【#1】Gà Mái Giống Tuyển Chọn Chuẩn Lai Tạo Chiến Kê

Đăng bởi Sử Quốc An – 17/04/2020 – Lượt xem: 187

Chào Anh Em đồng môn đam mê bộ môn gà đá, hôm nay Trại gà A Chiến sẽ tổng hợp lại một số em gà mái giống đã từng làm mẹ của các chiến kê cho trại. Các em “đào” này cũng đã chia lại Anh Em chơi, đổ con. Mời mấy anh trai xem qua. Đừng quên là ngày mai 18/04 Bên trại sẽ lên Top 10 em gà mái hiệu đồng giá, bán cho Anh Em để mình đi làm từ thiện cho bà con ở quê mùa dịch Covid 19.

Tầm quan trọng của gà mái giống trong việc lai tạo

Anh Em đã từng nghe câu “chó giống cha, gà giống mẹ” chưa, như vậy cũng đã nói lên tầm quan trọng của gà mái rồi.

Một số gà mái giống bên trại gà A Chiến

Gà Muff là giống gà Mỹ pha lẫn Cuba với lông dưới đầu như râu quai nón, nhìn mặt rất xồm xoàm trông rất ngầu. Anh Em nhìn một phát là biết ngay. Trại cũng đã lai tạo được thành công giữa gà que huyền thoại lai với gà đá Muff nhập khẩu. Trong bầy cũng chỉ tuyển ra kỹ càng chỉ được 2 3 em gfa mái giống và đã chia lại Anh Em về lai tạo.

Trại đưa gà mái cho Anh Em là gà tuyển chọn kỹ, gà giống của trại, hoặc đi chọn lựa qua rất nhiều yếu tố mới đưa lại Anh Em. Đơn giản vì nếu Anh Em không bắt thì cũng là giống của trại để đổ con qua nhiều đợt, cho nên không bao giờ tuyển chọn hàng dạt, hoặc đưa anh em mấy con gà hư được.

Và một số em gà mái giống khác của trại gà A chiến TG

Gà mái úa chân xanh cán vuông hàng hiệu của trại đã chia Anh Em về chơi

Gà mái bông cán vuông bổn bang chuẩn hàng hiệu

Các Dòng Gà Đá Việt Nam Bổn Bang Chất Lượng:

  • Gà Tre Bổn Bang
  • Gà Nòi Đăng Cấp
  • Gà Nọc Giống
  • Gà Mái Đổ Gia Công
  • Gà Đá VIP F1, F2, F3

Các Dòng Gà Mỹ Nhập Khẩu 100%:

  • Gà Asil Mỹ
  • Gà Kelso Doc
  • Gà Sweater
  • Cuban
  • Hatch

Alo Nhé Anh Em 09.345678.71 (A Chiến) TRẠI GÀ NHẬP KHẨU A. CHIẾN TIỀN GIANG

【#2】Giới Thiệu Khái Quát Huyện Nga Sơn

Mỗi lần đọc Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, lòng tôi lại chộn rộn bao cảm xúc khi nghĩ về quê hương, đất nước mình. Thấy yêu quý, thấy tự hào về đất Việt biết bao. Mỗi bài viết trong Thương nhớ mười hai là một chuyến hành trình đưa ta về với những miền đất đẹp giàu, với những sản vật nổi tiếng theo từng tháng ở miền quê bắc bộ. Và đúng như giáo sư Hoàng Như Mai trong lời mở đầu của tác phẩm đã nhận xét ” những sản vật ấy gợi lên tình cảm đất nước quê hương đằm thắm…..”. Về với mảnh đất Nga Sơn, một vùng quê mang nhiều màu sắc huyền thoại, lòng tôi cũng không khỏi xốn xang khi được nghiên cứu, tìm hểu về văn hóa sống của người dân nơi đây, trong đó có văn hóa ẩm thực. Qua đó mới thấy, trên dải đất cong cong hình chữ S, bất cứ nơi đâu, cũng có một nét đặc trưng riêng biệt, một món ăn đậm đà tính quê hương. Nếu như người ta vẫn nhắc đến Phở Hà Nội, nhắc đến Bưởi Thanh Trà, đến nhãn lồng Hưng Yên, bánh Cu Đơ Hà Tĩnh,… Thì khi nhắc đến Nga Sơn ta sẽ phải nghĩ tới: gỏi Nhệch Nga Liên, Dê núi Nga An, rượu Chính Đại Nga Điền, rượu Nga Bạch, Nga Liên,…… những đặc sản thấm đậm tình người, tình quê xứ Thanh.

Đi và ăn rồi mới thấy cách ăn, cách chơi, thú ẩm thực của Xứ Thanh cũng đầy thanh tao, cầu kỳ, sành sỏi và khoa học. Cũng bằng thứ nguyên liệu giống nhau, nhưng cách chế biến và thưởng thức của người dân Nga Sơn thì hoàn toàn đặc biệt và khác lạ. Nó tạo nên cho các món ăn nơi đây hương vị độc đáo đầy ấn tượng, chỉ thưởng thức một lần, cũng nhớ mãi không quên.

Đến với Nga Sơn, mà không thưởng thức dê núi Nga An thì thật là thiếu sót. Dê núi Nga Sơn không nức tiếng, không ồ ạt, ồn ã như Dê núi Ninh Bình, nhưng chắc chắn chỉ 1 lần được thưởng thức Dê núi Nga An – Nga Sơn thì bạn đã có thể hiểu được sự đặc biệt của những món ăn được chế biến từ Dê. Tại sao nên ăn thịt Dê núi? Vì thịt Dê lành, loài Dê ít ốm đau bệnh tật, Dê lại ăn lộc, lá cây trên núi, đó là những lạo thảo dược chứa nhiều vitamin, và khoáng chất tốt cho sức khỏe. Nhất là đối với nam giới, thịt Dê thực là một loại chất bổ. Nếu như Dê núi Nga An cũng được chế biến như Dê núi Ninh Bình thì chắc hẳn nó đã không thể để lại được ấn tượng sâu sắc đến thế! Vậy, điều khác biệt của những món ăn này nằm ở đâu, cách chế biến có bí quyết gì mà gây được nhiều thiện cảm đến vậy?

TIỀM NĂNG DU LỊCH NGA SƠN

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này. Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích

Nga Sơn nằm trên quốc lộ 10, cách thành phố Thanh Hoá hơn 40km, thị xã Sầm Sơn chừng 60km, (nếu đi theo đường biển từ cửa Lạch Sung đến đảo Nẹ đến Sầm Sơn khoảng chừng 30km). huyện Nga Sơn nối với các điểm du lịch phía Bắc, cách nhà thờ đá Phát Diệm chừng 15km, từ Nga Sơn dọc theo quốc lộ 10 đến Quảng Ninh, Hải Phòng chỉ nửa ngày đường.

Do giáp với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, có nhà thờ đá Phát Diệm – một điểm du lịch khá phát triển và cách chùa Bái Đính khoảng 60km là điểm thu hút được rất nhiều khách du lịch nhất là khách du lịch quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện Nga Sơn thu hụt được nguồn khách du lịch từ Ninh Bình đến thăm.

Phía nam giáp với huyện Hậu Lộc, phía tây giáp với huyện Hà Trung – hai huyện có nhiều điểm du lịch nổi tiếng. Vì vậy, huyện Nga Sơn có thể kết hợp với hai huyện để xây dựng một số tuyến du lịch nhằm khai thác có hiệu quả những tài nguyên du lịch của địa phương.

Là một vùng do đất phù sa bồi tụ nên địa hình Nga Sơn nói chung được kiến tạo theo dạng lượn sóng, tạo thành ba vùng: Vùng chiem trũng, vùng đồng màu và vùng ven biển. Độ cao giữa các vùng chênh lệch 0,3-0,5m. Với địa hình như vậy rất thuận lợi cho việc đi lại, thăm quan của khách du lịch. Các điểm du lịch của Nga Sơn phân bố ở những nơi có địa hình không quá khó khăn nên tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch và xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch.

Vị trí địa lí mang lại cho Nga Sơn loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nền nhiệt cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tương đối nóng, lượng mưa trung bình. Nhiệt độ trung bình năm là 23-24 0 C. Lượng mưa trung bình là 1700-1900mm. Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến thàng 10). Có hai thời kỳ khô ngắn là tháng 5,6 và tháng 10,11.

Khí hậu của Nga Sơn không quá khắc nghiệt tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch diễn ra quanh năm và có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch.

Nga Sơn có khu vực biển nông chạy dài từ Nga Tân đến Nga Bạch khoảng 10km, vùng bãi triều có thể trồng được: sú, vẹt, nuôi ngao…ngoài khơi có nguồn lợi hải sản phong phú.

