất tròn nhô rõ về phía trước nhìn rất oai vệ.

Đuôi gà tre Thái

Một đặc điểm khi nhìn vào gà tre Thái thì sẽ thấy lông đuôi dựng cao hơn đầu và xòe đều thẳng như lưỡi kiếm, đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên một cách duyên dáng, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không ngã về phía trước quá nhiều. Đuôi không cong như những loại gà thông thường khác mà thẳng đứng như lá của cây hoa Diên Vĩ.

Lông gà tre Thái

Bộ lông gà tre thái có nhiều màu sắc, giá trị của Gà càng cao nếu lông có màu sắc rõ ràng và không bị lem. Lông rất nhiều và dày ngoài dạng lông thông thường còn có dạng lông xù hoặc mịn.

Các loại gà tre Thái đẹp

Ngoài giống gà tre thái thông thường thì một số biến thể của giống gà tre thái cũng được lọt tóp và ghi nhận là giống gà đẹp đạt chuẩn và ấn tượng như:

Gà tre Thái (Nhạn)

Màu lông phải trắng tinh, lông hơi vàng nhưng không được vàng quá, nếu lông hơi trong mà dính màu lạ là loại không đạt tiêu chuẩn.

Gà tre Thái (đuôi đen)

Có đặc điểm lông đuôi ít đen hay cổ dính ít đen.

Gà tre Thái (Ô Long)

Lông đen tuyền và hơi dính màu ánh Kim thì được chấp nhận, màu ánh Kim chuyển sang màu tím coi như bị lỗi. Nếu hắc sắc tố phát triển mạnh ở vùng mặt (mồng, tai, mắt) bị nhiễm đen thì cũng bị lỗi.

Nguồn gốc gà tre Thái

Gà tre Thái xuất hiện trong hội họa Nhật ngay sau thời kì đóng cửa với thế giới bên ngoài vào những năm 1635 và nó cũng xuất hiện trong hội họa Hà Lan trong cùng thời điểm. Cũng có ý kiến cho rằng các thương gia Hà Lan đã vào gà tre Thái vào Nhật từ những cảng biển vùng Đông Nam Á như Hội An (Việt Nam) hay java (Indonesia).

Gà Tre Thái xuất hiện ở Đức vào đầu thế kỷ 19 sau đó xuất hiện ở Anh vào năm 1860 và được triển lãm rộng rãi từ năm 1910.

Kỹ thuật nuôi gà tre Thái

Để sở hữu những chú gà tre Thái đẹp đòi hỏi người nuôi phải vững kĩ thuật nuôi và cách chăm sóc hiệu quả tốt nhất mới mang lại hiệu suất lợi nhuận cao cho người nuôi.

Điều kiện chăm sóc gà tre thái

Gà tre Thái chỉ có thể nuôi ngoài trời vào mùa khô ráo, vì nhỏ con và nhẹ cân nên chúng không thích hợp để nuôi ngoài trời vào thời tiết lạnh hay ẩm ướt. Gà tre Thái có thể nuôi quanh năm trong nhà trại để tránh những tác động của thời tiết mà vẫn sạch sẽ và khô ráo. Vào mùa đông thì có thể sử dụng ánh sáng đèn đẻ kéo dài thời gian ban ngày cho gà ăn và quan sát gà được kĩ hơn.

Mặc dù gà tre Thái có bề ngoài khác biệt hầu hết các giống gà khác nhưng chúng có thể được cho ăn tương tự.

Thức ăn cho gà tre Thái

Cám viên tổng hợp, ngũ cốc, sạn & nước dành cho gà tre Thái.

Cám hay viên tổng hợp

Ngày nay các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng cám hay viên luôn có sẵn và tiện lợi để nuôi gà thức ăn viên dưới dạng khô được hầu hết người chơi gà sử dụng.

Cám có hai loiaj khô và ướt, cám ướt là có điểm thuận lợi là ít bị vương vãi ra khỏi máng ăn khi gà mổ nhưng cần tính toán để gà ăn hết trong ngày bằng không cám sẽ bị chua phải bỏ đi, máng thức ăn cũng cần được rửa thường xuyên. Các loại cám và viên khô luôn có sẵn trong các tiệm bán thức ăn gia súc.

Ngũ cốc

Cũng có thể cho gà ăn ngũ cốc xen kẻ với thức ăn viên hoặc trộn cả hai. Nên nhớ không cho gà ăn một lượng thức ăn lớn khác bên cạnh thực đơn đã cân bằng nếu không bạn sẽ phá vỡ nó.

  • Bột mì có thể trộn với thức ăn viên theo tỉ lệ 5:5 hoặc ăn dặm trước khi gà đi ngủ.
  • Bột ngô sẽ khiến gà bị mập nếu cho ăn quá nhiều, điều này không tốt vì gà sẽ bị yếu và khó sinh sản, nhưng nếu cho ăn ít và thỉnh thoảng nó sẽ giúp cho chân và mỏ gà vàng tươi.
  • Yến mạnh là loại thức ăn chất lượng nhưng không cân bằng như bột mì.

Sạn

Gà sử dụng sạn vào hai mục đích chính, sạn sử dụng để nghiền các loại thức ăn cứng chảng hạn như ngô, gà phải được cung cấp sạn nếu trong thức ăn có ngô nếu không chúng không thể tiêu hóa một cách thích hợp.

Sạn được chưa trong bộ phận gọi là mề và đó là nơi xay nhỏ ngô. Công dụng khác của sạn là tiết ra canxi để gà phát triển và duy trì sức khỏe và đặc biệt là để tạo vỏ trứng.

Có thể mua loại thức ăn có hai công dụng trong đó đã cung cấp sẵn canxi hoặc thỉnh thoảng vãi một nắm sạn, không phải sạn nào cũng có canxi nhưng sạn được giả từ vỏ ốc sò… thì chắc chắn có.

Nước

Phải luôn cung cấp sẵn nước sạch, khi gà đẻ trứng chúng sẽ tiêu thụ một lượng nước lớn. Chén nước để dưới sàn rất dễ bị bẩn, nên để nước trong nhiều kiểu vòi hay chụp khác.

Cách chọn lựa giống gà tre Thái

Chọn giống gà tre Thái rất quan trọng vì nếu con giống tốt bạn sẽ không mất nhiều công chăm sóc hay lo lắng chúng bị bệnh .

Chọn lựa gà tre thái Với gà trống

Chọn những con nhỏ thấp, ngưc nở và đuôi dựng thẳng. Hình dáng phù hợp với mồng rất to, tính cách lanh lợi và dáng đi lệt bệt, lông nhiều và dày. Lưng rất ngắn và rộng nếu nhìn ngang thì có hình chữ u hẹp do vách cổ và đuôi tạo thành, tuy nhiên hình dạng này không thể duy trì một khi gà hoàn toàn trưởng thành. Cánh dài với chóp chấm đất ở ngay điểm cuối ở thân hông rất ngắn và không lệ rõ

Đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên, lông phải cao hơn đầu, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không được ngả về phía trước quá nhiều. Đầu to và rộng cử động mạnh mẽ và cong đều mắt to, cổ tương đối ngắn và cong về phía sau và có nhiều lông bờm phủ lên vai.

Cẳng chân cực ngắn nhẵn nhụi, mạnh mẽ và khủy chân sắc góc, bốn ngón chân phải thẳng và xòe đều.

Chọn lựa gà tre Thái với Gà Mái

Đuôi xòe đều và vương quá đầu, lông đuôi phải rộng cặp lông phụng chủ phải hơi cong như lưỡi kiếm. Mồng lớn gai mồng phân đều, dựng thẳng mặc dù mồng đổ về một bên không phải tật. Các đặc khác của gà mái phải theo sát những mô tả với gà trống.

Bán gà tre Thái ở TPHCM

Hoạt động bán gà tre Thái đẹp cũng diễn ra sôi nổi nhưng chủ yếu tập trung ở khu vực phía Nam cụ thể là TPHCM.

Thông thường khi bán gà tre Thái giá sẽ tùy thuộc vào tháng tuổi và hình thái đẹp chuẩn hay không, giá có thể lên đến vài triệu bạc dành cho những chú gà chuẩn đẹp và chỉ tầm vài trăm đối với những chú gà bình thường, người mua gà cần có một ít kinh nghiệm căn bản về gà tre Thái và nên chọn những đơn vị cung cấp uy tín để lưa chọn cho mình những chú gà Thái phù hợp.

Hiện nay ở khu vực TPHCM cũng có nhiều cơ sở uy tín chuyên cung cấp các giống gà tre Thái trên toàn quốc, liên hệ trực tiếp để được tư vấn và hỗ trợ tốt nhất.

【#4】Mua Bán Gà Tre Thái Tại Tây Ninh Tây Ninh Trong Chuyên Mục Con Giống

Phong trào chơi gà tre Thái diễn ra rất mạnh ở việt Nam vào những năm gần đây, gà tre Thái là giống gà chabo hay là gà Nhật Bản hoặc còn gọi là gà Tre Nhật Bản. Đây là giống gà đẹp được ưa chuộng để chọn làm gà kiểng, nuôi loại gà này khá công phu. Ở Việt Nam thường gọi là gà tre Thái hay gà Tre Thái Lan do nhập về Viêt Nam qua đường Thái Lan là chủ yếu.

Đặc điểm Gà tre Thái

Gà tre Thái có thân hình thấp và trọng lượng nhỏ vào khoảng 600g/con trống, 350g/ con mái, thông qua hình dáng trọng lượng bên ngoài có thể phân biệt con trống và con mái.

Thân hình gà tre Thái

Đặc điểm đặc trưng thân hình thấp ngực nở, đuôi dựng thẳng, mào lớn và dựng chia thành 4 hoặc 5 lá cổ ngắn ngả về phía sau, lông bờm nhiều. Nhìn tổng quát thì thân gà tre Thái tròn và rất ngắn ngực rất tròn nhô rõ về phía trước nhìn rất oai vệ.

Đuôi gà tre Thái

Một đặc điểm khi nhìn vào gà tre Thái thì sẽ thấy lông đuôi dựng cao hơn đầu và xòe đều thẳng như lưỡi kiếm, đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên một cách duyên dáng, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không ngã về phía trước quá nhiều. Đuôi không cong như những loại gà thông thường khác mà thẳng đứng như lá của cây hoa Diên Vĩ.

Lông gà tre Thái

Bộ lông gà tre thái có nhiều màu sắc, giá trị của Gà càng cao nếu lông có màu sắc rõ ràng và không bị lem. Lông rất nhiều và dày ngoài dạng lông thông thường còn có dạng lông xù hoặc mịn.

Các loại gà tre Thái đẹp

Ngoài giống gà tre thái thông thường thì một số biến thể của giống gà tre thái cũng được lọt tóp và ghi nhận là giống gà đẹp đạt chuẩn và ấn tượng như:

Gà tre Thái (Nhạn)

Màu lông phải trắng tinh, lông hơi vàng nhưng không được vàng quá, nếu lông hơi trong mà dính màu lạ là loại không đạt tiêu chuẩn.

Gà tre Thái (đuôi đen)

Có đặc điểm lông đuôi ít đen hay cổ dính ít đen.

Gà tre Thái (Ô Long)

Lông đen tuyền và hơi dính màu ánh Kim thì được chấp nhận, màu ánh Kim chuyển sang màu tím coi như bị lỗi. Nếu hắc sắc tố phát triển mạnh ở vùng mặt (mồng, tai, mắt) bị nhiễm đen thì cũng bị lỗi.

Nguồn gốc gà tre Thái

Gà tre Thái xuất hiện trong hội họa Nhật ngay sau thời kì đóng cửa với thế giới bên ngoài vào những năm 1635 và nó cũng xuất hiện trong hội họa Hà Lan trong cùng thời điểm. Cũng có ý kiến cho rằng các thương gia Hà Lan đã vào gà tre Thái vào Nhật từ những cảng biển vùng Đông Nam Á như Hội An (Việt Nam) hay java (Indonesia).

Gà Tre Thái xuất hiện ở Đức vào đầu thế kỷ 19 sau đó xuất hiện ở Anh vào năm 1860 và được triển lãm rộng rãi từ năm 1910.

Kỹ thuật nuôi gà tre Thái

Để sở hữu những chú gà tre Thái đẹp đòi hỏi người nuôi phải vững kĩ thuật nuôi và cách chăm sóc hiệu quả tốt nhất mới mang lại hiệu suất lợi nhuận cao cho người nuôi.

Điều kiện chăm sóc gà tre thái

Gà tre Thái chỉ có thể nuôi ngoài trời vào mùa khô ráo, vì nhỏ con và nhẹ cân nên chúng không thích hợp để nuôi ngoài trời vào thời tiết lạnh hay ẩm ướt. Gà tre Thái có thể nuôi quanh năm trong nhà trại để tránh những tác động của thời tiết mà vẫn sạch sẽ và khô ráo. Vào mùa đông thì có thể sử dụng ánh sáng đèn đẻ kéo dài thời gian ban ngày cho gà ăn và quan sát gà được kĩ hơn.

Mặc dù gà tre Thái có bề ngoài khác biệt hầu hết các giống gà khác nhưng chúng có thể được cho ăn tương tự.

Thức ăn cho gà tre Thái

Cám viên tổng hợp, ngũ cốc, sạn & nước dành cho gà tre Thái.

Cám hay viên tổng hợp

Ngày nay các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng cám hay viên luôn có sẵn và tiện lợi để nuôi gà thức ăn viên dưới dạng khô được hầu hết người chơi gà sử dụng.

Cám có hai loiaj khô và ướt, cám ướt là có điểm thuận lợi là ít bị vương vãi ra khỏi máng ăn khi gà mổ nhưng cần tính toán để gà ăn hết trong ngày bằng không cám sẽ bị chua phải bỏ đi, máng thức ăn cũng cần được rửa thường xuyên. Các loại cám và viên khô luôn có sẵn trong các tiệm bán thức ăn gia súc.

Ngũ cốc

Cũng có thể cho gà ăn ngũ cốc xen kẻ với thức ăn viên hoặc trộn cả hai. Nên nhớ không cho gà ăn một lượng thức ăn lớn khác bên cạnh thực đơn đã cân bằng nếu không bạn sẽ phá vỡ nó.

  • Bột mì có thể trộn với thức ăn viên theo tỉ lệ 5:5 hoặc ăn dặm trước khi gà đi ngủ.
  • Bột ngô sẽ khiến gà bị mập nếu cho ăn quá nhiều, điều này không tốt vì gà sẽ bị yếu và khó sinh sản, nhưng nếu cho ăn ít và thỉnh thoảng nó sẽ giúp cho chân và mỏ gà vàng tươi.
  • Yến mạnh là loại thức ăn chất lượng nhưng không cân bằng như bột mì.

Sạn

Gà sử dụng sạn vào hai mục đích chính, sạn sử dụng để nghiền các loại thức ăn cứng chảng hạn như ngô, gà phải được cung cấp sạn nếu trong thức ăn có ngô nếu không chúng không thể tiêu hóa một cách thích hợp.

Sạn được chưa trong bộ phận gọi là mề và đó là nơi xay nhỏ ngô. Công dụng khác của sạn là tiết ra canxi để gà phát triển và duy trì sức khỏe và đặc biệt là để tạo vỏ trứng.

Có thể mua loại thức ăn có hai công dụng trong đó đã cung cấp sẵn canxi hoặc thỉnh thoảng vãi một nắm sạn, không phải sạn nào cũng có canxi nhưng sạn được giả từ vỏ ốc sò… thì chắc chắn có.

Nước

Phải luôn cung cấp sẵn nước sạch, khi gà đẻ trứng chúng sẽ tiêu thụ một lượng nước lớn. Chén nước để dưới sàn rất dễ bị bẩn, nên để nước trong nhiều kiểu vòi hay chụp khác.

Cách chọn lựa giống gà tre Thái

Chọn giống gà tre Thái rất quan trọng vì nếu con giống tốt bạn sẽ không mất nhiều công chăm sóc hay lo lắng chúng bị bệnh .

Chọn lựa gà tre thái Với gà trống

Chọn những con nhỏ thấp, ngưc nở và đuôi dựng thẳng. Hình dáng phù hợp với mồng rất to, tính cách lanh lợi và dáng đi lệt bệt, lông nhiều và dày. Lưng rất ngắn và rộng nếu nhìn ngang thì có hình chữ u hẹp do vách cổ và đuôi tạo thành, tuy nhiên hình dạng này không thể duy trì một khi gà hoàn toàn trưởng thành. Cánh dài với chóp chấm đất ở ngay điểm cuối ở thân hông rất ngắn và không lệ rõ

Đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên, lông phải cao hơn đầu, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không được ngả về phía trước quá nhiều. Đầu to và rộng cử động mạnh mẽ và cong đều mắt to, cổ tương đối ngắn và cong về phía sau và có nhiều lông bờm phủ lên vai.

Cẳng chân cực ngắn nhẵn nhụi, mạnh mẽ và khủy chân sắc góc, bốn ngón chân phải thẳng và xòe đều.

Chọn lựa gà tre Thái với Gà Mái

Đuôi xòe đều và vương quá đầu, lông đuôi phải rộng cặp lông phụng chủ phải hơi cong như lưỡi kiếm. Mồng lớn gai mồng phân đều, dựng thẳng mặc dù mồng đổ về một bên không phải tật. Các đặc khác của gà mái phải theo sát những mô tả với gà trống.

Bán gà tre Thái ở TPHCM

Hoạt động bán gà tre Thái đẹp cũng diễn ra sôi nổi nhưng chủ yếu tập trung ở khu vực phía Nam cụ thể là TPHCM.

Thông thường khi bán gà tre Thái giá sẽ tùy thuộc vào tháng tuổi và hình thái đẹp chuẩn hay không, giá có thể lên đến vài triệu bạc dành cho những chú gà chuẩn đẹp và chỉ tầm vài trăm đối với những chú gà bình thường, người mua gà cần có một ít kinh nghiệm căn bản về gà tre Thái và nên chọn những đơn vị cung cấp uy tín để lưa chọn cho mình những chú gà Thái phù hợp.

Hiện nay ở khu vực TPHCM cũng có nhiều cơ sở uy tín chuyên cung cấp các giống gà tre Thái trên toàn quốc, liên hệ trực tiếp để được tư vấn và hỗ trợ tốt nhất.

【#5】Giới Thiệu Khái Quát Huyện Nga Sơn

Mỗi lần đọc Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, lòng tôi lại chộn rộn bao cảm xúc khi nghĩ về quê hương, đất nước mình. Thấy yêu quý, thấy tự hào về đất Việt biết bao. Mỗi bài viết trong Thương nhớ mười hai là một chuyến hành trình đưa ta về với những miền đất đẹp giàu, với những sản vật nổi tiếng theo từng tháng ở miền quê bắc bộ. Và đúng như giáo sư Hoàng Như Mai trong lời mở đầu của tác phẩm đã nhận xét ” những sản vật ấy gợi lên tình cảm đất nước quê hương đằm thắm…..”. Về với mảnh đất Nga Sơn, một vùng quê mang nhiều màu sắc huyền thoại, lòng tôi cũng không khỏi xốn xang khi được nghiên cứu, tìm hểu về văn hóa sống của người dân nơi đây, trong đó có văn hóa ẩm thực. Qua đó mới thấy, trên dải đất cong cong hình chữ S, bất cứ nơi đâu, cũng có một nét đặc trưng riêng biệt, một món ăn đậm đà tính quê hương. Nếu như người ta vẫn nhắc đến Phở Hà Nội, nhắc đến Bưởi Thanh Trà, đến nhãn lồng Hưng Yên, bánh Cu Đơ Hà Tĩnh,… Thì khi nhắc đến Nga Sơn ta sẽ phải nghĩ tới: gỏi Nhệch Nga Liên, Dê núi Nga An, rượu Chính Đại Nga Điền, rượu Nga Bạch, Nga Liên,…… những đặc sản thấm đậm tình người, tình quê xứ Thanh.

Đi và ăn rồi mới thấy cách ăn, cách chơi, thú ẩm thực của Xứ Thanh cũng đầy thanh tao, cầu kỳ, sành sỏi và khoa học. Cũng bằng thứ nguyên liệu giống nhau, nhưng cách chế biến và thưởng thức của người dân Nga Sơn thì hoàn toàn đặc biệt và khác lạ. Nó tạo nên cho các món ăn nơi đây hương vị độc đáo đầy ấn tượng, chỉ thưởng thức một lần, cũng nhớ mãi không quên.

Đến với Nga Sơn, mà không thưởng thức dê núi Nga An thì thật là thiếu sót. Dê núi Nga Sơn không nức tiếng, không ồ ạt, ồn ã như Dê núi Ninh Bình, nhưng chắc chắn chỉ 1 lần được thưởng thức Dê núi Nga An – Nga Sơn thì bạn đã có thể hiểu được sự đặc biệt của những món ăn được chế biến từ Dê. Tại sao nên ăn thịt Dê núi? Vì thịt Dê lành, loài Dê ít ốm đau bệnh tật, Dê lại ăn lộc, lá cây trên núi, đó là những lạo thảo dược chứa nhiều vitamin, và khoáng chất tốt cho sức khỏe. Nhất là đối với nam giới, thịt Dê thực là một loại chất bổ. Nếu như Dê núi Nga An cũng được chế biến như Dê núi Ninh Bình thì chắc hẳn nó đã không thể để lại được ấn tượng sâu sắc đến thế! Vậy, điều khác biệt của những món ăn này nằm ở đâu, cách chế biến có bí quyết gì mà gây được nhiều thiện cảm đến vậy?

TIỀM NĂNG DU LỊCH NGA SƠN

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này. Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích

Nga Sơn nằm trên quốc lộ 10, cách thành phố Thanh Hoá hơn 40km, thị xã Sầm Sơn chừng 60km, (nếu đi theo đường biển từ cửa Lạch Sung đến đảo Nẹ đến Sầm Sơn khoảng chừng 30km). huyện Nga Sơn nối với các điểm du lịch phía Bắc, cách nhà thờ đá Phát Diệm chừng 15km, từ Nga Sơn dọc theo quốc lộ 10 đến Quảng Ninh, Hải Phòng chỉ nửa ngày đường.

Do giáp với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, có nhà thờ đá Phát Diệm – một điểm du lịch khá phát triển và cách chùa Bái Đính khoảng 60km là điểm thu hút được rất nhiều khách du lịch nhất là khách du lịch quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện Nga Sơn thu hụt được nguồn khách du lịch từ Ninh Bình đến thăm.

Phía nam giáp với huyện Hậu Lộc, phía tây giáp với huyện Hà Trung – hai huyện có nhiều điểm du lịch nổi tiếng. Vì vậy, huyện Nga Sơn có thể kết hợp với hai huyện để xây dựng một số tuyến du lịch nhằm khai thác có hiệu quả những tài nguyên du lịch của địa phương.

Là một vùng do đất phù sa bồi tụ nên địa hình Nga Sơn nói chung được kiến tạo theo dạng lượn sóng, tạo thành ba vùng: Vùng chiem trũng, vùng đồng màu và vùng ven biển. Độ cao giữa các vùng chênh lệch 0,3-0,5m. Với địa hình như vậy rất thuận lợi cho việc đi lại, thăm quan của khách du lịch. Các điểm du lịch của Nga Sơn phân bố ở những nơi có địa hình không quá khó khăn nên tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch và xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch.

Vị trí địa lí mang lại cho Nga Sơn loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nền nhiệt cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tương đối nóng, lượng mưa trung bình. Nhiệt độ trung bình năm là 23-24 0 C. Lượng mưa trung bình là 1700-1900mm. Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến thàng 10). Có hai thời kỳ khô ngắn là tháng 5,6 và tháng 10,11.

Khí hậu của Nga Sơn không quá khắc nghiệt tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch diễn ra quanh năm và có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch.

Nga Sơn có khu vực biển nông chạy dài từ Nga Tân đến Nga Bạch khoảng 10km, vùng bãi triều có thể trồng được: sú, vẹt, nuôi ngao…ngoài khơi có nguồn lợi hải sản phong phú.

Với tài nguyên như vậy, Nga Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, ở vùng bãi triều đã trồng rừng sú, vẹt (ở xã Nga Tân) rộng tới gần 100ha, đây là điểm du lịch thuận lợi để thu hút khách du lịch tới tham quan. Vùng biển Nga Sơn có nguồn hải sản phong phú, đây là nguồn cung cấp thực phẩm cho các nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống của khách du lịch về thăm Nga Sơn.

Nga Sơn nằm giữa các con sông Hoạt và sông Lèn. Sông Lèn thuộc hệ thống sông Mã đoạn chảy qua huyện dài 11km, sông Hoạt là nhánh của sông Lèn đoạn chảy qua huyện khoảng 15km. Tổng lưu lượng nước mùa mưa của các con sông lên tới 1.720m 3/s. Trong các cuộc kháng chiến giữ nước trước đây, sông Hoạt và sông Lèn là đường giao thông thuỷ rất quan trọng. Không những thế, đôi bờ sông Hoạt là dãy núi Tam Điệp còn có những cảnh quan kỳ thú “sơn thuỷ hữu tình”.

III. Tài nguyên du lịch tự nhiên.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này.

Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng như: Động Từ Thức, cảnh đẹp Chùa Tiên, Hồ Đồng vua, đền thờ Mai Anh Tiêm trên núi Quả Dưa, Chùa Thạch Tuyền, chùa Bạch Tượng…dọc đôi bờ sông Hoạt theo dãy núi Tam Điệp còn có biết bao cảnh quan kỳ thú như động Lục Vân, Động Trúc Sơn, cửa Thần Phù, Núi Bia Thần, Núi Lã Vọng, Núi “Rồng Hổ tranh ngọc”, “Giếng thần”, Động Bạch Á … Mật độ di tích “dày đặc” lại rất tự nhiên nằm tập trung ở vùng phía bắc tại dãy núi Tam Điệp và đôi bờ sông Hoạt nên rất thuận lợi cho hoạt động du lịch. Và cũng chính nơi đây từ xưa đã có rất nhiều nhà sử học, bác học như: Phan Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, …các nhà vua, chúa như: Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông, chúa Trịnh Sâm, và cả thái tử nước Lào…vãn cảnh thăm thú tức cảnh, đề thơ trên núi. Đồng thời vùng quê cổ tích này còn hội tụ những di tích lịch sử như: Chiến khu Ba Đình, đền thờ Trần Hưng Đạo, đền thờ Triệu Quang Phục, đền thờ nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh, đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn…

Nga Sơn từ lâu đã nổi tiếng với danh thắng Động Từ Thức, là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng độc nhất vô nhị ở trời Nam. Bởi chỉ có động Từ Thức mới có huyền thoại “Từ Thức gặp Tiên” – một câu chuyện tình đầy lãng mạn, đầy tính nhân văn mà không ở nơi nào có được, một điểm có giá trị rất lớn đối với sự phát triển du lịch của huyện Nga Sơn nói riêng và Thanh Hoá nói chung.

Động Từ Thức còn có tên gọi khác là Động Bích Đào, vì ở ngay cửa động có một quả đào to (tất nhiên bằng đá). Nhưng vì gẵn với câu chuyện Từ Thức gặp Tiên nên dân gian thường gọi là Động Từ Thức.

Động Từ Thức thuộc xã Nga Thiện huyện Nga Sơn, nằm trong dãy núi đá vôi Tam Điệp ở phía đông bắc tỉnh Thanh Hoá. Dưới chân núi trước cửa động có hàng cây cổ thụ xum xuê tán lá, tiếp đến là con kênh dẫn nước, cánh đồng lúa bằng phẳng, xóm thôn xanh ngắt một mầu.

Thắng cảnh Động Từ Thức gắn liền với câu chuyện truyền thuyết Từ Thức gặp Tiên – nàng Giáng Hương.

Tương truyền Từ Thức vốn là người Hoá Châu (Thanh Hoá) thuộc xã Cẩm La huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), làm quan tri huyện ở Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Năm Quang Thái thứ 9 nhà Trần (1396).

Cạnh huyện có ngôi chùa cổ, vườn chùa có cây Mẫu đơn, đến mùa hoa nở người người, lớp lớp chen chân vào xem hoa, gọi là Hội xem hoa.

Tháng 2 năm Bính Tí có ngươi con gái nhan sắc tuyệt trần, vào xem hoa có vịn cành hoa không may bị gãy, vì là Tiên không có tiền chuộc nên người trông giữ hoa bắt lại. Quan huyện tể Từ Thức đến xem hội thấy người con gái xinh đẹp, lại bị trói vào cành hoa, chàng liền cởi áo da cừu trắng đến tăng phòng nộp cho nhà chùa, chuộc người con gái ấy.

Nhân dân ca tụng ông là người nhân từ. Từ Thức là người phóng khoáng đi chơi thường mang theo bầu rượu, cây đàn, túi thơ du ngoạn các nơi có phong cảnh đẹp. Một số quan trên của ông thường hay quở mắng: Cha là Quan cao chấp chính, con không làm được chức quan Huyện tể hay sao ?

Từ Thức than rằng: Ta không vì 3 đấu đậu đỏ (lương tháng) mà gởi thân vào trường danh lợi, lúc nào đó ta sẽ tìm đến non xanh, nước biếc du chơi, chắc là nơi ấy không nỡ phụ ta. Nói đoạn treo ấn từ quan rồi bỏ đi.

Đến Tống Sơn là nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều hang động, bói quẻ thấy đây là vùng đất lành, chim đậu, nên thường lui tới rong chơi, mang theo cây đàn, bầu rượu, túi thơ đến những khe suối nhỏ ngâm vịnh, không đâu thiếu thơ đề.

Một buổi sáng thức dậy nhìn lên cửa bể Thần phù thấy năm sắc mây kết tụ như đoá hoa sen , chèo thuyền đến nơi thấy đó là ngọn núi đẹp. Buộc thuyền, trèo lên thấy ngọn núi đá nhọn cao trên 100 trượng, người như có cánh bay lên. Trước cảnh sinh tình đề thơ rằng:

Thiên thoải bích thu quải trều diên

Hoa thảo nghênh nhân nhập động môn

Bàng giãn dĩ vô tăng thái dược

Diên lu thăng hửu khách tâm nguyên

Lữ du tư vị cầm tam lộng

Điếu đỉnh sinh nhai tửu nhất tôn

Nghĩ hướng vũ lăng ngư phủ vấn

Tiền lai viễn cận thực đào thôn.

Bạt ngàn cây biếc đón hương trời

Hoa quả mời ta đến động chơi

Sườn núi đã không sư hái thuốc

Bờ khe lại có khách tìm chơi

Lữ hành hứng thú đàn ba phiếm

Ngư phủ say sa rượu một hơi

Định đến vũ lăng tìm bạn hỏi

Thôn đào đâu phải quá xa vời.

Đề thơ xong bồi hồi xúc động ngắm nhìn, bỗng thấy vách đá nứt một lỗ hình tròn nhỏ nhưng có thể chui vào được. Từ Thức chui vào bước được mấy bước thì vách đá khép lại. Hoang mang bối rối, lấy tay xoa vách đá thấy một khe nhỏ cong queo như ruột dê, đi vào mấy dặm chợt thấy ngọn đèn treo trên vách đá, theo đường đi lên vòm bước lên đỉnh núi thấy bầu trời sáng sủa, nhìn quanh đến lâu đài cung các. Mây hồng tuyết trắng bám trên các lan can, hoa đẹp cỏ tươi quấn quýt gần xa, thật là một thâm cung nấu mình trong rừng thẳm.

Lòng Từ Thức lâng lâng trầm ngâm suy nghĩ miên man, bỗng thấy trước mắt hai tiên đồng mặc áo xanh đến thưa rằng: Phu nhân thấy chàng chui vào động nên sai chúng tôi ra đón. Qua đường ngầm nến đỏ có một cửa son đối diện cung ngân trên có bảng đề “Kinh hư điện Gác giao quang”. Trên gác có giường Bát Bảo, chăn trắng, bên cạnh đặt một bình hương nhỏ.

Một người mời Từ Thức ngồi và nói rằng: Chàng là người tốt, đã cưu người ở Hội hoa Mẫu Đơn Tiên Du, hạnh ngộ gặp nhau ở đây chả nhẽ lại quên ư. Từ Thức đáp: Tôi là dật sĩ ở Tống Sơn vui cảnh giang hồ làm sao biết được nơi đây Tử Phủ Thanh đô không hiểu sao tôi như tự sinh cánh mới lên được đây song lòng trần còn man mác, chưa hiểu tiền đồ ra sao. Người tiếp chuyện cười và nói rằng: Đây là động thứ sáu trong ba mươi sáu động. Tôi là Nam nhạc địa tiên Nga phu nhân, thấy chàng có nghĩa lớn hay cứu người bị gian nguy nên mời chàng đến đây, rồi đưa mắt bảo các cô gái gọi Nàng A lại.

Từ Thức lét nhìn mặt mũi thì ra là người ngày trước làm gãy cành hoa mẫu đơn ở huyện Tiên Du.

Tiên Nga chỉ vào Giáng Hương và nói: Đây là con gái của ta tên gọi Giáng Hương. Ngày trước nhờ chàng cứu nạn trong hội xem hoa, ơn nghĩa ấy không bao giờ quên, ngỏ ý muốn kết duyên để báo đáp công ơn chàng ngày trước.

Đêm hôm ấy tại Tiên động lấy mỡ Phượng đốt đèn hành lễ giao duyên, hai người báo đáp lễ thành hôn.

Hôm sau, các Nàng Tiên, người cưỡi Rồng, người ngồi võng Hạc, quần áo lộng lẫy đến nơi tụ tập mở yến tiệc trên Gác giao quang, bước lên gác trang trí nội thất toàn bằng lưu ly hổ phách chưa có ai ngồi. Tiên Nga gọi Kim Tiên quần nữ đến bái rước lên gác tiên, ca nhạc liên hoan. Có một người mạc xiêm y màu lam đến nói: Ta đến đây đã tám vạn năm, nay chàng du hành đến không ngại dương trần cách trở, thoả ước nguyện ba sinh, tưởng không phụ lòng nhau, đừng lấy thần tiên là chuyện hoang đường vậy.

Tiếp sau các tiên đồng chia nhau ca vũ, phu nhân ngồi làm chủ toạ, Giáng Hương chuốc rượi mừng vui. Bỗng có một tiên nữ mặc áo lam đến nói: Cần có một kế ước làm tin, vì sợ sau này lạc nhau trên tiên giới khó mà tìm gặp được nhau. Vì trên đời còn lắm quần nho.

Từ Thức có bộ áy náy trong lòng. Phu nhân nói tiếp: Tìm có thể gặp nhưng khó tìm, đạo không phải tu mà tự đến. Rồi đây đình lớn nhà cao bên sóng vỗ, sự đời diễn biến ra sao chưa thể biết trước. Chàng không nhớ chuyện Lộng Nga với Tiên Sử, Thái Loan gặp Văn Tiên, Lan Đã gặp Trương Thạc. Nhiều chuyện đã ghi chép rõ ràng, đó không phải là tấm gương soi hay sao. Nếu lấy việc hôn nhân làm chuyện đùa thì trước đến nay đều là vui đùa diễu cợt cả.

Chuyện vui đang tiếp diễn thì ánh tà dương xuyên qua cửa sổ, hoàng hôn buông xuống mọi người phân tán đi nơi khác.

Từ Thức vui đùa nói với Giáng Hương: Này duyên Tiên Trần phù hợp tại sao có chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, Tăng Nho – Chu Thái, tại sao lại có thơ Xuân Ngọc – Hoàng Lăng. Tuy cảnh có khác nhau nhưng tình là một. Bây giờ quần tiên đã đi xa, ở đây vắng vẻ mà lòng ta không hứng khởi, muốn hoà hợp với nhau mà tình chẳng động. Giáng Hương đáp lại: Đa số các chàng lấy khí huyền nguyên là một chân tình không thể phung phí cho nên đã lên nơi kim đàn mà thân nơi cửa khuyết, ở phủ Thanh đàn dạo chơi nơi xung hán không cần đèn mà lòng trong sáng, không vất vả mà chẳng động tình. Riêng phận thiếp thất tình chưa rửa sạch cho nên trăm loại tình đâu dễ phát sinh. Theo Châu Tử Mị Thiên Phủ mà lại mang nợ dưới cõi trần, thân trên chốn cung tiên mà lòng vẩn đục dưới trần thế. Mong chàng đừng lấy tự tình của thiếp mà so sánh với quần tiên.

Từ Thức đáp: Nếu đã như vậy thì ta không thể xa nàng được. Cả hai người cùng vỗ tay cười.

Phòng của Giáng Hương có bức bình phong, Từ Thức thường đề thơ. Nghĩ lại người xa nhà đã một năm nên nhiều lúc buồn rầu, đi đứng vội vã bất thường có lúc lại chậm chạp, yếu ớt. Nhiều đêm khí lùa vào cửa sổ, gối rơi khí lạnh cảnh vật chập chờn như ai gọi.

Một hôm nhìn xuống trần gian thấy thuyền bè qua lại đông vui bèn gọi Giáng Hương lại trông và nói rằng: Nhà ta ở đó, hiềm vì trời xa sóng cả nên không rõ đâu là quê hương. Có lúc lại nói với Giáng Hương: Ta là người vui thú với cỏ cây, hoa lá, lòng đa sầu đa cảm, dễ động tình nhớ đến quê hương xin nàng cho ta trở về thăm thú quê nhà, rồi sẽ lên đây cùng nàng sống bên nhau đến trọn đời.

Giáng Hương khóc và trả lời: Thiếp không buồn vì chàng trở lại dương trần, nhưng chỉ lo vì đường đi cách trở khó khăn, vả lại chàng ra đi đã lâu đến nay xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa khó mà nhận ra quê hương làng mạc cũ.

Từ Thức lại nói: Đây là ý nguyện khẩn thiết của ta, nàng hãy giúp ta. Giáng Hương can không được bèn tặng một cỗ xe mây chở chàng đi và trao cho chàng một phong thư, dặn chàng: Mai sau nếu không quên tình cũ, thì hãy xem thư này…nói đoạn rơi lệ tiễn biệt.

Về đến quê hương thì vật đổi, sao rời, xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa, mọi vật đều khác trước, người thân thích họ hàng không còn.