Với tài nguyên như vậy, Nga Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, ở vùng bãi triều đã trồng rừng sú, vẹt (ở xã Nga Tân) rộng tới gần 100ha, đây là điểm du lịch thuận lợi để thu hút khách du lịch tới tham quan. Vùng biển Nga Sơn có nguồn hải sản phong phú, đây là nguồn cung cấp thực phẩm cho các nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống của khách du lịch về thăm Nga Sơn.

Nga Sơn nằm giữa các con sông Hoạt và sông Lèn. Sông Lèn thuộc hệ thống sông Mã đoạn chảy qua huyện dài 11km, sông Hoạt là nhánh của sông Lèn đoạn chảy qua huyện khoảng 15km. Tổng lưu lượng nước mùa mưa của các con sông lên tới 1.720m 3/s. Trong các cuộc kháng chiến giữ nước trước đây, sông Hoạt và sông Lèn là đường giao thông thuỷ rất quan trọng. Không những thế, đôi bờ sông Hoạt là dãy núi Tam Điệp còn có những cảnh quan kỳ thú “sơn thuỷ hữu tình”.

III. Tài nguyên du lịch tự nhiên.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này.

Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng như: Động Từ Thức, cảnh đẹp Chùa Tiên, Hồ Đồng vua, đền thờ Mai Anh Tiêm trên núi Quả Dưa, Chùa Thạch Tuyền, chùa Bạch Tượng…dọc đôi bờ sông Hoạt theo dãy núi Tam Điệp còn có biết bao cảnh quan kỳ thú như động Lục Vân, Động Trúc Sơn, cửa Thần Phù, Núi Bia Thần, Núi Lã Vọng, Núi “Rồng Hổ tranh ngọc”, “Giếng thần”, Động Bạch Á … Mật độ di tích “dày đặc” lại rất tự nhiên nằm tập trung ở vùng phía bắc tại dãy núi Tam Điệp và đôi bờ sông Hoạt nên rất thuận lợi cho hoạt động du lịch. Và cũng chính nơi đây từ xưa đã có rất nhiều nhà sử học, bác học như: Phan Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, …các nhà vua, chúa như: Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông, chúa Trịnh Sâm, và cả thái tử nước Lào…vãn cảnh thăm thú tức cảnh, đề thơ trên núi. Đồng thời vùng quê cổ tích này còn hội tụ những di tích lịch sử như: Chiến khu Ba Đình, đền thờ Trần Hưng Đạo, đền thờ Triệu Quang Phục, đền thờ nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh, đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn…

Nga Sơn từ lâu đã nổi tiếng với danh thắng Động Từ Thức, là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng độc nhất vô nhị ở trời Nam. Bởi chỉ có động Từ Thức mới có huyền thoại “Từ Thức gặp Tiên” – một câu chuyện tình đầy lãng mạn, đầy tính nhân văn mà không ở nơi nào có được, một điểm có giá trị rất lớn đối với sự phát triển du lịch của huyện Nga Sơn nói riêng và Thanh Hoá nói chung.

Động Từ Thức còn có tên gọi khác là Động Bích Đào, vì ở ngay cửa động có một quả đào to (tất nhiên bằng đá). Nhưng vì gẵn với câu chuyện Từ Thức gặp Tiên nên dân gian thường gọi là Động Từ Thức.

Động Từ Thức thuộc xã Nga Thiện huyện Nga Sơn, nằm trong dãy núi đá vôi Tam Điệp ở phía đông bắc tỉnh Thanh Hoá. Dưới chân núi trước cửa động có hàng cây cổ thụ xum xuê tán lá, tiếp đến là con kênh dẫn nước, cánh đồng lúa bằng phẳng, xóm thôn xanh ngắt một mầu.

Thắng cảnh Động Từ Thức gắn liền với câu chuyện truyền thuyết Từ Thức gặp Tiên – nàng Giáng Hương.

Tương truyền Từ Thức vốn là người Hoá Châu (Thanh Hoá) thuộc xã Cẩm La huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), làm quan tri huyện ở Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Năm Quang Thái thứ 9 nhà Trần (1396).

Cạnh huyện có ngôi chùa cổ, vườn chùa có cây Mẫu đơn, đến mùa hoa nở người người, lớp lớp chen chân vào xem hoa, gọi là Hội xem hoa.

Tháng 2 năm Bính Tí có ngươi con gái nhan sắc tuyệt trần, vào xem hoa có vịn cành hoa không may bị gãy, vì là Tiên không có tiền chuộc nên người trông giữ hoa bắt lại. Quan huyện tể Từ Thức đến xem hội thấy người con gái xinh đẹp, lại bị trói vào cành hoa, chàng liền cởi áo da cừu trắng đến tăng phòng nộp cho nhà chùa, chuộc người con gái ấy.

Nhân dân ca tụng ông là người nhân từ. Từ Thức là người phóng khoáng đi chơi thường mang theo bầu rượu, cây đàn, túi thơ du ngoạn các nơi có phong cảnh đẹp. Một số quan trên của ông thường hay quở mắng: Cha là Quan cao chấp chính, con không làm được chức quan Huyện tể hay sao ?

Từ Thức than rằng: Ta không vì 3 đấu đậu đỏ (lương tháng) mà gởi thân vào trường danh lợi, lúc nào đó ta sẽ tìm đến non xanh, nước biếc du chơi, chắc là nơi ấy không nỡ phụ ta. Nói đoạn treo ấn từ quan rồi bỏ đi.

Đến Tống Sơn là nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều hang động, bói quẻ thấy đây là vùng đất lành, chim đậu, nên thường lui tới rong chơi, mang theo cây đàn, bầu rượu, túi thơ đến những khe suối nhỏ ngâm vịnh, không đâu thiếu thơ đề.

Một buổi sáng thức dậy nhìn lên cửa bể Thần phù thấy năm sắc mây kết tụ như đoá hoa sen , chèo thuyền đến nơi thấy đó là ngọn núi đẹp. Buộc thuyền, trèo lên thấy ngọn núi đá nhọn cao trên 100 trượng, người như có cánh bay lên. Trước cảnh sinh tình đề thơ rằng:

Thiên thoải bích thu quải trều diên

Hoa thảo nghênh nhân nhập động môn

Bàng giãn dĩ vô tăng thái dược

Diên lu thăng hửu khách tâm nguyên

Lữ du tư vị cầm tam lộng

Điếu đỉnh sinh nhai tửu nhất tôn

Nghĩ hướng vũ lăng ngư phủ vấn

Tiền lai viễn cận thực đào thôn.

Bạt ngàn cây biếc đón hương trời

Hoa quả mời ta đến động chơi

Sườn núi đã không sư hái thuốc

Bờ khe lại có khách tìm chơi

Lữ hành hứng thú đàn ba phiếm

Ngư phủ say sa rượu một hơi

Định đến vũ lăng tìm bạn hỏi

Thôn đào đâu phải quá xa vời.

Đề thơ xong bồi hồi xúc động ngắm nhìn, bỗng thấy vách đá nứt một lỗ hình tròn nhỏ nhưng có thể chui vào được. Từ Thức chui vào bước được mấy bước thì vách đá khép lại. Hoang mang bối rối, lấy tay xoa vách đá thấy một khe nhỏ cong queo như ruột dê, đi vào mấy dặm chợt thấy ngọn đèn treo trên vách đá, theo đường đi lên vòm bước lên đỉnh núi thấy bầu trời sáng sủa, nhìn quanh đến lâu đài cung các. Mây hồng tuyết trắng bám trên các lan can, hoa đẹp cỏ tươi quấn quýt gần xa, thật là một thâm cung nấu mình trong rừng thẳm.

Lòng Từ Thức lâng lâng trầm ngâm suy nghĩ miên man, bỗng thấy trước mắt hai tiên đồng mặc áo xanh đến thưa rằng: Phu nhân thấy chàng chui vào động nên sai chúng tôi ra đón. Qua đường ngầm nến đỏ có một cửa son đối diện cung ngân trên có bảng đề “Kinh hư điện Gác giao quang”. Trên gác có giường Bát Bảo, chăn trắng, bên cạnh đặt một bình hương nhỏ.

Một người mời Từ Thức ngồi và nói rằng: Chàng là người tốt, đã cưu người ở Hội hoa Mẫu Đơn Tiên Du, hạnh ngộ gặp nhau ở đây chả nhẽ lại quên ư. Từ Thức đáp: Tôi là dật sĩ ở Tống Sơn vui cảnh giang hồ làm sao biết được nơi đây Tử Phủ Thanh đô không hiểu sao tôi như tự sinh cánh mới lên được đây song lòng trần còn man mác, chưa hiểu tiền đồ ra sao. Người tiếp chuyện cười và nói rằng: Đây là động thứ sáu trong ba mươi sáu động. Tôi là Nam nhạc địa tiên Nga phu nhân, thấy chàng có nghĩa lớn hay cứu người bị gian nguy nên mời chàng đến đây, rồi đưa mắt bảo các cô gái gọi Nàng A lại.

Từ Thức lét nhìn mặt mũi thì ra là người ngày trước làm gãy cành hoa mẫu đơn ở huyện Tiên Du.

Tiên Nga chỉ vào Giáng Hương và nói: Đây là con gái của ta tên gọi Giáng Hương. Ngày trước nhờ chàng cứu nạn trong hội xem hoa, ơn nghĩa ấy không bao giờ quên, ngỏ ý muốn kết duyên để báo đáp công ơn chàng ngày trước.

Đêm hôm ấy tại Tiên động lấy mỡ Phượng đốt đèn hành lễ giao duyên, hai người báo đáp lễ thành hôn.

Hôm sau, các Nàng Tiên, người cưỡi Rồng, người ngồi võng Hạc, quần áo lộng lẫy đến nơi tụ tập mở yến tiệc trên Gác giao quang, bước lên gác trang trí nội thất toàn bằng lưu ly hổ phách chưa có ai ngồi. Tiên Nga gọi Kim Tiên quần nữ đến bái rước lên gác tiên, ca nhạc liên hoan. Có một người mạc xiêm y màu lam đến nói: Ta đến đây đã tám vạn năm, nay chàng du hành đến không ngại dương trần cách trở, thoả ước nguyện ba sinh, tưởng không phụ lòng nhau, đừng lấy thần tiên là chuyện hoang đường vậy.

Tiếp sau các tiên đồng chia nhau ca vũ, phu nhân ngồi làm chủ toạ, Giáng Hương chuốc rượi mừng vui. Bỗng có một tiên nữ mặc áo lam đến nói: Cần có một kế ước làm tin, vì sợ sau này lạc nhau trên tiên giới khó mà tìm gặp được nhau. Vì trên đời còn lắm quần nho.

Từ Thức có bộ áy náy trong lòng. Phu nhân nói tiếp: Tìm có thể gặp nhưng khó tìm, đạo không phải tu mà tự đến. Rồi đây đình lớn nhà cao bên sóng vỗ, sự đời diễn biến ra sao chưa thể biết trước. Chàng không nhớ chuyện Lộng Nga với Tiên Sử, Thái Loan gặp Văn Tiên, Lan Đã gặp Trương Thạc. Nhiều chuyện đã ghi chép rõ ràng, đó không phải là tấm gương soi hay sao. Nếu lấy việc hôn nhân làm chuyện đùa thì trước đến nay đều là vui đùa diễu cợt cả.

Chuyện vui đang tiếp diễn thì ánh tà dương xuyên qua cửa sổ, hoàng hôn buông xuống mọi người phân tán đi nơi khác.

Từ Thức vui đùa nói với Giáng Hương: Này duyên Tiên Trần phù hợp tại sao có chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, Tăng Nho – Chu Thái, tại sao lại có thơ Xuân Ngọc – Hoàng Lăng. Tuy cảnh có khác nhau nhưng tình là một. Bây giờ quần tiên đã đi xa, ở đây vắng vẻ mà lòng ta không hứng khởi, muốn hoà hợp với nhau mà tình chẳng động. Giáng Hương đáp lại: Đa số các chàng lấy khí huyền nguyên là một chân tình không thể phung phí cho nên đã lên nơi kim đàn mà thân nơi cửa khuyết, ở phủ Thanh đàn dạo chơi nơi xung hán không cần đèn mà lòng trong sáng, không vất vả mà chẳng động tình. Riêng phận thiếp thất tình chưa rửa sạch cho nên trăm loại tình đâu dễ phát sinh. Theo Châu Tử Mị Thiên Phủ mà lại mang nợ dưới cõi trần, thân trên chốn cung tiên mà lòng vẩn đục dưới trần thế. Mong chàng đừng lấy tự tình của thiếp mà so sánh với quần tiên.

Từ Thức đáp: Nếu đã như vậy thì ta không thể xa nàng được. Cả hai người cùng vỗ tay cười.

Phòng của Giáng Hương có bức bình phong, Từ Thức thường đề thơ. Nghĩ lại người xa nhà đã một năm nên nhiều lúc buồn rầu, đi đứng vội vã bất thường có lúc lại chậm chạp, yếu ớt. Nhiều đêm khí lùa vào cửa sổ, gối rơi khí lạnh cảnh vật chập chờn như ai gọi.

Một hôm nhìn xuống trần gian thấy thuyền bè qua lại đông vui bèn gọi Giáng Hương lại trông và nói rằng: Nhà ta ở đó, hiềm vì trời xa sóng cả nên không rõ đâu là quê hương. Có lúc lại nói với Giáng Hương: Ta là người vui thú với cỏ cây, hoa lá, lòng đa sầu đa cảm, dễ động tình nhớ đến quê hương xin nàng cho ta trở về thăm thú quê nhà, rồi sẽ lên đây cùng nàng sống bên nhau đến trọn đời.

Giáng Hương khóc và trả lời: Thiếp không buồn vì chàng trở lại dương trần, nhưng chỉ lo vì đường đi cách trở khó khăn, vả lại chàng ra đi đã lâu đến nay xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa khó mà nhận ra quê hương làng mạc cũ.

Từ Thức lại nói: Đây là ý nguyện khẩn thiết của ta, nàng hãy giúp ta. Giáng Hương can không được bèn tặng một cỗ xe mây chở chàng đi và trao cho chàng một phong thư, dặn chàng: Mai sau nếu không quên tình cũ, thì hãy xem thư này…nói đoạn rơi lệ tiễn biệt.

Về đến quê hương thì vật đổi, sao rời, xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa, mọi vật đều khác trước, người thân thích họ hàng không còn.

Từ Thức tìm đến các cụ già nói rõ họ tên và tìm hiểu thân thích xa gần, tất cả đều ngơ ngác. Duy chỉ một ông cụ nói: Khi còn nhỏ tôi có nghe ông cụ tổ ba đời của tôi cùng họ tên với ông lạc vào rừng cách đây đã tám mươi năm. Từ triều Trần nay đã chuyển sang Triều Lê. Năm Diên Ninh thứ năm.

Từ Thức vô cùng hối hận muốn trở lên tiên thì cỗ xe mây đã biến thành đám mây bay đi mất. Buồn rầu mở thư xem chỉ thấy Giáng hương ghi “Duyên xưa đã hết”. Nhìn trời biển bao la, Tiên trần cách biệt, hơn nữa dù có gặp lại Giáng Hương thì tình duyên đã hết. Từ chán ngán, mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, đi đến núi Hoàng Sơn (Nông Cống) rồi mất tích.

Truyền thuyết dân gian Từ Thức – Giáng Hương là nét đặc sắc độc đáo của thắng cảnh Từ Thức và cũng là nguồn hấp dẫn, thu hút nhiều khách từ xưa đến nay tới đây để vãn cảnh, đề thơ.

Chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương, một thiên tình sử lãng mạn đầy tính nhân văn sâu sắc.

Tạo hoá, như có một bàn tay siêu thần, có phép màu nhiệm tạo nên bao nhiêu cảnh đẹp như thực, như mơ, lung linh rực rỡ sắc màu vẻ huyền bí, bảng lảng vừa gần, vừa xa ở Bồng lai tiên cảnh, gần gũi đến lạ kỳ như giữa đời thường lúc nào cũng gặp bên ta. Cứ tưởng như khi ta chạm bàn tay vào các cảnh vật là Đá như có sự lay động, như có lời thầm thì của đá.

Trong động, trên vách đá, nóc động, nền động nhiều cảnh thơ mộng bởi thạch nhũ. Các bức “phù điêu”, “tượng” rất thực với đời sống thường ngày của con người, của hạnh phúc lứa đôi, mà cảnh là một tác phẩm kỳ ảo của thiên nhiên lưu lại những kỷ niệm trùng hợp của đôi trai tài, gái sắc.

Khi ta bước vào trong động đến khi thăm hết động, cảnh vật trong động được tạo hoá sắp xếp tuần tự, chỉnh chu như một “bài văn mẫu” kể về chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương.

Động Từ Thức được chia làm 3 động nhỏ: Động ngoài, động giữa và động trong. Hay thường gọi là ba cung.