Từ Thức tìm đến các cụ già nói rõ họ tên và tìm hiểu thân thích xa gần, tất cả đều ngơ ngác. Duy chỉ một ông cụ nói: Khi còn nhỏ tôi có nghe ông cụ tổ ba đời của tôi cùng họ tên với ông lạc vào rừng cách đây đã tám mươi năm. Từ triều Trần nay đã chuyển sang Triều Lê. Năm Diên Ninh thứ năm.

Từ Thức vô cùng hối hận muốn trở lên tiên thì cỗ xe mây đã biến thành đám mây bay đi mất. Buồn rầu mở thư xem chỉ thấy Giáng hương ghi “Duyên xưa đã hết”. Nhìn trời biển bao la, Tiên trần cách biệt, hơn nữa dù có gặp lại Giáng Hương thì tình duyên đã hết. Từ chán ngán, mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, đi đến núi Hoàng Sơn (Nông Cống) rồi mất tích.

Truyền thuyết dân gian Từ Thức – Giáng Hương là nét đặc sắc độc đáo của thắng cảnh Từ Thức và cũng là nguồn hấp dẫn, thu hút nhiều khách từ xưa đến nay tới đây để vãn cảnh, đề thơ.

Chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương, một thiên tình sử lãng mạn đầy tính nhân văn sâu sắc.

Tạo hoá, như có một bàn tay siêu thần, có phép màu nhiệm tạo nên bao nhiêu cảnh đẹp như thực, như mơ, lung linh rực rỡ sắc màu vẻ huyền bí, bảng lảng vừa gần, vừa xa ở Bồng lai tiên cảnh, gần gũi đến lạ kỳ như giữa đời thường lúc nào cũng gặp bên ta. Cứ tưởng như khi ta chạm bàn tay vào các cảnh vật là Đá như có sự lay động, như có lời thầm thì của đá.

Trong động, trên vách đá, nóc động, nền động nhiều cảnh thơ mộng bởi thạch nhũ. Các bức “phù điêu”, “tượng” rất thực với đời sống thường ngày của con người, của hạnh phúc lứa đôi, mà cảnh là một tác phẩm kỳ ảo của thiên nhiên lưu lại những kỷ niệm trùng hợp của đôi trai tài, gái sắc.

Khi ta bước vào trong động đến khi thăm hết động, cảnh vật trong động được tạo hoá sắp xếp tuần tự, chỉnh chu như một “bài văn mẫu” kể về chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương.

Động Từ Thức được chia làm 3 động nhỏ: Động ngoài, động giữa và động trong. Hay thường gọi là ba cung.

Động ngoài rộng, trần động hình vòng cung như chiếc bát úp khổng lồ. Phía dưới vòng cung ở giữa động một nhũ đá trông như trái Đào Tiên, nhiều bông hoa Mẫu Đơn, một chiếc áo treo bên cạnh của chàng Từ Thức, một cây bút thần. Trung tâm của động ngoài này là cảnh “Quần Tiên hội ẩm” giữa quần tiên ca múa nhân ngày Từ Thức kết duyên với Giáng Hương là hình ảnh Từ Thức đội mũ cánh chuồn đứng sau nàng Giáng Hương xinh đẹp, đôi lứa đang tràn đầy hạnh phúc.

Bước vào phần động giữa là một thế giới kỳ ảo của nhiều cảnh trí mà chỉ có tạo hoá mới tạo ra được. Đầu tiên chúng ta sẽ thấy những kho Tiền, kho Muối, kho Vàng lấp lánh, thật ngạc nhiên khi ta bắt gặp “Rồng chầu ấp trứng” một con Rồng như phù điêu tuyệt đẹp mà có lẽ “chỉ có trời ” mới tạo ra được đẹp như thế. Rồng uốn lượn đang “co” lại “ấp” trứng, những quả trứng rồng mới đẹp làm sao. Quả tròn, to nhỏ nhiều cỡ, vở quả trứng bên ngoài như quả na vừa vàng, vừa thẫm đen trông thật kỳ thú. Rồi những phiến đá nhũ đá mỏng, màu trắng ngà rủ từ trần xuống-những nhũ đá đó gọi là dàn “đàn đá”, “trống đá”. Bởi vì chỉ cần gõ nhẹ vào những thanh nhũ đá, sẽ nghe âm thanh vang lên với những cung bậc khác nhau. Tiếng trầm hùng như từ ngà xưa vọng lại. Tiếng “kim ” như cao vút tận trời xanh.

Càng vào sâu lòng động càng rộng ra, chúng ta sẽ thấy ngỡ ngàng khi gặp bàn cỗ tam sinh có đủ lợn, trâu, dê…một mâm xôi trên có miếng thịt lợn giống như thật. Rồi những dấu tích về tình yêu của Từ Thức và Giáng Hương như: “Buồng tắm” của Giáng Hương và “thư phòng” của Từ Thức, những Bông hoa, những quả Đào tiên, Vầng trăng và có cả những Đôi chim thạch nhũ, một “Bức triện” được khắc tinh xảo như dấu ấn từ quan của Từ Thức. Đối diện là cảnh Ao bèo, Bụi tre, Quả mít, cây Táo, những con Voi, con Dê… gợi hình tượng quê hương trong sự tưởng nhớ của chàng thư sinh Từ Thức. Ngước lên trần là cảnh Từ Thức cùng Giáng Hương đang “cưỡi Xe mây” du ngoạn Bồng lai Tiên cảnh. Cảnh Từ Thức – Giáng Hương cùng che “lộng Vàng” đọc sách, ngâm thơ. Cảnh những con chim Đại bàng sải cánh rộng bay chao đảo giưa bầu trời rộng mênh mông…Đi tiếp là một ngã rẽ, một ngả theo tương truyền là đường lên cõi Tiên của Từ Thức. Tại đây có quán nghỉ chân bằng đá mà chàng nghỉ suốt dọc hành trình và còn có những mắc treo áo, treo mũ bằng đá. Bên cạnh đường lên Tiên là một ngả rẽ hẻm sâu theo đường xoáy ốc vẫn bí ẩn bao đời nay, nhân dân quen gọi là đường xuống Âm phủ tối đen. (dân ở đó kể rằng khắc dấu vào quả bưởi thả xuống, quả bưởi sẽ trôi ra mãi cửa Thần Phù)

Động Trong: Cảnh Từ Thức từ giã Giáng Hương về thăm quê, một đôi dày của Từ Thức thô sơ như bao đôi dày dân giã, một dãy núi có 5 ngọn núi nhỏ “tựa như Ngũ hành sơn”. Nơi Từ Thức đến những bông hoa mẫu đơn, có một bông thật to rủ xuống bên cạnh ngôi mộ của chàng Từ. (Bông hoa Mẫu đơn, mà nàng Giáng Hương vô ý đã làm gãy cành-Duyên cớ đó cho đôi lứa nên duyên vợ chồng). Phía cuối động có vòm thấp, phải cúi đầu mới vào được đó là “lầu cô lầu cậu” rất linh thiêng, những cặp vợ chồng thường vào đó để cầu tự sinh trai tài, gái sắc.

Ở những thế kỷ trước nhiều thi nhân tới động Bich Đào , tức cảnh sinh tình, những vần thơ “thiên cổ kỳ bút” đã sinh ra từ đây để lại cho hậu thế. Hai câu thơ của cụ Huỳnh Thúc Kháng vịnh về động Bích Đào còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ và trong thi đàn Việt Nam:

“Thơ ngọc vội đưa người viễn khách

Động Bích Đào còn để lại tiếng danh sơn”

Nhà thơ, nhà bác học Lê Quý Đôn, trạng nguyên Nguyễn Thượng Hiền, chua Trịnh Sâm đều sáng tác những vần thơ đẹp ngợi ca động Bích Đào.

Sách “Truyền kỳ mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ dành cả một chương viết về kỳ quan thiên nhiên động Bích Đào và câu chuyện Từ Thức. Tập truyện nôm khuyết danh “Từ Thức tân truyện”, rồi “Từ Thức Tiên hôn” của tác giả Lê Khắc Khuyết viết vào đầu thế kỷ XX và những thế kỷ trước, các sách “Thanh Hoá kỳ thắng”, “Thanh Hoá danh thắng”…đều hết sức ca ngợi động Từ Thức.

Bài thơ của bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726-1784):

Trên đảo bầy Tiên chuyện lạ thường

Bích Đào cửa động quá hoang lương !

Đất trời manh áo đày Từ Thức

Mây nước đôi mày đoạ Giáng Hương !

Trống đá tiếng lay vầng nhật sớm

Muối non vị nhạt đẫm thu sương

Người đời khổ bởi mơ tiên cảnh

Ai biết thiên thai cũng hí trường.

Mờ mịt thần tiên ngất dặm dương

Bích Đào động khẩu dấu thê lương

Áo gai phiêu bạt thân Từ Thức

Mây nước già dăm mặt Giáng Hương

Trống đá nghe khuya lay động sớm

Sương thu chăng đượm cát sa trường

Thiên thai bao kẻ từng xây mộng

Nào biết thiên thai cũng hí trường.

Bài thơ của chúa Trịnh Sâm:

Rời thuyền thừa hứng viếng Từ công

Cửa động y nguyên khoá ánh hồng

Xiêm ráng vách treo rờn gấm vóc

Phượng reo đá gõ vọng cung thương

Duyên tiên từ thủơ ba sinh hẹn

Bể khổ nay đà mấy độ dâng.

Chớ bảo giao trì ngày thấm thoát

Chơi đây nào khác dạo Bồng Lang.

(Nguyễn Hữu Vĩ viết – Hồng Phi phiên âm và dịch)

Bài thơ của Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niên (1886-1955) Tổng đốc Thanh Hoá:

Lâng lâng nhẹ gót viếng Đào Nguyên

Mới rõ trần gian chửa dứt nguyên

Vinh lộc đã cam từ huyện ấn

Ái tình còn nặng lụy duyên tiên

Nghê thường mờ mịt chòm mây sớm

Thạch nhũ đầm đìa bóng nguyệt đêm

Hoạn lộ cười mình về quá muộn

Gặp nhau cửa động mới không nên

Nguồn đào thanh thản bước chân

Tiếc thay lòng vẫn duyên trần đa mang

Đã hay treo ấn từ quan

Ái tình còn lụy mơ màng chốn tiên

Nghê thường óng ả mây xiêm

Trăng soi thạch nhũ hồn đêm ngậm ngùi

Ta chưa về cũng đáng cười

Gặp nhau cửa động khôn lời nói năng.

Lâng lâng nhẹ bước tới Đào Nguyên

Trần thế lòng còn vướng nợ duyên

Danh lợi xem khinh treo ấn tín

Ái tình mang nặng luỵ non tiên

Nghê thường nhuộm vĩ mây chiều xám

Thạch nhũ vương hồn bóng nguyệt đêm.

Về muộn ai cười ta đó tá

Gặp nhau cửa động chẳng hàn huyên.

Động Từ Thức là “Bồng lai, Tiên cảnh”. Thiên nhiên ban tặng cho Nga Sơn.

Câu chuyện tình duyên, thắm nồng và dang dở giữa chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương chỉ là một huyền thoại, nhưng được gắn với cảnh động Từ Thức đã tôn thêm tính hiện thực. Tiên cảnh và trần thế, hư và thực đan xen trong câu chuyện, chứng tỏ chất lãng mạn, lạc quan, yêu cuộc sống là bản tính của dân tộc Việt Nam. Danh thắng động Từ Thức mãi mãi xứng danh với “Danh sơn đệ nhất động” ở trời Nam.

Một thắng cảnh nổi tiếng của Nga Thiện đó là núi Bia Thần, nơi thuở xưa có một mỏm đá nhô ra sông thuyền bè có thể đi luồn dưới gầm núi, trên núi có khắc một chữ “Thần” bằng chữ Hán rất lớn, nét chữ khoẻ mạnh, phóng khoáng, ngạo nghễ và oai nghiêm. Sách “Đại nam nhất thống chí” chép rằng: Tương truyền Lê Thánh Tông là tác giả của đại tự trên. Mới đây nhờ khảo sát kỹ của Hồng Phi và Hương Nao các chữ nhỏ khắc hai bên (đã bị ai đó đục phá), mới phát hiện người đề chữ này là “Nhật Nam Nguyên chủ”, tức là chúa Trịnh Sâm. Chữ “Thần” được khắc ở vị trí núi non hiểm trở này, muốn chứng tỏ rằng nước Nam có thần linh canh giữ, không để những kẻ ngoại xâm vào xâm chiếm.

Điều đặc biệt ở vùng “huyền thoại” và “cổ tích” này nhiều địa danh được gắn với chữ Thần (Thần Phù, Bia Thần, Giếng Thần). Chữ Thần ở núi Bia Thần chỉ độc một to lớn ở xã Nga Thiện và cũng ở Động Bạch Á xã Nga Thiện có tấm bia cổ lớn có độc một chữ “Phật” . Các danh thắng như Động Từ Thức, Núi Bia Thần, Động Bạch Á, Núi Lã Vọng, Giếng Thần, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh…các di tích “dày đặc” ở cùng một xã, mà động Từ Thức là “trung tâm”

3. Động Bạch Á xã Nga Thiện

Động Bạch Á là một thắng cảnh nổi tiếng từ xưa, hay còn được gọi là Động Bạch Ác, Bạch Nha. Động Bạch Á thuộc địa phận làng Tri Thiện xã Nga Thiện. Bạch Á (hay Bạch Nha) nghĩa chữ Hán là “quạ trắng”. Người xưa đặt tên là “quạ trắng” có lẽ bởi vì từ xa nhìn về cửa động trước thấy giống như một con quạ khổng lồ đang dang rộng cánh giữa một khoảng trời rộng lớn màu bạc, đất trong động màu ngà, sông nước bao bọc xung quanh nên moi vật dường như màu trắng.

Ngoài các tên gọi trên Động Bạch Á còn là nơi có rất nhiều dơi cư trú. Vì vậy, từ xưa tới nay, nhân dân địa phương còn gọi động theo tên khác nữa là động Dơi.

Động Bạch Á nằm trong lòng một núi đá đứng độc lập thuộc phía đông bắc huyện Nga Sơn. Núi này thường được gọi là núi Bạch Á (hay Bạch Ác, Bạch Nha).

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây đã được các bậc vua chúa và các danh nhân thưởng ngoạn, đề thơ. Đây là một trong những nơi có cảnh đẹp thiên nhiên ban tặng cho vùng quê này.

Ngoài vẻ đẹp thiên nhiên, động Bạch Á còn có chùa thờ Phật. Đây là một trong những ngôi chùa có niên đại từ rất sớm. Trải qua thời gian tồn tại, nơi đây đã trở thành nơi vãn cảnh, thưởng ngoạn và sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh, khách thập phương.

Hiện tại Động Bạch Á còn lưu giữ rất nhiều hiện vật có giá trị về nhiều mặt như hệ thống tượng đá, tượng gỗ, các điêu khắc hình rồng hai bên bậc lên xuống…Điều đó minh chứng cho sự tồn tại của ngôi chùa cũng như sự phát triển của phật giáo khi du nhập vào nước ta, cũng như về vẻ đẹp của động Bạch Á.

Động Bạch Á là một thắng cảnh đã có từ rất lâu. Xưa kia nơi đây là vùng cửa biển. Sau thời gian được phù sa bồi đắp, vùng đất này đã trở nên bằng phẳng và đông dân cư như ngày nay.

“Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú khi chép về động Bạch Á đã viết: “Động Bạch Nha ở bãi biển huyện Nga Sơn, ngọn núi cao đứng sững lên, giữa núi có động sâu, gắn với động Từ Thức”.

Động Bạch Á nằm trong ngọn núi có độ cao khoảng gần 50m so với mực nước biển. Từ trên ngọn núi này chúng ta có thể quan sát cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của vùng đông bắc huyện Nga Sơn một cách rõ ràng.

Để vào động Bạch Á có bốn lối theo bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Các lối vào phía đông và phía nam nằm cao trên lưng chừng động nên ít được sử dụng ra vào, chủ yếu chỉ sử dụng hai lối phía tây và phía bắc, phía tây là cửa ra vào chính phía bắc là lối đi phụ.

Từ phía tây vào , chúng ta phải đi tử dưới lên trên cao khoảng 7m để vào động bằng các bậc lên xuống. Hai bên lối lên xuống là 6 con rồng bằng đá nguyên khối (4 con lớn, 2 con nhỏ).

Tiếp đến là cổng tam quan được xây dựng bằng gạch vữa. Phía trong là sân rộng lớn. Giữa sân đặt tượng Quan Âm Bồ tát.

Tiếp giáp với sân là cửa động rộng, cao thoáng mát. Phía trên của động có khắc 3 tấm bia Ma Nhai.

Qua cửa động vào bên trong được chia thành 3 cung với kích thước khác nhau đều rộng rãi và cao ráo.

Từ cung trong cùng được mở rộng ra hai phía bắc và phía nam khoảng không rộng rãi thông ra ngoài bằng hai cửa nhỏ, cửa phía bắc và cửa phía nam. Tại các vị trí này đều có dấu vết của nền móng xây dựng cũ (có thể đây là nhà chính tẩm cũ). Phía sau được thông ra ngoài bởi một lối nhỏ, phía trên cao hơn so với nền khoảng 4m.

Nhờ có 4 cửa thông nhau nên trong động quanh năm luôn thoáng đãng, khô ráo và mát mẻ. Trên vách động không có nhiều nhũ đá như những động khác, ở phía đông động có một hình “được vẽ” và “tô đắp” như hình Giáng Hương dang đôi cánh bay xuống du ngoạn động này.

Động Bạch Á còn là nơi lưu giữ rất nhiều tượng điêu khắc bằng đá, bia như: Tượng Vũ Sĩ, tượng Phật, tượng Rồng được chạm khắc công phu trên những phiến đá tảng lớn, các bia…

Sách xưa cho biết, trước cửa động có một tấm bia rất lớn từ thế kỷ XII thời Lý đặt trên lưng rùa, nhưng sau này bị mất. May mắn, mới đây đã tìm lại được tấm bia này, đó là bia chữ “Phật”. Bia hình chữ nhật, kích thước cao 1.83m (trán bia hình bán nguyệt, cao 0.26m, đế cao 0.2m). Trên trán bia có khắc tám chữ triện, được giáo sư Hà Văn Tấn dịch là: “Trùng tu Diên Linh chân giáo tự bi” (Bia trùng tu chùa Diên Linh chân giáo). Phải chăng “Diên Linh chân giáo” là tên chữ của ngôi chùa ?. Xung quanh cả 4 mặt đều chạm khắc hoa văn, cành lá, hình rồng thời Lý rất tinh xảo. Nhưng một số chữ đã bị bào mòn, trong đó có niên đại của tấm bia.

Đặc biệt ở động này còn có các tấm bia ma nhai, là nơi lưu giữ được các bút tích của các bậc vua chúa đề thơ ở đây. Trong đó có các bài thơ chữ Hán của các vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Chúa Trịnh Sâm.

Năm 1467, vua Lê Thánh Tông đã dùng thuyền thăm thắng cảnh Bạch Á, sáng tác thơ khắc trước cửa động:

” Ngàn non xanh biếc tựa tầng không

Chùa cổ hang mây quá mịt mùng

Trời nhẹ khí lành xuân bóng toả

Tiết đầy sắc thắm gió không rung

Sau buổi hồng hoang trời đất mở

Trong khuôn tạo hoá quỷ thần thông

Ơn chị Oa Hoàng dành chỗ đẹp

Để ta ghi lại thái bình công”

44 năm sau, Lê Tương Dực cũng tới đây vãn cảnh, cảm hứng sáng tác hai bài thơ khắc trong động có những câu thơ sau ca ngợi vẻ đẹp của thắng cảnh Bạch Á.

” Nghìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mâu qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió êm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Nữ Oa dành lại đó mà

Để ghi công đức triều ta thái bình”

“Nguy nga núi đá điệp trùng trùng

Dấn bước lên cao cảm hứng nồng

Muôn vạn sóng xanh vờn ánh nhật

Một bầu cỏ biếc giỡn xuân phong

Khói mây mờ mịt xa vời ngắm

Hoa cỏ âm thầm thấp thoáng trông

Cảnh trí bút nào mô tả nổi

Lung linh trước mắt đẹp vô cùng”

“Chon von núi cổ điệp trùng trùng

Lên tới non cao thi tứ nồng

Cờ phướn phất phơ vờn ánh nhật

Xiêm đai rực rỡ giỡn xuân phong

Sấm rền vang dội kình vài tiếng

Hoa rực sáng bừng đuốc mấy bông

Cảnh vật bầu trời đầy trước mắt

Cõi Nam cảnh trí đẹp vô cùng”

(Hồng Phi phiên âm, dịch theo bản khắc trên vách động)

Phía trên hai bút tích này là bài thơ Đường luật của Nhật Nam nguyên chủ tức Chúa Trịnh Sâm:

“Động bày riêng chiếm một càn khôn

Chót vót vòm cao núi độc tôn

Vách đá trong ngoài xây lớp lớp

Cửa mây đôi mặt hướng tây đông

Bia hàn khói toả chùa sâu thẳm

Khánh cổ gió lùa xa xóm thôn

Đai ngọc vòng quanh ta thưởng ngoạn

Càn chi ra đó viếng Đào nguyên”

(Hồng Phi phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ)

“Cảnh bày riêng một cõi kiền khôn

Cao chọc vòm trời thế độc tôn

Đá biếc bao từng xây động núi

Cửa mây bốn mặt dựng sườn non

Móc phong bia lạnh nơi chùa thẳm

Gió thổi phương xa tiếng khánh dồn

Đai ngọc vòng quanh trông ngoạn mục

Đào nguyên ngoài đó chẳng đâu còn”

(Tố Nguyên – Nguyễn Thọ Dực dịch)

Ở chính giữa động còn hai bài thơ Đường luật của vua Lê Hiếu Tông.

I. “Thuyền rồng đưa khách thuận buồm dong

Đến viếng Bỗu tiên cảnh thắm hồng

Ngao gắng sức nâng Thiên Phủ quốc

Thu triều xa đỡ Thuỷ Tinh cung

Song cao khoá kín vân hà lặng

Cửa phật treo cao tục lợi không

Những sợ sơn hà không thắng cảnh

Quân vương thi tứ bỗng thêm nồng.”

II. “Hoa non như gấm, cỏ như chăn

Thượng giới chuông rền, đôi phía vang

Cửa động hương xuân bày bướm lượn

Bờ sông nắng ấm áng mây vần

Há không thành kính gìn tâm Phật

Nên xét lò than chống diễn văn

Muôn dặm Tây kinh cờ trở lại

Tạm dừng dưới núi trú ba quân ”

(Hồng Phi – Hương Nao dịch)

Động Bạch Á là một thắng cảnh có giá trị rất lớn về nhiều mặt mỹ thuật, lịch sử, văn hoá và du lịch. Động Bạch Á đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, năm trong khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh. Đồng thời là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh.

Động còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ có giá trị rất lớn như: Tượng cổ bằng gỗ, các tượng phật, tượng quan hầu, tượng rồng bằng đá…thể hiện phong cách nghệ thuật điêu khắc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.

Nơi đây cũng đã lưu giữ nhiều những tác phẩm thi ca đã được nhiều thi nhân thưởng thức và thán phục.

Núi Lã Vọng người dân nơi đây thường quen gọi là núi Lão Vọng (Ông lão ngồi câu cá). Từ bên này Động Từ Thức leo qua Eo “Đầu Lợn” sang bên kia, đi dọc cánh đồng của làng Hoàng Cương chừng gần 200m, ngoảnh mặt nhìn hướng đông có một hòn núi mà trên đỉnh núi có một ông già đang ngồi mặt nhìn hướng đông, nét mặt “đăm chiêu” như đang chứng kiến bao cảnh thăng trầm, bao sự biến thiên của lịch sử. (Cũng nhìn chếch về hướng đông bên kia sông Hoạt Giang là núi Bia Thần). Tương truyền núi Lã Vọng được gắn với câu chuyện đạo sĩ họ La tên Viện. Chuyện kể rằng: Theo truyền thuyết và sử cũ thì năm 1044, vua Lý Thánh Tông đi đánh quân Chiêm Thành, khi đến cửa Thần Phù gặp mưa to, gió lớn thuyền không qua được Bỗng trên núi có một người tự xưng họ La tên Viện tâu với Vua rằng: “Thần sẽ giúp nhà Vua thoát qua cửa biển Thần Phù”. Nhà Vua cho mời đạo sĩ xuống thuyền. Quả nhiên khi đạo sĩ ngồi ở mũi thuyền thì sóng yên, biển lặng. Khi thắng trận trở về, vị đạo sĩ họ La đã mất, nhà vua biết ơn cho lập đền thờ ở chân núi Đường Trèo ( xã Nga An) và phong “áp lãng chân nhân tôn thần” (Người có công đè sóng giúp vua được tôn thành thần)

Non nước Thần Phù vừa linh thiêng, u minh vừa nên thơ.

“Núi vút ngàn trùng non dựng đứng

Rắn bò một giải nước quanh đi”

Đây là một địa danh lịch sử xa xưa gắn với nhiều truyền thuyết, thực chất là một vùng đất nằm ở hai bên cửa biển cũ, nay đã lùi xa trong đất liền hơn 10km. Cửa biển Thần Phù hiện thuộc ranh giới giữa hai xã Yên Lâm huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình và xã Nga Điền,Nga Sơn, Thanh Hoá.

Cửa biển Thần Phù ngày xưa là một cửa biển sóng to, nước giữ nên ca dao Việt Nam đã có câu:

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Thần Phù và vùng cửa biển Thần Phù cũng là một địa danh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam về các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Năm 40 SCN, Lê Thị Hoa – nữ tướng của Hai Bà Trưng đã tổ chức quân đội, phất cao ngọn cờ độc lập chống lại sự tấn công của lão tường Mã Viện.

Vào cuối thế kỷ X, khi vua Đinh Tiên Hoàn vừa mới mất (năm 979), Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn là nhiếp chính. Phò mã Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm tiến ra Hoa Lư đánh nhà Đinh. Nhưng vừa tới cửa Tiểu Khang (cửa Thần Phù) thì bị gió bão đánh chìm. Ngô Nhật Khánh chết đuối, chúa Chiêm may mắn thoát nạn.

Dưới thời Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 (năm 1285), thượng tướng thái sư Trần Quang Khải đã lập một phòng tuyến ở đây để chặn đánh 10 vạn quân Toa Đô từ phía nam (Chăm Pa) đánh ra, đập tan kế hoạch trong đánh ra, ngoài đánh vào của viên tướng tổng chỉ huy Thoát Hoan.

Năm thứ 7 đời Xương Phù(1388), triều vua Trần Hiệu Đế (1377-1388), tướng Nguyền Đa Phương và Hồ Quý Ly đã đánh cho quân Chăm một trận thất bại nặng nề, buộc chúng phải tháo chạy về nước.

Với những giá trị trên, cửa biển Thần Phù cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của huyện Nga Sơn. Đến với cửa biển Thần Phù, chúng ta không chỉ được hiểu biết thêm về lịch sử đấu tranh anh dũng của ông cha ta, mà còn được ngắm phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp mà tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất Nga Sơn.

Cửa biển Thần Phù không chỉ ghi dấu nhiều chiến công của ông cha ta mà còn có những cảnh đẹp đó là động Lục Vân- theo nghĩa là động có sáu tầng mây – động bên Sông Hoạt từ bờ sông leo lên cửa động chừng 20m đường thoai thoải dễ đi. Nhìn bên ngoài động hình vòng tròn như miệng con rồng lớn. Vào trong động, ngay cửa động ở trên vách đá có hình một bên hình con rồng màu vàng đang cuốn mình nhô ra cửa động. Một bên hình con Hổ màu vàng đen cũng đang nhìn ra cửa động. Ngoài cái tên động Lục Vân dân ở đây còn gọi là động “Rồng Hổ tranh quang” vào sâu trong động phải men theo các tầng mây để tìm hiểu thăm thú. Càng vào trong động càng rộng, du khách có cảm giác như đi trên các “tầng mây” có tầng mây rộng thoáng đủ cho cả 5-7 chục người đứng ngắm cảnh.

Năm 1771 chúa Trịnh Sâm đã dừng chân thưởng ngoạn đêm trăng và cảm hứng đề thơ lên vách núi, đến nay vẫn còn:

“Gió đưa, thuyền dâng trăng sáng trôi

Lênh đênh chiếc lá thuận dòng chơi

Làn sông ngấm biếc bèo đôi phía

Rặng núi hang xanh bóng giữa vời

Thấp thoáng mây xanh am cổ hiện

Thập thình chày ngọc giọt thu rơi…”.

Xưa kia trước động có chùa và những điêu khắc chạm trổ trực tiếp lên đá núi. Nhưng hiện nay không còn, chỉ còn thấy một số bút tích chữ Hán của người xưa đến vãn cảnh để lại trong và ngoài động. Trong số đó, có thơ của vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Hoàng giáp Ngô Thị Sĩ (1726-1780), đứng trước cửa động, ngắm nhìn núi non, sông nước hữu tình, và các bài thơ của các thi nhân khắc trên vách đá thì trong lòng cảm thấy xốn sang man mát:

” Khe núi bóng tà hoa lấp lánh

Hàng dương xuân đến điểm râm ran

Suối trong rửa lòng tê tái

Nhà tối đèn treo mộng rảnh rang…”

” Mặt đất chung cùng đôi nhật nguyệt

Bầu tiên riêng chiếm một càn khôn

Chén trôi bóng ngọc theo dòng nước

Đá hoá bầy dê rải động mòn

Cửa chống trời dành riêng có ý

Để trời đêm gắm ánh chiều tuôn”

“Thìên quang bát ngát ngọc xuyên sơn

Ngạo nghễ tầng non giữa thủ yên

Muôn dặm quan hà xa dã ngoại

Một bầu trời hoa có rực quang tiền

Mây già thấp thoáng vui chiêm ngưỡng

Chiếm cả bầu tiên xuân vũ trụ

Thi nhân thêm đẹp thái bình niên”

(Hồng Phi dịch theo bản khắc trên đá)

Động Lục Vân có sức hấp dẫn đối với những nam thanh, nữ tú. Họ thường rủ nhau “leo lên” các tầng mây, những ngọn nến lung linh, ánh sáng huyền ảo càng làm cho cảnh đẹp động Lục Vân thêm thơ mộng, thần tiên.

Đây là một ngọn núi được xem như chiếc cọc tiêu định hướng cho thuyền bè đi lại trên cửa biển Thần Phù xưa kia. Ngọn núi này thuộc thôn Văn Đức xã Nga Phú. Núi Chích Trợ hay thường gọi là núi Chiếc Đũa, núi được tạo nên bởi các phiến đá phẳng cạnh, vuông góc xếp chồng lên nhau, cao khoảng 300-400m, nằm trơ trọi giữa cánh đồng lúa . Xưa kia vùng này còn là biển cả mênh mông, nhiều vua chúa, danh nho Việt Nam đã qua đây, dừng thuyền lên núi thưởng ngoạn và sáng tác thơ văn ca ngợi. Hiện ở vách núi phía bắc còn thấy bài thơ chữ Hán của vua Lê Hiếu Tông vào mùa xuân năm Cảnh Thống thứ tư (1501) và bài thơ của chúa Trịnh Sâm sáng tác vào tháng 2 năm Tân Mão (1771). Những bài thơ của các tác giả đã thể hiện cảm hứng của mình trước cảnh đẹp hùng vĩ của thắng cảnh “Chích Trợ sơn”:

“Vin mây ngồi ngóng sóng triều tuôn

Sừng sững giữa dòng dễ mấy non

Đâu Suất trời tây trên mặt nước

Bồng Lai phía trái tại nhân gian

Sáu ngao đứng vững bền khuôn đất

Muôn ngọn xô vào biển rộng hơn

Vây dựng sóng kình nay đã bặt

Anh hùng như thấy tiểu trần hoàn.”

(Thơ của vua Lê Hiếu Tông – Hồng Phi dịch)

“Bát ngát trông vời biển sắc thâu

Trời đen Chích Trợ chắn dòng sâu

Một mình sừng sững nâng ngao cực

Ai dán nghênh ngang ép thẩn lâu ?

Hơn chục biển bờ nêu trụ đá

Ba ngàn cõi thế dáng tiên châu

Ôm non vượt biển anh hùng chí

Thủa trước nào ta có nghĩ đâu.”

(Thơ của chúa Trịnh Sâm – Hồng Phi dịch)

Núi Chích Trợ có một hang nhỏ xuyên từ bên này sang bên kia chân núi, có thể dễ dàng chui qua mà không cần phải đi vòng. Nếu trèo lên đỉnh núi phóng tầm mắt ra bốn phía ruộng đồng, sông biển sẽ thấy hết được những cảnh đẹp, những điều thú vị và sẽ thây thoải mái , thấy yêu quê hương mình.

Đi từ xa ngắm nhìn Chích Trợ sơn thì thấy ngọn núi này không giống như chiếc đũa chút nào, mà hình giáng như một toà sen nơi cửa Phật. Bởi thế, từ thế kỷ thứ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn đã có những câu thơ nhận xét:

“Viễn chiêm chinh tự liên hoa toạ

Hà dự danh vi Chích Trợ sơn “…

( Xa xem như thể toà sen biếc

“Chiếc đũa” tên này bởi tại sao?…)

Dọc theo sông Hoạt, từ cửa “Thần Phù” xuôi về phía tây chừng hơn 1km chúng ta sẽ gặp núi “Rồng Hổ tranh ngọc” và bên trong ngọn núi là thung lũng rộng chừng cả vài ha, phía cuối thung lũng là chùa Trúc Lâm.

Người xưa kể lại rằng: Non nước Thần Phù, cảnh vật “Sơn thuỷ hữu tình” lại vô cùng thiêng liêng. Trên núi có Hổ là chúa tể sơn lâm, dưới sông nước có Rồng là chúa tể muôn loài. Ngọc Hoàng nhiều lần xuống hạ giới để thăm thú cảnh Thần Phù, Người muốn ban tặng cho Thần Phù một báu vật là “Viên ngọc quý” và rất linh nghiệm. Vừa là “quà tặng” cho một nơi “Sơn thuỷ hữu tình” vừa để “Viên ngọc quý” có phép thuật linh nghiệm giúp dân qua cửa Thần Phù.

Rồng và Hổ cả hai “chúa tể” đều muốn nhận vật quý của Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng phân vân chưa biết giao “viên ngọc quý” cho chúa tể nào vì cả hai đều tài giỏi, kẻ trên núi cao, kẻ dưới sông nước. Một vị thần tâu với Ngọc Hoàng rằng: Bẩm Ngọc Hoàng – Người hãy tung Viên ngọc quý ấy xuống trần gian, chúa tể nào lấy được thì giao cho chúa tể đó. Ngọc Hoàng cho là phải bèn “tung” Viên Ngọc quý đó xuống trần gian. Cả hai “chúa tể” tranh nhau, trổ hết tài nghệ để giành lấy vật báu. Cuộc tranh giành diễn ra nhiều ngày. Rồi đến một hôm Viên Ngọc rơi đến “thung” chùa Trúc Lâm. Bên cạnh thung gần sông Thần Phù, Viên Ngọc rơi xuống sông, cả Hổ và Rồng đều lao xuống nước để “mò” Viên Ngọc quý. Cuối cùng Rồng đã dành được.

Thần Phù là nơi núi non hiểm trở, nhưng cũng là nơi biển rộng, sông sâu, sóng to gió lớn, dân trong nam ra bắc và bắc vào nam từ xa xưa đều đi thuyền qua nơi này vì vậy “ý trời” là muốn giao Viên Ngọc quý cho chúa tể Rồng để giúp dân, giúp nước.

Núi “Rồng Hổ tranh ngọc” hiện còn ở xã Nga Điền – phía tây ngọn núi là hình vị chúa tể Hổ. Phía đông ngọn núi là hình vị chúa tể Rồng. Trong miệng Rồng đang ngậm “Viên Ngọc quý”. Hình núi tạo ra hai vị chúa tể nhìn giống như thật, ở giữa quả núi nơi hai vị chúa tể đang nhìn nhau “một bên tỏ ra tức giận, tiếc nuối, một bên tỏ ra vui vẻ, mãn nguyện”. Dưới cái khoảng không của núi đó là một “thung lũng” khá rộng và bằng phẳng – có nhiều hòn đá nằm rải rác, trong thung có hòn giống con Rùa, có hình giống con Hổ, con Rồng, con Dê, con Cá,…trước cửa thung lũng là hai ngọn núi “chạm đầu” vào nhau tạo ra một cửa nhỏ chỉ đủ cho một người đi qua, ai đi qua cũng phải “cúi đầu” mới vào được bên trong. (Một khách của Tây Ban Nha – tìm hiểu vùng “Thần Phù” rất ngạc nhiên, tò mò và thích thú phát hiện ra cái “kỳ lạ” của hai hòn “đá núi” ở đây). Không giống nhiều đá ở nơi khác, đá núi ở đây giống như “xi măng bỏ quên” của mấy ông thợ xây: Các viên đá nhỏ nhưng liên kết với nhau rất vững chắc.

Trong cùng của thung lũng là ngôi chùa cổ. Dưới chân ngôi chùa cổ rất nhiều hòn đá cả to, cả nhỏ đều giống hình con rùa. Giáo sư – Phó tiến sĩ Hà Đình Đức người được coi là “nhà nghiên cứu Rùa” khi đến thăm nơi đây đã thốt lên: “Ở vùng Thần Phù này sao nhiều Rùa thế”.

Chùa nơi đây có cái tên là Chùa Trúc Lâm (có lẽ xưa ở thung lũng này có nhiều tre, trúc ?). Chùa toạ ở dưới một cái hang khá rộng. Trong chùa có nhiều tượng phật (dân địa phương nói: Sau chùa có một con đường nhỏ có thể đi qua để sang bên Ninh Bình).

Cảnh đẹp, chùa thiêng nên thường có nhiều khách đến tham quan vào những ngày rằm tháng giêng cả mấy trăm người từ Ninh Bình đem theo lều trại, thức ăn, nước uống các tư trang cần thiết vào “cắm trại” ở khu “thung lũng” của ngôi chùa này vừa để vui chơi thưởng ngoạn, vừa để thắp hương cầu nguỵên cho một năm mới mọi điều an lành.