Động ngoài rộng, trần động hình vòng cung như chiếc bát úp khổng lồ. Phía dưới vòng cung ở giữa động một nhũ đá trông như trái Đào Tiên, nhiều bông hoa Mẫu Đơn, một chiếc áo treo bên cạnh của chàng Từ Thức, một cây bút thần. Trung tâm của động ngoài này là cảnh “Quần Tiên hội ẩm” giữa quần tiên ca múa nhân ngày Từ Thức kết duyên với Giáng Hương là hình ảnh Từ Thức đội mũ cánh chuồn đứng sau nàng Giáng Hương xinh đẹp, đôi lứa đang tràn đầy hạnh phúc.

Bước vào phần động giữa là một thế giới kỳ ảo của nhiều cảnh trí mà chỉ có tạo hoá mới tạo ra được. Đầu tiên chúng ta sẽ thấy những kho Tiền, kho Muối, kho Vàng lấp lánh, thật ngạc nhiên khi ta bắt gặp “Rồng chầu ấp trứng” một con Rồng như phù điêu tuyệt đẹp mà có lẽ “chỉ có trời ” mới tạo ra được đẹp như thế. Rồng uốn lượn đang “co” lại “ấp” trứng, những quả trứng rồng mới đẹp làm sao. Quả tròn, to nhỏ nhiều cỡ, vở quả trứng bên ngoài như quả na vừa vàng, vừa thẫm đen trông thật kỳ thú. Rồi những phiến đá nhũ đá mỏng, màu trắng ngà rủ từ trần xuống-những nhũ đá đó gọi là dàn “đàn đá”, “trống đá”. Bởi vì chỉ cần gõ nhẹ vào những thanh nhũ đá, sẽ nghe âm thanh vang lên với những cung bậc khác nhau. Tiếng trầm hùng như từ ngà xưa vọng lại. Tiếng “kim ” như cao vút tận trời xanh.

Càng vào sâu lòng động càng rộng ra, chúng ta sẽ thấy ngỡ ngàng khi gặp bàn cỗ tam sinh có đủ lợn, trâu, dê…một mâm xôi trên có miếng thịt lợn giống như thật. Rồi những dấu tích về tình yêu của Từ Thức và Giáng Hương như: “Buồng tắm” của Giáng Hương và “thư phòng” của Từ Thức, những Bông hoa, những quả Đào tiên, Vầng trăng và có cả những Đôi chim thạch nhũ, một “Bức triện” được khắc tinh xảo như dấu ấn từ quan của Từ Thức. Đối diện là cảnh Ao bèo, Bụi tre, Quả mít, cây Táo, những con Voi, con Dê… gợi hình tượng quê hương trong sự tưởng nhớ của chàng thư sinh Từ Thức. Ngước lên trần là cảnh Từ Thức cùng Giáng Hương đang “cưỡi Xe mây” du ngoạn Bồng lai Tiên cảnh. Cảnh Từ Thức – Giáng Hương cùng che “lộng Vàng” đọc sách, ngâm thơ. Cảnh những con chim Đại bàng sải cánh rộng bay chao đảo giưa bầu trời rộng mênh mông…Đi tiếp là một ngã rẽ, một ngả theo tương truyền là đường lên cõi Tiên của Từ Thức. Tại đây có quán nghỉ chân bằng đá mà chàng nghỉ suốt dọc hành trình và còn có những mắc treo áo, treo mũ bằng đá. Bên cạnh đường lên Tiên là một ngả rẽ hẻm sâu theo đường xoáy ốc vẫn bí ẩn bao đời nay, nhân dân quen gọi là đường xuống Âm phủ tối đen. (dân ở đó kể rằng khắc dấu vào quả bưởi thả xuống, quả bưởi sẽ trôi ra mãi cửa Thần Phù)

Động Trong: Cảnh Từ Thức từ giã Giáng Hương về thăm quê, một đôi dày của Từ Thức thô sơ như bao đôi dày dân giã, một dãy núi có 5 ngọn núi nhỏ “tựa như Ngũ hành sơn”. Nơi Từ Thức đến những bông hoa mẫu đơn, có một bông thật to rủ xuống bên cạnh ngôi mộ của chàng Từ. (Bông hoa Mẫu đơn, mà nàng Giáng Hương vô ý đã làm gãy cành-Duyên cớ đó cho đôi lứa nên duyên vợ chồng). Phía cuối động có vòm thấp, phải cúi đầu mới vào được đó là “lầu cô lầu cậu” rất linh thiêng, những cặp vợ chồng thường vào đó để cầu tự sinh trai tài, gái sắc.

Ở những thế kỷ trước nhiều thi nhân tới động Bich Đào , tức cảnh sinh tình, những vần thơ “thiên cổ kỳ bút” đã sinh ra từ đây để lại cho hậu thế. Hai câu thơ của cụ Huỳnh Thúc Kháng vịnh về động Bích Đào còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ và trong thi đàn Việt Nam:

“Thơ ngọc vội đưa người viễn khách

Động Bích Đào còn để lại tiếng danh sơn”

Nhà thơ, nhà bác học Lê Quý Đôn, trạng nguyên Nguyễn Thượng Hiền, chua Trịnh Sâm đều sáng tác những vần thơ đẹp ngợi ca động Bích Đào.

Sách “Truyền kỳ mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ dành cả một chương viết về kỳ quan thiên nhiên động Bích Đào và câu chuyện Từ Thức. Tập truyện nôm khuyết danh “Từ Thức tân truyện”, rồi “Từ Thức Tiên hôn” của tác giả Lê Khắc Khuyết viết vào đầu thế kỷ XX và những thế kỷ trước, các sách “Thanh Hoá kỳ thắng”, “Thanh Hoá danh thắng”…đều hết sức ca ngợi động Từ Thức.

Bài thơ của bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726-1784):

Trên đảo bầy Tiên chuyện lạ thường

Bích Đào cửa động quá hoang lương !

Đất trời manh áo đày Từ Thức

Mây nước đôi mày đoạ Giáng Hương !

Trống đá tiếng lay vầng nhật sớm

Muối non vị nhạt đẫm thu sương

Người đời khổ bởi mơ tiên cảnh

Ai biết thiên thai cũng hí trường.

Mờ mịt thần tiên ngất dặm dương

Bích Đào động khẩu dấu thê lương

Áo gai phiêu bạt thân Từ Thức

Mây nước già dăm mặt Giáng Hương

Trống đá nghe khuya lay động sớm

Sương thu chăng đượm cát sa trường

Thiên thai bao kẻ từng xây mộng

Nào biết thiên thai cũng hí trường.

Bài thơ của chúa Trịnh Sâm:

Rời thuyền thừa hứng viếng Từ công

Cửa động y nguyên khoá ánh hồng

Xiêm ráng vách treo rờn gấm vóc

Phượng reo đá gõ vọng cung thương

Duyên tiên từ thủơ ba sinh hẹn

Bể khổ nay đà mấy độ dâng.

Chớ bảo giao trì ngày thấm thoát

Chơi đây nào khác dạo Bồng Lang.

(Nguyễn Hữu Vĩ viết – Hồng Phi phiên âm và dịch)

Bài thơ của Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niên (1886-1955) Tổng đốc Thanh Hoá:

Lâng lâng nhẹ gót viếng Đào Nguyên

Mới rõ trần gian chửa dứt nguyên

Vinh lộc đã cam từ huyện ấn

Ái tình còn nặng lụy duyên tiên

Nghê thường mờ mịt chòm mây sớm

Thạch nhũ đầm đìa bóng nguyệt đêm

Hoạn lộ cười mình về quá muộn

Gặp nhau cửa động mới không nên

Nguồn đào thanh thản bước chân

Tiếc thay lòng vẫn duyên trần đa mang

Đã hay treo ấn từ quan

Ái tình còn lụy mơ màng chốn tiên

Nghê thường óng ả mây xiêm

Trăng soi thạch nhũ hồn đêm ngậm ngùi

Ta chưa về cũng đáng cười

Gặp nhau cửa động khôn lời nói năng.

Lâng lâng nhẹ bước tới Đào Nguyên

Trần thế lòng còn vướng nợ duyên

Danh lợi xem khinh treo ấn tín

Ái tình mang nặng luỵ non tiên

Nghê thường nhuộm vĩ mây chiều xám

Thạch nhũ vương hồn bóng nguyệt đêm.

Về muộn ai cười ta đó tá

Gặp nhau cửa động chẳng hàn huyên.

Động Từ Thức là “Bồng lai, Tiên cảnh”. Thiên nhiên ban tặng cho Nga Sơn.