6. Chùa Vân Lỗi xã Nga Lĩnh

Người dân Nga Sơn có câu ca:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm Tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

Chùa Sỏi tức là chùa Vân Lỗi, chùa Sùng Nguyêm hay chùa Vân Hoàn (Vân là mây, hoàn là tụ lại. Vì có nhiều mây màu sắc rực rỡ tụ lại, nên cảnh chùa càng đẹp càng lung linh bởi thế mà có nhiều nàng Tiên giáng xuống để du ngoạn). Chùa Sỏi bởi trước đây nằm ở làng Sỏi, có cả hồ Đồng Sỏi. Về sau làng Sỏi đổi tên thành làng Vân Hoàn nên chùa Sỏi cũng đổi tên là chùa Vân Hoàn.

Chùa Vân Lỗi được toạ lạc trên núi Vân Nham, chùa nằm ở lưng chừng núi, cách mặt đất chừng 20m, trên nóc mái chùa là hang động cao, những thạch nhũ “thả xuống” treo lơ lửng làm cho cảnh chùa càng huyền ảo nên thơ:

“Đông có xóm làng cửa nhà đông đúc, có thể làm nơi phú quý giàu sang.

Nam gần sông dài chảy ra cửa biển khơi có thể làm chốn mênh mông cho thế giới.

Tây có kinh mạch lạc len lỏi đến hương Đại Lỵ, núi Ma Ni có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện.

Bắc kề đường lớn, ăn thông với cửa biển Thần Đầu có thể làm nơi nghỉ đáng tin cho kẻ qua người lại” (Sách đd trang 137)

Xưa kia có một tảng đá lớn nhô ra, như mái hiên nhà che cho chùa. Đứng ở chùa gió nam thổi lồng lộng, hương hoa lá cỏ cây thơm ngào ngạt, cảm giác thật sảng khoái, thanh tao.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” thế kỷ XIX miêu tả “Lên núi trông ra ngoài cửa biển Bạch Câu thì thấy chim biển, thuyền buồm hiện ra trước mắt”.

Ninh Tốn (1743-1790) là tiến sĩ làm quan dưới triều Lê-Trịnh nổi tiếng thơ văn khi đến vãn cảnh chùa có bài ký:

” Kìa núi xanh rậm mà vút lên thẳng đứng như bức bình phong ngọc, lại như trướng gấm thế kia…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của núi Vân Lỗi ư? Phía trước núi là dòng sông lớn, triều dâng sóng cuộn, lồng lộng vòng eo, thuỷ triều lên xuống sớm chiều nhiều vẻ…Đó chẳng phải là cái hùng tráng, dũng mãnh của dòng sông bên sườn Vân Lỗi kia ư? Giữa eo núi hương thơm sắc toả, mịt mùng như móc như mây, lại như lầu gác cô đơn mà cao vút lên, thấp thoáng trong mây, lúc ẩn lúc hiện…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của chùa Vân Lỗi này ư?

Sao cảnh trí nơi đây xưa kia u ám mà ngày nay lại vui tươi nhộn nhịp thế này. Phải chăng cảnh vật cũng có thời bĩ thái?

Ôi! từ khi có vũ trụ, liền có giang san. Núi cao vút thế này và dòng sông cuồn cuộn thế kia, đâu phải chỉ ngày nay mà không biết chúng đã trải qua bao lần hoa khai lá rụng mới có lần này dương mi ngước mắt, để được nhìn, được nói, há lại chịu nhường phần cho những giai thắng như Lục Vân Bạch Á, mà chẳng xếp chúng vào cùng loạilãm xảo của tạo hoá có từ hàng trăm ngàn năm về trước ư?

(Những bút tích Hán-Nôm hiện còn ở các hang động, vách núi đá xứ Thanh – NXB Giáo dục Võ Hồng Phi, Hương Nao năm 2007)

Trước chùa có Phật Quan Thế Âm bồ tát, bên cạnh chùa một chân dung toàn thân vị sư khắc trên vách núi đường nét thần tình, màu sắc rực rỡ tươi sáng, khiến ai nhì cũng tưởng người thật. Vị sư khắc trên vách núi chính là chân dung vị sư trụ trì ở chùa Vân Lỗi này có tên là Thích Từ Di Nguyễn Phúc Công, tự Hụê Xúc, đạo hiệu Vĩnh Toàn Thiền Sư.

Chùa Vân Lỗi có nhiều tấm bia ký (trước đây có tới hơn chục bia) nay còn lại 5 bia. Trong đó đặc biệt có tấm bia ký của danh nho nổi tiếng Phạm Sư Mạnh, đời Trần thế kỷ thứ XIV và tấm bia ký của Tĩnh Vương Trịnh Sâm.

Bài của Phạm Sư Mạnh:

“Đây núi Vân Lỗi

Am sát ven sông

Ai người tạo dựng

Hoàn hảo vô cùng

Giúp kẻ sống chết

Ngàn năm phúc chung

Đức lớn rũ lòng

Chúng sinh cứu vớt

Trên dẫn bến mê

Dưới đưa cõi sống

Người người phấn chấn

Chốn chốn nghe danh

Đạo huyền sâu sắc

Biết đâu là cùng

Tìm về cõi thực

Thoát chốn trần tục

Thần hồn mung lung

Nét vàng thêm sắc

Hiển hiện sáng trưng

Thần non phù trợ

Tín đồ cúng dâng

Ngày đêm không ngót

Khắp chốn giàu sang

Lời này minh ấy

Rạng trang sử vàng”

Bài thơ của Tĩnh Vương Trịnh Sâm:

“Danh thắng nêu cao đệ nhất châu

Dáng non như mực nước như dầu

Am mây nửa khép mong huyền hạc

Bãi cát dường ngăn cợt bạch âu

Nẻo tuyết tiều men chân đá cứng

Đường sao khách vượt bước nghềnh sâu

Cao trông sóng cuộn theo tầm mắt

Trời đất mênh mang một sắc thâu”

Bài thơ của Ninh Tốn:

“Châu Ái lắm kỳ quan

Trong số có Vân Nham

Núi xanh ngôi chùa ẩn

Vách đá chữ vua ban

Non cao xa hướng lại

Nước bạc lượn quanh ngang

Cỏ cây xưa nay đủ

Sông núi tự bận nhàn

Trèo lên phóng tầm mắt

Trong mình mây ngàn”

Chùa Vân Lỗi – Chùa Vân Hoàn là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng, chùa Vân Lỗi cũng rất linh thiêng, nơi đây cũng ghi lại dấu tích của mặt trận quyết chiến thời Trần. Khi quân Nguyễn chia làm ba hướng tấn công vào Thăng Long, một hướng từ phía bắc kéo đến, một hướng từ phía biển kéo vào, một hướng từ phía nam do tướng Toa Đô kéo ra. Trận quyết chiến giữa quân Toa Đô và quân Trần do Thái sư Trần Quang Khải chỉ huy đã diễn ra ở khu vực sông Lèn. Bên kia sông Lèn là xã Quang Lộc (Hậu Lộc ngày nay), bên này là xã Nga Lĩnh, Nga Thạch bây giờ. Xác giặc chết ngổn ngang, máu chảy đỏ cả dòng sông (vì vậy đoạn sông xã Nga Thạch còn gọi là sông Thắm). Sau khi chiến thắng quân Nguyên lần thứ III Hoàng thái hậu nhà Trần về chùa Vân Lỗi làm lễ cầu siêu cho các vong hồn của cả quân Nguyên và quân Trần được siêu thoát. Dân làng Vân Hoàn cũng kéo đến rất đông và “sáng tác” trò diễn “Bát man” (Giết chết 8 tên tướng giặc) để mua vui cho Hoàng thái hậu.

Tương truyền có một vị quan ở Tàu, vì tuổi cao mà vợ vẫn không sinh được con để nối dõi tông đường, vị quan đó đã đến chùa Vân Lỗi (là một trong 6 ngôi chùa thiêng ở nươc Nam) để cầu tự. Sau đó ông sinh được con sống ở đó cho đến khi chết.Trên đỉnh núi Vân Hoàn có một cái hang, không rộng lắm nhưng rất sâu người dân nối nhiều sợi dây thưng buộc hòn đá vào đầu dây thả mãi, thả mãi hòn đá xuống nhưng không chạm đất bao giờ. Người dân Vân Hoàn kể lại cứ hàng năm vào dịp đầu năm hoặc một con bò, hoặc một con dê lăn xuống đó để tế thần núi.

Chùa Vân Lỗi rất linh thiêng, những ngày mừng một, rằm, ngày tết, lễ hội rất đông dân ở khắp vùng đến thờ cúng mong mọi điều tốt lành. Đặc biệt vào ngày lễ hội nhân dân làng Vân Hoàn lại tổ chức lễ hội, khách thập phương nhiều tỉnh thành kéo về rất đông.

7. Các di tích lịch sử văn hoá

Đây là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng của huyện Nga Sơn, có rất nhiều người đã biết đến địa danh Ba Đình này. Chiến khu Ba Đình nằm ở xã Ba Đình, cách thị trấn Nga Sơn khoảng 4km về phía tây bắc. Trước đây, chiến khu này là một khu thành luỹ nằm trong vùng ngập nước, bùn lầy của ba làng: Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê. Vào mùa mưa, căn cứ này như một hòn đảo nổi lên giữa cánh đồng nước mênh mông cách biệt giữa các làng khác. Chiến khu này có tên là Ba Đình và mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia. Tại đây đã diễn ra cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cuộc khởi nghĩa này do Đinh Công Tráng, Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt lãnh đạo. Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là luỹ tre vững chắc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Ở trong là một lớp đất cao 3m, chân rộng 8-10m. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai sẵn sang chiến đấu. Thành rộng 400m, dài 1200m. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc, ở hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ “chi”, nhằm hạn chế thương vong. Ở mỗi làng, tại vị trí ngôi đình được xây dựng một đồn đóng quân. ở Thượng Thọ có đồn Thượng, ở Mậu Thịnh có đồn Trung, ở Mỹ Khê có đồn Hạ. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến với nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độc lập. Có thể nói rằng ăn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình đã diễn ra rất ác liệt, thực dân Pháp lúc đó đã phải huy động rất nhiều binh linh để đánh phá căn cứ này.

Cuộc khởi nghĩ Ba Đình và lãnh tụ Đinh Công Tráng được lịch sử đánh giá rất cao. Chính người Pháp cũng phải công nhận rằng: “1886-1887, cuộc công hãn Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất”.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh sau này đã chọn cái tên Ba Đình để đặt tên cho quảng trương Ba Đình, nơi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Chiến khu này đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Đến thăm chiến khu Ba Đình, chúng ta không chỉ hiểu thêm được lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta mà chúng ta còn tự hào về ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam ta. Di tích lịch sử chiến khu Ba Đình đang được đầu tư để tôn tạo xây dựng để xứng đáng là một di tích lịch sử quốc gia. Hằng năm, cứ vào dịp 26 tháng 11 nhân dân Nga Sơn nói chung, nhân dân Ba Đình nói riêng lại tổ chức “lễ hội” Ba Đình. Nhiều năm lễ hội Ba Đình được tổ chức với quy mô cấp tỉnh hoành tráng thu hút hàng vạn khách đến tham dự.

Di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia chùa Thạch Tuyền thuộc thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn.

Bản thần phả được lưu giữ tại đền Trung (Nga Thạch), do quan Hàn lâm viện đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1672 ghi rõ về hai sự kiện quan trọng trên đất Nga Thạch. Đó là vào năm Nguyên Phong thứ nhất(1251) đê sông Lèn bị vỡ, lượng nước mưa rất lớn, mùa màng mất hết, nhân dân lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, bệnh dịch phát sinh, vua Trần Thái Tông đã về đất Nga Thạch chỉ huy quân dân hàn đê cứu dân(Thần Phả đền Trung). Ngày nay, quanh khu vực đồng bằng thuộc khu vực sông Lèn còn nhiều ao hồ, là vết tích của những trận lũ lụt trong các thế kỷ trước. Sau trận lũ lụt, vua Trần Thánh Tông cho xây dựng chùa, đền ở Nga Thạch, để tạ ơn phật thánh đã phù hộ cho việc cứa dân.

Sau trận lũ lụt, vua Trần đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh phương Nam, trên đường hành quân :”…nhà vua Trần đi đến đất khu Đạc Châu, Vạn Bảo, Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, thì thấy trong không trung gió mây bay từ Đông về Tây, vua Trần cho là trước kia đã có linh thiêng( trận lụt năm 1251), phù hộ, bèn bí mật cầu nguyện”(thần phả- tài liệu đã dẫn).

Tiếp đến các sự kiện vào năm 1382-1389, quân chiêm Thành đánh vào Thanh Hoá, quân đội nhà Trần đóng ở Hàm Rồng. Hải quân đóng ở cửa biển Thàn Đầu, Nga Thạch nằm trong tuýen phòng thủ chống giặc.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược, triều đình nhà Trần đã rút lui theo đường biển qua hải phận Nga Thạch- Nga Sơn (1285).

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc giệt giặc Thanh (1877), đóng quân tại phòng tuyến dãy Tam Điệp và đảo Biện Sơn thuộc địa phận và hải phận huyện Nga Sơn và Tĩnh Gia. Nga Thạch nằm ở vị trí tiếp giáp gữa miền Bắc và miền Trung, kề cận giữa hai tuyyén giao thông thuỷ bộ từ Bắc vào Nam đó là con đường bộ thiên lý qua đèo Ba Dội (Bỉm Sơn) và đường biển. Do vị trí địa lý đặc biệt như vậy, nên những biến cố lịch sử của đất nước trong nhiều thế kỷ qua tác động sâu sắc đến vùng quê này, trước hết là con người nơi đây, được tôi luyện ý chí để sống và phát triển.

Nhiều dòng họ đã có mặt rất sớm ở Nga Thạch , cùng đoàn kết để xây dưng quê hương, đã đạt được những thành quả đáng tự hào như dong họ Nguyễn, họ Mai, họ Phạm, họ Lê, họ Trần, họ Hoàng, họ Ngô, họ Phan, họ Vũ có tới 22 người trong các dòng họ đỗ đạt khoa cử và binh nghiệp (văn bia Nga Thạch) qua các triều đại: Triều Lý có 9 vị, triều Trần có 3 vị, triều Lê có 4 vị, triều Nguyễn có 6 vị. Văn có Thám hoa Mai Anh Tuấn, làm thị độc giản tại Hàn lâm viện và nhiều người khác được phong làm Đại học sĩ. Võ có người giữ chức thượng tướng được phong đến chức Hầu. Trong văn học dân gian có câu ca dao, ca ngợi đất Thạch Tuyền có nhiều người học giỏi, thành đạt:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

(Chùa Sỏi ở xã Nga Lĩnh, chùa Bạch Câu ở xã Nga Bạch, chùa Thạch Tuyền).

Sáu mươi đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam dành cho ngôi đền tại Nga Thạch (hiện chỉ còn 12 đạo) là bằng chứng hùng hồn về sự tôn vinh của lịch sử đối với các vị anh hùng của nơi này.

Chùa Thạch Tuyền được xây dựng trong khoảng không gian văn hoá thấm đẫm tính nhân văn như vậy khiến ý nghĩa của ngôi chùa vượt ra ngoài nhận thức trực quan về giá trị văn hoá vật chất của công trình (gồm kiến trúc, các biểu tượng về Phật).

Chùa được xây dựng vào thời Trần (thế kỷ XIII), sau những biến cố lớn xảy ra ở đây (lũ lụt, chiến tranh với Chiêm Thành). Buổi đầu chùa còn đơn sơ làm bằng tre lợp lá cọ, đến triều Cảnh Hưng (1740-1786) được xây dựng kiên cố hơn. Năm 1936 chùa được trùng tu tôn tạo một lần nữa.

Đặt tên chùa thể hiện niềm mơ ước của nhân dân nơi đây về làng quê mình. Thạch có nghĩa là biểu tượng của sự bền vững, rắn chắc. Tuyền có nghĩa là dòng suối, suối thì phải có nước, là nguồn gốc đầu tiên của sự sống muôn loài.

Chùa Thạch Tuyền được đặt ở nơi có vị trí linh thiêng. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính nhận xét về thế đất Thạch Tuyền:

” Hình Quy (Rùa) toạ ở phía tây, hướng đông, chính Cục Càn Tốn là đất cấm anh linh.

Toạ bắc hướng nam, chính cục Quý Đinh, trước Giang Châu trì (ao) bãi là đất cát địa”. (đất có hình con Rùa-Rùa là con vật linh thiêng trong tứ linh:Long, Ly, Quy, Phượng). “Toạ ở phía tây, quay về hướng đông, tinh thần thuận đạo đất trời, đó là đất rất linh thiêng. Toạ ở phía bắc, quay về hướng nam, phía trước có sông Quý, có ao hồ, đồng bãi là đất lành, rất tốt”(Thần phả hệ lưu trữ tại đền Trung, xã Nga Thạch).

Chùa Thạch Tuyền quay về hướng chính nam, bên trái (phía đông) có sông chảy qua. Một không gian rộng mở về phía nam, có ao hồ quanh năm đầy nước, có cánh đồng lúa, bãi bằng phẳng. Hướng tây và hướng bắc chùa có làng xóm quần tụ trong cảnh màu xanh của cây trái. Chùa Thạch Tuyền toạ lạc trên thửa đất với diện tích 4068m 2. Trong khuôn viên chùa có nhiều loại cây che phủ bóng mát như cây đa – còn gọi là cây Dung Thụ, ví như mái nhà. Cây Gạo nở hoa đỏ rực sân chùa vào mùa hạ như bầu trời đầy tinh tú. Cây Đại mỗi năm thay lá thay hoa một lần, là cây thiêng chùa nao cũng có.

Cổng chùa Thạch Tuyền được kiến trúc với quy mô khá đồ sộ, bố trí trên mặt bằng hình thang cân, cổng gồm hai tầng. Hai cầu thang được xây dựng vững chắc ở hai cạnh bên, dẫn lên tầng 2 được sử dụng làm gác chuông. Tầng 2 có 5 cửa cuốn vòm, hai bên cửa thấp dẫn xuống theo chiều mái cổng chồng diêm, với 8 vòm uốn cong, tổng cộng có 16 đầu đao cũng theo thứ tự từ thấp lên cao dần, tăng vẻ bề thế cho công trình. Hai cột nam hình khối vuông xây ốp sát vào hai bên hông cổng.

Đến thăm chùa Thạch Tuyền-một di sản văn hoá cấp quốc gia, cùng phong cảnh nơi đây chúng ta không khỏi bồi hồi, xúc động tưởng nhớ về những thế hệ đã đi qua trong nhiều thế kỷ, bằng sức lao động kiên trì và sáng tạo để tạo lập nên một miền quê trù phú, với một truyền thống văn hoá tốt đẹp góp phần vào lịch sử hào hùng của dân tộc.

7.2.2 Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn

Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch. Ngôi đền được xây dựng lại năm 2008, đến năm 2010 UBND tỉnh Thanh Hoá đã quyết định xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Ngôi đền được xay dựng ngay bên cạnh chùa Thạch Tuyền. Ngôi đền nhỏ dáng thanh thoát, như tâm hồn con người Thám hoa Mai Anh Tuấn “một danh nhân văn hoá, một vị quan trung quân ái quốc…một vị quan cương trực đầy khí phách giàu tinh thần tự tôn dân tộc” (Giáo sư Đinh Xuân Lâm – Viện trưởng Viện sử học Việt Nam).

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tên thật là Mai Thế Tuấn sinh năm Ất hợi (1815) tại làng Lang Miếu phường Thịnh Hào, Hà Nội.

Chuyện xưa kể lại rằng: Bà mẹ đêm nằm mơ đi thăm động Từ Thức, khi ra đến cửa động bà nhin thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, tay cầm cây bút. Cụ già đến gần và nói: Ta cho ngươi một cây bút thần về ngươi sẽ sinh hạ được một cậu con trai tài giỏi, tuấn tú hơn người. Bà đem chuyện đó kể lại với chồng. Ông chồng cho là điềm tốt lành, bèn đem lễ vật về động Từ Thức để lễ tạ. Quả nhiên sau đó bà sinh hạ được một cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, ông bà đặt tệ là Mai Thế Tuấn.

Mai Thế Tuấn sinh ra trong một gia tộc cả 8 đời đều làm quan phục vụ triều Lê, được người đương thời quý trọng khen là:” Hiển hoạn cao khoa, lệnh danh hoàn tiết”,( tiếng tốt, nghĩa trọn).

Cụ thân sinh ra Mai Thế Tuấn là Mai Thế Trinh,hiệu là Đoan Thận , có tiếng hay chữ, nhưng vì tổ tiên đã làm tôi nhà Lê lâu đời, nhà Lê không còn nên không thi cử, không làm quan. Đến khi nhà nguỹen lên, trong nước đã đại định, vua Gia Long xuống chiếu cầu hiền, tìm các danh nho, trung quân Đô thống Thành Quận công Nguyễn Văn Thành Tổng trấn Bắc thành chọn cụ Mai Thế Trinh làm tr huyện Thanh Trì, Thanh Lâm, Tứ Kỳ, được thăng chức Hàn lân viện thị giảng Học sỹ. Cụ có tập thơ” Mông Trai” lưu hành. Cụ bà chánh thất họ Uông, cụ bà thứ thất họ Dương là mẫu sinh của cụ Mai Anh Tuấn. Hai cụ đích mẫu và sinh mẫu đều được phong Tùng ngũ phẩm nghi nhân.

Thuở nhỏ Mai Thế Tuấn đã nổi tiếng học giỏi, năm 1837 đi thi Hương đỗ giải Nguyên, năm ấy ông 22 tuổi. Năm 1843 thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu Bình Nguyên (khi đó luật triều đình nhà Nguyễn bỏ tước Hoàng hậu, Tể tướng và Trạng nguyên, nếu không có luật bỏ ba tước đó thì Mai Thế Tuấn đỗ đầu là Trạng nguyên). Vua Thiệu Trị rất ái mộ bài văn của Mai Thế Tuấn, để tỏ lòng mến tài của Mai Thế Tuấn, nhà vua đã đổi tên Thế Tuấn thành Anh Tuấn, đối với bậc anh tài của đất nước.

Sau khi đỗ Thám hoa, ông được bổ chức Hành Tẩu ở Bí thư sở Toà nội các, và chức Thị độc Viện hàn lâm. Tiếp sau đó ông được bổ nhiệm Án sát Lạng Sơn. Trong trận đánh chống giặc bảo vệ biên cương, ông đã hi sinh anh dũng ở Thất Khê ngày mùng 6 tháng 8 năm Tân Hợi (1881). Nghe tin này, nhà vua ân hận thương tiếc bèn cho triều thần đưa thi hài ông về sinh quán chôn cất long trọng tại làng Hoàng Cầu phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.

Ghi nhớ công lao của một vị Thám hoa cương trực, dũng cảm vì dân vì nước, nhiều nơi trên đất Hà Nội, Thanh Hoá, những con đường được mang tên Mai Anh Tuấn, trường học Mai Anh Tuấn. Dòng họ và nhân dân xã Nga Thạch đã xây dựng lại đền thờ ông để tưởng nhớ tới một con người trung hiếu của quê hương.

Đền thờ ông luôn được dòng họ bà con nhân dân Nga Thạch, nhân dân Nga Sơn, nhất là các sĩ tử thường đến thắp hương cầu nguyện đỗ đạt thành tài. Cầu mong mọi điều tốt đẹp.

7.2.3 Đền thờ Bà Chiêu Nghi Mai Thị Ngọc Tiến Tôn thần

Chuyện xưa kể rằng: Trong tiết xuân ấm áp, trăm hoa đua nở, nhà vua đời Lê đi du xuân ở xứ Thanh, đến vùng đất Thạch Tuyền thấy cảnh sắc đẹp, thuyền vua đi chậm lại, nhà Vua thấy người con gái xinh đẹp đang cầm liềm cắt cỏ ven sông, nhà Vua liền đọc vế đối đại ý rằng: “Người con gái đẹp cắt cỏ ven sông”. Người con gái đẹp kia nghe vậy liền ứng khẩu đáp lại rằng: “Nữ tướng cầm gươm diệt ngàn giặc cỏ”. Nhà vua thấy người con gái nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nên Người vời về cung giúp nhà Vua dạy dỗ con cháu trong hoàng tộc. Bà Mai Thị Ngọc Tiến là con gái đầu của Mậu Quân công, làm quan trong triều Lê. Bà được Chúa Trịnh Tạc (1657-1682) sùng ái đứng đầu trong hậu cung. Bà được phong là Chiêu nghi là bảo mẫu của chúa Khang hương Trịnh Cán (1682-1709). Bà là người có công với dân với nước, khi bà mất nhà Vua rất thương tiếc và gửi câu đối đến viếng đại ý rằng: Khi sống bà là Mẹ của nước, khi chết bà là Thần của nước. Đền thờ bà hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch.

7.3.1 Chùa Tiên (Chùa Mậu Nam) – Di tích quốc gia.

Chùa tiên thuộc địa phận xã Nga An, toạ lạc trên một khu đất rộng đên 8ha. Phía trước là một cánh đồng cát khô khá rộng. Phía sau và hai bên chùa được bao bọc bởi những ngon núi cao và một hồ Đồng Vụa rộng tới 20ha. Chùa Tiên được toạ lạc ở nơi cảnh trí nên thơ, sơn thuỷ hữu tình. Vì vậy mà những vần thơ vịnh cảnh của nhà vua – tao đàn nguyên suý thời Lê (thế kỷ XV) – vẫn còn nguyên một sức sống bất tử để rung ngân ở nơi đất chùa xưa này:

“Nhìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mây qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió ôm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Đây là cảnh tiên, đất Phật và là nơi ra đời của thiên tình sử Từ Thức-Giáng Hương một truyền thuyết sống mãi với thời gian và in sâu trong tâm thức của người xứ Thanh, đất Việt.

Đến với chùa Tiên ai cũng cảm thấy xốn xao và dạt dào rung cảm, bởi không gian văn hoá-lịch sử, thiên nhiên ở đây đã thấm đượm vào nhau một cách thật đặc biệt. Bất kể cảnh trí nào cũng trở thành di tích của lịch sử, di tích của huyền thoại, di tích của tình yêu và nỗi nhớ… trên mỗi cột chùa có câu đối chữ Hán, tổng cộng đến 12 đôi, trong đó có câu:

“Mẫu lĩnh từ vân cao nhất điểm huyền tâm vân tác lữ

Namthiên hồng nhật lệ thiên thu đạo pháp nhật tàng quan”.

(Núi mẹ có một đám mây cao màu huyền tựa người con gái

Trời nam mặt trời đỏ có ngàn điểm sáng ẩn bóng kẻ tu hành).

Trong chùa có treo một chuông đồng nặng khoảng 30kg và ngoài sân có dựng một tấm biađá, là những di vật từ thời phong kiến.

Cứ đến ngày rằm tháng 3 âm lịch là hội chùa. Khách thập phương và phật tử đến bái lễ, vãn cảnh, Chiêm ngưỡng và chiêm nhiệm những giáo lí của đạo Phật. Không ở đâu chúng ta lại có một cảm giác cụ thể hơn về một thuở nguyên sơ của một thiên nhiên tĩnh lặng đến nao lòng, dù cho nền xưa, chùa cũ và cảnh vật có thay đổi ít nhiều. Dân gian đã có thơ ca ngợi cảnh đẹp chùa Tiên như sau:

“Trăng trong gió mát thảnh thơi

Thuyền trà mượn chén hồng mai thay trà

Có cây trăm thước bốn mùa nở hoa…”

Chùa Tiên ở ngày sát hồ Đồng Vụa và dựa lưng vào núi Nhà Bà. Đến chùa, du khách nào cũng muốn trèo lên đỉnh núi Nhà Bà để xem bàn cờ Tiên-một bàn cờ đá thiên tạo rất rộng có rất nhiều hình thù giống quân cờ. Nếu đứng ở đây phóng tầm mắt ra xa sẽ thấy cảnh chùa, núi, hồ, đảo, cây cối, làng mạc một cách thật ngoạn mục.

Nếu như chùa Tiên là cảnh tiên, cõi Phật thì liền kề với nó về phía tây là hồ Đồng Vụa (tên là Đồng Vua – hồ đẹp nên nhiều Vua Chúa đến vãn cảnh, người dân tên “Huý” của Vua nên gọi lái đi là “Vụa”) – một hình ảnh thiên nhiên như được tô điểm thêm cho nó. Hồ được cấu tạo trong đá phiến và đá vôi rộng trên 20ha, ôm bọc lấy ba mặt của hồ (đông-bắc-tây) là núi Vạn Sơn thuộc hệ thống núi Tam Điệp. Nước trong hồ được dồn về từ các thung lũng núi xung quanh. Nước trong xanh đến lạ lùng, nước hồ sâu đủ để du khách du thuyền vãn cảnh. Giữa hồ nhô lên một ngọn núi nhỏ ttrông như hình một “ông rùa”, một hòn non bộ. Đã nhiều thế kỷ đi qua, với biết bao mùa xuân, hạ, thu, đông hồ vẫn trong xanh như thế và không bao giờ cạn. Sắc núi quanh hồ lú thì xanh, lúc thì tím, lúc thì trắng tuỳ theo sự thay đổi của thời tiết. Đến hồ Đồng Vụa vào lúc ban mai, lúc chiều tà và mành đêm buông xuống hoặc những buổi sương mù bao phủ hay những ngày nắng rực rỡ có những đám mây lãng đãng trên trời và quanh đâu đó những đàn dê gặm cỏ chúng tôi mắt và trái tim của ta không chỉ dừng lại ở đường biên lòng hồ mà tất cả những hình ảnh đó đều gợi cảm như ở trong một thế giới của huyền ảo, lung linh lay động tâm hồn mỗi du khách khi đến thăm nơi này.

Từ hồ Đồng Vụa về phía tây nam, nơi cuối hồ có một lèn đá thấp như một cái đĩa. Chỉ cần vượt qua lèn đá này 200m đường núi là chúng ta đến với phủ thông, phủ nằm trong lòng động Phủ Thông. Động này là một động thiên tạo nằm trên vách núi Thông, sát con đường quốc lộ 10, ở trong khu vực của vườn đào xưa. Động này có vòm cửa rộng khoảng 9-10m và cao khoảng 8-9m. Trong lòng động rộng bằng mấy gian nhà, có vách ngăn cửa đi vào phía trong. Đỉnh động có một cửa thông lên trời, làm cho lòng động sáng và thoáng mát. Nhũ đá trong động có nhiều hình thù kỳ thú. Người dân nơi đây đã xây dựng đền Mộu, nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn từ xưa đến nay. Đó chính là Phủ Thông.

Cụm di tích xã Nga An là những di tích đẹp có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh tiên và cõi Phật với khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ, thơ mộng.

7.3.4 Phủ Trèo Nga An – nơi có dấu chân Người Khổng lồ và Mộ Ông Rùa.

7.3.4.1 Dấu chân Người Khổng lồ

Phủ Trèo nằm ở cạnh đường Trèo – nơi có “dấu chân người khổng lồ” dấu chân in sâu lõm vào đá, có tất cả chục bàn chân in lõm sâu vào đá (giống như người ta đi giẫm bước chân vào bãi cát). Người dân nơi đây kể lại rằng: Người Khổng lồ gánh đá để xếp thành những ngọn núi khi đến vùng đất này gần biển lớn để ngăn những đợt sóng lớn Người Khổng lồ đã xếp thành ba dãy núi liền kề nhau gọi là dãy núi Tam Điệp để ngăn sóng to, gió lớn. Vì phải vội vàng để hoàn thành việc gánh đá, ông Khổng lồ đã gánh hai hòn đá lớn, chân ông dẫm xuống đá, đá “lõm sâu” vì qua nặng nên cái đòn gánh bị gãy, hai hòn đá văng ra cách núi chừng 10m. Hiện nay ở đường Trèo, phủ Trèo vẫn còn hai hòn núi đá to. Một hòn giống cái mũ “quan văn”, một hòn giống cái mũ “quan võ”. Người dân nơi đây thường gọi là núi Văn, núi Võ.

Trên đường trèo có “mộ Ông Rùa” tương truyền rằng: ngày xưa ở hồ Đồng Vụa (chùa Tiên) Rùa tu đã chính quả, từ hồ Đồng Vụa rùa leo lên núi theo đường Trèo. Vì phải leo lên núi cao, sức lại yếu nên Rùa phải ăn lá cây “Sống đời” để tiếp tục leo núi. Đến đỉnh đường Trèo thì tịch ở đó. Người dân đi qua thấy có điều lạ Rùa to lại tịch ngay ở bên đường, bên cạnh có cây “Sống đời”. Thấy điều lạ dân chúng chôn cất Rùa chu đáo và cứ người đi qua, người đi lại mỗi người một hòn đá, người nắp đất, người bẻ cây sống đời đắp lên lâu ngày thành mộ to.

Kỳ lạ sau khi hôm ông Rùa mất tối hôm đó gió to, mưa lớn và sáng hôm sau một cây gỗ thật lớn và nhiều gỗ, cây tre trôi dạt vào chân núi, gần mộ ông Rùa, dân cho là điềm lành liền dựng lên đền thờ, sau đó xâycả Chùa, cả Phủ đến mùa Lễ hội dân thập phương kéo về rất đông để chiêm bái cầu mong cho mọi việc tốt lành.

Đây là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng cấp tỉnh của huyện Nga Sơn. Ngôi đền này được gắn liền với huyền thoại được lưu truyền bao đời nay đó là truyền thuyết về Mai An Tiêm và quả dưa hấu đỏ.

Theo truyền thuyết, Mai An Tiêm là con rể của vua hùng thứ 18 vốn tư chất thông minh, lại chăm chỉ nên vua yêu quý giao cho nhiều trọng trách vị vậy mà An Tiêm ngày càng trở nên giàu có. Nhiều quan lại đem lòng ghen tỵ. Một lần trong bữa tiệc, một tên quan nịnh thần nói: Của cải An Tiêm là do Vua ban mà có. An Tiêm nói: Của cải là do tiền nhân để lại, do bàn tay ta làm nên. Nhân cơ hội này bọn nịnh thần đã tâu lại với vua. Vua nổi cơn giận dữ: Đã thế ta đầy đi đảo hoang để xem có phải do bàn tay nó làm ra không. Nói rồi lệnh cho quân lính đầy An Tiêm ra đảo hoang chỉ cho một ít lương ăn và một thanh kiếm cùn. Nơi đảo hoang bốn bề là biển cả mênh mông, chỉ có núi và đá. Vợ chồng An Tiêm phải mò cua, bắt ốc, tối ngủ hang qua ngày.

Rồi một hôm có đàn chim lạ bay đến, chúng ăn một trái lạ: vỏ đen, ruột đỏ. An Tiêm mừng lắm và nói: Trời không nỡ bỏ ta, trời cứu ta rồi, chim ăn được chắc là người cũng ăn được. Nói rồi An Tiêm đem hạt dưa trồng. Ngày qua tháng lại quả dưa lớn dần An Tiêm bổ dưa cả nhà cùng ăn. Dưa vừa ngọt lại mát lành, ăn vào thấy người khoẻ hẳn. Những năm sau dưa trồng càng nhiều, nhớ về quê cha đất tổ An Tiêm khắc tên mình vào quả dưa rồi thả xuống biển. Những quả dưa có tên An Tiêm trôi vào đất liền, những lái buôn đi qua đảo An Tiêm đã đem theo lương thực và các vật dụng để vào xin đổi dưa An Tiêm. Nhờ vậy mà gia đình An Tiêm ngày càng trở nên sung túc, giàu có trong nhà chẳng thiếu thứ gì.

Lúc bấy giờ vua Hùng ốm đau, nhiều bậc thần y đến chữa, thuốc thang những loại tốt nhất đều được sắc uống nhưng bệnh tình không những không thuyên giảm mà còn nặng thêm. Triều đình bấy giờ vô cùng lo ngại cho long thể của người. Chợt có người đi qua hoàng cung rao bán dưa nói rằng: “Ăn dưa vào bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ, bệnh nặng đến đâu cũng khỏi hết”. Vua vội cho gọi người bán dưa vào. Thần dân dâng cho vua quả dưa có khắc chữ “An Tiêm”. Vua sai cận thầm bổ dưa ra cho vua ăn. Quả nhiên khi ăn một lát dưa vừa ngọt lại vừa mát lạnh, vua thấy trong mình khoẻ mạnh, rồi ngồi dậy. Ăn vài lát nữa thần sắc vua thay đổi hẳn. Vua vui vẻ, tươi cười đứng lên đi lại, lòng khoan khoái. Trầm ngâm dây lát rồi vua nói: Nghe kẻ nịnh thần ta đã đầy An Tiêm ra đảo hoang. An Tiêm không chết mà còn cho ta vị thuốc thần diệu và đem lại cho muôn dân trái ngọt. Nói rồi Vua lệnh cho các quần thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về ban thưởng chức tước, bổng lộc và lệnh đem giống Dưa An Tiêm để trồng trong cả nước.

Ngôi đền Mai An Tiêm nằm dưới chân một ngọn núi, có hình như một quả dưa nên mọi người ở đây gọi là núi quả Dưa. Khung cảnh thiên nhiên ở đây gần như còn nguyên sơ, hoang vắng. Trải qua bao biến thiên của thời gian, sóng biển xô vào vách núi, tạo ra những “Vòm hang động”. Biển đã lùi xa nhưng nơi đây nước vẫn còn bao bọc quanh núi An Tiêm. Một khoảng nước rộng trước cửa đền, bên núi “Quả dưa” dân chúng tổ chức thi bơi thuyền nhỏ, nấu cơm thi. Có nhiều vòm rộng thuyền có thể “chui qua” gầm núi. Bên kia đền leo qua cái eo cao khoảng 50m là bãi Dưa Mai An Tiêm. Bãi Dưa rộng đền gần cả 2ha, một thung lũng được bao bọc bốn bên là núi đá. Đứng trên ngọn núi nhìn xuống một phong cảnh đẹp vô cùng. Xa xa phía đông là biển, những hôm trời trong sáng, nhìn thấy những cánh buồm thấp thoáng. Dưới chân núi phía nam, phía bắc là làng quê trù phú đồng xanh, lúa tốt. Những ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo thấp thoáng xen trong những ngôi nhà dân ngói đỏ tường rêu. Phong cảnh làng quê thật ngọt ngào, thanh bình nên thơ.

Quần thể di tích nữ tướng Lê Thị Hoa và danh tướng Trịnh Minh thuộc thôn Ngũ Kiên xã Nga Thiện, là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng câp tỉnh vào ngày 20 tháng 9 năm 1993. Quần thể di tích này thờ bà Lê Thị Hoa – một nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thờ danh tướng Trịnh Minh – thời Trần có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông (1258).

Bà Lê Thị Hoa quê ở thôn Thượng Linh, xã Cảo Linh, huỵên Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Nam Sơn (nay là tỉnh Ninh Bình). Năm 18 tuổi, bà kết hôn cùng Mai Tiến, người cùng huyện văn võ song toàn. Nhưng sau đó, chồng bà bị Tô Định hãm hại bắt giết vào năm Bính Tuất. Bà cùng các con đã đi đến vùng đất Yên Nội (nay thuộc Nga Thiện) để khởi nghiệp trả thù cho chồng và đánh đuổi quân xâm lược. Bà đã có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược, không những thế bà còn là người có công khai phá vùng đất Nga Thiện ngày nay. Tấm lòng trung trinh với dân, với nước của bà Lê Thị Hoa ngay từ thuở ấy, nhân dân Nga Sơn đã lập đền thờ bà ngay tại xã Nga Thiện. Ngày nay, ngôi đền này vẫn còn tồn tại. Tại đền thờ bà Lê Thị Hoa có đôi câu đối bất hủ:

“Thệ báo Tô cừu, thanh Bắc Khấu

Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang”

Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc.

Giữ nghĩa phò Trưng Vương, khôi phục nước.

Tại đền thờ của Bà có một tấm bia lớn ghi về công trạng của Bà.

Ông Lê Thái và vợ họ Dương, khi có mang mơ thấy bắt được con rắn bạch hoa xà năm sắc mà sinh một con gái vào rằm tháng 11 năm Mậu Ngọ ở thôn Thượng Linh Cảo Linh huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (Hà Nam Ninh ngày nay). Ông bà nay đặt tên con là Lê Thị Hoa môi hồng, má phấn. Khi Lê Thị Hoa 18 tuổi có nhà Mai Thông xã Phúc Cốc cùng huyện quen thân ông Lê Thái, đã hỏi Lê Thị Hoa cho con trai mình là Mai Tiến vừa 19 tuổi.

Lấy chồng được hai năm cha mẹ đều mất, Lê Thị Hoa hết lòng hiếu thuận thờ cha mẹ. Lúc này Thái thú Tô Định nghe tiếng tài năng của Mai Tiến, vời về làm quan huyện Gia Lâm, từ chối mãi không được vợ chồng, con cái phải dắt nhau đến Gia Lâm làm quan huyện được 3 năm thi thố ơn huệ với nhân dân. Tô Định thấy Lê Thị Hoa đẹp, bèn giết Mai Tiến để cướp bà làm tỳ thiếp. Lê Thị Hoa ăn ở với chồng được 11 năm sinh được bốn người con trai: Mai Đạt 9 tuổi, Mai Thoả 7 tuổi, Mai An 5 tuổi và Mai Tri 2 tuổi đều khôi ngô, thông minh, tuấn tú. Lê Thị Hoa đưa các con về quê hương, nhiều người lại đến cầu hôn bà. Lê Thị Hoa than rằng “Thôi thà làm quy trinh phụ chứ không làm người phụ bạc”. Lê Thị Hoa bèn bán hết gia tài cứu giúp bà con quanh vùng Phú Cốc, thượng linh được hơn hai ngàn người ra đánh nhau với Tô Định bị thua chạy về thôn Yên Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà.

Khi về Trang Nội, con trai cả vừa 12 tuổi, thực sự đã biết chữ, mẹ con bàn bạc thấy đầu trang Yên Nội khoảng 100 mẫu đất, sầm uất có khu đất cao, rộng một sào, bằng phẳng, dân cư thưa thớt, bèn dựng ngôi nhà tranh và thuê người khai khẩn hơn một năm được mấy chục mẫu ruộng. Lê Thị Hoa bèn gọi những nhà họ Mai cùng lân cận ở Phú Cốc, họ Lê ở Thượng Đình vào ở hương Yên Nội được hơn chục nhà, bà con điaj phương cũng theo bà vào ở, mới vài năm đã lên tới mấy chục gia đình. Lê Thị Hoa vẫn nuôi mối thù không đội trời chung với Tô Định, bà đã nuoi dưỡng bốn người con trưởng thành: Mai Đạt đã 22 tuổi, Mai Thoả 20 tuổi, Mai An 18 tuổi, Mai Trí 15 tuổi các cậu thông minh xuất chúng vượt mọi người. Lúc này mẹ con bà Lê Thị Hoa nghe tin hai Bà Trưng khởi binh ơ của sông Hát Giang, huyện Phú Lạc, phủ Quốc Oai, đạo Hà Tây, đang muốn đi theo thì có tướng của hai Bà Trưng đến dụ bảo. Bà Lê Thị Hoa được cai quản đội nữ, bốn con trai bà Hoa xung làm tả, hữu tiền phong truyền hịch kêu gọi các phủ huyện được hơn 6 vạn người theo, kéo binh thẳng tới đô thành đánh quân Tô Định, Tô Định thua to chạy về nước Bắc. Hai Bà Trưng lên ngôi phong thưởng các quân tướng. Mẹ con bà Lê Thị Hoa không nhận phong thưởng chức tước, chỉ xin được trở về Trang An Nội Nga Sơn tiếp tục khai khẩn đất hoang, được phép miễn thuế và phục dịch. Hai Bà Trưng cho phép hơn bốn chục nhà trang An Nội đều nhường họ Mai làm cả. Đó là thực ấp của của mẹ con bà Lê Thị Hoa. Ngày 25 tháng 8 năm 41, bà Lê Thị Hoa ốm rồi mất. Hai Bà Trưng nghe tin than rằng: “Bà Lê Thị Hoa tính hiền từ lại làm việc thiện, giỏi dạy con nên ban hiệu là Từ Thiện tặng phu nhân”, sai sứ thần về chọn chỗ đất tốt để an táng ở xứ bãi sở, dựng miếu thờ trên nền nhà ở An Nội, nay thuộc Ngũ Kiên xã Nga Thiện, Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.

7.5.2 Đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh

Gần với đền thờ bà Lê Thị Hoa là đền thờ danh tướng Trịnh Minh, một danh tướng thời Trần đã có công lớn trong cuộc kháng chíên chống quân Nguyên lần thứ nhất (năm 1258). Thần phả Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh ghi lại rằng: Đêm ông nội Trịnh Minh nằm ngủ ông bàng hoàng bỗng nghe tiếng ở bên ngoài nói rằng: “Mau dậy mở cửa, mau dậy mở cửa trong kiếm lại được thưởng đoạn nhà Khanh Tướng”. Ông dậy mở cửa không thấy ai. Ông vào nhà thấy thai nương đang đau bụng, sinh được một cậu con trai, mặt mày sáng sủa, khôi ngô, thân thể cao lớn, ông cho đó là phúc trời ban cho vậy. Sớm mai lúc đi ra giếng thấy thanh gươm nổi trên giếng. Ông vớt lấy gươm đem về đặt riêng một chỗ. Từ đó khiến việc nuôi con ngày một cao lớn lạ thường, vẻ mặt hiền hoà, tính bẩm trung hậu, thiên tư đĩnh ngộ, vì thế ông đặt tên là Trung Phụ.

Đến năm 13 tuổi Trung Phụ đi học được mấy năm , văn tài quán triệt, võ nghệ tinh thông, ngàn sử của trăm nhà không có gì là không hiểu. Lúc đó không may bố mẹ cùng mất , ông Trung Phụ một mình làm tang lễ. Mấy năm học đã thành tài, năm 19 tuổi ông dùng tài ra đời đi chu du thiên hạ, các nhân tài thấy đều kính sợ, tôn nhường ông. Rồi ngày qua tháng lại ông đi tơi địa sở trang An Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá thấy dân phong thuần hậu ông xin cư thân ở đó.

Năm ông 23 tuổi, khoảng triều Lí Thái Tông, nhà Vua bèn hạ chiếu tuyển nhân tài, ông đến ứng tuyển. Nhà Vua thấy ông có tài yêu mến lắm và giao phó chức, phong tước. Ông nhận chức tước trở về địa sở ở cũ trang An Nội huyện Nga Sơn hạ lệnh cho bản trang khu đất lập cung dồn sở lấy làm tuần trú ở vậy. Nhân dân ở trong khu đó hết thảy đều xưng thần quy phục và yêu mến ông. Phần những nơi ông đi tuần qua người người phục tùng làm thần tử, trong trấn hạt đều khen là yên ổn nên ông được nhận chức tới quyền kiêm Đô Thống Đại Tướng Quân, đã lâu năm.

Đến cuối triều nhà Lý, thế nước sắp hết ông vì cớ ốm cáo trở về đồn sở khu thượng trang An Nội, ở đó 3 tháng làm lễ mừng, ban thưởng cho nhân dân. Xong việc ông thẳng tiến về quê quán, đi qua nhánh sông Tô không biết sao trời tự nhiên nổi gió mưa lớn, ông đi đến đó thì mất (ngày mùng 6 tháng 3) nhân dân nghe tin mà cảm thương ơn trạch của ông để lại, tự tiến hành lễ điếu viếng ở bản khu cung sở, phụng thờ hương khỏi vậy.

Từ đó về sau nhân dân thường mơ thấy ông trở về cung sở. Nhân dân làm lễ vọng thường linh nghiệm phó thác vào đồng bảo rằng: “Đô tống thần quan, nhân dân tả nghênh đón tế thờ được hưởng phúc thái bình”.

Lại nói về sau: Bỗng đến triều nhà Trần khởi tạo đăng cực thực ấp lên ngôi Hoàng Đế (tức triều thần Thái Tông). Đến năm Thiên Ứng bỗng có giặc Nguyên Minh nổi lớn tích trữ binh lương xâm chiếm đất đai quấy nhiễu dân cư, nhà vua cho là hoạn nạn. Vua thân xuất bản binh đi tuần thiên hạ để chinh phạt giặc. Đánh một trận mưu phân thắng bại. Nhà vua bèn lui quân dồn trú tại một nơi để đặt mưu lập kế. Bỗng từ khi lui quân về qua các nơi đến địa sở khu thượng trang An Nội nhà vua thấy địa sở khu vực này rộng rãi, nhân dân đông bèn trú ở đó. Một đêm nhà Vua mơ thấy một quân nhân mũ áo chỉnh tề đứng trước nhà vua tâu rằng: “Thần là danh tướng triều Lý sắc mệnh Hoàng Thiên trấn trị ở đất linh thiêng này, là phúc thần của dân. Nay nghe Hoàng đế thân chinh muốn dẹp tướng giặc để yên dân”. Tâu xong bỗng biến mất nhà Vua sực tỉnh biết là mơ bèn lệnh cho nhân dân khu ấp làm lễ bái yết rồi triệu tập nhân bản khu hỏi rõ các nhân tài. Nhân dân bèn tâu hết với nhà Vua các con trai nhà họ Trịnh tài tinh thông võ nghệ, sức địch nổi trăm người, hùng cường oai dũng, diện mạo trang nghiêm thế gian hiếm có người như thế ( tức sinh ngày 24 tháng 4 năm Giáp Thìn) tên của ông, tên kiêng huý là Khanh, mẹ là Đỗ Thị Sùng còn ông kiêng tên huý là Minh. Lúc đó ông Minh ra yết kiến trước nhà vua. Nhà vua thấy ông có tài nghệ hơn người, hình giáng xuất chúng bèn thử tài ông, không ai đich nổi ông. Nhà vua bèn ban làm Quyền kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân. Ông Minh nhận chức đó xong bèn cùng các xứ sở cùng các họ nhân dân khu bản, làm gia thần thủ tục, cho gia dựng đồn sở, vì nhà Trần mưu trận lập các cơ ngũ. Ông bái yết nhà vua xin thay nhọc thân mình tiền phong lên trước, chia thành thuỷ, bộ hai đạo cùng tiến đến đồn sở giặc dựng làm 5 đồn gọi là Ngũ Kiên đồn. Trận lập xong giáp chiến một trận, thuỷ bộ đều đánh. Tướng giặc thấy uy lực của ông hết thảy đều khiếp sợ, tranh nhau chạy trốn, tan vỡ chết vô số. Dẹp yên giặc ông bèn lui binh dôn đồn ở đất núi Tam Điệp, dồn binh trú ở đó 3 tháng. Nhà vua nghe tiếng ban cấp ruộng công6 mẫu 7 sào để làm lộc thưởng cho ông. Sau đó ngày 10 tháng 4 ông bỗng nhiên bị ốm rồi mất, nhân dân nghe tin đồn về dáng ở xứ Đường hào bản địa tự tâu với vua. Vua nghe cho đó là công thần có công lao huấn nghiệp với việc mất, ban mệnh Đinh thần đến bản khu (tức nhân danh hiệu khu Ngũ Kiên) làm lễ yết tạ bản đền thờ thiêng, về sau làm lễ tạ vọng điếu ông Minh. Ban thưởng thêm tiền công 100 quan cho nhân dân bản khu, thưởng 100 cân bạc để làm tiền công làm đền thờ, lăng miếu để phụ thờ hương khói, lại phong thưởng 4 vị mỹ tự thượng đẳng phép phúc thần cho phép miễn nhân dân bản khu binh lương các việc tạp dịch trong 5 năm, xếp hạng cùng đất nước lớn lao mãi mãi là hình thức:

– Phong dương cảnh Thành Hoàng dực thánh khuôn quốc, hiền trung cư sỹ, Đô thống thượng đẳng phúc thần Đại Vương.

– Phong bản cảnh Thành Hoàng phụ thắng uỷ trợ kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân huý Trịnh Minh thượng đẳng thần đại vương.

– Cho phép khu Ngũ Kiên (hiện cũ thượng khu) xã An Nội huyện Nga Sơn phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá là bảo hộ phụng thờ hương hoả đền thờ.

Ngày lành xuân nam đào hồng phúc 1672.

Đông các Đại học sĩ viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn thiếu khanh ngày lành mùa đông năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737). Quản giam bách thần tri điện hùng lĩnh Nguyễn Hiền theo bản chính vâng sao.

Sau khi ông mất, vua Trần đã cho xây dựng đền thờ ông và tặng phong: Thượng đẳng phúc thần.

Tại đền thờ ông còn lưu các câu đối ca ngợi ông:

“Đâm xô năng danh tụ cổ dã dĩ

Thần chi vi đức kỳ thị hĩ hồ”

“Quan chức trấn Thanh Hoa, danh cao thập bát

Tướng tài thiên thuỷ kiêm thuỷ bộ tích Đông A”.

Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh hiện đang được nhân dân làng Ngũ Kiên, Nga Thiện thờ cùng một điểm (khu vực tây làng), trong đền thờ còn giữ được nhiều sắc phong, nhiều đồ thờ rất có giá trị nhân dân làng Ngũ Kiên nay và An Nội trước đây rất tự hào vì ở một làng nhỏ được thờ cả hai vị tướng. Dân làng thường gọi là “đền thờ tướng bà, tướng ông” các ngày rằm, ngày giỗ, ngày lễ hội. Con cháu dòng họ Mai Đức (dòng họ của chồng bà Lê Thị Hoa – ông Mai Tiến) nhân dân các xã Nga Trường, Nga Thiện, Nga Vịnh và nhiều nơi trong huyện, ngoài huyện về thắp hương ghi nhớ công ơn của hai vị tướng. Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh đã được UBND tỉnh cấp phép xây dựng, tôn tạo để trở thành một điểm đến du lịch tìm hiểu lịch sử, cùng với các di tích danh thắng: Động Từ Thức, Động Bạch Á, Bia Thần, núi Lã vọng,…tạo nên khu du lịch hấ dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Chùa Thung Sơn hay Thung Sơn Tự, nghĩa là chùa trong núi, còn có tên gọi là chùa Thông, còn gọi là chùa Báo Văn; theo tên làng của xã Nga Lĩnh. Chùa được xây dựng từ thời Nguyễn, khởi sáng trụ trì đầu tiên là hòa thượng Thích Vĩnh Phát.

Trong phong trào Cần Vương chống Pháp thế kỷ XIX để bảo vệ căn cứ chống giặc, núi Thông và chùa Thông đã trở thành vọng gác quan trọng của nghĩa quân Ba Đình – Đinh Công Tráng, Phạm Bành.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, núi Thông và chùa Thông là nơi nuôi giấu cán bộ. Trước và trong khi xây dựng căn cứ cách mạng ở làng Thượng, làng Sến (Nga Thắng), Tứ thôn (Nga Vịnh), Nga Thành…Các ông Tố Hữu, Trịnh Ngọc Điệt, Lê Tất Đắc, Hoàng Xung Phong và nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa khác lấy chùa Thông làm nơi trú chân, liên lạc và hoạt động. Chùa Thông được cấp bằng di tích lịch sử – văn hoá và cách mạng cấp tỉnh ngày 30 tháng 12 năm 1999.

Chùa gồm nhà thờ chính, cung thờ mẫu, nhà thờ tổ bốn vị tổ sư đã trụ trì tại ngôi chùa, các công trình phụ, vườn cây ăn quả, giếng nước…Chùa thông không những là nơi thờ Phật, nơi các tín đồ Phật giáo đến tu hành, mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của bà con trong làng, ngoài xã và trong vùng từ nhiều đời nay. Hiện chùa còn giữ được các bức đại tự, chuông đồng và các pho tượng cổ như tượng Hộ Pháp, tượng Đức Ông, tượng Bà và nhiều pho tượng Phật cùng với các bức chạm khắc có giá trị cao và được bảo quản khá tốt. Chùa Thông còn thờ vua Hùng, lễ hội vào mùng 10 tháng 3 Âm lịch (ngày giỗ tổ Hùng Vương). Ngoài ra còn các ngày lễ mùng 8 tháng Chạp (ngày đức Phật Thích Ca thành đạo), ngày Nguyên tiêu, rằm tháng Giêng, lễ Thượng nguyên, ngày 15 tháng 4 (ngày Phật đản), ngày 15 tháng 7 Âm lịch (ngày Vu Lan báo hiếu), lễ cuối năm…

Chùa Thông nằm trong khung cảnh thiên nhiên đẹp, gần gũi, gần sông, gần đường quốc lộ, tỉnh lộ. Ngoài nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân ngôi chùa còn có giá trị lịch sử và văn hoá.

Kim Quy cổ tự (tức là chùa Kim Quy) hay còn gọi là chùa Yên Hạnh, thuộc làng Yên Hạnh, nay thuộc Thị Trấn Nga Sơn là ngôi chùa thờ Phật, có công trình kiến trúc độc đáo và danh lam thắng cảnh từ bao đời.

Truyền thuyết kể lại rằng: Vùng đất của chùa Kim Quy bây giờ xưa kia là biển cả, ở đây có một con rùa vàng thường xuyên xuất hiện dẫn người dân đi đánh cá, cứu vớt người dân bị nạn khi gặp bão giông, giúp các nhà Vua vào nam ra bắc đánh giặc. Những việc làm đạo nghĩa của Rùa Vàng đã được nhân dân trong vùng biết đến và được tôn là thần Kim Quy. Nghĩa cử cao đẹp của Rùa vàng cũng đã thấu tới Phật Bà Quan Âm, một lần Phật Bà vi hành hạ giới để thử thách Rùa vàng lần cuối trước khi quy nạp về nơi Phật Tổ. Phật bà hoá thành chim Hồng hạc gãy cánh rơi xuống biển, thấy Hồng Hạc bị nạn, rùa vàng dìu chim Hồng hạc bị nạn trả về đàn. Nơi Hồng hạc đậu được nhân dân trong vùng gọi là Thiên Nga Lộ (bây giờ là làng Nga Lộ). Còn nhân dân các làng An Hạnh, An Trang, An Ninh, An Khoái, An Khang, An Lộc, An Đậu lân cận được Phật bà Quan Âm ứng hiện làm chùa thờ Phật, tên gọi là chùa Kim Quy ngay trên cồn cát có hình rùa vàng đang bơi ra biển.

Trước cách mạng tháng 8, chùa Kim Quy không chỉ là nơi thờ Phật, mà còn là nơi liên lạc bí mật của quân tự vệ cứu quốc. Sau cách mạng tháng 8 chùa vẫn là cơ sở cách mạng và là nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ Việt Minh. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa vẫn duy trì nhưng không mở lễ hội nhiều để tránh oanh tạc của pháo và máy bay giặc.

Từ ngày non sông thu về một mối, đất nước thống nhất, nhân dân địa phương trong vùng có điều kiện tôn tạo ngôi chùa để giữ gìn nét đẹp truyền thống, văn hoá tâm linh. Tháng 6 năm 1996 UBND tỉnh có quyết định tu bổ và tôn tạo chùa Kim Quy theo yêu cầu của nhân dân địa phương. Ngày 10 tháng 12 năm 1997 chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hoá. Năm 2009 chùa được xây dựng lại khá kiên cố, vững chắc, có cả nhà Mẫu, nhà Tổ tạo thành quần thể bề thế. Chùa toạ lạc ở trung tâm huyện nên ngày rằm, mùng một và dịp lễ hội du khách kéo về rất đông để cầu nguyện mong mọi việc tốt lành.

Cách động Từ Thức khoảng 1km về phía trái có một động khác, còn được ít du khách biết đến gọi là động Mắt Voi. Động này khá rộng, chứa được cả ngàn người, nằm cách chân núi khoảng 70m. Trước cửa động hiện có một ngôi chùa cổ, có tên là “Bạch Tượng tự” (đền Voi Trắng). Cửa chùa có một cây đại hàng mấy trăm tuổi, nằm bò ra phía trước, uốn lượn như một con rồng chầu. Trong chùa còn có một số đồ thờ rất cổ như: Mũ, kiếm, giầy của vua, cặp đèn đồng khổng lồ, con dấu bằng đồng có khắc năm chữ “Linh lang Đại Hành hoàng đế”. Đây là ngôi chùa cổ rất linh thiêng, gần đây mới phát hiện ra một cái động khá rộng, đẹp nằm ở ngay sau chùa. Dân khắp nơi kéo đến về thăm động rất đông. Động đang được bảo vệ để đưa vào khai thác đón du khách. Đây cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của Nga Sơn.

Ngôi chùa này nằm ở thôn Chính Đại xã Nga Điền. Toàn khu chùa có ba toà nhỏ nằm ngang nhau. Chùa nằm bên sông Chính Đại, bên hông chùa có bia Thần Phù để người qua đường có thể thắp hương cầu may.

Những di tích lịch sử – văn hoá ở huyện Nga Sơn không chỉ cho chúng ta thấy được lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn kết hợp với cảnh thiên nhiên đẹp, nguyên sơ càng làm tăng sức hấp dẫn với du khách và có giá trị phát triển du lịch rất lớn.

Trong đền có tượng đá Đại Vương được sơn vôi lại chất sơn đặc biệt, theo các nhà sử học đây là pho tượng đá quý hiếm hiện còn ở Thanh Hoá.

Đền Xuân Đài thuộc xã Nga Thuỷ (tên Xuân Đài là tên làng cổ xưa). Người dân kể rằng: Cách đây khoảng 600 năm, nơi đây là vùng bãi bồi, nhân dân theo các con lạch ra biển bắt tôm cá. Một hôm từ sáng sớm nhân dân đi biển thấy một khối đá lớn trôi dạt trên một mảng bè , dân làng thấy lạ, lấy nước rửa sạch xem thì thấy có chữ: “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”. Thấy vậy bà con dân làng coi đó là điều thiêng bèn rước về để thờ sau này được các thợ đặc tài khắc tác thành tượng Người. Đền Xuân Đài thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, đền rất linh thiêng, du khách thập phương tới thăm quan và thắp hương cầu nguyện rất đông.

Nghè Hậu thuộc xã Nga Bạch. Nghè được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, Nghè Hậu thờ vị Thánh Nương và ” Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Nghè Hậu được xây dựng ngay gần cửa biển Lạch Sung. Nghè Hậu đang còn giữ được vẻ cổ kính. Cổng nghè là hai cột trụ biển bằng đá, to cao, nhưng được chạm khắc hoa văn khá tinh xảo. Hai trụ bên có bốn câu đối với nội dung:nói về nơi thờ tự tứ vị Thánh Nương và năm tháng làm trụ biển, trong đền còn nhiều đồ thờ cúng cổ rất có giá trị , nhiều sắc phong của các đời vua chúa.

Nghe Hậu thờ: tứ vị Thánh Nương và “Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Thần là Hoàng hậu Triều Nam Tống. Khi vua Đoan Tông nhà Tống bị giặc nguyên bức bách phải nhảy xuống sông tự vẫn. Thần cùng với 3 công chúa cũng phải nhảy xuống sông tự vẫn. Xác của 3 người trôi dạt đến Diễn Châu ( Nghệ An) chỗ cửa biển Cần Hải. Nhân vớt xác đem chôn có nhiều hiểu ứng linh dị lớn, nhân dân lập đền thờ rất linh ứng. Các triều vua Lê đem quân đi đánh giặc đều được tán trợ cho thnàh công. Vua Lê phong tặng thần là” Nam Hải” ,”Phúc Thần” các triều đại sau này đều có phong tặng.

Nhiều nơi ở các cửa biển, các cửa Lạch đều lập đền thờ Hoàng hậu và 3 công chúa để cầu mong đi ra khơi sóng yên, biển lặng, tôm cá đầy thuyền.

Thần họ Hoả tên Nguyệt Nga ở xã Bạch Câu(Nga Bạch), thời vua Nhân Tông nhà Lê(1443- 1459) có giặc Chiê Thành vào quấy phá. Vua thân chinh đi đánh, khi qua châu thị huyện Nga Sơn trông thấy vua bằng lòng và lấy làm vợ. Thần bèn hiến kế là cho lập quấn bên đường cho giặc thấy vào quán ăn mà không đề phòng rồi thừa cơ dánh úp. Hôm đó trời nắng to, nhà vua tiến đánh rồi lại lui binh, cho đến trưa rồi vờ thua bỏ chạy. Quân giặc đuổi theo, không thấy quân lính nhà vua, thấy hai bên đương núi nhiều lều quán ăn, trời nóng, bụng đói, trưa lại đến nên quân giặc lao vao quán, ăn uống lo say thừa cơ quân nhà vua tiến vào đánh úp. Quân giặc bị trúng kế, vua bắt sống được vua Chiêm Thành đem về triều và phong cho thần là Hoàng Phi.

Sau thần về thăm quê, đi đến cửa Bạch Câu gặp gió to sóng lớn thì thuyền bị chìmvà hoá. Hay tin vua vô cùng thương tiếc và ban cho dân ở đây tiền và ruộng để lập đền thờ.(Đền thờ Hoàng Phi ở làng TrungĐức xã Nga Trung, nhưng do chiến tranh đền không còn, dòng họ Hoả, nhân dân xã Nga Bạch đã rước vong bà về thờ ở Nghè Hậu. Nơi bà sinh ra ở đó).

8. Những lễ hội truyền thống.

Mùa lễ hội từ đầu tháng Giêng đến tháng tư (âm lịch), Nga Sơn có rất nhiều lễ hội thu hút cả hàng nghìn khách đến thăm quan, dự lễ hội như: Lễ hội chùa Tiên, Mai An Tiêm, Từ Thức, lễ hội Ba Đình và hàng trăm hội làng diễn ra liên tục, hấp dẫn. Trong số đó có một số lễ hội tiêu biểu như:

Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Nga Phú. Đây là lễ hội dân gian gắn liền với truyền thuyết “Quả dưa đỏ” phổ biến rộng rãi trên đất nước ta. Lễ hội Mai An Tiêm ca ngợi thành quả lao động và mang đậm ý nghĩa phồn thực của người dân vào thời kỳ khai hoang lập ấp.

Cũng như các lễ hội khác, lễ hội Mai An Tiêm cũng được tiến hành theo hai phần là phần lễ và phần hội.

Phần lễ bao gồm các công việc:

1. Lễ rước sắc phong đức Thánh Mai An Tiêm từ làng văn hoá Văn Đức đến đền thờ Mai An Tiêm. Lễ rước được tổ chức với quy mô trọng thể và hoành tráng. Thứ tự các đoàn rước gồm:

Dẫn đầu là đội rồng lân (1 rồng, 2 sư tử, 2 kỳ lân)

1.1 Đội cờ dẫn gồm:

– 1 lá cờ tiết.

– 5 cờ ngũ hành: trắng, xanh, đen, vàng, đỏ.

– 4 cờ tứ linh: long, ly, quy, phượng.

– 8 cờ bát quái.

1.2 Ban chinh cổ

– 1 trống cái to đặt trên xe

– 1 chiêng đồng.

1.3 Đội Bát biểu chấp kích:

– 16 người vác bát biểu.

– 16 người vác chấp kích.

– 1 người vác biển gỗ có chữ Thượng đẳng và lịch triều.

1.4 Kiệu hương án.Trên kiệu có:

– Một quả dưa hấu to.

– Hộp sắc phong có hai lộng đi hai bên để che kiệu.

1.5 Phường đồng văn.

– 1 trống cái.

– 8 trống ban.

– 8 trống bản, hai não bạt.

1.6 Phường bát âm.

– 2 đàn nguyệt, 2 sáo, 1 nhị, 1 mõ, 1 sanh tiền, 1 tiu cảnh.

1.7 Kiệu bát cống.Trên kiệu đặt:

– 1 khám thờ có bài vị Mai An Tiêm.

– 2 mâm ngũ quả, có hai lộng đi hai bên che kiệu.

1.8 Kiệu long đình. Trên kiệu đặt: Mũ, áo, hài của thần Mai An Tiêm có hai lộng che hai bên kiệu.

1.9 Kiệu võng

(Kiệu rước Công chúa).

1.10 Đoàn rước rễ (đi hàng đôi)

– Quan viên bô lão.

– Các bản hội của các xã trong toàn huyện gần 3000 người. Ăn mặc trong trang phục lễ hội.

– Đoàn khách (tỉnh, huyện, xã)

– Dân làng văn hoá Văn Đức.

– Dân quanh vùng và khách thập phương

2. Nội dung tế lễ

2.1 Đội tế gồm có:

– 2 đông xướng và tây xướng.

– Gần 3000 người trong các bản hội chấp sự.

3.2 Nội dung cuộc tế.

– Tích cổ tam thống (đánh 3 hồi trống).

– Hai vị đông xướng, tây xướng trong nghi trang tế lễ ra đứng ở vị trí có bày hương án hô to: “Khởi chinh cổ” (nổi chiêng trống).

– Hai người chấp sự đi đến bên giá chiêng, giá trống một người đánh 3 hồi chiêng, một người đánh 3 hồi trống, rồi mỗi người đánh thêm 3 tiếng nữa sau đó vào vái 1 vái rồi lui ra.

– Nhạc sanh tượng vị (ban nhạc về chỗ ngồi).

– Nhạc tác (khởi nhạc).

– Sau đó đánh 3 hồi trống.

3.3 Chúc văn: Ca ngợi công đức Mai An Tiêm.

Kính cáo Anh Linh

Thánh thuỷ tổ khảo

Lạc hầu hàng duệ vương triều

Dực bảo trung hưng linh phù chi thần

Gia phong đoan túc tôn thàn

Mai công huý vển, tự An Tiêm.

Huý nhật: Tam nguyệt, thập nhị nhật

Vĩnh thế chân linh thần chú

Kính các anh linh thượng hạ, tả hữu thờ theo thánh tổ

Mừng hôm nay;

Trống đồng vang dậy núi sông

Trời đất Nga Sơn ngút ngàn linh khí

Rộn rã trống chiêng

Tưng bừng cờ đỏ

Dâng hương ân bái ân đức tiên nhân

Châm nến phụng thờ công lao thánh tổ

Nhớ ngày xưa…

Nước có nguồn, cây có gốc.

Uống nước trong nhớ nguồn chảy từ đâu?

Ăn quả ngọt biết công ai khó nhọc?

Đó chính là truyền thống nhân văn.

Đó cũng chính là tự hào dân tộc.

Nhớ ngài xưa.

Dòng giõ các vua Hùng.

Tư chất thông minh ngay từ thưở nhỏ.

Tin sức mình nuôi chí tự cường.

Chống quân tham, ghét quân bợ đợ.

Câu nói xưa còn vang:

“Của biếu là của lo”

Lời tâu nay còn nhớ:

“Của cho là của nợ”

Phật ý vua cha.

Lệnh đầy biệt xứ

Đây đảo hoang nước biển mênh mông.

Kìa rừng rậm hãi hùng tiếng hổ.

Tất cả trông vào: ba tháng lương ăn.

Một thanh gươm cùn, một hòn đá lửa.

Tin đôi tay ắt sẽ vượt qua.

Sẵn ý chí đâu nào có sợ.

Lượm trái cây lót dạ qua ngày,

Bẫy thú rừng lần hồi qua bữa.

Bỗng một hôm, thấy lũ chim trời,

Đang tranh ăn một loài quả lạ,

Vỏ xanh thẫm,

Ruột đỏ tươi.

Đuổi chim đi, lấy hạt gieo trồng.

Kỳ trái chín ăn vào mát rượi.

Ngày ngày sức lực tăng cường.

Tháng, năm khó khăn đã vợi.

Khắc tên vào quả,

Thả xuống biển khơi.

Tấp nập thuyền buồn ghé vào mua, đổi.

Qủa ngon, trái ngọt,

Dâng tiến vua Hùng.

Thấu hiểu ngọn ngành vua cha liền vội,

Cho thuyền vượt cửa Thần Phù.

Nhắm hướng đảo hoang thẳng tới.

Đón An Tiêm về đất Phong Châu.

Quân xiểm nịnh thảy đều chịu tội.

Vua truyền: Dưa đỏ trồng khắp nơi nơi.

Nức tiếng ngọt, ngon ngàn đời ca ngợi…

4:+Khai mạc lễ hội.

+ Dâng hương tưởng niệm

+ Đánh trống khai hội

+ Múa rồng, lân

+ Biểu diễn nghệ thuật của các đoàn nghệ thuật trong tỉnh gồm: 200 diễn viên chuyên nghiệp, 500 diễn viên quần chúng, tái hiện lại cảnh: cảnh An Tiêm bị đi đầy- cảnh vợ chồng An Tiêm ngoài đảo hoang- cảnh nhà vua cho cận thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về triều đình. Nhà vua ban tước , lộc cho vợ chồng An Tiêm và lệnh cho dân cả nước trồng dưa hấu An Tiêm.

Phần hội:Tổ chức ngày 12-13 tháng 3(âmlịch)

Tổ chức Hội tại các làng văn hoá tiêu biểu toàn huyện: Thi các tiết mục văn nghệ, múa rồng , múa lân. Tổ chức các trò chơi đân gian: thi kéo co, đua thuyền, hái dưa, phóng lao, nấu cơm thi…

Mức độ ảnh hưởng của lễ hội lan rộng khắp huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung và một số huyện ở các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Nam Định…

Lễ hội Bơi Chải truyền thống này diễn ra ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch. Lễ hội truyền thống này ra đời sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938), nhằm vận động con cháu ra tòng quân cứu nước. Lễ hội đã trở thành một ngày hội vui khoẻ của dân làng nơi này. Lễ hội Bơi Chải là hình thức cầu ngư, cầu cho năm mới mưa thuận gió hoà, ngư dân ra khơi tôm cá đầy ghe. Lễ hội còn thể hiện tinh thần thượng võ, nối tiếp giá trị truyền thống của ông cha.

Trước năm 1975 lễ hội này vẫn được tổ chức đều đặn ở thôn Bạch Hải, nhưng khi đất nước thống nhất vì nhiều lí do khác nhau nên lễ hội không được tổ chức nữa. Vừa qua lãnh đạo và UBND xã Nga Bạch và phòng VHTT huyện Nga Sơn đã gửi đơn Sở VH-TT-DL tỉnh xin khôi phục lễ hội này và được đồng ý. Trong dịp tết nguyên đán 2010-2011, vào ngày 3và 4 tết lễ hội bơi chải truyền thống ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch đã được tổ chức lại. Lễ hội thu hút được rất nhiều người tham gia.

9. Một số chợ tiêu biểu ở Nga Sơn

Nga Sơn không chỉ có nhiều lễ hội đặc sắc mà còn có nhiều những sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tiêu biểu là: Chợ chiếu Hói Đào, chợ Hôm sung xã Nga Bạch, chợ Hoàng xã Nga Văn,…

Trước đây Nga Sơn còn có cả chợ Hôm Giún tại thôn Bái Nại xã Nga Hải. Nhưng chương trình lấn biển vào những năm 1980-1990 đã làm cho biển rời xa , con sông Hưng Long trước đây thông từ cửa biển tới chợ Hôm Giún đã bị chặn bởi cống Mộng Giường. Hết sông, hết biển, hết cả làng chài Bái Nại, chợ cũng không còn nữa.

Hiện nay chỉ còn có chợ Hôm Sung ở xã Nga Bạch, là chợ mang đậm văn hoá ở vùng biển Nga Sơn. Chợ vẫn giữ được vẻ sầm uất xưa. Chợ Hôm Sung chỉ họp vào buổi chiều khi tan việc đồng áng cũng là lúc thuyền chài cập bến. Lúc đó, phụ nữ thì tất tưởi gồng gánh cua bể, tôm, cá, mực…còn các bác thuyền chài với những gọng xiếc và chiếc giỏ khổng lồ lớn cũng hối hả rảo bước cho kịp chợ Hôm. Việc mua bán các sản vật địa phương như cá, tôm, gạo, ngô, khoai…chỉ diễn ra chóng vánh trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Chạng vạng tối chợ đã không một bóng người

Chợ chiếu Hói Đào thuộc xã Nga Thanh giáp danh với làng Ngọc Liên xã Nga Liên, nơi đây có nhiều gia đình với các gian hàng chiếu cói đủ các chủng loại màu sắc rực rỡ. Chợ chiếu được họp từ 7 giờ sáng đến khoảng gần 10 giờ là tan. Tấp nập đông vui nhất là khoảng 8 đến 9 giờ. Các sản phẩm của quê chiếu: Chiếu cải, chiếu đậu, chiếu in hoa đủ các kích cỡ. Các loại thảm trải sàn, làn đựng đồ, túi sách, lẵng hoa…và thật dễ thương là chiếc mũ cói ngộ nghĩnh vẫn còn thơm mùi cói khi đội lên đầu. Sản phẩm ở muôn nơi đem đến, rồi các sảp phẩm này từ chợ chiếu lại toả đi muôn nơi đến các thị trường, trong tỉnh trong nước và cả nước bạn. Người bán kẻ mua tấp nập, các phương tiện đem chiếu đến chợ bán, rồi các phương tiện đem chiếu đi ngược xuôi tấp nập. Chợ chiếu chỉ họp tron buổi sáng nhưng ngày nào cũng đều đặn, mưa gió rét buốt chợ vẫn họp bình thường. Sau khi chợ chiếu tan bấy giờ các bà nội trợ quê chiếu tranh thủ ghé sang chợ thực phẩm cạnh đó để mua thức ăn bồi dưỡng cho gia đình sau một ngày lao động vất vả. Các ông chồng cũng tranh thủ tự thưởng cho mình một tô phở nóng, vài cốc bia hơi.