Câu chuyện tình duyên, thắm nồng và dang dở giữa chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương chỉ là một huyền thoại, nhưng được gắn với cảnh động Từ Thức đã tôn thêm tính hiện thực. Tiên cảnh và trần thế, hư và thực đan xen trong câu chuyện, chứng tỏ chất lãng mạn, lạc quan, yêu cuộc sống là bản tính của dân tộc Việt Nam. Danh thắng động Từ Thức mãi mãi xứng danh với “Danh sơn đệ nhất động” ở trời Nam.

Một thắng cảnh nổi tiếng của Nga Thiện đó là núi Bia Thần, nơi thuở xưa có một mỏm đá nhô ra sông thuyền bè có thể đi luồn dưới gầm núi, trên núi có khắc một chữ “Thần” bằng chữ Hán rất lớn, nét chữ khoẻ mạnh, phóng khoáng, ngạo nghễ và oai nghiêm. Sách “Đại nam nhất thống chí” chép rằng: Tương truyền Lê Thánh Tông là tác giả của đại tự trên. Mới đây nhờ khảo sát kỹ của Hồng Phi và Hương Nao các chữ nhỏ khắc hai bên (đã bị ai đó đục phá), mới phát hiện người đề chữ này là “Nhật Nam Nguyên chủ”, tức là chúa Trịnh Sâm. Chữ “Thần” được khắc ở vị trí núi non hiểm trở này, muốn chứng tỏ rằng nước Nam có thần linh canh giữ, không để những kẻ ngoại xâm vào xâm chiếm.

Điều đặc biệt ở vùng “huyền thoại” và “cổ tích” này nhiều địa danh được gắn với chữ Thần (Thần Phù, Bia Thần, Giếng Thần). Chữ Thần ở núi Bia Thần chỉ độc một to lớn ở xã Nga Thiện và cũng ở Động Bạch Á xã Nga Thiện có tấm bia cổ lớn có độc một chữ “Phật” . Các danh thắng như Động Từ Thức, Núi Bia Thần, Động Bạch Á, Núi Lã Vọng, Giếng Thần, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh…các di tích “dày đặc” ở cùng một xã, mà động Từ Thức là “trung tâm”

3. Động Bạch Á xã Nga Thiện

Động Bạch Á là một thắng cảnh nổi tiếng từ xưa, hay còn được gọi là Động Bạch Ác, Bạch Nha. Động Bạch Á thuộc địa phận làng Tri Thiện xã Nga Thiện. Bạch Á (hay Bạch Nha) nghĩa chữ Hán là “quạ trắng”. Người xưa đặt tên là “quạ trắng” có lẽ bởi vì từ xa nhìn về cửa động trước thấy giống như một con quạ khổng lồ đang dang rộng cánh giữa một khoảng trời rộng lớn màu bạc, đất trong động màu ngà, sông nước bao bọc xung quanh nên moi vật dường như màu trắng.

Ngoài các tên gọi trên Động Bạch Á còn là nơi có rất nhiều dơi cư trú. Vì vậy, từ xưa tới nay, nhân dân địa phương còn gọi động theo tên khác nữa là động Dơi.

Động Bạch Á nằm trong lòng một núi đá đứng độc lập thuộc phía đông bắc huyện Nga Sơn. Núi này thường được gọi là núi Bạch Á (hay Bạch Ác, Bạch Nha).

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây đã được các bậc vua chúa và các danh nhân thưởng ngoạn, đề thơ. Đây là một trong những nơi có cảnh đẹp thiên nhiên ban tặng cho vùng quê này.

Ngoài vẻ đẹp thiên nhiên, động Bạch Á còn có chùa thờ Phật. Đây là một trong những ngôi chùa có niên đại từ rất sớm. Trải qua thời gian tồn tại, nơi đây đã trở thành nơi vãn cảnh, thưởng ngoạn và sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh, khách thập phương.

Hiện tại Động Bạch Á còn lưu giữ rất nhiều hiện vật có giá trị về nhiều mặt như hệ thống tượng đá, tượng gỗ, các điêu khắc hình rồng hai bên bậc lên xuống…Điều đó minh chứng cho sự tồn tại của ngôi chùa cũng như sự phát triển của phật giáo khi du nhập vào nước ta, cũng như về vẻ đẹp của động Bạch Á.

Động Bạch Á là một thắng cảnh đã có từ rất lâu. Xưa kia nơi đây là vùng cửa biển. Sau thời gian được phù sa bồi đắp, vùng đất này đã trở nên bằng phẳng và đông dân cư như ngày nay.

“Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú khi chép về động Bạch Á đã viết: “Động Bạch Nha ở bãi biển huyện Nga Sơn, ngọn núi cao đứng sững lên, giữa núi có động sâu, gắn với động Từ Thức”.

Động Bạch Á nằm trong ngọn núi có độ cao khoảng gần 50m so với mực nước biển. Từ trên ngọn núi này chúng ta có thể quan sát cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của vùng đông bắc huyện Nga Sơn một cách rõ ràng.

Để vào động Bạch Á có bốn lối theo bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Các lối vào phía đông và phía nam nằm cao trên lưng chừng động nên ít được sử dụng ra vào, chủ yếu chỉ sử dụng hai lối phía tây và phía bắc, phía tây là cửa ra vào chính phía bắc là lối đi phụ.

Từ phía tây vào , chúng ta phải đi tử dưới lên trên cao khoảng 7m để vào động bằng các bậc lên xuống. Hai bên lối lên xuống là 6 con rồng bằng đá nguyên khối (4 con lớn, 2 con nhỏ).

Tiếp đến là cổng tam quan được xây dựng bằng gạch vữa. Phía trong là sân rộng lớn. Giữa sân đặt tượng Quan Âm Bồ tát.

Tiếp giáp với sân là cửa động rộng, cao thoáng mát. Phía trên của động có khắc 3 tấm bia Ma Nhai.

Qua cửa động vào bên trong được chia thành 3 cung với kích thước khác nhau đều rộng rãi và cao ráo.

Từ cung trong cùng được mở rộng ra hai phía bắc và phía nam khoảng không rộng rãi thông ra ngoài bằng hai cửa nhỏ, cửa phía bắc và cửa phía nam. Tại các vị trí này đều có dấu vết của nền móng xây dựng cũ (có thể đây là nhà chính tẩm cũ). Phía sau được thông ra ngoài bởi một lối nhỏ, phía trên cao hơn so với nền khoảng 4m.

Nhờ có 4 cửa thông nhau nên trong động quanh năm luôn thoáng đãng, khô ráo và mát mẻ. Trên vách động không có nhiều nhũ đá như những động khác, ở phía đông động có một hình “được vẽ” và “tô đắp” như hình Giáng Hương dang đôi cánh bay xuống du ngoạn động này.

Động Bạch Á còn là nơi lưu giữ rất nhiều tượng điêu khắc bằng đá, bia như: Tượng Vũ Sĩ, tượng Phật, tượng Rồng được chạm khắc công phu trên những phiến đá tảng lớn, các bia…

Sách xưa cho biết, trước cửa động có một tấm bia rất lớn từ thế kỷ XII thời Lý đặt trên lưng rùa, nhưng sau này bị mất. May mắn, mới đây đã tìm lại được tấm bia này, đó là bia chữ “Phật”. Bia hình chữ nhật, kích thước cao 1.83m (trán bia hình bán nguyệt, cao 0.26m, đế cao 0.2m). Trên trán bia có khắc tám chữ triện, được giáo sư Hà Văn Tấn dịch là: “Trùng tu Diên Linh chân giáo tự bi” (Bia trùng tu chùa Diên Linh chân giáo). Phải chăng “Diên Linh chân giáo” là tên chữ của ngôi chùa ?. Xung quanh cả 4 mặt đều chạm khắc hoa văn, cành lá, hình rồng thời Lý rất tinh xảo. Nhưng một số chữ đã bị bào mòn, trong đó có niên đại của tấm bia.

Đặc biệt ở động này còn có các tấm bia ma nhai, là nơi lưu giữ được các bút tích của các bậc vua chúa đề thơ ở đây. Trong đó có các bài thơ chữ Hán của các vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Chúa Trịnh Sâm.

Năm 1467, vua Lê Thánh Tông đã dùng thuyền thăm thắng cảnh Bạch Á, sáng tác thơ khắc trước cửa động:

” Ngàn non xanh biếc tựa tầng không

Chùa cổ hang mây quá mịt mùng

Trời nhẹ khí lành xuân bóng toả

Tiết đầy sắc thắm gió không rung

Sau buổi hồng hoang trời đất mở

Trong khuôn tạo hoá quỷ thần thông

Ơn chị Oa Hoàng dành chỗ đẹp

Để ta ghi lại thái bình công”

44 năm sau, Lê Tương Dực cũng tới đây vãn cảnh, cảm hứng sáng tác hai bài thơ khắc trong động có những câu thơ sau ca ngợi vẻ đẹp của thắng cảnh Bạch Á.

” Nghìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mâu qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió êm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Nữ Oa dành lại đó mà

Để ghi công đức triều ta thái bình”

“Nguy nga núi đá điệp trùng trùng

Dấn bước lên cao cảm hứng nồng

Muôn vạn sóng xanh vờn ánh nhật

Một bầu cỏ biếc giỡn xuân phong

Khói mây mờ mịt xa vời ngắm

Hoa cỏ âm thầm thấp thoáng trông

Cảnh trí bút nào mô tả nổi

Lung linh trước mắt đẹp vô cùng”

“Chon von núi cổ điệp trùng trùng

Lên tới non cao thi tứ nồng

Cờ phướn phất phơ vờn ánh nhật

Xiêm đai rực rỡ giỡn xuân phong

Sấm rền vang dội kình vài tiếng

Hoa rực sáng bừng đuốc mấy bông

Cảnh vật bầu trời đầy trước mắt

Cõi Nam cảnh trí đẹp vô cùng”

(Hồng Phi phiên âm, dịch theo bản khắc trên vách động)

Phía trên hai bút tích này là bài thơ Đường luật của Nhật Nam nguyên chủ tức Chúa Trịnh Sâm:

“Động bày riêng chiếm một càn khôn

Chót vót vòm cao núi độc tôn

Vách đá trong ngoài xây lớp lớp

Cửa mây đôi mặt hướng tây đông

Bia hàn khói toả chùa sâu thẳm

Khánh cổ gió lùa xa xóm thôn

Đai ngọc vòng quanh ta thưởng ngoạn

Càn chi ra đó viếng Đào nguyên”

(Hồng Phi phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ)

“Cảnh bày riêng một cõi kiền khôn

Cao chọc vòm trời thế độc tôn

Đá biếc bao từng xây động núi

Cửa mây bốn mặt dựng sườn non

Móc phong bia lạnh nơi chùa thẳm

Gió thổi phương xa tiếng khánh dồn

Đai ngọc vòng quanh trông ngoạn mục

Đào nguyên ngoài đó chẳng đâu còn”

(Tố Nguyên – Nguyễn Thọ Dực dịch)

Ở chính giữa động còn hai bài thơ Đường luật của vua Lê Hiếu Tông.

I. “Thuyền rồng đưa khách thuận buồm dong

Đến viếng Bỗu tiên cảnh thắm hồng

Ngao gắng sức nâng Thiên Phủ quốc

Thu triều xa đỡ Thuỷ Tinh cung

Song cao khoá kín vân hà lặng

Cửa phật treo cao tục lợi không

Những sợ sơn hà không thắng cảnh

Quân vương thi tứ bỗng thêm nồng.”

II. “Hoa non như gấm, cỏ như chăn

Thượng giới chuông rền, đôi phía vang

Cửa động hương xuân bày bướm lượn

Bờ sông nắng ấm áng mây vần

Há không thành kính gìn tâm Phật

Nên xét lò than chống diễn văn

Muôn dặm Tây kinh cờ trở lại

Tạm dừng dưới núi trú ba quân ”

(Hồng Phi – Hương Nao dịch)

Động Bạch Á là một thắng cảnh có giá trị rất lớn về nhiều mặt mỹ thuật, lịch sử, văn hoá và du lịch. Động Bạch Á đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, năm trong khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh. Đồng thời là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh.

Động còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ có giá trị rất lớn như: Tượng cổ bằng gỗ, các tượng phật, tượng quan hầu, tượng rồng bằng đá…thể hiện phong cách nghệ thuật điêu khắc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.

Nơi đây cũng đã lưu giữ nhiều những tác phẩm thi ca đã được nhiều thi nhân thưởng thức và thán phục.

Núi Lã Vọng người dân nơi đây thường quen gọi là núi Lão Vọng (Ông lão ngồi câu cá). Từ bên này Động Từ Thức leo qua Eo “Đầu Lợn” sang bên kia, đi dọc cánh đồng của làng Hoàng Cương chừng gần 200m, ngoảnh mặt nhìn hướng đông có một hòn núi mà trên đỉnh núi có một ông già đang ngồi mặt nhìn hướng đông, nét mặt “đăm chiêu” như đang chứng kiến bao cảnh thăng trầm, bao sự biến thiên của lịch sử. (Cũng nhìn chếch về hướng đông bên kia sông Hoạt Giang là núi Bia Thần). Tương truyền núi Lã Vọng được gắn với câu chuyện đạo sĩ họ La tên Viện. Chuyện kể rằng: Theo truyền thuyết và sử cũ thì năm 1044, vua Lý Thánh Tông đi đánh quân Chiêm Thành, khi đến cửa Thần Phù gặp mưa to, gió lớn thuyền không qua được Bỗng trên núi có một người tự xưng họ La tên Viện tâu với Vua rằng: “Thần sẽ giúp nhà Vua thoát qua cửa biển Thần Phù”. Nhà Vua cho mời đạo sĩ xuống thuyền. Quả nhiên khi đạo sĩ ngồi ở mũi thuyền thì sóng yên, biển lặng. Khi thắng trận trở về, vị đạo sĩ họ La đã mất, nhà vua biết ơn cho lập đền thờ ở chân núi Đường Trèo ( xã Nga An) và phong “áp lãng chân nhân tôn thần” (Người có công đè sóng giúp vua được tôn thành thần)

Non nước Thần Phù vừa linh thiêng, u minh vừa nên thơ.

“Núi vút ngàn trùng non dựng đứng

Rắn bò một giải nước quanh đi”

Đây là một địa danh lịch sử xa xưa gắn với nhiều truyền thuyết, thực chất là một vùng đất nằm ở hai bên cửa biển cũ, nay đã lùi xa trong đất liền hơn 10km. Cửa biển Thần Phù hiện thuộc ranh giới giữa hai xã Yên Lâm huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình và xã Nga Điền,Nga Sơn, Thanh Hoá.

Cửa biển Thần Phù ngày xưa là một cửa biển sóng to, nước giữ nên ca dao Việt Nam đã có câu:

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Thần Phù và vùng cửa biển Thần Phù cũng là một địa danh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam về các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Năm 40 SCN, Lê Thị Hoa – nữ tướng của Hai Bà Trưng đã tổ chức quân đội, phất cao ngọn cờ độc lập chống lại sự tấn công của lão tường Mã Viện.

Vào cuối thế kỷ X, khi vua Đinh Tiên Hoàn vừa mới mất (năm 979), Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn là nhiếp chính. Phò mã Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm tiến ra Hoa Lư đánh nhà Đinh. Nhưng vừa tới cửa Tiểu Khang (cửa Thần Phù) thì bị gió bão đánh chìm. Ngô Nhật Khánh chết đuối, chúa Chiêm may mắn thoát nạn.

Dưới thời Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 (năm 1285), thượng tướng thái sư Trần Quang Khải đã lập một phòng tuyến ở đây để chặn đánh 10 vạn quân Toa Đô từ phía nam (Chăm Pa) đánh ra, đập tan kế hoạch trong đánh ra, ngoài đánh vào của viên tướng tổng chỉ huy Thoát Hoan.

Năm thứ 7 đời Xương Phù(1388), triều vua Trần Hiệu Đế (1377-1388), tướng Nguyền Đa Phương và Hồ Quý Ly đã đánh cho quân Chăm một trận thất bại nặng nề, buộc chúng phải tháo chạy về nước.

Với những giá trị trên, cửa biển Thần Phù cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của huyện Nga Sơn. Đến với cửa biển Thần Phù, chúng ta không chỉ được hiểu biết thêm về lịch sử đấu tranh anh dũng của ông cha ta, mà còn được ngắm phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp mà tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất Nga Sơn.

Cửa biển Thần Phù không chỉ ghi dấu nhiều chiến công của ông cha ta mà còn có những cảnh đẹp đó là động Lục Vân- theo nghĩa là động có sáu tầng mây – động bên Sông Hoạt từ bờ sông leo lên cửa động chừng 20m đường thoai thoải dễ đi. Nhìn bên ngoài động hình vòng tròn như miệng con rồng lớn. Vào trong động, ngay cửa động ở trên vách đá có hình một bên hình con rồng màu vàng đang cuốn mình nhô ra cửa động. Một bên hình con Hổ màu vàng đen cũng đang nhìn ra cửa động. Ngoài cái tên động Lục Vân dân ở đây còn gọi là động “Rồng Hổ tranh quang” vào sâu trong động phải men theo các tầng mây để tìm hiểu thăm thú. Càng vào trong động càng rộng, du khách có cảm giác như đi trên các “tầng mây” có tầng mây rộng thoáng đủ cho cả 5-7 chục người đứng ngắm cảnh.