Sau một ngày đi thăm quan các điểm du lịch, du khách có thể tham gia vào những phiên họp chợ tấp nập cùng những người dân vùng biển Nga Sơn để hiểu thêm về văn hoá và con người nơi đây.

10. Nghề chiếu cói truyền thống

Nga Sơn không chỉ có động Từ Thức, núi Mai An Tiêm, di tích lịch sử Ba Đình… Nga Sơn có nhiều làng nghề truyền thống như nghề chiếu cói, nghề mộc, mỹ nghệ, mây tre đan xuất khẩu… Trong đó tiêu biểu là nghề chiếu cói – một làng nghề truyền thống đã nổi tiếng từ rất lâu, nói đến Nga Sơn là chúng ta nhớ tới chiếu cói với câu ca dao nổi tiếng:

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông

Huyện Nga Sơn được trời phú cho dòng phù sa từ sông Đáy, sông Hồng, sông Hoạt bồi đắp mà thành ruộng, thành làng. Tại những vùng đất phù sa mới bồi bị nhiễm mặn rất phù hợp với cây cói, được sử dụng rộng rãi để lợp nhà, dệt chiếu và làm các vật dụng khác. Cây cói, cây đay đã có từ xa xưa, đến nay cũng chưa ai biết cụ thể, chỉ được nghe các cụ kể lại sự tích cây cói, cây đay:

Chuyện xưa kể rằng: Có cô con gái nhà nghèo nhưng xinh đẹp nết na, da trắng như tuyết. Nàng lại có mái tóc dài, đen óng ả. Nàng đem lòng yêu mến chàng trai làng chân quê vùng biển khoẻ mạnh, giỏi nghề chài lưới. Những đêm trăng sao họ hẹn hò nhau ra cửa Lạch, cùng chờ trăng lên, ngắm biển cầu mong cho duyên số viên thành. Ánh trăng sáng như dát ngọc xuống biển, khuôn mặt của nàng đang độ tuổi trăng tròn đã xinh càng thêm đẹp rực rỡ. Tóc nàng vờn bay ve vuốt tấm lưng vạm vỡ của chàng, hương bồ kết thoang thoảng thơm càng làm cho đôi tình nhân thêm nồng thắm. Họ yêu nhau ngọt ngào, đẫm đượm hương phù sa của biển.

Trước ngày về làm dâu nhà người, nàng hẹn chàng trai đến cửa Lạch. Đêm đó trăng mờ nhạt, những đám mây vần vũ, bỗng trôi nổi cơn giông. Nàng chờ mãi, chờ mãi mà chẳng thấy chàng đến. Những giọt lệ của nàng rơi xuống, càng xót thương cho duyên số chẳng thành. Nàng quay đầu nhìn về làng, những tưởng sẽ nhìn thấy bóng chàng đang tới nhưng vô vọng. Nàng nói thầm trong sự tuyệt vọng: Em xin chàng hãy tha lỗi cho em, hẹn chàng ở kiếp sau. Nói đoạn, nàng cầm con dao cắt mái tóc của mình thả vào trong gió, trong đêm.

Những sợi tóc của nàng theo gió bay khắp cả vùng rồi nàng gieo mình xuống biển.

Chàng trai chạy vội vã đến gặp nàng, nhưng chẳng thấy người yêu của mình chỉ có mùi thoang thoảng hương bồ kết và những sợi tóc dài còn vương lại. Chàng vô cùng đau khổ đã giận bản thân mình không bảo vệ được nàng. Chàng biết, để giữ lời thề ước thuỷ chung, nàng đã gieo mình xuống biển. Mắt chàng đăm đắm nhìn ra biển cả mênh mông, vô vọng, thương nhớ, rồi chàng cũng gieo mình xuống biển. Biển cả mênh mông đã ôm trọn đôi tình nhân vào lòng.

Tình yêu thuỷ chung của đôi trai gái đã làm động lòng các vị thần linh. Thần linh đã cho người con gái hoá thành cây Cói còn người con trai hoá thành cây Đay. Sáng hôm sau, thật kỳ lạ cả một vùng rộng lớn những cây Cói xanh mướt, dài óng ả, mọc lên, bên cạnh lại có những cây Đay cứng cáp xanh rờn. Người dân cho đó là điều lành, bèn cắt cây Cói, nhổ cây Đay về, rồi dùng sợi Đay, sợi Cói dệt thành chiếu. Họ mong muốn cho cây Cói, cây Đay mãi mãi gắn bó với nhau. Để nhớ về một mối tình chung thuỷ, son sắc. Sau này ở Nga Sơn và lan rộng ra cả nước có tục lệ “trải chiếu cho cô dâu, chú rể trước đêm động phòng để mong cho sự thuỷ chung hạnh phúc và sinh con đàn cháu đống”.

Nghề chiếu cói Nga Sơn có hầu hết ở các xã trong huyện, nhưng tập trung ở 8 xã ven biển là Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ, Nga Tiến, Nga Tấn. Trong đó các xã Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ được coi là nghề dệt chiếu toàn tòng. Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng mượt. Điều đặc biệt ít có nơi nào trồng được cói dài như nơi này, loại cói chuyên dùng để dệt nên những tấm chiếu vừa đẹp lại vừa bền.

Theo lời các cụ xưa kể rằng chiếu cói Nga Sơn cùng với chiếu Kim Sơn (Ninh Bình) là một trong những vật cống tiến triều đình, được các bậc vua chúa, quý tộc ưa dùng. Trải qua hơn 150 năm tồn tại với không biết bao là thăng trầm, chiếu cói Nga Sơn đã làm nên thương hiệu cho địa phương, góp phần tạo việc làm, đem lại thu nhập cao cho người dân.

Có nhiều loại chiếu khác nhau như: chiếu đậu, chiếu hoa, chiếu kẻ hình, …Mỗi loại chiếu có những ưu điểm riêng. Trong đó chiếu đậu là loại chiếu đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và giá cũng đắt nhất. Chiếu đậu còn gọi là chiếu trơn, mắt tròn, sợi ken phưng phức, nặng, đổ nước không thấm qua. Chiếu có tốt, có đẹp, có thực là chiếu Nga Sơn phải nhìn vào biên chiếu. Chiếu Nga Sơn là món quà quý và nặng tay, nhưng nặng hơn cả là tình của đất, của người làm nên nó.

Hiện nay, người dân Nga Sơn không chỉ đơn thuần dệt chiếu cói mà còn làm ra nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ với những hoạ tiết hoa văn đẹp như làn, mũ dép, hộp, tấm thảm, đồ dùng trang trí khác…bằng cói rất được ưa chuộng.

Mọi người biết đến Nga Sơn với những đặc sản nổi tiếng chỉ có riêng ở vùng đất này đó là: gỏi cá nhệch, rượu Chính Đại, dê núi ủ trấu…đó không chỉ là những món ăn ngon mà mang cá những nét văn hoá của người dân Nga Sơn.

Cá nhệch là loại cá chỉ có ở vùng biển nước lợ, thường to bằng cỡ ngón chân cái, hình dáng gống con lươn đồng,nhưng dài hơn phần đầu có cái mang phòng to hơn. ở các vùng đầm lầy ngập mặn như Nga Sơn, Kim Sơn – Ninh Bình, Giao Chỉ – Nam Định thường rất sẵn, nhưng chỉ có ở Nga Sơn mới có cách chế biến đặc biệt hơn cả thành đặc sản ” gỏi cá nhệch” và đã trở thành món” đặc sản”của nhiều du khách trong,ngoài tỉnh và cả du khách nước ngoài ưa thích. Người ta nói: đến Nga Sơn ngoài việc thăm thú” Sơn thuỷ hữu tình”nếu chưa thưởng thức” Gỏi cá nhệch” thì coi như chưa đến Nga Sơn.( nhiều người ở nơi xa, chuyện vui là chưa đến Nga Sơn, nhưng biết Nga Sơn qua chuyện Động Từ Thức, Mai An Tiêm, Chiếu Nga Sơn và đặc biệt “Đặc sản gỏi cá nhệch”).

Gỏi cá Nhệch được làm qua rất nhiều công đoạn: Cá sống được bắt về bỏ trong chậu, cho một ít nước vôi trong vào để cá nhả hết nhớt rồi vớt ra rửa sạch. Mổ bỏ nội tạng, lột da và lọc riêng phần nạc rồi đem thái thành từng miếng nhỏ cỡ to hơn sợi mỳ tôm. Cá sau khi thái được ngâm chừng 5 phút trong nước dừa tươi có pha một chút muối, rồi vớt ra vắt thật khô, cho vào một chiếc bát tô sứ to rồi vắt vào đó nước riềng để thấm cá, trộn đều cho đến khi cá ngấm nước riềng chuyển sang màu vàng ngà thì lại vắt cho thật khô rồi bầy lên đĩa xong trộn với thính. Thính để trộn gỏi cũng phải được chế biến rất cẩn thận, hai phần gạo trộn với một phần ngô, ngâm chừng 15 phút rồi vớt ra đem rang nhỏ lửa cho chín vàng, đem xay mịn là được. Nước ăn gỏi thì chẻo là quan trọng nhất nó là chất kết dính của gỏi và các loại gia vị. “Chẻo” được chế biên rất công phu, bao gồm da và xương cá rán giòn, xay nhuyễn, thịt nạc rán giòn xay nhuyễn mẻ ngấu lọc kỹ cùng với hành tỏi, mắm muối, mì chính…được chế biến thành cùng một loại nước đặc biệt với rất nhiều hương vị. Rau sống ăn gỏi gồm: lá Sung, lá Vọng cách, lá Lộc vừng, lá húng…và không thể thiếu đĩa ớt, riềng thái nhỏ để ăn kèm.

Lấy một chiếc lá sung to quấn lại thành hình chiếc phễu, cho gỏi cá cùng các loại rau thơm, gia vị vào trong, cuối cùng là một thìa chẻo đặc sánh rồi gói lại…chén rượu nỏ đưa cay, vài miếng bánh đa vừng, ngồi trên thuyền mà lòng man mát, ngất ngây niềm vui cùng bạn bè tâm đắc, thực khách cứ vừa nhân nhi, vừa vui chuyện về vùng đất Nga Sơn cho đến tàn canh lúc nào không biết

Sau khi thăm quan, leo núi thấm mệt du khách thưởng thức món gỏi cá Nhệch với rượu Chính Đại thì sẽ thấy rất ngon miệng và sức khoẻ dường như được phục hồi. Vì cá Nhệch là loại cá rất khoẻ, bởi thế người ta tin rằng ăn cá Nhệch là một món ăn bổ, có tác dụng tăng gân cốt, khí huyết và sức khoẻ của con người.

Ở Thanh Hoá, các loại rượu ngon nổi tiếng như nếp Cẩm Cẩm Thuỷ, rượu Nếp cái hoa vàng, rượu Tăng làng Quảng, rượu Cần Bá Thước…nhưng có lẽ làm say lòng khách du lịch nhất chính là rượu nếp Nga Sơn. Kinh nghiệm dân gian cho thấy rằng để có được mẻ rượu ngon phải hội tụ đủ các yếu tố đó là: “thiên thời – địa lợi – nhân hoà”. Thì đây, Nga Sơn vốn sẵn có nguồn nước đã từng tạo ra giống dưa Mai An Tiêm ngon, mát, giống nếp cái hoa vàng ngát hương, cộng với loại men bí truyền và kinh nghệm ngàn đời của người nông dân cần cù chịu khó và các yếu tố hài hoà kết hợp với nhau để tạo ra một sản phẩm đặc biệt là rượu nếp Nga Sơn.

Gạo nếp được nấu gọi là nếp lật, tức là gạo nếp chỉ được xay bỏ lớp vỏ trấu, hạt gạo đang còn nguyên lớp vỏ lụa bao phủ bên ngoài. Cơm rượu được đồ chín tới rồi tãi ra nong cho nguội, trộn với men và ủ kỹ trong chum sành, độ vài ba ngày khi chum rượu toả mùi thơm quyến rũ là được. Quy trình chưng cất rượu cũng bằng phương pháp thủ công truyền thống, nồi nấu rượu bằng kim loại nhưng bình ngưng (nơi hơi rượu ngưng lại thành dòng rồi chảy vào chai) lại được làm bằng gỗ mít và lò rượu nhất thiết chỉ được đun bằng củi, như vậy là để cho rượu được đằm không bị sốc và quan trọng là không bao giờ bị khê rượu. Phương pháp truyền thống này cho năng xuất không cao nhưng bù lại cho chất lượng rượu không thể chê vào đâu dược.

Nhấm một chút rượu đã có cảm giác thơm đầu lưỡi của mùi nếp mới, cay cay của men say nơi cuống họng, còn khi chép miệng một cái thì cái cay đã hoá thành cái ấm nóng dần lan toả tới mọi huyết mạch cơ thể…và đó chính là cái duyên của rượu nếp Nga Sơn.

Thịt dê vốn là một loài thực phẩm bổ dưỡng được nhiều người ưa thích, với những người sành điệu thì tiết canh dê hay các món ăn chế biến từ thịt dê thực sự là món khoái khẩu. Trong thực đơn thịt dê có thể chế biến được thành rất nhiều món như lẩu dê, dê sào lăn, dê tái chanh, cháo dê…nhưng món dê thui cả con có lẽ chỉ có ở vùng núi đá Nga An- Nga Sơn mới có. Thực đơn của món dê thui thật đơn giản chỉ có ba món chính là tiết canh dê, dê tùng xẻo và cháo dê nhưng cách chế biến thì quả thật công phu tốn nhiều công sức.

Tiết dê được hãm đóng vào chai dành để đánh tiết canh, dê được cạo lông sạch sẽ rồi khéo léo mổ moi hết nội tạng ra ngoài( đặc biệt phái lấy được hai hạch hoi của dê nằm ở đoạn gáy dê nơi tiếp giáp với bả vai để thịt dê được thơm ngon). Dùng các loại lá thơm nhồi vào bụng dê như lá ổi, lá sả, lá bưởi…. Khâu kín lại, bọc bên ngoài bằng một lớp lá chuối tươi rồi để luôn lên nền đất ẩm. Vật liệu để thui (đốt) dê chủ yếu là rơm nếp trộn với trấu, cho phủ kín con dê rồi mới quạt lửa,trở đi trở lại con dê độ bốn năm lần, mỗi lần độ năm sáu mươi phút thì mới đạt yêu cầu. Sức nóng của lửa rơm từ bên trên cộng với hơi ẩm từ lòng dất hoà quyện làm cho thịt dê chí mền và có một hương vị đặc biệt quyến rũ thực khách, dê ủ trấu chín đều không bị mất mùi và thịt rất ngon.

Bát tiết canh đỏ tươi để khai vị, tiếp đó là đĩa thịt dê đốt nóng hổi ăn kèm với các loại rau thơm chấm với tương gừng, lâng lâng men rượu nếp Nga Sơn…thì chỉ cần thêm bát nhỏ cháo xương dê nấu với đậu xanh nữa là để du khách thêm một lần lưu luyến với Nga Sơn.

Đây cũng là một đặc sản của Nga Sơn. Thông thường thịt dê được chế biến thành các món như: dê tái, dê xào…Nhưng ở Nga Sơn thịt dê được chế biến theo một cách rất đặc biệt. Sau khi thịt dê được làm sạch, người ta để nguyên cả con, ướp da vị vào bên trong bụng của con dê. Sau đó người ta làm chín con dê bằng cách vùi vào trấu, sức nóng của trấu sẽ làm chín được thịt dê. Vì thế mà thịt dê vẫn giữ nguyên được hương vị thơm ngon và màu của con dê không bị thay đổi. Chính những điều này đã làm nên đặc trưng riêng cho món ăn mà chỉ có ở Nga Sơn.

Mức độ đa dạng: Nga Sơn có giá trị nổi bật về tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên có sức hấp dẫn mạnh, đặc biệt là động Từ Thức và đền thờ Mai An Tiêm, chùa Tiên là những điểm đến thu hút nhiều khách du lịch.

Khả năng tiếp cận tài nguyên cũng rất thuận lợi do địa hình của huyện khá bằng phẳng, đặc biệt là mạng lưới giao thông đi lại tại các điểm du lịch khá tốt. Trong những năm gần đây, các điểm du lịch như động Từ Thức, đền thờ Mai An Tiêm di tích lịch sử Ba Đình…các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hoá khác vẫn đang được tiếp tục đầu tư, trùng tu tôn tạo lại tổ chức nhiều lễ hội với quy mô cấp tỉnh để nhằm phục vụ, thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan nhiều hơn.

Những tài nguyên du lịch ở Nga Sơn đang được sử dụng, khai thác hợp lí hơn, nghành du lịch cũng đang được Đảng bộ và nhân dân huyện quan tâm phát triển nhiều hơn.

Ở Nga Sơn có một số cơ sở dịch vụ phục vụ cho nhu cầu ăn nghỉ của du khách như: Khách sạn 2 sao thương mại Nga Sơn (Thị Trấn), Hồng Chương (Thị Trấn), Hảo Phụng (Nga Thanh), nhà hàng ẩm thực gỏi Thịnh Lịch (Nga Liên), nhà hàng dê ủ trấu Ngọc Toản, Hoàng Việt (Nga An), Quy mô các cơ sở đang được mở rộng và nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Số lượng khách du lịch đến tham quan các điểm du lịch ở Nga Sơn liên tục tăng từ năm 1990 đến 2006, trong đó chủ yếu là khách du lịch nội địa. Năm 1990 có 2500 khách nội địa, 3 khách quốc tế, 13 khách doanh nghiệp đến thăm quan du lịch ở Nga Sơn. Đến năm 2021 đã tăng lên 5 khu du lịch đó là:

+ Khu du lịch Động Từ Thức (xã Nga Thiện): Động Từ Thức, Động Bạch Á, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, tướng Trịnh Minh.

+ Khu du lịch Mai An Tiêm: Khu di tích Mai An Tiêm (Nga Phú), Chùa Tiên, Hồ Đồng Vụa (Nga An). Đặc biệt Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức hàng năm vào ngày 12, 13/3 âm lịch với quy mô cấp huyện, hoặc tỉnh thu hút hàng vạn nhân dân và khách thập phương.

+ Khu du lịch chiến khu Ba Đình (Xã Ba Đình)

+ Khu di lịch sinh thái dọc sông hoạt: Của Thần phù, Chùa Hàn Sơn, Núi “Rồng hổ tranh ngọc” và chùa Trúc Lâm, Động Lục Vân (Nga Điền), Lã Vọng, Bia Thần (Nga Thiện).

+ Khu du lịch sinh thái biển.

Việc tổ chức quản lý ở các điểm du lịch cũng đang được quan tâm nhiều hơn. Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang được bảo vệ và tôn tạo để nhằm mục đích phát triển du lịch Nga Sơn.

Ngày 10/7/2009 UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 2166/QĐ-UBND về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch động Từ Thức và các di tích, danh thắng huyện Nga Sơn đến năm 2021 và định hướng đến năm 2021.

Ngày 05/8/2011 UBND huyện Nga Sơn ban hành Quyết định số 1389 /QĐ-UBND về việc phát triển du lịch đến năm 2021 và tầm nhìn 2021. Đề án đã đánh giá thực trạng, tiềm năng du lịch Nga Sơn, những hạn chế tồn tại đặc biệt đề án đã đề ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả để đẩy mạnh phát triển du lịch của Nga Sơn. Trong những năm tiếp theo và tầm nhìn đến năm 2021 để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa phương, quy hoạch xây dựng nông thôn mới Nga Sơn giàu, đẹp, văn minh.

【#6】Lịch Sử Thanh Hóa Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa

Vào đầu thời đại đồng thau, ở đồng bằng Bắc Bộ, văn hoá Phùng Nguyên đã phân bố trên một vùng rộng lớn từ các tỉnh Vĩnh Yên, Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng, Hà Giang, Bắc Ninh, Hà Nội. Ở Thanh Hoá, các bộ lạc nguyên thuỷ cũng có mặt trên địa bàn rất rộng: từ miền núi đến đồng bằng, ven biển.

Người thời đại đồng thau đã để lại dấu vết trong các hang động Thẩm Hai và Thẩm Tiên (thuộc huyện Thường Xuân). Trong tầng văn hoá dày từ 20 – 30cm, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều rìu, đục bằng đá được mài nhẵn. Đồ gốm thu được ở đây không nhiều nhưng đã thể hiện trình độ chế tác rất độc đáo: gốm thường có miệng loe dày, vai xuôi, có loại có chân đế. Hoa văn trang trí rất đa dạng nhưng chủ yếu bằng kĩ thuật khắc vạch với những đường song song hoặc cắt nhau chạy thành từng băng quanh thân. Trong tầng văn hoá cũng tìm thấy cả vỏ ốc suối. Với sự phát triển của kĩ thuật chế tác đồ gốm, lại cư trú trên địa bàn xung quanh các thung lũng bằng phẳng, những cư dân thuộc nhóm di tích Thường Xuân đã là những người làm nông nghiệp.

Trong khi các bộ lạc miền núi Thường Xuân sản xuất nông nghiệp và phát triển nghề làm gốm, thì ở vùng biển, một nhóm các bộ lạc khác đã biết đến kim loại. Di chỉ tiêu biểu là Hoa Lộc (xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc) đã được khai quật lớn vào năm 1974 và 1975. Vì vậy nền văn hoá khảo cổ ở đây được đặt tên là văn hoá Hoa Lộc. Cư dân văn hoá Hoa Lộc sống gần bờ biển. Tại các di chỉ thuộc văn hoá này đã phát hiện được nhiều chì lưới bên cạnh xương răng các loài cá biển, cá nước ngọt, chứng tỏ đánh cá là một nghề quan trọng của họ. Cũng tìm thấy ở đây xương răng các loài động vật đã được thuần dưỡng như trâu, bò, chó, lợn, và thú rừng như hươu, nai, hoẵng, lợn rừng, tê giác v.v… Rõ ràng chủ nhân văn hoá Hoa Lộc còn là những người chăn nuôi và săn bắn giỏi. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc đã có một nền nông nghiệp dùng cuốc phát triển.

Tại di chỉ Hoa Lộc (hay còn gọi là Cồn sau chợ), đã tìm thấy số lượng rất lớn cuốc đá có vai hoặc hình tứ giác (61 chiếc). Ở di chỉ Phú Lộc (còn có tên là Cồn Nghè) tìm thấy tới 80 cái. Rìu và bôn có vai được mài nhẵn toàn thân, có hình dáng cân đối, cũng là loại nông cụ được tìm thấy khá nhiều ở văn hoá Hoa Lộc. Nhưng rõ ràng nhất là tại di tích Bái Cù, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều vết tích của vỏ trấu. Đây là trấu của giống lúa nước.

Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc là những người làm gốm giỏi, đồ gốm của họ rất độc đáo cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí. Họ đã tạo được những cái bình có vai gãy, miệng gâp vào trong. Có cả loại có miệng hình nhiều cạnh mà các nơi khác rất hiếm gặp. Hoa văn trên đồ gốm Hoa Lộc cũng rất đẹp và phong phú: người ta đã thống kê được 18 đồ án hoa văn khác nhau trên đồ gốm Hoa Lộc, trong đó, đặc trưng và độc đáo nhất là hoa văn hình bọ gậy được tạo bằng cách ẩn miệng vỏ sò biển lên thân gốm khi còn ướt.

Một đặc điểm quan trọng khác của văn hoá Hoa Lộc là sự xuất hiện rất nhiều những con dấu bằng đất nung. Các con dấu này có hình chữ nhật hoặc gần tròn, thường được người thợ gốm khắc những chữ “S” hoặc những hoa văn nối tiếp nhau với nét khắc rất sâu. Các nhà nghiên cứu cho rằng, công dụng của những con dấu này có lẽ được dùng để in hoa văn lên vải hơn là để tạo hoa văn trên đồ gốm. Cũng tại Hoa Lộc, còn tìm thấy những hộp đất nung hình chữ nhật, có hai ngăn, mà công dụng cho đến ngày nay vẫn còn tranh cãi. Điều quan trọng là đã phát hiện được dấu vết của đồng trong văn hoá Hoa Lộc, đó có thể là những mẩu dây hoặc dùi đồng đã bị rỉ nát. Trong tương quan với các nền văn hoá cùng thời, các nhà nghiên cứu nhận thấy đã xuất hiện sự giao lưu giữa các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc với chủ nhân các nền văn hoá khác. Ở phía Bắc, hoa văn in mép vỏ sò đặc trưng của văn hoá Hoa Lộc đã tìm thấy ở Sập Việt, Bản Gièm (Sơn La). Nhiều mảnh gốm kiểu Hoa Lộc được tìm thấy ở Gò Mả Đống (Ba Vì – Hà Nội), núi Lê (Ninh Bình), đồi Ghệ, đồi Giạ (Vĩnh Phú cũ). Ở phía Nam, phong cách trang trí và đồ án hoa văn hình chữ S in bằng miệng vỏ sò đã thấy xuất hiện ở Pò Cung (Quỳ Hợp – Nghệ An).

Căn cứ vào những thành tựu trong kĩ thuật chế tác các loại công cụ, trong các ngành kinh tế sản xuất và sự phân bố các di chỉ trên một vùng rộng lớn, có thể nhận thấy rằng mật độ cư dân trong văn hoá Hoa Lộc đã khá cao. Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc hẳn đã có cuộc sống tinh thần khá phong phú: chỉ có những bộ óc phóng khoáng với những bàn tay khéo léo mới có thể tạo nên những kiểu dáng và hoa văn trên đồ gốm phong phú đến vậy. Sự phát triển mạnh mẽ của nghề đánh cá biển và kĩ thuật chế tác kim loại ra đời có thể đã góp phần quan trọng xác lập chế độ công xã thị tộc phụ quyền trong đời sống xã hội văn hoá Hoa Lộc.

Ở vùng đồng bằng sông Mã: Khi các bộ lạc ở miền núi, miền biển Thanh Hoá bước vào thời đại đồng thau cách đây khoảng 4.000 năm thì vùng đồng bằng ven đôi bờ sông Mã, cư dân các bộ lạc ở di chỉ Cồn Chân Tiên cũng bước vào sơ kì thời đại đồng thau. Cùng thời với di chỉ này, ven đôi bờ sông Mã còn phát hiện được các di chỉ núi Chàn (ở sườn tây núi Đọ), khe Tiên Nông (sườn Tây Bắc núi Nuông). Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ này đã được nhiều nhà nghiên cứu xác định là giai đoạn sớm nhất của thời đại đồng thau ven sông Mã, là cốt lõi mở đầu trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang.

Những công cụ bằng đá ở Cồn Chân Tiên cho thấy cư dân giai đoạn này đã đạt tới trình độ kĩ thuật chế tác đá rất cao. Họ sử dụng đá bazan khai thác ở núi Đọ. Họ sử dụng kĩ thuật ghè để tạo phác vật, sau đó ghè tu chỉnh và tiến hành mài đá. Họ đã dùng hai loại bàn mài để mài phá và mài trau (loại đá có kết cấu hạt to dùng mài phá, loại mài trau có kết cấu hạt mịn). Bàn mài của họ đôi khi được dùng cả bốn mặt, có loại có rãnh chắc được dùng để mài đồ trang sức. Rìu đá ở Cồn Chân Tiên chủ yếu là rìu lưỡi cân, cạnh đó còn có loại lưỡi mài vát một bên có tiết diện hình chữ V lệch (thường được gọi là bôn). Đặc biệt ở đây đã tìm thấy những chiếc rìu và bôn có hình dáng nhỏ nhắn và rất xinh bằng đá ngọc, lưỡi rất sắc bén. Cũng tìm thấy nhiều vòng trang sức bằng đá, cư dân Cồn Chân Tiên chế tác công cụ ngay tại nơi cư trú.

Di chỉ Cồn Chân Tiên có tầng văn hoá tương đối dày, chứng tỏ con người đã định cư ở đây khá lâu dài. Đồng bằng ven sông Mã là địa bàn khai thác nghề trồng lúa nước của họ. Địa bàn cư trú ấy với điều kiện trình độ chế tác công cụ phát triển đã đưa sản xuất nông nghiệp lên vị trí hàng đầu trong nền kinh tế của cư dân Cồn Chân Tiên. Cũng như cư dân văn hoá Phùng Nguyên, Hoa Lộc, các bộ lạc nguyên thuỷ đôi bờ sông Mã đang dần dần chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ quyền và điều quan trọng hơn cả, khi đối chiếu, so sánh với kết quả nghiên cứu các giai đoạn phát triển sau này ở các di chỉ khảo cổ học khu vực đồng bằng sông Mã, sông Chu, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cư dân các bộ lạc Cồn Chân Tiên là nhóm đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang của các vua Hùng.

Di chỉ khảo cổ học Đông Khối thuộc làng Đông Khối, xã Đông Cương (Đông Sơn), được khai quật năm 1960. Gần đây, nhờ kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ khảo cổ thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, các nhà nghiên cứu đã xác định Đông Khối là di chỉ tiêu biểu cho giai đoạn phát triển tiếp theo giai đoạn Cồn Chân Tiên ở lưu vực sông Mã, có niên đại trung kì thời đại đồng thau tương đương với giai đoạn Đồng Đậu ở đồng bằng Bắc Bộ. Thuộc giai đoạn này còn có di chỉ Bái Man, lớp dưới di chỉ Cồn Cấu (xã Đông Lĩnh) và lớp dưới di chỉ Đồng Ngầm (xã Đông Tiến) huyện Đông Sơn.

Điểm đáng chú ý đầu tiên là kĩ thuật chế tác công cụ đá của cư dân các bộ lạc giai đoạn này đã không chỉ kế thừa trực tiếp kĩ thuật của cư dân Cồn Chân Tiên, mà họ còn đưa nghề chế tác đá phát triển thành kĩ nghệ, đạt tới đỉnh điểm trong thời tiền sử và sơ sử xứ Thanh. Tại di chỉ Đông Khối, ngày nay vẫn còn rất nhiều những phác vật, phế vật, mảnh tước v.v…, có chỗ chất đầy, ken dày trên những bờ ruộng, cánh đồng sát chân núi Voi, rộng hàng chục héc ta. Điều này cho thấy hẳn xưa kia, khoảng 3.000 năm trước đây, Đông Khối là một trung tâm chế tác công cụ đá rất phong phú và nhộn nhịp. Trong bộ sưu tập công cụ bằng đá ở Đông Khối, rìu và bôn tứ giác có tiết diện hình chữ nhật hoặc vuông chiếm ưu thế tuyệt đối. Hình dáng của chúng khá phong phú: rìu có loại hình thang vuông, hình chữ nhật; bôn cũng có hai loại: loại lưỡi mỏng (chỉ độ 1 cm) và loại lưỡi rất dày, có mặt cắt hình gần vuông, vì vậy có người gọi là búa rìu (loại này chiếm tỉ lệ 22 – 33% ở các di chỉ).

Nghiên cứu những dấu vết vật chất và bộ di vật, các nhà khảo cổ học cho rằng cư dân các bộ lạc thuộc giai đoạn Đông Khối có trình độ phát triển tương đương giai đoạn Đồng Đậu ở lưu vực sông Hồng. Nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của người Đông Khối đã có bước phát triển mới: bên cạnh việc trồng trọt các loại cây cho củ, quả, lúa đã được trồng nhiều hơn, đặc biệt là lúa nếp. Tại Đồng Ngầm, Bái Man đã phát hiện được nhiều mẫu trấu của lúa dạng hạt tròn. Sự phát triển mạnh mẽ của các nghề thủ công làm gốm, chế tác công cụ đá, những dấu tích của lúa, gạo v.v… cho thấy người Đông Khối đã đạt tới trình độ khá cao trong đời sống kinh tế, xã hội.

Năm 111 TCN, nhà Hán chinh phục Nam Việt và chia thành 9 quận, trong đó nước Âu Lạc cũ trở thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân.

Trải qua hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, qua các triều đại Hán – Tam Quốc, Lưỡng Tấn – Tiền Tống – Tề – Lương – Tùy – Đường, địa danh của miền đất này cũng bao lần thay đổi theo sự thăng trầm của lịch sử. Cùng với số phận chung của cả nước, nhân dân Cửu Chân chịu cảnh sống lầm than cơ cực dưới ách đô hộ của ngoại bang.

Các dấu vết của người nguyên thuỷ – người vượn sớm nhất ở Việt Nam, lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1960 tại núi Ðọ, Thanh Hoá. Do đặc trưng điển hình của hệ thống di tích này, các nhà khảo cổ học cho rằng đã tồn tại một nền văn hoá sơ kì thời đại đồ đá cũ: Văn hoá núi Ðọ. Văn hoá núi Ðọ bao gồm một hệ thống các di tích sơ kì thời đại đồ đá cũ được phát hiện ở Thanh Hoá: Núi Ðọ, núi Nuông, Quan Yên I, núi Nổ.

Nằm trong địa phận hai xã Thiệu Tân và Thiệu Khánh huyện Thiệu Hoá (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Ðây là một hòn núi cao 160m, nằm bên hữu ngạn sông Chu. Người vượn nguyên thuỷ đã sinh sống ở đây, ghè vỡ đá núi để chế tác công cụ. Những công cụ bằng đá mang dấu ấn chế tác bởi bàn tay của họ như mảnh tước, hạch đá, rìu tay… đã được phát hiện ở núi Ðọ khá nhiều. Ngày nay, trên sườn núi Ðọ, hàng vạn mảnh tước (mảnh ghè khi người nguyên thuỷ chế tác công cụ) vẫn còn nằm rải rác, nhất là sườn phía Ðông và phía Tây Nam.

Trên núi Quan Yên, tại địa điểm Quan Yên I (bên sườn Ðông – Ðông Nam), thuộc xã Ðịnh Công, huyện Yên Ðịnh, năm 1978 các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện được những vết tích của con người sơ kì thời đại đồ đá cũ. So với núi Ðọ, núi Nuông, mật độ và số lượng hiện vật thu được có ít hơn, nhưng kĩ thuật chế tác các loại hình công cụ ở đây cao hơn, gọi là kĩ thuật của loài vượn sơ kì thời đại đồ đá cũ, đồng thời đây cũng là một loại hình di chỉ – xưởng. Căn cứ vào trình độ kĩ thuật chế tác công cụ, địa hình cư trú và dựa vào những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học, các nhà khoa học cho rằng, người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ là những người vượn đứng thẳng phát triển. Họ sống thành từng bầy, có thủ lĩnh bầy, mỗi bầy bao gồm từ 5-7 gia đình, có khoảng 20 – 30 người. Họ kiếm thức ăn chủ yếu bằng phương thức săn bắn và hái lượm theo bầy đàn người vượn và phân phối sản phẩm công bằng. Ðời sống tinh thần của họ đã khá phong phú: ngoài thì giờ kiếm ăn, có thể họ đã có những trò giải trí trong lúc rỗi rãi.

Tại Thanh Hoá, các bộ lạc chủ nhân văn hoá Sơn Vi, theo tình hình hiểu biết hiện nay đã sinh sống trên địa bàn rộng lớn ở vùng núi phía Tây và Tây Bắc của tỉnh. Dấu vết của họ đã được tìm thấy ở các huyện Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Hà Trung, Bá Thước và nhất là cụm di tích ở xã Hạ Trung (Bá Thước).

– Hang Con Moong: Ðáng chú ý nhất là hang Con Moong – một di tích nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Cúc Phương – thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành. Di tích này được khai quật năm 1976. Tại đây, người vượn nguyên thuỷ Thanh Hoá đã sinh sống từ hậu kì thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới. Tầng văn hoá ở Con Moong dầy tới 3,5m với sự tiếp diễn liên tục, không hề có sự ngắt quãng. Tại lớp văn hoá sớm nhất (dưới cùng) ở Con Moong (đã được xác định niên đại bằng phương pháp cacbon phóng xạ C14 cách ngày nay hơn 12.000 năm) các nhà khảo cổ học đã thu được nhiều hiện vật. Ðó là những công cụ bằng đá có hình múi cam, công cụ có rìa lưỡi một đầu, công cụ 1/4 viên cuội, được tạo bằng thủ pháp đập vỡ cuội. Ðó là những chày nghiền, bàn nghiền – những hòn đá không có dấu vết chế tác, chỉ có dấu vết sử dụng bởi một mặt lõm xuống hình lòng máng, được dùng để chà vỏ, nghiền thức ăn thực vật; là những công cụ bằng xương có hình mũi nhọn được chế tạo từ những đoạn xương ống của các loài thú lớn. Xương, răng động vật cũng phát hiện được khá nhiều, gồm xương cốt các loài lửng, tê giác, voi, hươu, nai, hoẵng, baba, rùa vàng… Cũng giống như ở mái đá Ðiều, tầng văn hoá ở Con Moong chứa khá nhiều vỏ trai, ốc núi, ốc suối. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã tìm thấy dấu vết của bếp lửa có hình gần tròn, đường kính tới 4m, bên cạnh mùn thực vật và hạt trám. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã phát hiện được 3 mộ táng gồm 5 cá thể (có 2 mộ song táng) đã xác định được 1 nam, 1 nữ (khoảng 50 – 60 tuổi), hai trẻ em và 1 người không xác định được giới tính. Tất cả các hài cốt được chôn theo tư thế nằm nghiêng co bó gối, được bôi thổ hoàng, có một mộ chôn theo công cụ nạo. Như vậy, vào hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, cùng với văn hoá Sơn Vi ở phía Bắc, chủ nhân của văn hoá Sơn Vi Thanh Hoá đã cư trú trên một vùng rộng lớn phía Bắc, Tây bắc của tỉnh và tương đối tập trung. Theo những phát hiện mới nhất của khảo cổ học, vùng Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành trong hậu kì thời đại đồ đá cũ có thể được coi là trung tâm của xứ Thanh ngày nay. Trong thời đại đồ đá cũ, cư dân nguyên thuỷ đã sinh sống trên địa bàn Thanh Hoá. Trong hàng chục vạn năm ấy, do điều kiện địa lí, do quá trình kiến tạo địa chất, nhiều đợt biển tiến, biển lùi đã đẩy người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ tiến lên chiếm lĩnh vùng phía Tây – Tây bắc, những chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá đã cùng các bộ lạc khác trên đất nước Việt Nam, trong quá trình đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để sinh tồn, đã tạo nên một nền văn hoá mới, làm phong phú thêm thời đại đồ đá mới ở Việt Nam. Ðó là quá trình phát triển của xã hội người nguyên thuỷ trên đất Thanh Hoá.

Nối tiếp văn hoá Sơn Vi là văn hoá Hoà Bình (lấy tên tỉnh Hoà Bình – nơi phát hiện những di tích đầu tiên của nền văn hoá này). Về niên đại, văn hoá Hoà Bình cách ngày nay 11.000 năm; trên đất Thanh Hoá, trung tâm dân cư lúc này vẫn tập trung ở địa bàn vùng núi phía Tây, thuộc các huyện Cẩm Thuỷ, Bá Thước, Thạch Thành, Ngọc Lặc… Họ thường sống trong các hang động, các núi đá vôi rộng, thoáng đãng và gần sông, suối lớn. Các nhà khảo cổ học đã xác định họ chính là hậu duệ trực tiếp của chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá và chính họ – cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá, đã tiếp tục phát triển, làm nên văn hoá Bắc Sơn sau này.

– Hang Con Moong (xã Thành Yên – huyện Thạch Thành): Ðây là một hang rộng, nền hang cao hơn 40m so với chân núi hiện tại và rộng hơn 300 m2. Người nguyên thuỷ cư trú trên khoảng diện tích 100 m2 tại cửa hướng Tây Nam, liên tục từ thời văn hoá Sơn Vi đến văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn. Các nhà khảo cổ đã thu được rất nhiều hiện vật nằm lẫn trong đống vỏ nhuyễn thể và mùn thực vật mà người nguyên thuỷ đã thải ra trong quá trình sinh hoạt. Về công cụ bằng đá: cư dân văn hoá Hoà Bình ở Con Moong vẫn giữ truyền thống văn hoá Sơn Vi: dùng đá cuội để chế tác công cụ, nhưng kỹ thuật chế tác công cụ của họ rất phát triển, kể cả loại hình lẫn phương pháp chế tác. Công cụ kiểu Xumatơra(3) (Sumatralithe) có hình bầu dục hay hình hạnh nhân, lưỡi được tạo xung quanh rìa hòn cuội bằng cả thủ pháp ghè tỉa, để có độ sắc bén hơn; có chức năng sử dụng rất đa dạng: có thể dùng cắt, chặt, nạo….từ thịt, xương thú đến tre, nứa, gỗ. Rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn trong bộ sưu tập công cụ của họ ở Thanh Hoá; người ta thường chặt cuội hoặc chặt đôi những công cụ hình bầu dục để tạo rìu ngắn; chức năng của rìu ngắn cũng rất đa dạng. Rìu dài hình hạnh nhân hay hình bầu dục của cư dân văn hoá Hoà Bình có nhiều khả năng được sử dụng như những chiếc cuốc đá. Mảnh tước ở Con Moong có số lượng không nhiều, nhưng phần lớn đã được gia công để tạo thành công cụ nạo, dao đá, với rìa đá rất sắc. Chày nghiền, bàn nghiền cũng là những công cụ được tìm thấy khá nhiều. Chủ nhân Con Moong cũng chế tác và sử dụng công cụ bằng xương thú với kỹ thuật chọn nguyên liệu và chế tác phát triển khá cao: người ta chỉ lựa chọn xương ống của động vật có vú – loại xương có cấu tạo sợi nhiều hơn cấu tạo xốp – để chế tác công cụ và đã mài nhẵn đầu. Thức ăn rất phong phú, đa dạng: trong tầng văn hoá, các nhà khảo cổ học đã thu được 83 2 vỏ nhuyễn thể như trùng trục, trai, ốc… và các loại xương thú rất phong phú. Chôn người chết theo tư thế nằm nghiêng chân co như cư dân văn hoá Sơn Vi giai đoạn trước, nhưng họ đã chèn đá hộc, rải đá dăm quanh mộ để bảo vệ và đều chôn theo công cụ.

– Di chỉ mái đá Ðiều và các di chỉ khác: Cũng như ở Con Moong, mái đá Ðiều là một di chỉ chứa đựng nhiều lớp văn hoá thuộc các thời đại đồ đá khác nhau. Niên đại lớp văn hóa Hoà Bình của Mái đá Ðiều là 8.200 ± 70 năm, cách ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã thu được rất nhiều công cụ bằng đá đặc trưng kiểu Hoà Bình. Ðáng chú ý là rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn. Chày nghiền, bàn nghiền cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Riêng công cụ bằng mảnh tước, ở một số địa điểm đã xuất hiện kĩ thuật mài đá. Ở các di chỉ mái đá Bát Mọt, hang Mộc Trạch, hang To đã tìm được nhiều mảnh vỏ trai xà cừ lớn mà công dụng có thể được chủ nhân văn hoá Hoà Bình sử dụng như những lưỡi dao, nạo để vót tre nứa và nạo thịt thú. Một đặc điểm chung nữa là tại các di chỉ văn hoá này, tầng văn hoá đều rất dày, chứng tỏ sự cư trú lâu dài của con người như Con Moong: 3,5m, mái đá Ðiều: gần 4m, mái đá Làng Bon: 3,7m, hang Ðiền Hạ III: 3,8m, mái đá chòm Ðồng Ðông: 3,5m; chứa đựng một khối lượng vỏ nhuyễn thể rất lớn lẫn trong lớp đất màu nâu hoặc đen chứa mùn thực vật. Cư trú trong các hang động, mái đá tương đối cao, có nơi rất cao (như Con Moong), cư dân Hoà Bình ở Thanh Hoá chắc rằng, ngoài những công cụ bằng đá, đã sử dụng một số lượng không ít các công cụ và đồ dùng được chế tác từ các loại cây cối, nhất là tre, nứa, song, mây… Ðể đựng các loại nhuyễn thể lượm nhặt từ sông, suối đem về nơi cư trú. Các nhà khảo học đã phát hiện được nhiều mộ táng của người Hoà Bình ở Thanh Hoá. Ðã tìm thấy ở hang Lộc Thịnh, mái đá Làng Bon, mái đá làng chòm Ðồng Ðông… các di cốt, xương, răng bị vỡ, mủn. Ðáng chú ý nhất là các di tích Con Moong (2 mộ), mái đá Ðiều (13 mộ), mái đá Mộc Long (5 mộ), hang Chùa (3 mộ). Phần lớn những mộ này còn nguyên vẹn và cho thấy tư thế chôn nằm nghiêng co bó gối, bôi thổ hoàng, kè đá giữa mộ và chôn theo hiện vật làm đồ tuỳ táng, là cách thức mai táng phổ biến trong tập tục của người Hoà Bình. Chủ nhân của văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã tiến tới tổ chức công xã thị tộc mẫu hệ. Các công xã thị tộc thường cư trú trong một vùng đất nhất định. Trong mỗi hang động là một thị tộc cư trú bao gồm nhiều gia đình nhỏ với vợ chồng, con cái. Dấu tích bếp lửa ở giai đoạn được tìm thấy có quy mô nhỏ hơn giai đoạn trước và số lượng cũng tăng hơn. Kinh tế hái lượm ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong đời sống, bởi vậy, vai trò và vị trí của người phụ nữ ngày càng được nâng cao. Với môi trường sinh sống gần sông, suối, khai thác thức ăn đa nguồn, định cư lâu dài, cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã chuyển từ cuộc sống hái lượm – săn bắt sang thu hoạch định kỳ theo mùa. Ðó là mầm mống sơ khai của nền kinh tế sản xuất nông nghiệp: người ta bắt đầu chăm sóc và trồng trọt một số loài cây có củ, quả như rau, đậu, bầu bí… và thuần dưỡng chó. Những quan niệm tôn giáo sơ khai, mầm nghệ thuật – sự tìm kiếm cái đẹp cũng nảy sinh trong quá trình lao động kiếm sống và vui chơi giải trí. Ðó là những thành quả sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội của cư dân văn hoá Hoà Bình xứ Thanh và với thành quả ấy, họ đã thực sự góp phần vào cách mạng đá mới. Sau hơn 70 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam cũng như ở Thanh Hoá đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về lịch sử Thanh Hoá thời đại đồ đá mới: đó là sự phát triển liên tục, nội tại từ cư dân văn hoá núi Ðọ đến Sơn Vi và văn hoá Hoà Bình.

Tại Thanh Hoá, dấu vết văn hoá Bắc Sơn đã được phát hiện trong các lớp văn hoá muộn của các di chỉ mái đá Thạch Sơn, mái đá chòm Ðồng Ðông, hang Lộc Thịnh, mái đá Ðiều, hang Mỹ Tế, mái đá làng Bon, làng Ðiền Hạ III… và đặc biệt rõ ở hang Con Moong- thuộc lớp trên cùng, có niên đại khoảng 7.000 năm cách ngày nay. Chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá cũng như ở nơi khác, đã đưa kỹ thuật chế tác công cụ bằng đá đến trình độ cao: họ đã biết và phổ biến kỹ thuật mài đá. Ðã tìm thấy trong các di chỉ Bắc Sơn ở Thanh Hoá những bàn mài bằng sa thạch bên cạnh rất nhiều chày nghiền, bàn nghiền. Những chiếc rìu mài lưỡi Bắc Sơn ra đời đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề nông đã thai nghén từ văn hoá Hoà Bình. Nhưng thành tựu kĩ thuật lớn nhất của cư dân văn hoá Bắc Sơn là phát minh ra đồ gốm. Mặc dù còn rất thô sơ về chất liệu, hình dáng, hoa văn, độ nung còn thấp, nhưng cũng đã tạo cho nền kinh tế sản xuất sơ khai của chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá phát triển hơn hẳn nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của văn hoá Hòa Bình. Tuy nhiên kinh tế sản xuất chưa thể chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống của người Bắc Sơn. Hái lượm và săn bắn vẫn đóng vai trò chính trong đời sống của họ: trong các hang động nơi họ cư trú, tầng văn hoá vẫn chất đầy vỏ nhuyễn thể và xương cốt động vật (lớp văn hoá Bắc Sơn ở Con Moong – lớp trên cùng- có độ dày từ mặt đất từ 0,2m – 1,2m, đã thu được tới 60m 3 vỏ nhuyễn thể). Xã hội người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá đã phát triển chế độ thị tộc mẫu hệ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất, người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ngày càng lệ thuộc vào thành quả của hoạt động hái lượm và chăm sóc cây trồng. Ðó là những công việc chủ yếu do phụ nữ đảm nhận và ngày càng nắm vị trí chủ đạo trong kinh tế; vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao.

Vào hậu kì thời đại đồ đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 – 7.000 năm, sau nhiều đợt biển tiến, biển lùi, sang kỷ Hôlôxen, đồng bằng sông Mã đã hình thành tương đối ổn định với tài nguyên phong phú, đầy hấp dẫn, đã lôi cuốn chủ nhân văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn ở vùng núi rời khỏi các hang động – nơi cư trú hàng ngàn năm, tiến xuống khai phá miền đồng bằng trước chân núi. Nền nông nghiệp trồng lúa nước ra đời. Cùng với dân cư văn hoá Hạ Long ở phía Bắc, văn hoá Quỳnh Văn ở phía Nam, người nguyên thuỷ ở Thanh Hoá làm nên một nền văn hoá Ða Bút độc đáo, làm phong phú thêm diện mạo văn hoá của các bộ lạc nguyên thuỷ sinh sống trên toàn cõi Bắc Việt Nam.

Văn hoá Ða Bút: Theo hiểu biết hiện nay, văn hoá Ða Bút gồm hệ thống các di chỉ Ða Bút (xã Vĩnh Tân), Bản Thuỷ (xã Vĩnh Thịnh), làng Còng (xã Vĩnh Hưng) thuộc huyện Vĩnh Lộc, cồn Cổ Ngựa (xã Hà Lĩnh, huyện Hà Trung) và gò Trũng (xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc). Khai quật và nghiên cứu hệ thống di chỉ này, các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng chủ nhân của văn hoá Ða Bút theo quá trình lùi dần của biển, ngày càng chiếm lĩnh vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá. Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ văn hoá Ða Bút cho thấy cư dân nguyên thuỷ giai đoạn này đã bước vào thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ phát triển. Nhờ nông nghiệp lúa nước được đẩy mạnh, đời sống đã ổn định, dân số tăng nhanh, đồng thời các nghề thủ công phục vụ sản xuất nông nghiệp và đánh cá được mở rộng.

Năm 156, Chu Ðạt, người huyện Cự Phong (nay là thôn Phú Hào, xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn) chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cự Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia và Như Xuân, Như Thanh ngày nay) giết chết huyện lệnh rồi tiến công Tư Phố, giết chết thái thú nhà Ðông Hán, lực lượng có đến 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160.

Từ năm 220, Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Ðông Ngô (một trong 3 nước thời Tam Quốc), trong xứ không kể Nghệ An, Hà Tĩnh, có chừng 3 vạn hộ. Bà Triệu tức Triệu Thị Trinh, người Quân Yên (huyện Yên Ðịnh), 20 tuổi; lập căn cứ ở Núi Nưa (Triệu Sơn), hội quân với 3 anh em họ Lý ở Bồ Ðiền (tức Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc) cùng tiến đánh quận sở Tư Phố đại thắng. Hầu hết các huyện lỵ, thành ấp ở Cửu Chân, Cửu Ðức, Nhật Nam (2 quận nay là vùng Nghệ Tĩnh – Quảng Bình) bị nghĩa quân đánh hạ, các thái thú, huyện lệnh và huyện trưởng bị giết… nền đô hộ của nhà Hán ở Giao Châu hơn 330 năm bị lật đổ.

Mùa xuân 542, Lý Bí – mẹ đẻ là người Cửu Chân, khởi nghĩa thắng lợi, lập ra nước Vạn Xuân xưng là Lý Nam Ðế. Nhà Lương đàn áp, Lý Thiên Bảo là anh ruột Lý Bí rút về Dã Năng (huyện Bá Thước ngày nay) xưng là Ðào Lang Vương tiếp tục kháng chiến. Sau đó Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay tức là Hậu Lý Nam Ðế. Năm 556, Lý Phật Tử đánh nhau với Triệu Việt Vương – Triệu Quang Phục – người tiếm ngôi của Lý Bí và là người đánh bại quân đội nhà Lương ở đầm Dạ Trạch (tỉnh Hưng Yên ngày nay).

Lê Ngọc (còn gọi là Lê Cốc) cùng với 4 người con lật đổ quan cai trị của nhà Tuỳ (Trung Quốc) đóng ở Ðông Phố (tức Ðồng Pho, xã Ðông Hoà, huyện Ðông Sơn ngày nay), gọi là kinh đô Trường Xuân, tự quản Cửu Chân chống lại nhà Ðường cho đến đầu thế kỷ VI. Ðến thế kỷ VII, Cửu Chân gồm 6 huyện có 16.100 hộ (quận Giao Chỉ có 30.000 hộ) khoảng 84.000 nhân khẩu, thuộc xứ An Nam (tên An Nam thay cho Giao Châu bắt đầu từ đây). Quận sở là Ðông Phố (tức là Ðồng Pho). Năm 759, quân Mã Lai cướp phá Châu Ái (tên gọi Cửu Chân từ năm 523) bị quan cai trị là Trương Bá Nghi tiêu diệt. Năm 797, quân Mã Lai lại cướp phá Châu Ái nữa, xây cả thành, lập nước, nhưng bị quan cai trị là Trương Châu đánh đuổi, san phẳng thành trì thu hồi mọi của cải. Thế kỷ IX, Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo đã rất phát đạt ở Châu Ái. Ðạo Nho có anh em Khương Công Phụ, đỗ Tiến sỹ làm quan đến Tể tướng triều đình nhà Ðường, đạo Lão biến các hang động đẹp nhất ở khắp Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn làm nơi tu tiên và đạo Phật có các Ðại hoà thượng như Trí Hành và Ðại Thăng Ðăng sang tận Trung Quốc để hành đạo.

Dương Ðình Nghệ, chính khách quan trọng nhất thế kỷ X của lịch sử Việt Nam, thu hút hơn 3.000 người làm vây cánh ở làng Giàng, Tư Phố (nay là đất các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa), trong đó có Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng… Tháng 3 năm 931, Dương Ðình Nghệ đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán (Trung Quốc), tiêu diệt viện binh Nam Hán, tự lập làm tiết độ sứ, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ hơn 1.000 năm của người Trung Quốc ở Việt Nam. Từ Dương Ðình Nghệ, Việt Nam xác định lại được quốc thống của một đất nước độc lập hoàn toàn.

Mùa đông năm 938, Ngô Quyền đem quân đội Cửu Chân tiến ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn – kẻ phản bội họ Dương ở Ðại La (Hà Nội ngày nay), rồi cản phá quân Nam Hán là Lưu Hoàng Thao trên sông Bạch Ðằng, lên ngôi vua tức Ngô Vương Quyền. Thời 12 sứ quân, Cửu Chân nằm trong vòng kiểm soát của Ðinh Bộ Lĩnh ở miền Ðông và của Ngô Xương Xí – cháu nội Ngô Quyền, ở Bình Kiều (đất vùng Triệu Sơn ngày nay) tức miền Tây lãnh thổ.

Năm 979 – 980, Lê Hoàn trấn áp xong quân chống đối của Nguyễn Bặc và Ðinh Ðiền ở vùng sông Tống (vùng đất huyện Hà Trung ngày nay) lên ngôi vua. Năm 981, ông đánh tan quân xâm lược nhà Tống, và năm 982 đánh thắng quân Chiêm Thành. Năm 982, nhà vua cho nạo vét các sông ngòi, đào kênh nối liền hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng cho đến vùng đất tỉnh Nghệ An ngày nay, thành một đường giao thông thuận tiện đầu tiên ở Cửu Chân và ở cả đất nước Ðại Cồ Việt. Người chỉ huy đào các kênh này là Ðào Lang, làng Bùi Ðỉnh (xã Yên Trung huyện Yên Ðịnh ngày nay). Từ năm 999 đến năm 1005, các vua thời Tiền Lê phải trực tiếp điều quân bình định miền viễn Tây Thanh Hoá nhưng chưa ổn.

Từ đầu triều đại nhà Lý 1009 đến 1028, lúc đầu Lý Thái tổ đặt tên gọi Trại Ái Châu. Đến năm 1029, dưới triều vua Lý Thái Tông, năm Thiên Thành thứ hai đặt tên Phủ Thanh Hóa. Từ đó các triều đại tiếp theo lúc gọi phủ, lúc gọi lộ, lúc gọi trấn và gọi là tỉnh Thanh Hóa vào thời nhà Nguyễn.

Tên Hóa có lúc lại đổi thành Hoa, rồi lại trở lại Hóa; đến đời vua Thiệu Trị, triều đại nhà Nguyễn (1841), nhà vua có một chỉ dụ đại ý nói: Thanh Hóa là một tên cổ, do các triều đại trước đã định danh, vì vậy không có lý do gì đổi tên này, mà phải giữ nguyên tên gọi tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 12/7/2017, tại kỳ họp thứ ba, HĐND tỉnh khóa XVII đã quyết nghị lấy năm 1029 là năm ra đời Danh xưng Thanh Hóa với tư cách đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo sự phấn khởi, lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Tháng giêng năm Thiệu Long thứ 15 nhà Trần (năm 1272), Lê Văn Hưu, người làng Bồi Lý (xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá ngày nay) dòng dõi Lê Lương, soạn xong Ðại Việt sử ký toàn thư – bộ sử hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta.

Lê Văn Hưu được tôn là ông tổ ngành sử học của Việt Nam. Ðầu năm 1285, kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, ở Thanh Hoá, quân đội nhà Trần do Trần Kiên, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ huy chống giữ cầm chân giặc, ở các điểm Yên Duyên (xã Quảng Hùng), núi Ðá Chẹt (Quảng Lĩnh), Văn Trinh (Quảng Hợp), Bố Vệ (thành phố Thanh Hoá), Phú Tân (Hà Toại), Nga Lĩnh, Quang Lộc, Liên Lộc, chiến sự rất dữ dội. Sau khi tướng Nguyên: Toa Ðô tiến được ra sông Hồng thì Hưng Ðạo Vương lại đem 2 vua Trần rút vào Thanh Hoá (ở các vùng Nga Sơn, Hà Trung, Thạch Thành ngày nay) để bảo toàn đầu não. Ðến tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hoá, Hưng Ðạo Vương tiến quân ra Bắc quét sạch quân Nguyên Mông khỏi bờ cõi Ðại Việt. Năm 1370, dòng họ Lê ở Ðại Lại (Ðò Lèn, Hà Ngọc huyện Hà Trung) do Lê Liêm dẫn đầu hội quân Thanh Hoá tiến ra Thăng Long phế bỏ người tiếm ngôi Dương Nhật Lễ, lập lại nhà Trần bằng vua Trần Phủ – tức Trần Nghệ Tôn – nhà Trần từ đây thiên vào Thanh Hoá. Năm 1378, quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hoá bị quan quân nhà Trần trấn giữ đánh bại. Năm 1380, quân Chiêm Thành do đích thân vua Chế Bồng Nga chỉ huy lại vào cướp Thanh Hoá bị Hồ Quý Ly đánh bại ở cửa sông Ngu (tức Lạch Trường, Hoằng Trường ngày nay). Năm 1382, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, bị Nguyễn Ða Phương đánh bại ở cửa Thần Ðầu (tức Thần Phù, huyện Nga Sơn ngày nay). Năm 1389, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, Hồ Quý Ly chống không nổi phải bỏ chạy. Quân Chiêm Thành tiến ra Bắc. Năm 1390, tướng chỉ huy nhà Trần ở Thanh Hoá là Trần Khát Chân cản phá được quân Chiêm Thành, giết chết Chế Bồng Nga, chấm dứt vĩnh viễn sự quấy rối của các vua Chiêm Thành.

Mùa xuân năm 1397, xây dựng xong thành đá Tây Giai ở động Thiên Tôn (nay là đất xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc). Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua ở thành này, thay nhà Trần, đổi tên nước là Ðại Ngu (nghĩa là rất an vui và cùng lo việc nước), bỏ kinh đô Thăng Long, lấy thành đá mới làm quốc đô gọi là Tây Ðô. Nhà Hồ phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng đúc từ năm 1396, đến năm 1400 định lại giá kim ngạch cho thêm chặt chẽ. Năm 1402, nhà Hồ hoàn thành việc xây dựng con đường Thiên Lý từ Tây Ðô ra Ðông Quan (tức Thăng Long cũ) và từ Tây Ðô vào Hoá Châu (vùng Quảng Bình ngày nay) dọc đường đặt nhà trạm, phố xá và bưu dịch có hệ thống. Sau một năm chiến đấu ngoan cường nhưng thất bại, năm 1407, nhà Hồ và nước Ðại Ngu mất vào tay quân xâm lược nhà Minh.

Mùa xuân, tháng Giêng ngày mồng 2 năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với những người tài giỏi trong cả nước khởi nghĩa ở Mường Chính (nay là huyện lỵ Lang Chánh) tiến về Khả Lam (tức Lam Sơn) bắt đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) giải phóng đất nước. Lê Lợi xưng là Bình Ðịnh Vương, người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân). Bình Ðịnh Vương chiến đấu ở Thanh Hoá 6 năm, các trận đánh lớn diễn ra ở Lam Sơn, Mường Một (vùng Bát Mọt, huyện Thường Xuân ngày nay), Mường Chính, Bến Bổng (vùng thượng du sông Âm), Ba Lẫm (vùng Chiềng Lẫm, huyện Bá Thước ngày nay), Kình Lộng (vùng Cổ Lũng, huyện Bá Thước), Úng Ải (vùng đèo Thiết Ống, huyện Bá Thước), Sách Khôi (ở khoảng giữa huyện Bá Thước và huyện Hoàng Long – Ninh Bình và huyện Thạch Thành – Thanh Hoá), Ða Căng (vùng Thọ Nguyên, Thọ Xuân), có trận phía địch có tới 10 vạn quân như ở Kình Lộng. Mùa đông năm 1424, Bình Ðịnh Vương tiến quân vào Nghệ An theo kế sách của Nguyễn Chích. Mùa thu năm 1426, quân khởi nghĩa tiến ra Bắc bao vây Ðông Quan. Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), Bình Ðịnh Vương đến Lỗi Giang (vùng đất các huyện Thạch Thành, Vĩnh Lộc ngày nay) chỉ huy bao vây Tây Ðô. Cuối năm 1426, Bình Ðịnh Vương ra Bắc chỉ huy giải phóng các miền đất Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), và vây hãm thành Ðông Quan. Ngày 22 tháng 01 năm Ðinh Mùi (1427), giặc Minh đầu hàng. Mùa xuân năm sau – giặc rút về, đất nước sạch bóng quân thù, thành Tây Ðô lại về Ðại Việt. Ngày 15 tháng giêng năm Mậu Thân (1428), Bình Ðịnh Vương lên ngôi hoàng đế nước Ðại Việt, thủ đô là Ðông Kinh (tức Ðông Quan, thủ đô Hà Nội ngày nay). Cả nước chia làm 3 đạo hành chính lớn, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây trong số các trấn ven biển Tây Ðô.

Tháng 11 – Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ về bái yết Sơn Lăng, Lam Sơn, sau 10 năm chiến đấu giành độc lập cho đất nước thắng lợi. Mùa Hè năm Canh Tuất (1430) đổi Tây Ðô làm Tây Kinh và Ðông Ðô (Hà Nội) làm Ðông Kinh. Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Thái Tổ mất, một tháng sau đem về an táng ở Lam Sơn, gọi nơi an táng là Vĩnh Lăng. Tháng 12 năm Quí Sửu (1433) xây dựng điện Lam Sơn (gọi là Lam Kinh). Ngày 7 tháng 01 Giáp Dần (1434), điện Lam Kinh bị cháy (cháy lần thứ nhất). Tháng 9 Mậu Thìn (1448): xây dựng lại Lam Kinh do Thái uý Trịnh Khả chỉ huy. Từ Mậu Ngọ (1438) đến Mậu Tý (1468), 3 lần khơi đào các kênh trong xứ Thanh Hoá. Năm Bính Tý, tháng 4 (1516), Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực, lập vua Lê Chiêu Tông rước về Tây Kinh.

Họ Mạc cướp ngôi vua Lê ở Thăng Long. Quan Ðiện tiền tướng quân là Nguyễn Kim – người Hà Trung lập căn cứ ở Thanh Hoá chống lại họ Mạc. Năm 1533 (Quí Tỵ), ông này đưa được Lê Ninh (con vua Chiêu Tông) lên ngôi tức Lê Trang Tông đánh chiếm Tây Kinh (1545) thắng lợi. Ðến năm 1545 (Ất Tỵ), Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm lên thay, đánh nhau nhiều trận lớn với họ Mạc ở Thanh Hoá, 17 lần quân Mạc đều thua.

Từ năm 1533 đến 1592, triều đình nhà Lê ở Thanh Hoá, quản lý đất nước từ Thanh Hoá trở vào, đóng đô ở Yên Trường (nay thuộc Yên Ðịnh) mở nhiều khoa thi, chọn người hiền tài tham gia chính quyền. Năm 1593, Trịnh Tùng – con trai Trịnh Kiểm, kế tục cha tiêu diệt họ Mạc, đưa vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long, lập phủ chúa, Ðàng Ngoài do vua Lê – Chúa Trịnh trị vì từ năm 1599. Trong thời đó, năm 1588, Nguyễn Hoàng (con trai của Nguyễn Kim) vào trấn thủ xứ Thuận Hoá, mở đầu sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở Ðàng trong. Năm 1738, Lê Duy Mật (con vua Lê Dụ Tông Duy Ðường) khởi nghĩa chống Chúa Trịnh, địa bàn hoạt động rộng khắp Tây Nam, Tây, Tây Bắc Thanh Hoá và vùng Tây Bắc lẫn Tây Bắc Bộ. Năm 1770, Duy Mật bị con rể phản bội phải thua và tự sát với vợ con, chấm dứt 32 năm chiến đấu. Từ năm 1557 đến 1786, Thanh Hoá bị 10 trận bão lụt lớn xen đại hạn, 15 lần đói to chết nhiều người và 16 cuộc chiến giữa quân Trịnh – Mạc, những tai hoạ ấy không hề có ở thời Lê sơ.

Những năm quân Tây Sơn tiến công ra Bắc, quân dân Thanh Hoá do Lê Trung Nghĩa (tức Quận Mãn) chỉ huy chống lại rất dữ dội, Lê Trung Nghĩa tử trận ở Tĩnh Gia.

Quân đội Tây Sơn phá huỷ hoàn toàn Lam Kinh và kinh đô An Trường biểu tượng của các vua Lê và còn phá huỷ nhiều chùa chiền miếu mạo khác. Năm 1790, con vua Quang Trung là Quang Bàn được cử ra trấn thủ Thanh Hoá. Năm 1792, ông tách ra 2 phủ Trường An và Thiên Quan của Thanh Hoa ngoại thành trấn Thanh Bình (tức Ninh Bình ngày nay).

Ðặc biệt, triều đình ra lệnh không được đào bới khai mỏ gì ở Thanh Hoá sợ rằng xúc phạm đến oai linh của xứ sở. Nhà Nguyễn xây lăng tổ khai sáng ở Triệu Tường (Hà Trung), thành Triệu Tường lớn thứ 2 sau thành Thanh Hoá, chu vi 182 trượng (1 trượng = 4m), xây dựng lại Lam Kinh để tỏ lòng kính ngưỡng nhà Lê, dựng đền thờ các vua Lê ở Kiều Ðại (TP Thanh Hoá), hằng năm cắt cử các quan lại thay mặt nhà vua cúng tế và tổ chức phòng thủ ở Thanh Hoá rất hùng mạnh gồm một hệ thống 11 đồn binh có quân chính qui trấn giữ 7 bảo súng (pháo đài), 1 đồn thuỷ với 44 khẩu đại bác (súng thần công) mỗi đợt tuyển quân lấy của Thanh Hoá hơn 7.000 người. Ngày 25/11/1885, quân xâm lược Pháp lần đầu tiên tiến công Thanh Hoá. Trước đó, ngày 5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi tuyên bố chọn Thanh Hoá làm thủ phủ kháng chiến, nên tinh thần Cần Vương của quân dân Thanh Hoá rất sôi sục. Vùng rừng núi Thanh Hoá được xây dựng những sơn phòng tích trữ tiền của, lương thảo để chuẩn bị đánh giặc. Ba tháng sau (12/3/1886), nghĩa quân Cần Vương đã tiến đánh quân Pháp đóng ở thành Thanh Hoá. Mùa hè năm 1886, nghĩa quân lập bộ chỉ huy kháng chiến toàn Thanh Hoá do Tống Duy Tân đứng đầu và lập chiến khu ở Ba Ðình (Nga Sơn). Từ 18/12/1887, chiến sự dữ dội nhất giữa quân Việt Nam và Pháp đã nổ ra ở Ba Ðình. Quân Pháp phải tập trung trên địa bàn một số xã ở đây lượng binh lính lớn nhất so với toàn quốc (6.000 người trong một trận) để chiến đấu và bị thiệt hại nặng nề. Cuối cùng vì không được tiếp ứng như kế hoạch dự kiến, nghĩa quân do Ðinh Công Tráng chỉ huy đã rút lui an toàn khỏi các chiến luỹ. Ngày nay quảng trường trọng đại nhất của đất nước mang tên chiến khu này, đó là quảng trường Ba Ðình lịch sử ở thủ đô Hà Nội. Các cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp ở Thanh Hoá đến giữa năm 1895 mới chấm dứt cùng với hàng ước của nhà Nguyễn. Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung Việt Nam vẫn nằm trong nền độc lập hạn chế của nhà Nguyễn không bị Pháp cai trị trực tiếp. Thực tế chính quyền thuộc địa Pháp chỉ cai quản địa phận thị xã Thanh Hoá được thành lập ngày 12/7/1899 ở khu đất phía Ðông thành Thanh Hoá mà thôi. Năm 1918, chế độ thi cử tuyển hiền tài, kiểu Nho giáo ở Thanh Hoá mới bãi bỏ. Thanh Hoá bắt đầu hình thành xã hội phong kiến nửa thuộc địa hiện đại hoá.

Các năm 1926 – 1927, các tổ chức cách mạng đầu tiên ở Thanh Hoá ra đời. Ngày 25/6/1930, chi bộ Ðảng Cộng sản đầu tiên thành lập ở làng Hàm Hạ (thuộc xã Ðông Tiến, huyện Ðông Sơn), và ngày 29/7/1930, đã thành lập Ðảng bộ tỉnh, Bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên là đồng chí Lê Thế Long.

Tháng 9/1942, Tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hoá thành lập. Ngày 24/7/1945, nhân dân huyện Hoằng Hoá giành chính quyền huyện thắng lợi. Ngày 19/8/1945, nhân dân thành phố Thanh Hoá và một số huyện tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi. 4 ngày sau, cách mạng thành công trên toàn tỉnh. Ngày 23/8/1945, chính quyền cách mạng tỉnh Thanh Hoá ra mắt đồng bào ở thị xã Thanh Hoá. Ngày 2/9/1945, Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cùng với cả nước, lịch sử Thanh Hoá bước vào thời kỳ phát triển mới. Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hoá đã ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam. Thanh Hoá là nơi phát tích của các vương triều: Tiền Lê, Hậu Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, triều Nguyễn. Trong sự nghiệp cách mạng ngày nay, người dân xứ Thanh cũng góp phần xứng đáng đối với cả nước để xây dựng quê hương mình nhanh chóng trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh./.

【#7】Cổng Thông Tin Giao Tiếp Điện Tử Huyện Sông Lô

Huyện Sông Lô tươi đẹp, giàu trầm tích văn hóa còn lưu giữ được một kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú, đặc sắc, trong đó có lễ hội chọi trâu Hải Lựu.

Theo những ghi chép trong thư tịch cổ và các bản ngọc phả đời Lê Trung Hưng, mục “Phong tục” trong sách Đạo Nam nhất thống chí đời Nguyễn, sách Đồng Khánh dư địa chí và gần nhất là Địa chí tỉnh Vĩnh Yên cùng với truyền thuyết dân gian lưu truyền thì lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu xuất hiện từ thế kỷ II trước Công nguyên (TCN) nghĩa là cách ngày nay khoảng 2.200 năm, vào đầu thời kỳ Bắc thuộc. Khi đó, tướng Lộ Bác Đức nhà Hán đem quân xâm lược nước Nam Việt của Triệu An Dương Vương. Thừa tướng Lữ Gia (? – 111 TCN) quê gốc xứ Nghệ An, là một tướng tài của triều đình đã rút khỏi kinh đô Phiên Ngung (thuộc Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) về xây dựng căn cứ kháng chiến ở núi Long Động (nay thuộc huyện Sông Lô) chống lại quân Hán xâm lăng trong hơn 10 năm trời, từ 124 – 111 TCN). Suốt thời gian này, thừa tướng Lữ Gia đã lãnh đạo các thổ hào và Nhân dân đánh cho quân Hán nhiều trận thất điên bát đảo. Tiêu biển nhất, lớn nhất là trận đánh trên Sông Lô năm 111 TCN. Sau khi ông mất, đã được dân các làng Bạch Lưu Hạ, Hải Lựu tôn làm thành hoàng làng, đời vua Lê Thánh Tông đã ban sắc phong tặng ông mỹ tự “Áp quốc bảo thiên chiêu, ứng chí dũng đại vương”.

Chuyện xưa kể rằng, để động viên tinh thần binh sĩ và nhân dân khi thắng trận, thừa tướng Lữ Gia đã mở ra trò đấu ngưu rồi cho mổ trâu khao quân sĩ. Từ đó dần trở thành tục hội truyền thống của địa phương.

Nói về xuất xứ lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu, truyền thuyết dân gian còn kể rằng: Vào một buổi sáng tinh sương, trên bến sông Lô người dân bỗng thấy xuất hiện hai con trâu trắng khổng lồ đánh nhau rất dữ dội không phân thắng bại làm náo động cả một vùng. Dân làng gọi nhau ra xem rất đông, hai con trâu trắng đánh nhau quyết liệt rồi cùng nhảy xuống sông biến mất. Nơi diễn ra trận đánh của hai con trâu trắng dân gian gọi là bến Ảnh, còn làng được gọi tên là Bạch Ngưu (để nhắc nhớ về tích truyện trâu trắng xa xưa). Về sau, để kiêng húy, dân làng gọi chệch, nói trại đi thành Bạch Lưu.

Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu có lịch sử phát triển chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất là thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến năm 1947. Đây là giai đoạn hình thành và phát triển lâu dài của lễ hội.

Giai đoạn thứ hai tính từ năm 1947 đến năm 2002, đây là giai đoạn lễ hội tạm dừng do yếu tố lịch sử.

Giai đoạn thứ ba là từ năm 2002 đến nay, là giai đoạn lễ hội được phục dựng và phát triển với quy mô ngày càng hoàn chỉnh.

Ngày xưa lễ hội chọi trâu làng Bạch Lưu Hạ được tổ chức làm 2 đợt với số lượng từ 16 đến 20 trâu. Đợt 1 tổ chức chọi trâu vào ngày 28 tháng Chạp năm trước, đợt hai vào ngày 17 tháng Giêng năm sau, địa điểm tại sân đình Kiêng ở thôn Gò Dùng, có bãi đất rộng bằng phẳng, cũng là nơi diễn ra lễ hạ điền cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tốt tươi vào dịp đầu xuân.