Năm 1771 chúa Trịnh Sâm đã dừng chân thưởng ngoạn đêm trăng và cảm hứng đề thơ lên vách núi, đến nay vẫn còn:

“Gió đưa, thuyền dâng trăng sáng trôi

Lênh đênh chiếc lá thuận dòng chơi

Làn sông ngấm biếc bèo đôi phía

Rặng núi hang xanh bóng giữa vời

Thấp thoáng mây xanh am cổ hiện

Thập thình chày ngọc giọt thu rơi…”.

Xưa kia trước động có chùa và những điêu khắc chạm trổ trực tiếp lên đá núi. Nhưng hiện nay không còn, chỉ còn thấy một số bút tích chữ Hán của người xưa đến vãn cảnh để lại trong và ngoài động. Trong số đó, có thơ của vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Hoàng giáp Ngô Thị Sĩ (1726-1780), đứng trước cửa động, ngắm nhìn núi non, sông nước hữu tình, và các bài thơ của các thi nhân khắc trên vách đá thì trong lòng cảm thấy xốn sang man mát:

” Khe núi bóng tà hoa lấp lánh

Hàng dương xuân đến điểm râm ran

Suối trong rửa lòng tê tái

Nhà tối đèn treo mộng rảnh rang…”

” Mặt đất chung cùng đôi nhật nguyệt

Bầu tiên riêng chiếm một càn khôn

Chén trôi bóng ngọc theo dòng nước

Đá hoá bầy dê rải động mòn

Cửa chống trời dành riêng có ý

Để trời đêm gắm ánh chiều tuôn”

“Thìên quang bát ngát ngọc xuyên sơn

Ngạo nghễ tầng non giữa thủ yên

Muôn dặm quan hà xa dã ngoại

Một bầu trời hoa có rực quang tiền

Mây già thấp thoáng vui chiêm ngưỡng

Chiếm cả bầu tiên xuân vũ trụ

Thi nhân thêm đẹp thái bình niên”

(Hồng Phi dịch theo bản khắc trên đá)

Động Lục Vân có sức hấp dẫn đối với những nam thanh, nữ tú. Họ thường rủ nhau “leo lên” các tầng mây, những ngọn nến lung linh, ánh sáng huyền ảo càng làm cho cảnh đẹp động Lục Vân thêm thơ mộng, thần tiên.

Đây là một ngọn núi được xem như chiếc cọc tiêu định hướng cho thuyền bè đi lại trên cửa biển Thần Phù xưa kia. Ngọn núi này thuộc thôn Văn Đức xã Nga Phú. Núi Chích Trợ hay thường gọi là núi Chiếc Đũa, núi được tạo nên bởi các phiến đá phẳng cạnh, vuông góc xếp chồng lên nhau, cao khoảng 300-400m, nằm trơ trọi giữa cánh đồng lúa . Xưa kia vùng này còn là biển cả mênh mông, nhiều vua chúa, danh nho Việt Nam đã qua đây, dừng thuyền lên núi thưởng ngoạn và sáng tác thơ văn ca ngợi. Hiện ở vách núi phía bắc còn thấy bài thơ chữ Hán của vua Lê Hiếu Tông vào mùa xuân năm Cảnh Thống thứ tư (1501) và bài thơ của chúa Trịnh Sâm sáng tác vào tháng 2 năm Tân Mão (1771). Những bài thơ của các tác giả đã thể hiện cảm hứng của mình trước cảnh đẹp hùng vĩ của thắng cảnh “Chích Trợ sơn”:

“Vin mây ngồi ngóng sóng triều tuôn

Sừng sững giữa dòng dễ mấy non

Đâu Suất trời tây trên mặt nước

Bồng Lai phía trái tại nhân gian

Sáu ngao đứng vững bền khuôn đất

Muôn ngọn xô vào biển rộng hơn

Vây dựng sóng kình nay đã bặt

Anh hùng như thấy tiểu trần hoàn.”

(Thơ của vua Lê Hiếu Tông – Hồng Phi dịch)

“Bát ngát trông vời biển sắc thâu

Trời đen Chích Trợ chắn dòng sâu

Một mình sừng sững nâng ngao cực

Ai dán nghênh ngang ép thẩn lâu ?

Hơn chục biển bờ nêu trụ đá

Ba ngàn cõi thế dáng tiên châu

Ôm non vượt biển anh hùng chí

Thủa trước nào ta có nghĩ đâu.”

(Thơ của chúa Trịnh Sâm – Hồng Phi dịch)

Núi Chích Trợ có một hang nhỏ xuyên từ bên này sang bên kia chân núi, có thể dễ dàng chui qua mà không cần phải đi vòng. Nếu trèo lên đỉnh núi phóng tầm mắt ra bốn phía ruộng đồng, sông biển sẽ thấy hết được những cảnh đẹp, những điều thú vị và sẽ thây thoải mái , thấy yêu quê hương mình.

Đi từ xa ngắm nhìn Chích Trợ sơn thì thấy ngọn núi này không giống như chiếc đũa chút nào, mà hình giáng như một toà sen nơi cửa Phật. Bởi thế, từ thế kỷ thứ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn đã có những câu thơ nhận xét:

“Viễn chiêm chinh tự liên hoa toạ

Hà dự danh vi Chích Trợ sơn “…

( Xa xem như thể toà sen biếc

“Chiếc đũa” tên này bởi tại sao?…)

Dọc theo sông Hoạt, từ cửa “Thần Phù” xuôi về phía tây chừng hơn 1km chúng ta sẽ gặp núi “Rồng Hổ tranh ngọc” và bên trong ngọn núi là thung lũng rộng chừng cả vài ha, phía cuối thung lũng là chùa Trúc Lâm.

Người xưa kể lại rằng: Non nước Thần Phù, cảnh vật “Sơn thuỷ hữu tình” lại vô cùng thiêng liêng. Trên núi có Hổ là chúa tể sơn lâm, dưới sông nước có Rồng là chúa tể muôn loài. Ngọc Hoàng nhiều lần xuống hạ giới để thăm thú cảnh Thần Phù, Người muốn ban tặng cho Thần Phù một báu vật là “Viên ngọc quý” và rất linh nghiệm. Vừa là “quà tặng” cho một nơi “Sơn thuỷ hữu tình” vừa để “Viên ngọc quý” có phép thuật linh nghiệm giúp dân qua cửa Thần Phù.

Rồng và Hổ cả hai “chúa tể” đều muốn nhận vật quý của Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng phân vân chưa biết giao “viên ngọc quý” cho chúa tể nào vì cả hai đều tài giỏi, kẻ trên núi cao, kẻ dưới sông nước. Một vị thần tâu với Ngọc Hoàng rằng: Bẩm Ngọc Hoàng – Người hãy tung Viên ngọc quý ấy xuống trần gian, chúa tể nào lấy được thì giao cho chúa tể đó. Ngọc Hoàng cho là phải bèn “tung” Viên Ngọc quý đó xuống trần gian. Cả hai “chúa tể” tranh nhau, trổ hết tài nghệ để giành lấy vật báu. Cuộc tranh giành diễn ra nhiều ngày. Rồi đến một hôm Viên Ngọc rơi đến “thung” chùa Trúc Lâm. Bên cạnh thung gần sông Thần Phù, Viên Ngọc rơi xuống sông, cả Hổ và Rồng đều lao xuống nước để “mò” Viên Ngọc quý. Cuối cùng Rồng đã dành được.

Thần Phù là nơi núi non hiểm trở, nhưng cũng là nơi biển rộng, sông sâu, sóng to gió lớn, dân trong nam ra bắc và bắc vào nam từ xa xưa đều đi thuyền qua nơi này vì vậy “ý trời” là muốn giao Viên Ngọc quý cho chúa tể Rồng để giúp dân, giúp nước.