Để chuẩn bị cho ngày hội, từ trước đó, làng quy định mỗi suất đinh trong làng phải đóng góp 10 chiếc cọc gỗ hoặc cọc tre, gọi là cọc thạc để dựng hàng rào bao quanh sới chọi trâu, đảm bảo an toàn cho người xem hội. Mỗi chiếc cọc thạc dài khoảng 2,5m, đường kính từ 8 – 10cm. Cọc được chôn sâu từ 40 đến 60cm, khoảng cách giữa cọc nọ với cọc kia được áng sao cho vừa phải, liên kết giữa các cọc với nhau bằng hai hàng sáo nẹp trên và dưới, phía ngoài bờ rào còn gia cố thêm những chiếc cọc chống để rào chắn thêm vững chắc. Sới chọi trâu được bố trí hai cửa cho trâu vào sới ở hướng Tây và hướng Đông gọi là cửa Tây và cửa Đông. Nhân dân đứng xem phía ngoài rào chắn. Do biến cố lịch sử, đặc biệt là ảnh hưởng từ chiến tranh, đến nay ngôi đình Kiêng không còn nữa.

Phần lễ và phần hội trong hội chọi trâu ngày xưa đan xen lẫn nhau và trải dài từ tháng 8 âm lịch năm trước đến tháng Giêng năm sau.

Để có trâu chọi, khoảng từ giữa năm trước, người nuôi trâu phải chọn tìm trâu, đưa về nuôi nấng, chăm sóc, huấn luyện… Tìm được trâu đạt chuẩn rồi, phải làm lễ trình trâu. Người nuôi trâu sắm lễ vật gồm ván xôi, con gà trống thiến, trầu cau, rượu trắng, nước. Các giáp chọn cử ra 16 bô lão gọi là “Bốn bàn các cụ” cùng chủ trâu đưa lễ vật và trâu ra đình làm lễ trình thánh. Khi làm lễ trình thánh, chủ trâu dắt trâu vào đền Lữ Gia trước bàn thờ Thánh nâng mũi trâu lên, hạ mũi trâu xuống đủ 4 lần là 4 lễ rồi đưa trâu về nhà cho ăn bánh, uống rượu. Từ đấy trở đi, chú trâu sẽ được mọi người gọi là “Ông Cầu”, theo nghĩa cầu mưa mưa thuận gió hòa, cầu mùa màng bội thu, cầu thắng trận, cầu bình an… hay còn gọi là “trâu cà thờ”.

Trâu được chọn làm trâu chọi phải hội được các tiêu chuẩn sau: phải là trâu đực (trâu cà), lông đen tuyền, không trắng lưỡi, mắt tựa ốc loa, chân to móng khép, đuôi dài chấm khoeo. “Bốn bàn các cụ” sẽ thay làng giám sát việc nuôi trâu chọi. Trâu chọi phải nuôi hãm, dùng dây thừng bện bằng tre cật vòng qua hai bên sừng trâu, rồi cố định vào văng chuồng, chạc sẹo cũng được go (buộc) chặt vào văng chuồng để cố định trâu, sao cho mõm trâu hếch lên tiện việc bón thức ăn. Chuồng nuôi trâu chọi phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ, mỗi ngày hai lần đưa trâu ra sông tắm. Tới tháng 11, làng tiến hành lễ xem trâu. “Bốn bàn các cụ” trực tiếp đo trâu: “Chủ trâu cho trâu đứng ở sân có địa hình bằng phẳng, điều khiển trâu đứng yên 2 chân trước bằng nhau, hai chân sau bằng nhau rồi lấy số đo vanh ngực trâu nhân với số đo đường chéo từ cổ đến khấu đuôi trâu ra trọng lượng trâu, kiểm tra móng gối, sừng, mắt, khoang khuays, lông mi và đuôi trâu…

Ngày nay, để bảo tồn và phát huy ý nghĩa lễ hội chọi trâu trong giai đoạn phát triển mới, Đảng ủy, chính quyền xã Hải Lựu đã xây dựng và trình duyệt các cấp có thẩm quyền Đề án đổi mới công tác quản lý và tổ chức lễ hội chọi trâu, kịch bản lễ hội chọi trâu, ra chỉ định quyết định thành lập Ban chỉ đạo tổ chức lễ hội và ra kế hoạch tổ chức lễ hội. Ban chỉ đạo lễ hội xã chỉ đạo thành lập các ban chỉ đạo lễ hội cấp thôn, đồng chí Bí thư chi bộ thôn làm trưởng ban, đồng chí trưởng thôn làm trưởng ban tổ chức triệu tập nhân dân trong thôn bầu ra nhóm hộ đại diện góp tiền mua và nuôi trâu. Nhóm hộ này bầu chọn ra một hộ là gia đình văn hóa có kinh nghiệm chọn mua, chăm sóc, huấn luyện trâu chọi. Khi mua trâu về, ban tổ chức lễ hội ở các thôn cùng với gia chủ có trâu tham gia lễ hội phải báo cáo Ban tổ chức lễ hội chọi Trâu xã ghi vào sổ theo dõi, chọn ngày tốt rước trâu lên Đền thờ Thành Hoàng làng (Đền thờ Thừa tướng Lữ Gia) tại xứ Mả Đàm thôn Gò Dùng làm lễ trình báo thánh (lễ trình thánh). Từ đây, trâu được gọi là “Ông Cầu”.

Giai đoạn nuôi trâu, chăm sóc và huấn luyện trâu rất công phu, tỉ mỉ; vất vả hơn rất nhiều lần so với nuôi trâu cày, trâu lấy thịt. Trâu chọi được nuôi ở chuồng riêng, dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ thường xuyên, mỗi ngày tắm 2 lần, đảm bảo cho trâu không bị lạnh về mùa đông, bị nóng vào mùa hè. Thức ăn cho trâu phải đầy đủ về chất lượng, số lượng như khoai, sắn, ngô, cám, gạo, mía, cỏ mật, cỏ voi,… trâu được ăn no, ăn nhiều lần trong ngày, đêm phải dậy cho trâu ăn uống, đi vệ sinh. Trong quá trình nuôi dưỡng trâu chọi, các chủ trâu phải huấn luyện, tập cho trâu những miếng đánh và làm quen với chốn đông người, với không khí cờ hoa, trống chiêng của lễ hội; lại phải tìm gò, bãi đất cao để làm chỗ cho trâu tập húc, luyện sừng. Gần đến ngày hội, chủ trâu cùng nhóm hộ tổ chức dắt trâu ra sới chọi để trâu làm quen sân, bãi, trống chiêng để tránh cho trâu không bị hoảng hốt khi vào sới chọi ngày hội.

Ngày xưa việc nuôi trâu giao cho các giáp đảm nhiệm, vì có sự chênh lệch về nhân đinh giữa các giáp nên số trâu chọi từng giáp được giao nuôi khác nhau. Giáp Đông và giáp Nam có số nhân đinh nhiều nên mỗi giáp nuôi 06 con; Giáp Bắc và giáp Tây mỗi giáp nuôi 02 con. Mỗi giáp lại căn cứ vào ngày giờ sinh của các nhân đinh trong giáp mà phân bổ nuôi trâu theo thứ tự: Ai sinh trước nuôi trâu trước, sinh sau nuôi trâu sau. Trước khi đưa trâu đến bãi chọi, người nuôi trâu tắm rửa cho trâu thật sạch sẽ. Trâu được đánh vòng bằng thừng tre ở mũi đẻ thay sẹo. Người dắt trâu mặc lễ phục áo dài thắt lưng đai, ngoài ra còn có vài người đi hộ tống, mỗi người cầm 01 ngoặc dài bằng tre để ngoặc vào vòng ở mũi trâu, điều khiển trâu. Khi đưa trâu đến sới chọi ai có trâu người đó giữ, có khi phải dùng vải để bịt mắt để trâu không nhìn thấy nhau.

Sau khi ông xã Đoàn phát loa tuyên bố: “Đông – Tây – Nam – Bắc” ai có trâu vào chọi thì trống, kèn, cồng, chiêng, thanh la, tù và nổi lên rộn ràng cùng tiếng hò reo của khán giả vang động cả vùng trời, sung quanh sới chọi và trước cửa đình Kiêng cờ ngũ sắc bay phấp phới. theo thể lệ. Đầu tiên trâu giáp Đông chọi với trâu giáp Tây, trâu nào thằng thì chọi với trâu giáp Bắc giáp Nam.

Vào hội, từ ngày 15 tháng Giêng, làng thực hiện nghi thức tế lễ tại đền thờ thành hoàng làng (Thừa tướng Lữ Gia). Từ trước đó, ban tổ chức lễ hội đã chuẩn bị đầy đủ các vật dụng, đồ thờ, gồm đẳng tế, cây quán tẩy, chấp kích, bảng chúc văn, chiếu tế, âm nhạc… Thành phần đoàn tế có 15 người: Chủ tế, đông xướng, tây xướng, chấp sự, bồi tế, nội tán, thủ kiệu. Cũng trong ngày, ban tổ chức lễ hội cử một đoàn đại diện cho dân xã dâng hương Quốc Tổ Hùng Vương tại Đền Hùng, dâng hương Quốc Mẫu Âu Cơ tại đền Quốc Mẫu để kính cáo tổ tiên, ôn nhớ lịch sử nguồn cội, và trình xin được mở hội Chọi trâu. Buổi tối cùng ngày, làng xã tổ chức liên hoan, giao lưu văn nghệ ở nhà văn hóa xã. Có cả những đội văn nghệ, đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trong tỉnh ngoài huyện cùng về tham dự rất náo nhiệt, vui vẻ.

Từ mờ sớm ngày 16 tháng Giêng, hàng ngàn vạn du khách từ các nơi đã nô nức đổ về sới chọi tại gò Mả Đàm thôn Gò Dùng xã Hải Lựu. Sới chọi ngày nay đã được xây dựng kiên cố với 4 khán đài, xếp bậc từ thấp đến cao, giúp du khách tiện việc theo dõi, cổ vũ, thưởng lãm. Giờ tốt đã đến, đoàn rước lễ tập trung trước khán đài A của sới chọi, khởi hành rước lễ vòng quanh sới chọi rồi đi thẳng đến đền thờ thành hoàng Lữ Gia làm lễ tế. Đi đầu đoàn rước là đội múa sư tử với nhiệm vụ đi dẹp đường, xua đuổi các thú dữ hung ác. Tiếp theo là đội rước cờ Tổ quốc, đội rước cờ hội, đội rước hồng kỳ do các em học sinh trường THCS của xã thực hiện. Tiếp đến là kiệu bát cống rước hoa quả, bánh trưng, bánh dày. Ngay sau kiệu rước là ông Cầu (đại diện cho các ông cầu tham gia lễ hội) mình choàng tấm vải đỏ, to lớn, oai phong lẫm liệt được gia chủ dẫn đi. Tiếp theo là đoàn đại biểu đại diện Đảng ủy, chính quyền địa phương và các cụ cao tuổi… Tất cả cùng tiến vào đền thờ làm lễ dâng hương, đọc chúc văn tế thành hoàng. Xong xuôi, đoàn rước trở về sới chọi. Tại đây, ban tổ chức điều hành nghi thức chào cờ, tuyên lời khai mạc lễ hội, trao cờ lưu niệm cho các chủ trâu. Tiếng trống khai hội vang lên, dàn chống chiêng hội hoành tráng hàng chục chiếc to nhỏ do các tay trống khỏe mạnh, vạm vỡ, trong trang phục quần áo lễ hội với màu sắc rất bắt mắt cùng đồng loạt rền vang, thúc giục giờ mở màn cho các kháp (trận) đấu quyết liệt, hấp dẫn bắt đầu. Trong tiếng chiêng trống vang rền cả một vùng trời cùng tiếng reo hò cổ vũ dậy đất của khán giả, các ông Cầu thi đấu hết sức bình sinh. Mỗi ông lại có lối đánh riêng, hấp dẫn người xem. Mỗi kháp đấu đều khiến khán giả được trải nghiệm mọi cung bậc cảm xúc: hồi hộp, hưng phấn, xuýt xoa tiếc nuối hay hỉ hả thỏa mãn… Các trận đấu mang đến tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam, các “Ông Cầu” mặt đối mặt luôn dùng sức khỏe đẩy nhau, sử dụng cặp sừng to chắc đánh các miếng “hổ lao”, cáng, lắc sừng, móc sừng… Khi hai ông Cầu thi đấu, chủ trâu không được phép lại gần, trọng tài là người quyết định điều khiển trận đấu. Khi một trong hai ông Cầu bỏ chạy thì trọng tài mới ra hiệu cho chủ trâu được phép bắt trâu.

Các trận đấu khép lại vào ngày 17 tháng Giêng, ban tổ chức trao giải Nhất, Nhì, Ba cho các chủ trâu đạt giải. Các trâu thắng và trâu thua đều được sát sinht để bán lộc cho du khách và chia lộc cho các hộ trong nhóm nuôi trâu. Du khách thập phương, người dân trong vùng khi ra về ít nhiều đều mua thịt trâu chọi, xem đó là món lộc đặc biệt đầu xuân năm mới để làm quà. Ai cũng háo hức, vui vẻ, cũng hy vọng một năm mới vạn sự tốt đẹp, may mắn, ăn nên làm ra, khỏe mạnh, sung túc.

Chiều ngày 17 tháng Giêng, làng tiến hành nghi thức tế sủ trâu đoạt giải Nhất ở đền thờ thành hoàng, khép lại một mùa lễ hội văn minh, đảm bảo an toàn an ninh trật tự, an toàn thông tin, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm, không để xảy ra các tai, tệ nạn.

Lễ hội tan rồi nhưng không khí rộn ràng, phấn khởi cùng hương sắc mùa xuân mới thì như còn đọng mãi trên những gương mặt hồn hậu của người dân Hải Lựu./.

【#8】Gà Chọi Bị Kén Đầu Thì Phải Chữa Như Thế Nào

Các nguyên nhân gà chọi bị kén đầu

Các nguyên nhân khiến gà chọi bị kén đầu thường rất đa dạng, nguyên nhân chủ yếu là do quá trình vệ sinh, môi trường sinh hoạt có sự hình thành của vi trùng, vi khuẩn hoặc chế độ dinh dưỡng của gà không phù hợp. Khi gà bị thương ở đầu, có vết thương hở nhưng lại không được vệ sinh đúng cách, đây là lúc tạo điều kiện cho sự hình thành các loại vi khuẩn và làm cho dễ hình thành kén. Bên cạnh đó, chế độ dinh dưỡng của thức ăn như thiếu một số loại vitamin, sắt, hay các chất dinh dưỡng cần thiết, chế độ sinh hoạt không điều độ, đảm bảo vệ sinh thì cũng là nguyên nhân gây hình thành kén.

Nếu để lâu thì vết kén rất khó chữa trị và hồi phục, vì vậy bạn nên lưu ý nhận biết các dấu hiệu, nguyên nhân và cách chữa trị kịp thời.

Cách chữa trị gà chọi bị kén đầu

Chữa trị bằng cách mổ

Nếu gà chọi bị kén đầu dạng nước, thì bạn có thể lựa chọn phương pháp mổ. Bạn cần mổ vết kén ra và hút hết nước dịch ra ngoài để loại bỏ sự tích tụ và hình thành vi khuẩn. Bạn có thể kết hợp tiêm vào một ít dung dịch lincomycin để vết kén nhanh được phục hồi nhất. Vết kén khoảng 5 ngày sẽ khô lại và bạn chỉ cần bóc nhẹ nhàng ra là được.

Chữa trị bằng thuốc

Bạn có thể tìm mua các loại thuốc chuyên dụng trên thị trường được bày bán tại quầy thuốc thú y, các loại thuốc giảm sưng, chống viêm. Bạn có thể tham khảo loại thuốc tiêu kén gà chọi bị kén đầu của Thái Lan, thuốc tiêu kén Violet, thuốc tiêu kén dạng tiêm, dạng bôi, dạng uống.

Đối với thuốc tiêu kén dạng tiêm, bạn chỉ cần tiêm trực tiếp vào vết kén, vết kén sẽ nhanh chóng thu lại và khô, có tác dụng khá nhanh. Đối với thuốc dạng uống, bạn lấy một liều lượng thuốc phù hợp hòa với một ít nước và cho gà uống hai lần mỗi ngày. Loại thuốc này hỗ trợ rất tốt cho việc giảm sưng, phù nề, viêm nhiễm. Đối với thuốc chữa kén dạng bôi, đầu tiên bạn nên dùng nước muỗi loãng để vệ sinh vết kén sau đó để khô ráo và bôi vào chỗ kén 2 lần/ ngày.

【#9】Thợ Gà Trên Đất Bắc

Xới gà mọc lên khắp đất Bắc, kéo dài suốt từ Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, lên Lào Cai, Yên Bái… nhưng số thợ làm nước, thợ chữa gà có tiếng chỉ đếm đầu ngón tay.

Ở bộ môn đá gà đòn, thợ làm nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong mỗi trận đấu, góp phần vào sự thành bại của con gà.Những ông thợ chữa gà đòn được ví von như những nghệ nhân trong trường gà với những màn cứu gà chết thành gà sống, những kỹ năng tết mỏ, cấy cánh, sơ cấp cứu để gà đá cả ngày không biết mệt…

“Bác sĩ” gà chọi

Xứ Bắc có đến bốn mùa khác nhau, vì vậy trong thú chơi gà đòn, việc chăm bẵm những chú gà ở đất Bắc đòi hỏi kỳ công hơn rất nhiều so với giới chơi gà phía Nam. Công phu nhất là chuyện om gà, gọi nôm na là chăm bẵm cho gà trở thành một đấu sĩ chuyên nghiệp, từ chế độ ăn uống, luyện thể lực, phát huy tốt các lối đánh tuỳ theo giống gà nòi như đánh buông tát, đánh dọc, đánh mé, chạy nối đá, đá đà đao…

Đất Bắc có nhiều thợ chữa gà tài tình, nổi nhất là thợ gà Tùng “trễ” với những lời đồn nức tiếng trong giới gà chọi ba miền bởi thành tích cứu gà “chết” đi sống lại. Con gà nằm mọp tưởng toi đời, nhưng chỉ qua bàn tay của thợ gà Tùng “trễ” là bừng tỉnh lại. Thợ gà Tùng “trễ” được xếp vào hàng cao niên cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề, nhưng ở đất Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, còn có một “quái nhân” chuyên chữa gà cũng nổi danh không kém, cũng được liệt vào hàng siêu đẳng khắp xới gà đất Bắc. Đó là Luận “gà” Vĩnh Yên.

Tôi tìm đến nhà Luận “gà”. Tháng 8, tháng thay lông của những chú gà đòn xứ Bắc nên các xới gà thời điểm này hoạt động vơi dần. Thợ làm nước (hay còn gọi là thợ rửa gà) cũng đang trong giai đoạn rảnh rỗi. Ngồi trước bầy gà chọi úp đầy từ trong lồng ở sân nhà ra tận chái bếp, Luận “gà” xởi lởi, mừng ra mặt khi biết khách muốn tìm hiểu về câu chuyện chữa gà, và Luận “gà” bắt đầu kể…

“Năm nay tôi 49 rồi đấy, nhưng tám tuổi đã chơi gà đòn rồi ông ạ, vừa chơi gà, đá gà, học luôn kinh nghiệm chữa gà từ các cụ cao niên trong tỉnh… đến những năm 85 – 86 thì cả tỉnh ai cũng biết tôi chữa gà hay. Sang những năm 90, giới chọi gà Trung Quốc cũng biết tiếng tìm đến nhờ sang đất nó chữa gà”.

Chuyến đi chữa ấn tượng nhất là năm 94. Ngày người Vân Nam thuê thợ Luận đi, bao trọn gói ăn ở trong suốt 15 ngày ở đất Trung Quốc. Đến Hà Khẩu, chủ gà đưa thợ Luận đến Quế Châu cho vào ở một khách sạn riêng, 15 con gà cũng ở trong một căn phòng riêng thuê tại khách sạn.

“Sáng hôm sau, chủ gà đưa 15 con gà đi một xe riêng, tôi được rước một xe riêng tập trung tại trường gà, nhận một hộp cơm, một bao thuốc, và một chai nước. Mười giờ sáng, xới gà vào trận, tôi cứ ôm lần lượt hết con này đến con khác trong số 15 con để đá và chữa gà. Mỗi trận gà ở đất Quế Châu kéo dài hai tiếng không nghỉ, nếu gà đá huề, thì đem xử “phạt đền”, gà của mình giữ cho gà đối phương đá một cái, rồi ngược lại, cứ đá “phạt đền” đến khi con nào chạy đòn trước thì thua”, thợ Luận kể lại.

Chuyến đấy thợ Luận lo 15 con gà đá suốt từ mười giờ sáng cho đến tận ba giờ sáng hôm sau, ngồi canh bạc cả mặt, nhưng kiểu đá của Trung Quốc khác với Việt Nam, lại đá một hiệp duy nhất nên cũng đỡ nhọc công. “Chữa gà ở Việt Nam vất vả hơn nhiều”, ông Luận nói.

Chuyển bại thành thắng

Với bộ đồ nghề chữa gà nhỏ gọn, chỉ gồm vài cuộn băng keo y tế, mộcuộn chỉ, cái kéo, bốn cái mỏ trên của gà, mớ lông cánh, cái khăn mặt… đồ nghề của một thợ chữa gà nổi danh đất Bắc chỉ có thế. Luận “gà” bắt đầu kể về những pha chữa gà khiến tên tuổi Luận “gà” trở nên khét tiếng trong các xới.

Lần cấp cứu ác liệt nhất là lần đá giữa hai con gà của Hải “mỏ nứa” và con gà làng Đậu – gà không đối thủ, các xới đều chạy làng hết với con gà này. Một cuộc đánh hẹn (thách đánh) được đưa ra, gà làng Đậu đá với gà Hải “mỏ nứa”, mới đến hiệp thứ sáu gà của Hải thấy mười phần chết chín khi bị một cú đá phồng đầu sau gáy, gây tụ máu, sưng to như nắm tay, gục đầu không đá nổi. Vừa đến phút giải lao, Luận “gà” ngẫm nghĩ, nếu dùng xylanh hút máu thì không được, mổ thì sợ vết thương ảnh hưởng đến gà, Luận gà lấy ngay cây kim to, xâu sợi chỉ, rồi đâm xiên ngang vào bầu tụ máu, cứ cò cưa qua lại để hơi và máu bầm rút theo chỉ ra ngoài. Gà vẫn đá tiếp, khi chữa đến phần giải lao hiệp kế nữa thì cục máu bầm xẹp hẳn, gà đá hung trở lại, và đến hiệp 11 thì thắng gà làng Đậu.

Một lần khác đi đá, con gà thợ Luận nhận chữa bị đá sưng hầu, máu đọng trong nên cứ ngước cổ lên lại vô tình ưỡn ức cho đối phương đá. Thợ Luận chích một mũi kim vào hầu, dùng miệng hút máu hư ra, dân đi đá gà nhìn thấy còn lạnh cả người, vì máu gà hư rất tanh. Thợ Luận cho biết, phải làm vậy thì gà mới có sức đá tiếp nổi. Mỗi lúc gà trúng thương, người xem thì reo hò còn thợ gà phải tập trung quan sát, nhìn xem gà của mình bị đá vào chỗ nào, gà đau ở đâu, để khi hết hiệp là tiến hành chữa ngay. Hỏi những kỹ năng chữa gà học từ đâu, Luận “gà” cười khệch bảo: “Học lỏm hết đấy ông ạ, vì nghề này chẳng ai chỉ đâu, giấu nghề ác lắm. Chỉ mỗi cái tết mỏ, tôi học phải cả chục năm mới thuần thục đấy, ban đầu đi xem rồi về tết vào cây tre, tết vào miệng ấm trà, xong mới đem ra tết gà…”

Những thợ gà phía Nam được đưa sang Campuchia chữa gà, anh em trong giới chơi tiết lộ, mỗi trận gà bỏ túi không dưới chục triệu đồng. Nói về chuyện thu nhập, Luận “gà” nhỏ nhẹ: “Mình chữa gà cho anh em là vì cái máu nghề, mê gà thôi, chữa xong anh em cho tiền thuốc nước, còn trận nào thua mình cũng đâu nỡ nhận tiền anh em làm gì. Nhìn con gà tưởng chết mà chữa nó sống, đá hay đá khoẻ, thế là sướng lắm rồi ông ạ…”

BÀI VÀ ẢNH: LAM PHONG

【#10】Di Tích Thắng Cảnh Xứ Thanh Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa

Trong một tác phẩm viết về Lý Thường Kiệt, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã nhận định: “Trong cả nước Việt Nam, không có nơi nào có nhiều cảnh đẹp như ở Thanh Hóa”. Nhận định ấy có cơ sở, đây là những tài nguyên thiên nhiên đặc sắc hình như Thanh Hoá được dành phần ưu tiên.

Bãi biển Sầm Sơn có hình trăng khuyết, chạy dài 9km từ chân núi Trường Lệ đến xã Quảng Cư (thị xã Sầm Sơn), rộng hàng nghìn mét, bằng phẳng, cát mịn, không có chỗ quá sâu, lầy thụt hoặc đá ngầm, sau hô nhờ đó, đã tạo nên những bãi tắm lý tưởng, người tắm có thể ra khá xa bờ vẫn thấy an toàn.

Nước biển Sầm Sơn có độ mặn và nhiệt độ thích hợp, có lợi cho sức khỏe và có khả năng chữa được một số bệnh, rất thích hợp cho con người nghỉ ngơi, an dưỡng. Nhà học giả người Pháp Le Breton nhận định: “Đây là bãi tắm tốt nhất để phục hồi sức khoẻ”.

Sóng biển Sầm Sơn nhẹ nhàng, khí hậu điều hòa như chiếc máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ, giữ cho mùa hè lộng gió và dịu mát, mùa đông bớt phần giá buốt. Biển Sầm Sơn có gần 1.000 loại tôm, cua, cá và nhiều hải sản quí hiếm; đặc biệt có món gỏi cá và lẩu rắn biển được nhiều người ưa thích.

Sầm Sơn không chỉ có bãi biển đẹp, bãi tắm tuyệt vời, lại có cả núi đá, đủ các hòn lớn, nhỏ, nằm, ngồi, chồng lên nhau thành muôn hình muôn vẻ, ngay cạnh mép nước biển, có rừng cây bóng mát, có đền chùa, di tích với nhiều truyền thuyết cổ tích, dân gian… lý thú. Đó là đền thờ thần Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Tô Hiến Thành, hòn Trống Mái v.v…

: Nơi có hai hòn đá to nhỏ châu vào nhau, xung quanh là những đá nhỏ. Truyền thuyết nói đây là một gia đình có đôi vợ chồng và đàn con đã hóa thành đá, để vĩnh viễn thuỷ chung bên nhau. Nhà văn Khái Hưng có tiểu thuyết Trống Mái là do cảm hứng từ cảnh đẹp này.

Đã từ lâu Sầm Sơn nổi tiếng là một khu du lịch và nghỉ mát có nhiều thắng cảnh. Kể từ năm 1981 đến nay, Sầm Sơn được xây dựng và phát triển trên những quy mô mới của một thị xã du lịch. Hàng trăm khách sạn, cơ sở điều dưỡng của các bộ, ngành ở Trung ương và trong tỉnh, của các tư nhân với nhiều kiểu dáng vừa hiện đại, vừa đậm nét kiến trúc truyền thống được xây dựng với những điều kiện phục vụ ngày càng hiện đại, nhằm phục vụ cho khách tham quan du lịch, nghỉ mát trong nước và khách nước ngoài. Trong tương lai, khu du lịch và nghỉ mát này sẽ còn được đầu tư và phát triển.

Hàm Rồng cách trung tâm thành phố Thanh Hoá 4 km, ở dọc trục đường Quốc lộ 1A. Trong tương lai không xa nơi đây sẽ là khu du lịch văn hoá sinh thái hấp dẫn của Thanh Hoá. Thắng tích Hàm Rồng gồm một quần thể núi, sông kỳ tú, sơn thủy hữu tình:

– Núi Rồng: là một dãy núi bao gồm nhiều ngọn, chạy dọc bờ Nam sông Mã có hình dáng con rồng theo trí tưởng tượng dân gian.

– Núi Voi: Từ Hán là Tượng Sơn, có nhiều hang động, cảnh rất đẹp: Thạch nhũ tạo nên nhiều hình dáng, được xem như là những cảnh địa ngục, cảnh thủy cung hội hè rước xách, cảnh trai gái tự tình.

– Núi Nít: Còn có tên là núi Ngọc, là hòn Hỏa Châu Phong, vì trông như cột lửa phụt lên tự lòng đất. Núi này ở bờ Bắc sông Mã, đối diện với núi Rồng (bờ Nam). Đi qua vùng này, không mấy ai không biết đến các câu ca dao cổ:

– Ở phía Tây: Còn nhiều núi có hình thù kỳ thú: Núi Ngũ Hoa phong, giống 5 bông hoa, núi Mẹ núi Con giống hai quả trứng, núi Tả Ao như người đàn ông ngủ, núi con Mèo, núi Cánh Tiên…

– Cầu treo Hàm Rồng bắc qua sông Mã : Được xây dựng năm 1904, đã tô thêm cảnh đẹp Hàm Rồng. Thi sĩ Tản Đà đã cảm tác nhớ mong (thơ 1933):

Trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Hàm Rồng nổi tiếng với nhiều chiến công.

– Năm 2000, một cây cầu lớn và hiện đại được xây dựng cạnh cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã, gọi là cầu Hoàng Long.

Còn gọi là hang Từ Thức, thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, là nơi theo cổ tích đã diễn ra câu chuyện gặp gỡ tiên trần giữa Từ Thức – Giáng Hương. Cảnh trí rất đẹp: nhiều thạch nhũ tạo thành các hình phường bát âm, tranh ảnh, bàn cờ, áo mũ, bàn tay Từ Thức – Giáng Hương, cô và cậu, măng đá, non bộ, cây vàng, đào tiên… có đường “lên trời”, đường xuống “âm phủ” . Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) đã viết truyện này. Sau đó Lê Khắc Khuyến viết tập truyện nôm Từ Thức tiên hôn (đầu thế kỷ XX). Nhiều văn nhân, học giả tới đây đề thơ, bài của Lê Quý Đôn là tiêu biểu.

Cách động Bích Đào chừng 1 km về phía trái là động Dơi, có tên là động Bạch Ác, cũng có nhiều thơ đề vịnh.

Dọc đường 45, đi từ thành phố Thanh Hóa, qua sông Chu (cầu Vạn Hà), sông Mã (cầu Kiểu) đến dãy núi Xuân Đài (xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc) nổi tiếng từ xưa. Nhờ dưới chân núi có chùa Dụ Anh (tức chùa Thông – xây dựng năm 1270) và trên lưng chừng núi có động Hồ Công. Động Hồ Công từng được người xưa liệt vào kỳ quan bậc nhất ở phương Nam. Truyền thuyết kể là xưa kia, ở đây có chàng Trịnh Phát Giác được gặp vị tiên là Hồ Công Long, cho vào ở trong một quả bầu là một thế giới thần tiên, con người cực kỳ sung sướng. Khi Trịnh được về, Hồ Công cho một cái gậy rút, y như chuyện Phí Trường Phòng ở Trung Quốc ngày xưa. Bên đường lên động, trên một phiến đá tự nhiên có khắc dòng chữ: “Thanh kỳ khả ái” (xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu).

Cách động Hồ Công không xa, có ngọn núi rất giống hình dáng một vị tiến sĩ, nên cũng gọi là núi Tiến sĩ. Núi này ngoảnh về làng Bồng (xã Vĩnh Tân) là nơi có nhiều người đỗ đạt, quê hương cụ nghè Tống Duy Tân.

Ở xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc là một vùng sơn thủy hữu tình, rộng khoảng 150 ha, trong đó có 80 ha là hồ vực. Vào động, phải đi thuyền luồn qua hang (như cách vào động Phong Nha, Quảng Bình). Phía trong là nhiều động, nhiều khối đá, có hồ rộng, có cả những động lộ thiên, có cầu được nói là cầu Tiên Bắc. Một ngôi động lớn hơn, được nói là nơi vua Trần đã vào đây ẩn nấp khi đánh quân Nguyên Mông. Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nơi đây là công binh xưởng sản xuất vũ khí của quân đội, đồng thời là nơi trú ẩn của nhân dân. Kim Sơn cũng có nhiều bia, có nhiều thơ, văn, đại tự, mỹ tự… đề vịnh được khắc sâu vào vách động.

Kim Sơn có nhiều sản vật: Dưới nước là tôm, cá, ba ba; trên núi là sáo, vẹt. Đặc sản ở đây là củ ấu gai, đầu nhọn như hai cái sừng, ăn bùi và béo. Sau động là một ngọn núi, gọi là núi Mụ Thệu. Huyền thoại kể rằng mụ này nhìn vào vật gì thì vật ấy hóa đá, nhưng đã có phép của sáu nàng tiên ngăn cản những hành động của mụ.

Biện Sơn còn có tên là Cù lao Biện ở về phía Đông Nam, huyện Tĩnh Gia, giáp huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Từ trong đất liền trông ra, Biện Sơn giống như một con chiến mã khổng lồ đang nằm ngủ, phía Đông Biện Sơn là biển cả mênh mông, phía Tây là vụng Ngọc và đất liền, phía Nam là hòn Cù, phía Bắc là đảo Mê và nhiều hòn đảo khác, được mệnh danh là Thập bát Mã Sơn và đều có hướng quay nhìn về Biện Sơn. Dân gian có câu:

Địa thế Biện Sơn có nhiều ngọn núi cao thấp, nhấp nhô như làn sóng biển. Nhiều hòn đá, hang đá trên đảo tạo nên những hình tượng tuyệt mỹ. Đứng trên đỉnh cao của Cù lao Biện nhìn bốn phía mênh mông biển cả, sóng vỗ dập dờn, nhấp nhô, xanh biếc. Xưa kia nơi đây cây cối um tùm, rợp bóng quanh năm, được mệnh danh là hòn đảo xanh, hòn ngọc của bờ biển miền Trung.

Biện Sơn có vụng Ngọc, nơi tàu thuyền ra vào, nghỉ lại an toàn, không sợ bão to sóng lớn, có giếng Rửa Ngọc (Tẩy Ngọc), có giếng nước ngon trong mát, người đi biển thường ghé tới lấy nước pha trà, có sự tích An Dương Vương, Mỵ Châu, Trọng Thủy cùng nhiều kỷ niệm lịch sử và huyền thoại.

Biển Biện Sơn bốn mùa tôm, cá và hải sản quý. Đặc biệt có yến sào, ngọc trai, sò huyết… Khí hậu Biện Sơn mùa hè dịu mát, không khí trong lành, đã có con đê lớn nối với đất liền. Biện Sơn đang cùng với đảo Mê và các đảo lân cận hình thành cụm du lịch sinh thái biển lý thú trong khu công nghiệp Nghi Sơn.

Biện Sơn xưa và nay vẫn là thắng cảnh đẹp như dân gian hằng ca ngợi:

Núi Nhồi cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 3km về phía Tây, thuộc địa phận hai xã Đông Hưng và Đông Tân (ngày nay thuộc địa phận thành phố Thanh Hóa). Bao quanh núi Nhồi gồm các núi quần tụ liền nhau, đó là núi Đống (phía Tây), núi Chân Thần (phía Tây Nam), núi Nấp (Quảng Náp phía Nam), núi Chồng Mâm (núi Đình Thượng – phía Bắc). Dưới chân núi là dòng Hương Giang lượn quanh làng xóm đông đúc rồi thông ra sông Mã, tạo nên cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hữu tình. Xưa kia dưới chân núi Đống, đã từng diễn ra cảnh trên bến dưới thuyền, tấp nập kẻ mua người bán các sản phẩm chế tác từ đá núi Nhồi. Đá núi Nhồi đã đi muôn nơi, có mặt ở hầu khắp các công trình kiến trúc, lăng tẩm, đền đài, bia ký, tượng đá… Những bàn tay tài hoa của người thợ đục đá làng Nhồi đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bằng đá tuyệt mỹ và vô giá. Chất đá ở đây nổi tiếng là quí hiếm, không nơi nào có được. Đó là sản vật quý của mọi người, sắc đá ống ánh như ngọc lan, chất xanh biếc như khói nhạt, tiếng đá vang trong, nổi tiếng tận Trung Hoa. Thời Bắc thuộc, các Thái thú lấy đá núi Nhồi làm khánh chở về Trung Quốc, khánh đá núi Nhồi kêu ngân vang như tiếng chuông.

Núi Nhồi còn có tên là núi Khế, núi An Hoạch, Nhuệ Sơn, núi Vọng Phu. Từ xa, ta có thể nhìn thấy trên đỉnh núi Nhồi nổi bật trên nền trời một trụ đá hình người phụ nữ bế con hướng nhìn ra phía biển Đông xa xôi, nên đặt tên là “Đá Vọng Phu” (Vọng Phu Thạch – Đá trông chồng). Trải bao gió bụi của thời gian, hình ảnh đó vẫn cứ “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Nhiều văn nhân, thi sĩ đã dừng chân, đề thơ, tiêu biểu là bài thơ của Đại thi hào Nguyễn Du:

Và trong dân gian Thanh Hóa còn lưu truyền câu thơ:

Dưới chân núi Vọng Phu và các núi chung quanh là quần thể di tích lịch sử văn hóa phong phú. Đó là: Chùa Hinh Sơn (Hinh Sơn Tự, còn có tên là Chùa Hang dưới chân núi Vọng Phu), chùa Tiên Sơn (phía Đông núi Khế), Đình Thượng (trên sườn núi Chồng Mâm, thờ thần núi), chùa Báo Ân (Đông Hưng) xây dựng khoảng năm 1099 – 1100, chùa Quan Thánh (Đông Hưng), lăng Quận Mãn (Mãn Quận Công, làng Nhuệ) hiện còn bia đá, cặp hổ phục, rồng chầu, cặp ngựa đá, hai cặp tượng đá (dũng lực sĩ, cường lực sĩ, tráng lực sĩ, đinh lực sĩ). Đây được coi là công trình kiến trúc nghệ thuật điêu khắc đá độc đáo ở Thanh Hóa thế kỷ XVIII.

Đền Cửa Hà được xây dựng từ thế kỷ XV, thờ các anh hùng liệt nữ có công giữ gìn vùng đất này, cũng là để thờ thần sông, thần núi, thờ các nghĩa sĩ trận vong Lam Sơn và thờ Mẫu (năm 2002 đền bị núi đá sụt lở nhấn chìm dưới lòng sông Mã). Trên vách đá dựng đứng ở độ cao 5m ngay sau mái đền, ta dễ nhìn thấy những vần thơ tuyệt tác Bích Mai Nhai ca ngợi phong cảnh cửa Hà với tất cả nỗi niềm xao xuyến:

Cẩm Lương là một xã miền núi, nằm trong thung lũng của dãy núi đá vôi Bồ Um, cạnh sông Mã. Cư dân ở đây chủ yếu là người Mường. Khí hậu quanh năm ôn hoà, mát mẻ (nhiệt độ trung bình 20 – 22oC).

Suối cá Cẩm Lương (hay còn gọi là Vó cá Cẩm Lương, hang cá Cẩm Lương) nằm trong địa phận làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thuỷ, cách huyện lỵ Cẩm Thuỷ 10 km về phía Tây – Bắc, cách thành phố Thanh Hoá 80 km về phía Tây.

Theo dân làng Ngọc kể lại thì hang cá ở đây có từ xa xưa. Có nhiều truyền thuyết nói về sự xuất hiện của đàn cá, nhưng hầu như đều chung một quan niệm đó là những thần linh của núi, sông đang ngày đêm bảo vệ cuộc sống yên vui của bản làng. Vì vậy đàn cá được dân bản địa phong là Cá Thần, mọi người không dám đánh bắt ăn thịt. Và cứ thế, cùng với thời gian, đàn cá ngày càng sinh sôi, nảy nở.

Suối Ngọc chảy ra từ một hang lớn của núi Bồ Um. Cửa hang rất nhỏ, chỉ một người chui lọt, lòng hang rất rộng và nước sâu. Đàn cá sống trong hang, có tới hàng ngàn con. Những con cá Chúa nặng khoảng 20 đến 30 kg, mang có vòng đỏ, ánh vàng tựa như đeo khuyên bằng vàng. Ngày thường cá Chúa không ra khỏi hang, mà chỉ vào mùa lũ, nước to, chúng mới ra khỏi hang, nhưng cũng rất ít người trông thấy. Suối Ngọc không dài lắm, từ cửa hang ra tới khu vực đền Ngọc khoảng 150m, chỗ rộng nhất khoảng 6m, chỗ nước sâu nhất độ 1m. Đàn cá hàng ngàn con nặng từ 2 đến 8kg quanh quẩn ở đoạn suối này rồi vào hang, không bao giờ ra khỏi dòng suối, mặc dù phía ngoài là một cánh đồng rộng.

Nước suối Ngọc bao giờ cũng trong vắt, cả mùa mưa lẫn mùa khô. Dưới dòng suối là một lớp đá cuội óng ánh dưới ánh mặt trời như những viên ngọc càng tạo ra vẻ đẹp kỳ diệu khi đàn cá bơi lội qua.

Dân bản Ngọc hàng ngày thường ra suối tắm giặt, rửa rau, vo gạo, đàn cá không sợ người mà rất thân thiện, quây quần quấn quýt quanh người.

Bên cạnh suối có đền Ngọc, thờ Tứ phủ Long Vương. Đền còn đơn sơ, nhưng là nơi ngày rằm, mùng một nhân dân quanh vùng đến thắp hương tế lễ, cầu thần Tứ phủ Long Vương phù hộ cho sức khoẻ và công việc làm ăn của con người.

Phía trên suối Ngọc là dãy núi Trường Sinh, có một động lớn người ta còn gọi là động cây đăng (trước đây có một cây đăng cổ thụ trước cửa động, nhưng nay không còn nữa). Vị trí của động cao khoảng 70 m so với khu vực suối Ngọc. Cửa động rộng từ 5 – 8 m, cao khoảng 7 m nên rất dễ ra vào. Trong động có nhiều nhũ đá với những cảnh tượng như đôi trai gái đang đứng ôm nhau, người con gái có suối tóc dài tận gót, tượng mẫu tử, bầu sữa, kho lúa, kho vàng… trông rất đẹp mắt và nên thơ.

Suối cá và những hang động ở làng Ngọc – Cẩm Lương là một địa danh phong cảnh hữu tình, với những truyền thuyết huyền bí về đàn Cá Thần, đúng là một danh thắng nổi tiếng của quê hương Thanh Hoá cần được tôn tạo và bảo vệ.

Thuộc địa phận ba huyện Như Thanh, Nông Cống, Triệu Sơn. Trước kia nơi đây từng là cả một rừng nứa bạt ngàn, có nhiều gỗ quý và động vật quý hiếm. Đã có câu phương ngôn: “Vật rừng Nưa, dưa chợ Bạng”. Lại có nhiều suối đẹp, lắm cá, đặc biệt là cá “mầm mầm rễ chuối”. Cách đánh cá cũng lạ: lấy lá ngơn hoặc khô dầu vò nhỏ, thả xuống suối, cá say nổi lên, vớt bỏ vào nồi nấu chín ăn ngay.

Từ xưa, Ngàn Nưa được xem là một vùng gắn với những huyền thoại và giai thoại. Sách Lịch triều hiến chương, sách Truyền kỳ mạn lục đều nhắc đến người tiều phu núi Na. Dân gian thì truyền tụng về ông Tu Nưa, vị thần tạo ra núi Quảy, sông Cày. Có thuyết nói Ngàn Nưa là nơi Bà Triệu dấy binh. Nơi đây, Tống Duy Tân đã đặt cứ điểm chống Pháp, và Nguyễn Thượng Hiền cũng về ở ẩn.

Từ thành phố Thanh Hoá dọc theo Quốc lộ 47, qua cầu Thiều rẽ trái và xuôi theo đê sông Hoàng Giang là đường rải cấp phối gần 3km, vườn cò Tiến Nông sẽ hiện ra trước mắt chúng ta. Vườn cò là một gò đất cao và rộng có nhiều bụi tre gai, nằm giữa cánh đồng trũng. Vào mùa mưa vườn cò nằm giữa hồ nước rộng, nên làng Nga còn có tên là “Làng cò hồ Nga” – xã Tiến Nông, huyện Triệu Sơn. Vào buổi chiều khi cò đi kiếm ăn về thì đó là một vườn tre xanh biếc, cò trắng đậu trên ngọn tre trông như một tấm thảm trắng phủ lên trên.

Theo như lời kể của những người cao tuổi ở xã Tiến Nông thì vườn cò đã có từ cách đây hơn 100 năm.

Vườn cò Tiến Nông có diện tích 3,5 ha, trong đó có 2 ha mặt nước hồ bao quanh và 1,5 ha đất trồng gần 200 bụi tre cao từ 3-10 m, là nơi cư trú và làm tổ của các loài chim. Theo nghiên cứu gần đây, vườn cò Tiến Nông có 6 bộ, 10 họ với 17 loài, trong đó có Bộ Hạc (Cinomiiformes) gồm 6 loài, chiếm số lượng lớn của vườn cò. Trong đó nhiều nhất là cò trắng (cò ngàng lớn – camerodius avous; cò ngàng nhỏ – Mesnophoyx intermedia); cò bợ (Ardeola bacchus), có tháng cả cò trắng và cò bợ tới 3.500 con. Ngoài ra còn có Cuốc chân đỏ (Amamonis akool); cuốc ngực trắng (A.phoenicurus); Rẽ giun lớn (gallinogo nemoricola); Rẽ giun nhỏ (Lymnocryptes minimus); Sẻ quạt họng trắng (Rhipidura albicollis)…

Đa số các loài cò ở đây đều thuộc loài định cư, có yêu cầu sinh thái phức tạp, hoạt động quanh năm, hàng ngày kiếm ăn từ 5 giờ đến 17 – 18 giờ, phạm vi từ 1 – 10 km. Tuỳ từng loài mà vị trí kiếm ăn và thức ăn của chúng khác nhau: Cò bợ chỉ quanh bờ ruộng, bờ ao hay ở những hồ nước cạn, nó có thể đứng rình mồi hàng giờ hoặc dò dẫm dọc theo bờ nước để bắt tôm, tép, cá con. Khi cò bợ đứng ta thấy cò có đầu và cổ màu vằn đỏ, lưng nâu, khi cò bợ bay lên hoặc bay là là trên mặt ruộng ta thấy cánh và đuôi có màu trắng.

Cò trắng thường kiếm ăn ở các ruộng lúa nước, thức ăn là tôm, tép, cá con và các loài ếch nhái nhỏ…

Mùa sinh sản của các loài cò thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm, trong thời gian sinh sản cò có bộ lông đẹp và rực rỡ, cò trắng có bộ “áo cưới” kỳ lạ, khi đó bộ lông trắng và có thêm những lông dài ở đầu, ngực và vai, các lông này là các sợi lông nhỏ, không móc vào nhau, khi cò đậu chúng rủ xuống như tấm mành thưa, còn khi bay trên bầu trời thì các lông đó bay như những dải lụa trắng.

Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có 850 loài chim, một số loài chim có số lượng lớn hầu hết đều nằm ở các tỉnh phía Nam. Ở phía Bắc Việt Nam những sân chim như vườn cò Tiến Nông là vô cùng quí hiếm. Sự hiện diện của vườn cò Tiến Nông là một trong những nguồn tài nguyên tự nhiên quý giá cần được bảo vệ và xây dựng thành nơi tham quan, học tập cho học sinh, sinh viên và phát triển thành điểm du lịch sinh thái ở Thanh Hoá.

Vườn Quốc gia Bến En nằm trong địa giới hành chính các xã: Xuân Bái, Bình Lương, Xuân Bình, Hóa Quỳ thuộc địa bàn hai huyện Như Xuân và Như Thanh, cách thành phố Thanh Hóa 36 km về phía Tây Nam. Đây là một cảnh quan thiên nhiên, được xếp vào loại đẹp nhất trong 10 vườn quốc gia của cả nước. Vườn có tổng diện tích 16.634 ha, gồm 18 tiểu khu và dãy núi đá vôi Hải Vân; vườn có khu vực núi thấp; khu vực đồi gò có 121 hòn đảo nhỏ; hai con sông: sông Mực, sông Chàng và bốn con suối: Hàn Vị, Thổ, Cốc, Tạm. Hồ sông Mực có trên 40 loài thủy sản, nổi tiếng là cá mè. Hồ dưới có nhiều đảo đá vôi, cho ta cảm giác như đến với một vịnh Hạ Long thu nhỏ.

Rừng Bến En là rừng thứ sinh với nhiều kiểu rừng kín khác nhau, các nhà chuyên môn phân biệt thành nhiều kiểu. Hệ thực vật có 462 loài, 125 bộ. Đáng chú ý là lim xanh và các loại lim vẹt, lát hoa, dổi, sến mật, chò chỉ, bù hương, vàng tâm. Ưu thế là lim xanh, săng lẻ, đặc trưng của hai luồng thực vật miền Bắc, miền Nam. Còn nhiều cây nguyên liệu (song, mây) cây cho dầu, cây làm thuốc, hoa phong lan.

Động vật rừng Bến En cũng đa dạng: côn trùng có 132 họ, 31 giống và 300 loài. Có 62 loài thú: có 19 loài được liệt vào sách đỏ Việt Nam. Có cả hổ, voi châu Á, vượn bạc má, gấu chó, khỉ là những loại liệt vào hạng đang bị đe doạ tuyệt chủng. Chim có 162 loài, 114 giống, 44 họ, 18 bộ. Có loài Myđeria Leucocephala là loại quý hiếm cấp độ quốc gia. Đã ghi nhận được 88 loài bướm của 10 họ, trong đó:

– Loài Ypthima là chưa được biết tới ở Việt Nam.

– 4 loài được coi là cống hiến mới: Meganoton (rufescens), Anbuly Clavata, Clanistitan, Smenrin thulus qua draiphunctatus.

Lưỡng cư và bò sát cũng đa dạng. Đã ghi nhận được loài Bufogabatus là loại hiếm trong sách đỏ Việt Nam.

Vườn quốc gia Bến En là một vườn quý hiếm, tiềm năng đa dạng và phong phú về sinh học và phong cảnh, sẽ giúp nhiều cho các loại hình du lịch và cho việc nghiên cứu thiên nhiên Thanh Hóa.

Đền thờ Bà Triệu ở làng Bồ Điền, nay là xã Phú Điền, huyện Hậu Lộc, sát đường Quốc lộ 1A, cách thành phố Thanh Hóa 17 km về phía Bắc. Đền tựa lưng vào núi Gai. Nhìn sang bên là Lăng, dựng trên núi Tùng, gồm Mộ và Tháp. Cảnh trí ở đây rất phong quang xinh đẹp, xứng đáng với vị nữ anh hùng. Hội đền Bà Triệu hàng năm mở vào mùa xuân và là lễ hội lớn ở Thanh Hóa.

Đền ở thôn Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân. Khu vực đền thờ có tổng diện tích gần 4 ha. Đền rất rộng: 13 gian, có sân rồng, các nhà tiền đường, trung đường và hậu cung. Đặc biệt còn giữ được nhiều hiện vật:

– Bình hương đồng màu đen, có khắc chữ: Thiên cổ

– Những chiếc bình bằng sứ

– Năm chiếc chén bạc, ống đựng đũa

– Một cái đĩa đá tương truyền là của vua Tống tặng Lê Hoàn, có dòng chữ Hán:

– Một bức họa chân dung Lê Đại Hành, tương truyền do thợ Trung Quốc vẽ.

– Còn 14 đạo sắc phong của các đời vua từ 1674 đến 1887.

Câu đối ở đền thờ còn nhiều. Đáng chú ý là câu đã được ghi chép trong sử sách, nhắc chuyện bà mẹ vua là bà Đặng Thị nằm mộng thấy hoa sen, sinh ra vua và chuyện bà Dương Thái Hậu khoác áo hoàng bào cho vua. Câu đối viết:

Đền Lê Hoàn còn có tấm bia do Hoàng giáp Nguyễn Thực soạn năm 1626 và tấm bia nhỏ hơn nhưng lại dựng trước (1601) do Phùng Khắc Khoan soạn. Gần đền Lê Hoàn, còn có đền thờ bà mẹ của ông. Lễ hội ở đền tổ chức vào các ngày 7, 8 tháng 3 âm lịch, vào loại lễ hội lớn trong vùng.

Thành còn có tên là Tây Giai – Tây Đô, trong địa phận núi Yên Tôn, thuộc hai xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc. Thành xây năm 1397. Từ cửa Bắc đến cửa Nam dài 870,5m; từ cửa Đông đến cửa Tây dài 883,5m. Chu vi 3.508m. Diện tích 769.086,75 m2. Mặt ngoài thành được ghép đá khối, trong đắp đất… Phần lớn các khối đá có kích thước 1,4m x 0,7m, có vài khối dài tới 4m, cao 1,2m. Thành có 4 cửa lớn, đều xây cổng vòm bằng đá khối. Lớn nhất là cửa Tiền (cửa Nam) rộng 38m, cao hơn 10m có ba vòm cổng cuốn. Vòm cửa chính giữa cao 5,75m, rộng 5,82m, hai vòm hai bên cao 5,35m, rộng 5,15m.

Sử chép thời gian dựng thành chỉ có 3 tháng, ai cũng phải kinh ngạc. Vì sao vào khoảng cuối thế kỷ XIV, có thể xây dựng một công trình to lớn hoành tráng với thời gian ngắn như vậy mà bằng kỹ thuật thủ công. Các việc vận chuyển đá, chồng đá.v.v…, đến nay vẫn còn được trao đổi. Nhà nghiên cứu người Pháp là Bezacien nhận định đây là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam.

Chung quanh thành nhà Hồ, còn có những vị trí gắn liền với những sự kiện lịch sử văn hóa: núi Đốn Sơn, làng Phương Giai v.v…, còn lưu truyền khá nhiều giai thoại.

Lam Sơn thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, quê hương của Lê Lợi, của cuộc khởi nghĩa chống quân Minh. Rất nhiều cảnh quan thiên nhiên ở đây gắn liền với giai thoại, các sự tích về khởi nghĩa Lam Sơn và Lê Lợi: núi Dầu, núi Mục, sông Sũ (tức Lương Giang). Làng quê Lê Lợi là làng Cham (quê nội), làng Chủa (quê ngoại). Dưới chân núi Mục có bia và đền thờ Lê Lợi.

Khi kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lam Sơn được xây dựng thành Lam Kinh. Điện Lam Kinh được xây dựng từ 1433. Lam Kinh có nhiều bia mộ của các vua Lê, tiêu biểu nhất là bia Vĩnh Lăng (văn bia do Nguyễn Trãi viết) cũng dựng năm 1433. Ngoài ra có bia Lê Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, bia bà Ngô Thị Ngọc Dao v.v… Tất cả đều là những công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc thời Lê Sơ. Hiện nay đang được trùng tu, tôn tạo thành khu văn hóa, du lịch rộng tới 148 ha (theo quy hoạch mới).

Thuộc địa phận xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, cách huyện lỵ 4 km. Gọi là Ba Đình, vì gồm ba làng: Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh. Ba Đình được bao quanh mấy con sông: sông Hoạt, sông Chính Đại, sông Lèn, sông Báo Văn. Đây là một căn cứ của nghĩa quân Cần Vương dưới sự lãnh đạo của Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, cầm cự với quân Pháp thời kỳ 1887 – 1888. Công sự được xây dựng kiên cố, chiến lũy vững vàng. Đây là di tích tiêu biểu cho phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.

Chiến khu và đội du kích Ngọc Trạo được thành lập ngày 19 – 9 – 1941 tại làng Ngọc Trạo, tổng Trạc Nhật, nay là xã Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành. Đây là căn cứ địa, là lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của Thanh Hóa. Ngay khi mới thành lập, ảnh hưởng của chiến khu và đội du kích đã mau chóng lan ra. Số đội viên du kích khi mới thành lập có 21 người, đến cuối tháng 9 – 1941 quân số đã lên tới trên 40 đội viên rồi lên 80 người. Tháng 10 -1941 bị địch khủng bố, đội chuyển về căn cứ Cẩm Bào (Vĩnh Long, Vĩnh Lộc) và sau đó phân tán đi các nơi hoạt động. Đồng chí Nguyễn Văn Hinh (chỉ huy) và nhiều chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh.

Khu vực Hàm Rồng và cầu Hàm Rồng, thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa là di tích lịch sử thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Di tích này đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia. Tại đây, quân và dân Thanh Hóa đã bắn rơi trên 100 máy bay các loại của đế quốc Mỹ. Nhiều người nước ngoài đã đánh giá: “cầu Hàm Rồng là một tượng trưng trước toàn thế giới về sự thất bại của chính sách hiếu chiến của đế quốc Mỹ”.

Nơi đây hiện còn lại nhiều di tích: sườn núi Cảnh Tiên được quân dân lấy đá xếp thành chữ Quyết Thắng. Nhiều tấm gương chiến đấu đã xuất hiện: anh hùng Ngô Thị Tuyển, và nhiều đơn vị anh hùng khác. Tính đến 1972, có tới 106 máy bay Mỹ, cả B52 bị bắn rơi, nhiều đơn vị được tặng danh hiệu đơn vị anh hùng, được Bác Hồ nhiều lần gửi thư khen.

Bức chân dung và bút tích Bác Hồ tặng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thanh Hóa nhân dịp người về thăm và làm việc tại Thanh Hóa năm 1961

Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám (1945) Thanh Hóa là tỉnh đầu tiên trong toàn quốc được Bác Hồ về thăm. Điều đó nói lên vị trí chiến lược và sự quan tâm đặc biệt của Người đối với Thanh Hóa.

Sau 2 đêm hành trình tuyệt đối bí mật từ Chùa Một mái vùng núi Thầy, thuộc xã sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), Bác đặt chân đến địa phận tỉnh Thanh Hóa hồi 3 giờ sáng ngày 20 – 2 – 1947 và cũng từ giờ phút ấy Người bắt tay ngay vào làm việc, làm việc ngay trên xe của lãnh đạo tỉnh ra đón Người từ Đò Lèn, xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc.

Người đến cơ quan Tỉnh ủy và có các cuộc tiếp xúc với đại biểu quân, dân chính đảng, thăm nhà trẻ cơ quan Tỉnh ủy.

Nói chuyện với hơn 4.000 đại biểu cán bộ và các tầng lớp nhân dân, đại biểu phụ lão, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, phụ nữ, thanh niên, cán bộ miền Nam tập kết, thương binh, bệnh binh, học sinh, đại biểu các dân tộc, tôn giáo, gia đình liệt sĩ, chiến sĩ thi đua, đồng bào công thương, các cháu nhi đồng và đại biểu Hoa Kiều.

Tại trường Nhi đồng miền Nam ở Thanh Hóa, Người hỏi thăm tình hình sinh hoạt và hoạt động của các cháu, nhắc nhở cán bộ và nhân viên khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Người chia kẹo cho các cháu trước khi tạm biệt.

– Buổi sáng: Người tới Sầm Sơn và lên thẳng Miếu Cô Tiên (nay là Đền Cô Tiên) nghe Trưởng đồn Công an thị trấn (nay là thị xã) báo cáo tình hình và nghỉ trưa tại đó.

– Buổi chiều: Người làm việc với Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, thăm hỏi tình hình đời sống nhân dân và cách làm kinh tế để khắc phục tình trạng đói nghèo ở Thanh Hóa.

– Buổi tối: Người nghỉ tại Miếu (nay là Đền) Cô Tiên.

– Buổi sáng: Người gặp mặt, nói chuyện và kéo lưới với ngư dân xóm Vĩnh Sơn, phường Trường Sơn, thăm một gia đình ngư dân sống cạnh bãi biển Sầm Sơn, chụp ảnh chung với cháu bé trong gia đình.

– Buổi chiều: Người thăm nhà nghỉ của Tổng Công đoàn thăm Trại nuôi dưỡng thương binh, Trại an dưỡng của các cụ người miền Nam và đơn vị bộ đội bảo vệ bờ biển (Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 57).

– Buổi tối: Người cùng bộ đội và nhân dân xem phim rồi về nghỉ tại Miếu (nay là Đền) Cô Tiên.

Người đến thăm và phát biểu tại Đại hội Đại biểu Công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ VI.

Tại sân vận động tỉnh, Người nói chuyện với hơn ba vạn đại biểu các tầng lớp nhân dân các dân tộc, tôn giáo… và với niềm xúc động, Người bắt nhịp và cùng mọi người hát bài ca “Kết đoàn”.

Cùng ngày, Người đến thăm hợp tác xã Yên Trường, huyện Yên Định.

Người đến thăm Nhà máy Cơ khí, thăm và nói chuyện với cán bộ, xã viên hợp tác xã Thành Công thị xã (nay là thành phố) Thanh Hóa.

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có nhiều chùa, đền miếu, nhà thờ. Những công trình này đều có giá trị lớn trong quá trình nghiên cứu lịch sử, kinh tế – xã hội và tìm hiểu giá trị nghệ thuật kiến trúc; đồng thời cũng là những chứng tích về mặt tín ngưỡng tâm linh. Có những vùng đất văn vật, hoặc những làng quê mà vấn đề phong tục tập quán đặt ra những chuyên đề khai thác dồi dào ý nghĩa. Rồi những sáng tạo nghệ thuật văn chương của các nhà trí thức, các nghệ nhân có thể giúp vào vấn đề tìm tòi bản sắc dân tộc, bản sắc quê hương.

– Chùa Thanh Hà (phường Trường Thi)

– Chùa Vân (làng Đông Tác): Còn nhiều pho tượng có từ thế kỷ XVI, XVII.

– Chùa Hội Quản, còn gọi là chùa Phật Học – Hội quán Hoa Kiều, phường Ba Đình.

– Chùa Chanh – Hương Quang Tự (làng Hương Bào, phường Nam Ngạn).

– Chùa Tăng Phúc (xã Đông Cương).

– Chùa Mật Đa – Mật Đa Tự (phường Nam Ngạn) được xây dựng từ đời Trần Thái Tông. Thần tích của làng cho biết chùa này do tổ phụ của Chu Văn Lương làm để tọa tĩnh, dạy học và chữa bệnh.

Chùa được xây tường kiên cố bao toàn khu vực. Kiến trúc rất quy mô:

+ Gian bên phải thờ thần ANa (?) có tượng hầu mặt xanh mắt lồi.

+ Gian bên trái có tượng Đức Ông (?) và tượng Nam tào, Bắc đẩu.

– Bệ thờ Quan thế âm bồ tát và tượng Đại thế chí. Bức đại tự:

– Bệ thờ Thiên phủ Thiên mãn và Kim đồng Ngọc nữ.

– Bệ thờ Thích Ca mầu ni và 2 tượng Địa tang ngồi.

+ Tiền đường rộng đến 5 gian.

– Chùa Đại Bi, còn gọi là chùa Mật (làng Mật Sơn, phường Đông Vệ). Tượng Lê Thần Tông và 5 bà phi (có bà phi là người nước ngoài) đã được đưa về đền Lê nay gọi là Thái miếu (Bố Vệ- Cầu Bố).

– Chùa Thiên Tiên Linh Từ (phường Điện Biên)

– Chùa Đèo Viên (Chùa Hội Đồng), Chùa Thanh Lâm phường Ba Đình (hai chùa này nay không còn).

– Chùa Trạch Lâm (phường Quang Trung), do công chúa Ngọc Tú đời Nguyễn dựng. Sau Tổng đốc Thanh Hóa là Tôn Thất Tĩnh sửa lại. Bia cũ bị rêu mờ không rõ năm tháng chỉ còn di tượng Ngọc Tú.

– Chùa trên núi Diệu Sơn, nơi có động khắc thơ của Trịnh Sâm. Dân gọi là chùa Mầu.

– Chùa Trặng (Ngọc Châu tự) thuộc xã Cẩm Sơn, được lập từ đời Hậu Lê, nay đang còn thờ tự.

– Chùa Báo Ân gần núi An Hoạch (xã Đông Tân), xây dựng khoảng 1099 – 1100. Có văn bia về Lý Thường Kiệt, và nguồn đá quí ở núi Nhồi.

– Chùa Kim Âu, cách chùa Hoa Long khoảng 5km là nơi vua Trần Dụ Tông đã đến tu. Lê Thánh Tông có đề thơ. Sau này Hồ Quí Ly cho xây dựng thành Ly Cung.

– Chùa Nguyên Hải, do Nguyễn Hòa dựng (thế kỷ XVII).

– Chùa Long Cảm (xã Hà Phong), xây dựng từ thời Lý.

– Chùa Linh Xứng, do Lý Thường Kiệt xây dưới chân núi Ngưỡng Sơn (xã Hà Ngọc). Chùa có tháp Chiêu Ân 9 tầng. Có văn bia ghi công trạng của Lý Thường Kiệt.

– Chùa Sùng Nghiêm, chính tên là Sùng Nghiêm Diên Thánh, ở thôn Duy Tinh (xã Văn Lộc) nên cũng gọi là chùa Duy Tinh, xây dựng thời Lý. Chùa có văn bia nổi tiếng, có cảnh quan đẹp, có hồ bán nguyệt, vườn hoa, ao sen. Có nhiều pho tượng rất cổ kính trong đó có 3 vị Tam thế cao to ngồi bỏ tay xuôi với tư thế khác nhau, 3 vị tượng trưng cho quá khứ – hiện tại – vị lai. Đặc biệt 3 pho tượng này được đặt trên tòa sen, 3 bệ đá hình bát giác 5 bậc nhỏ dần từ dưới lên trên, bậc cuối cùng có hình hoa vân sóng nước, trên nữa có hổ phù, bệ đá cao liền một khối trạm trổ công phu. Theo đánh giá của Viện Mỹ thuật thì 3 bệ đá này tương tự như bệ đá chùa Thầy (Hà Tây) nhưng được trạm trổ kỹ lưỡng hơn ở các làn sóng dưới chân, 3 bệ đá thời Lý còn tồn tại đến ngày nay.

– Chùa Gia (chùa Vĩnh Phúc – xã Hoằng Phượng)

– Chùa Thiên Nhiên (chùa Nhờn – xã Hoằng Lộc).

– Chùa Cổ Hoằng (xã Hoằng Yến)

– Chùa Hối Long (xã Hoằng Thanh)

– Chùa Hoàng Môn (xã Hoằng Đạt)

– Chùa Thiên Vương (xã Hoằng Đạo)

– Chùa Giáp Hoa (xã Hoằng Long)

– Nghè Nguyệt Viên (xã Hoằng Quang), kiến trúc cổ thời Mạc.

– Chùa Hưng Phúc (xã Quảng Hùng), có bia gọi là Hưng Phúc tự bi minh, ghi lại cuộc chống giặc Nguyên của Hương Yên Duyên (tên cũ của xã Quảng Hùng). Tấm bia này rất có giá trị về lịch sử.

– Chùa Mậu Xương (xã Quảng Lưu) có An Đông phật tổ Trần Ngọc Lành.

– Chùa Mun – Vạn Linh tự (xã Quảng Văn).

– Chùa Hương Nghiêm, ở giáp Bối Lý (xã Thiệu Trung), là ngôi chùa được xây dựng từ thời Tiền Lê. Có văn bia Càn Ni Hương Nghiêm tự bi minh khắc năm Thiên phù duệ vũ thứ 15 (1124).

– Chùa Thái Bình, trên núi Bằng Trình (xã Thiệu Hợp). Chúa Trịnh Sâm có làm thơ về chùa này, nhưng nay không còn dấu tích.

– Chùa Đại Hùng, còn gọi là chùa Vồm, ở chân núi Bàn A Sơn, làng Đại Khánh (xã Thiệu Khánh). Chùa Vồm lấy tên một nhân vật huyền thoại, đánh nhau với ông Bưng bị thua, trốn vào bụi, bị ông Bưng búng chết, hóa thành núi Vồm.

Chùa có tượng Phật A Di Đà, cao 6m. Hội chùa Vồm mở từ mồng 10 đến 15 tháng giêng âm lịch. Trên các vách đá Bàn A Sơn, còn có thơ của Lê Hiến Tông, Bùi Văn Dị ca ngợi cảnh chùa Vồm. Làng Đại Khánh có nghề làm nồi đất, và cũng được xem là đất 19 quận công.

– Chùa Tràng Lang (xã Định Tiến) nơi thờ Phật và thờ Đào Cam Mộc, người có công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua.

– Chùa Hoa Long (xã Vĩnh Thịnh). Chùa xây dựng thời Trần. Đặc biệt là chùa có bệ đá tam thế có hoa văn vũ nữ múa dâng hoa. Chỉ ở chùa này mới có nghệ thuật trang trí này trong kiến trúc Phật giáo.

– Chùa Giáng xã Vĩnh Thành.

– Chùa Du Anh, dưới chân núi Xuân Đài, có tượng sư tử đá nổi tiếng. Đây là di tích xây dựng thời Trần còn gọi là chùa Thông.

– Đền thờ và bia Lò Khăm Ban (Hồi Xuân).

– Chùa Xuân Thiên (xã Xuân Thiên).

– Chùa Tậu (Hồi Tông tự – xã Xuân trường)

– Đền Lê Thành (làng Định Hoà) xã Đông Cương.

– Thái Miếu nhà Lê (làng Bố Vệ) phường Đông Vệ.

– Đền Thánh Cả (làng Đông Sơn) phường Hàm Rồng.

– Nhà thờ Thiên chúa giáo (phường Trường Thi).

– Đền Trần Hưng Đạo (làng Phú Cốc).

– Đền Tống Duy Tân (làng Phú Cốc).

– Đền Chu Nguyên Lương (phường Nam Ngạn).

– Đền Đệ Tam thờ Hoàng Minh Tự (thành hoàng làng Núi)

– Đền Đệ Nhị, thờ Tô Hiến Thành.

– Đền Bà Triều (tổ sư nghề dệt súc, dệt xăm), làng Triều Dương

– Đền Đô đốc Nguyễn Sĩ Dũng thời Quang Trung (làng Lộc Trung)

– Đền thờ Đề Lĩnh (tổ sư nghề vật), làng Lương Trung

– Đền Sòng: Đền Giếng (thờ Liễu Hạnh).

– Đình làng Cẩm La, thờ Từ Thức (phường Quang Trung)

– Đền thờ Đặng Quang (phường Quang Trung)

– Đền thờ và bia mộ Hà Công Thái (chùa Mèo) xã Điền Lư.

– Đền Nguyễn Nghi (xã Đông Thanh).

– Đền Nguyễn Khải (xã Đông Thanh).

– Đền Nguyễn Chích (xã Đông Ninh).

– Đền Thiều Thốn (xã Đông Tiến).

– Đền Nguyễn Nhữ Soạn (xã Đông Yên).

– Đền Quốc công Lê Giám (xã Đông Ninh).

– Đền Trịnh Khắc Phục (xã Đông Ninh)

– Đền Lê Phụng Hiểu ở động Chiếu Bạch.

– Khu lăng miếu Triệu Tường (xã Hà Long)

– Đình làng Gia Miêu (xã Hà Long)

– Đền Lý Thường Kiệt (xã Hà Ngọc).

– Ly cung (cung Bảo Thanh) xã Hà Đông.

– Đền Cây Thị (có hang Chum vàng – xã Hà Ngọc).

– Đền thờ Lê Thọ Vực (xã Hà Sơn).

– Đình Đồng Bồng (xã Hà Tiến) là đình nổi tiếng ở Hà Trung.

– Đền thờ Trần Hưng Đạo (xã Hà Dương).

– Đình Ngô Xá Hạ (xã Thiệu Minh), nơi tập trung Cứu quốc quân kéo về tỉnh lỵ Thanh Hóa ra mắt đồng bào ngày 23 – 8 – 1945, của Uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa.

– Đền thờ Lê Văn Hưu (xã Thiệu Trưng)

– Đền thờ Đinh Lễ (xã Thiệu Hưng)

– Đền thờ Nguyễn Quán Nho (xã Thiệu Hưng)

– Đền thờ Dương Đình Nghệ (xã Thiệu Dương)

– Đền Trà Đông (xã Thiệu Trung)

– Đền và lăng Bà Triệu (xã Triệu Lộc).

– Đền Hoa quận công Đỗ Danh Khanh (xã Thuần Lộc).

– Nhà thờ Á trạng Phạm Thanh (xã Hoà Lộc).

– Nhà thờ Phạm Bình (xã Hoà Lộc).

– Đình Lục Trúc (xã Phú Lộc), Đình có kiến trúc cổ và tương đối cơ ngơi. Từ ngôi đình này, Hoàng Bật Đạt đã khởi quân và tế cờ Cần Vương.

– Bảng môn đình (xã Hoằng Lộc).

– Đình Liên Châu và đình Hoàng Chung (xã Hoằng Châu)

– Đình làng Thượng Thôn và đình làng Trụ Thôn (xã Hoằng Lý)

– Đình Đông Khê (xã Hoằng Quỳ)

– Đình Phú Khê (xã Hoằng Phú).

– Đình Phượng Mao (xã Hoằng Phượng)

– Đền Thánh Tến thờ Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Quỳ).

– Đền Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Sơn)

– Đền Triệu Quang Phục (xã Hoằng Trung).

– Đền Tô Hiến Thành (xã Hoằng Phượng)

– Nhà thờ Nguyễn Quỳnh (xã Hoằng Lộc).

– Đền Bà Quốc mẫu (xã Hoằng Xuân)

– Nhà thờ Lương Đắc Bằng (xã Hoằng Phong).

– Nhà thờ Nguyễn Phan (xã Hoằng Đạt)

– Đền Đồng Cổ (xã Hoằng Minh)

– Nhà thờ Nguyễn Đình Giản (xã Hoằng Quang)

– Đền thờ Cao Lỗ (xã Hoằng Giang)

– Từ đường dòng họ Lê Duy (xã Hoằng Phú)

– Nhà thờ Bùi Khắc Nhất (xã Hoằng Lộc)

– Đình làng Trung Hòa (xã Hoằng Trung)

– Đình làng Xa Vệ (xã Hoằng Trung)

– Đền Chèng Khẹt (xã Đồng Lương)

– Đền Bà thờ Bà Triệu (xã Tế Thắng)

– Đền Ôi, thờ Trần Khát Chân (xã Tế Thắng)

– Đền Vua Bà, thờ Tam giang Thần mẫu (xã Tế Tân)

– Đền Mối, thờ Trần Khát Chân (xã Trung Thành).

– Nhà thờ Đinh Liệt (xã Trung Chính)

– Nhà thờ Đỗ Bí (xã Minh Nghĩa).

– Đền Tham Xung Tá Quốc (xã Trung Thành)

– Nhà thờ họ Lê Sĩ (xã Hoàng Giang)

– Nhà thờ họ Lê Đình Túc (xã Trung Ý)

– Đền thờ Ngô Xuân Quỳnh (xã Trường Giang)

– Đền vua Hùng thứ 11 (xã Nga Thắng).

– Đền Lê Thị Hoa (xã Nga Thiện).

– Đền Trịnh Minh (xã Nga Thiện).

– Đền thờ Áp lãng chân nhân (xã Nga Giáp).

– Đền Triệu Quang Phục (xã Nga Thanh).

– Đền Trần Hưng Đạo (xã Nga Thủy).

– Đền Mai Thị Ngọc Tiến (xã Nga Thủy).

– Đền Nguyệt Nga Hoàng phi (xã Nga Bạch).

– Đền Bạch Tượng (Bạch Tượng tự – xã Nga Giáp)

– Đền Lê Thái Tổ (làng Như Áng). Đền còn giữ được 15 đạo sắc.

– Đền Tép, thờ Lê Lai (xã Kiên Thọ).

– Đền An Dương Vương, có tượng Mỵ Châu cụt đầu (xã Quảng Châu).

– Đền Bùi Sĩ Lâm (xã Quảng Tân).

– Đền Lê Bá Trí (xã Quảng Tân).

– Đền Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (xã Quảng Hợp).

– Nhà thờ Hoàng Bùi Hoàn (xã Quảng Trạch).

– Đền thờ Đào Duy Từ (xã Nguyên Bình)

– Đền Quang Trung (xã Hải Thanh).

– Nhà thờ Thiên chúa giáo Ba làng.

– Chùa Đót Tiên (xã Hải Thanh)

– Đền Thanh Xuyên (xã Hải Thanh)

– Đền Lạch Bạng (ở cửa Lạch) thờ Tứ vị thánh nương (xã Hải Thanh)./.