Núi “Rồng Hổ tranh ngọc” hiện còn ở xã Nga Điền – phía tây ngọn núi là hình vị chúa tể Hổ. Phía đông ngọn núi là hình vị chúa tể Rồng. Trong miệng Rồng đang ngậm “Viên Ngọc quý”. Hình núi tạo ra hai vị chúa tể nhìn giống như thật, ở giữa quả núi nơi hai vị chúa tể đang nhìn nhau “một bên tỏ ra tức giận, tiếc nuối, một bên tỏ ra vui vẻ, mãn nguyện”. Dưới cái khoảng không của núi đó là một “thung lũng” khá rộng và bằng phẳng – có nhiều hòn đá nằm rải rác, trong thung có hòn giống con Rùa, có hình giống con Hổ, con Rồng, con Dê, con Cá,…trước cửa thung lũng là hai ngọn núi “chạm đầu” vào nhau tạo ra một cửa nhỏ chỉ đủ cho một người đi qua, ai đi qua cũng phải “cúi đầu” mới vào được bên trong. (Một khách của Tây Ban Nha – tìm hiểu vùng “Thần Phù” rất ngạc nhiên, tò mò và thích thú phát hiện ra cái “kỳ lạ” của hai hòn “đá núi” ở đây). Không giống nhiều đá ở nơi khác, đá núi ở đây giống như “xi măng bỏ quên” của mấy ông thợ xây: Các viên đá nhỏ nhưng liên kết với nhau rất vững chắc.

Trong cùng của thung lũng là ngôi chùa cổ. Dưới chân ngôi chùa cổ rất nhiều hòn đá cả to, cả nhỏ đều giống hình con rùa. Giáo sư – Phó tiến sĩ Hà Đình Đức người được coi là “nhà nghiên cứu Rùa” khi đến thăm nơi đây đã thốt lên: “Ở vùng Thần Phù này sao nhiều Rùa thế”.

Chùa nơi đây có cái tên là Chùa Trúc Lâm (có lẽ xưa ở thung lũng này có nhiều tre, trúc ?). Chùa toạ ở dưới một cái hang khá rộng. Trong chùa có nhiều tượng phật (dân địa phương nói: Sau chùa có một con đường nhỏ có thể đi qua để sang bên Ninh Bình).

Cảnh đẹp, chùa thiêng nên thường có nhiều khách đến tham quan vào những ngày rằm tháng giêng cả mấy trăm người từ Ninh Bình đem theo lều trại, thức ăn, nước uống các tư trang cần thiết vào “cắm trại” ở khu “thung lũng” của ngôi chùa này vừa để vui chơi thưởng ngoạn, vừa để thắp hương cầu nguỵên cho một năm mới mọi điều an lành.

6. Chùa Vân Lỗi xã Nga Lĩnh

Người dân Nga Sơn có câu ca:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm Tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

Chùa Sỏi tức là chùa Vân Lỗi, chùa Sùng Nguyêm hay chùa Vân Hoàn (Vân là mây, hoàn là tụ lại. Vì có nhiều mây màu sắc rực rỡ tụ lại, nên cảnh chùa càng đẹp càng lung linh bởi thế mà có nhiều nàng Tiên giáng xuống để du ngoạn). Chùa Sỏi bởi trước đây nằm ở làng Sỏi, có cả hồ Đồng Sỏi. Về sau làng Sỏi đổi tên thành làng Vân Hoàn nên chùa Sỏi cũng đổi tên là chùa Vân Hoàn.

Chùa Vân Lỗi được toạ lạc trên núi Vân Nham, chùa nằm ở lưng chừng núi, cách mặt đất chừng 20m, trên nóc mái chùa là hang động cao, những thạch nhũ “thả xuống” treo lơ lửng làm cho cảnh chùa càng huyền ảo nên thơ:

“Đông có xóm làng cửa nhà đông đúc, có thể làm nơi phú quý giàu sang.

Nam gần sông dài chảy ra cửa biển khơi có thể làm chốn mênh mông cho thế giới.

Tây có kinh mạch lạc len lỏi đến hương Đại Lỵ, núi Ma Ni có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện.

Bắc kề đường lớn, ăn thông với cửa biển Thần Đầu có thể làm nơi nghỉ đáng tin cho kẻ qua người lại” (Sách đd trang 137)

Xưa kia có một tảng đá lớn nhô ra, như mái hiên nhà che cho chùa. Đứng ở chùa gió nam thổi lồng lộng, hương hoa lá cỏ cây thơm ngào ngạt, cảm giác thật sảng khoái, thanh tao.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” thế kỷ XIX miêu tả “Lên núi trông ra ngoài cửa biển Bạch Câu thì thấy chim biển, thuyền buồm hiện ra trước mắt”.

Ninh Tốn (1743-1790) là tiến sĩ làm quan dưới triều Lê-Trịnh nổi tiếng thơ văn khi đến vãn cảnh chùa có bài ký:

” Kìa núi xanh rậm mà vút lên thẳng đứng như bức bình phong ngọc, lại như trướng gấm thế kia…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của núi Vân Lỗi ư? Phía trước núi là dòng sông lớn, triều dâng sóng cuộn, lồng lộng vòng eo, thuỷ triều lên xuống sớm chiều nhiều vẻ…Đó chẳng phải là cái hùng tráng, dũng mãnh của dòng sông bên sườn Vân Lỗi kia ư? Giữa eo núi hương thơm sắc toả, mịt mùng như móc như mây, lại như lầu gác cô đơn mà cao vút lên, thấp thoáng trong mây, lúc ẩn lúc hiện…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của chùa Vân Lỗi này ư?

Sao cảnh trí nơi đây xưa kia u ám mà ngày nay lại vui tươi nhộn nhịp thế này. Phải chăng cảnh vật cũng có thời bĩ thái?

Ôi! từ khi có vũ trụ, liền có giang san. Núi cao vút thế này và dòng sông cuồn cuộn thế kia, đâu phải chỉ ngày nay mà không biết chúng đã trải qua bao lần hoa khai lá rụng mới có lần này dương mi ngước mắt, để được nhìn, được nói, há lại chịu nhường phần cho những giai thắng như Lục Vân Bạch Á, mà chẳng xếp chúng vào cùng loạilãm xảo của tạo hoá có từ hàng trăm ngàn năm về trước ư?

(Những bút tích Hán-Nôm hiện còn ở các hang động, vách núi đá xứ Thanh – NXB Giáo dục Võ Hồng Phi, Hương Nao năm 2007)

Trước chùa có Phật Quan Thế Âm bồ tát, bên cạnh chùa một chân dung toàn thân vị sư khắc trên vách núi đường nét thần tình, màu sắc rực rỡ tươi sáng, khiến ai nhì cũng tưởng người thật. Vị sư khắc trên vách núi chính là chân dung vị sư trụ trì ở chùa Vân Lỗi này có tên là Thích Từ Di Nguyễn Phúc Công, tự Hụê Xúc, đạo hiệu Vĩnh Toàn Thiền Sư.

Chùa Vân Lỗi có nhiều tấm bia ký (trước đây có tới hơn chục bia) nay còn lại 5 bia. Trong đó đặc biệt có tấm bia ký của danh nho nổi tiếng Phạm Sư Mạnh, đời Trần thế kỷ thứ XIV và tấm bia ký của Tĩnh Vương Trịnh Sâm.

Bài của Phạm Sư Mạnh:

“Đây núi Vân Lỗi

Am sát ven sông

Ai người tạo dựng

Hoàn hảo vô cùng

Giúp kẻ sống chết

Ngàn năm phúc chung

Đức lớn rũ lòng

Chúng sinh cứu vớt

Trên dẫn bến mê

Dưới đưa cõi sống

Người người phấn chấn

Chốn chốn nghe danh

Đạo huyền sâu sắc

Biết đâu là cùng

Tìm về cõi thực

Thoát chốn trần tục

Thần hồn mung lung

Nét vàng thêm sắc

Hiển hiện sáng trưng

Thần non phù trợ

Tín đồ cúng dâng

Ngày đêm không ngót

Khắp chốn giàu sang

Lời này minh ấy

Rạng trang sử vàng”

Bài thơ của Tĩnh Vương Trịnh Sâm:

“Danh thắng nêu cao đệ nhất châu

Dáng non như mực nước như dầu

Am mây nửa khép mong huyền hạc

Bãi cát dường ngăn cợt bạch âu

Nẻo tuyết tiều men chân đá cứng

Đường sao khách vượt bước nghềnh sâu

Cao trông sóng cuộn theo tầm mắt

Trời đất mênh mang một sắc thâu”

Bài thơ của Ninh Tốn:

“Châu Ái lắm kỳ quan

Trong số có Vân Nham

Núi xanh ngôi chùa ẩn

Vách đá chữ vua ban

Non cao xa hướng lại

Nước bạc lượn quanh ngang

Cỏ cây xưa nay đủ

Sông núi tự bận nhàn

Trèo lên phóng tầm mắt

Trong mình mây ngàn”

Chùa Vân Lỗi – Chùa Vân Hoàn là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng, chùa Vân Lỗi cũng rất linh thiêng, nơi đây cũng ghi lại dấu tích của mặt trận quyết chiến thời Trần. Khi quân Nguyễn chia làm ba hướng tấn công vào Thăng Long, một hướng từ phía bắc kéo đến, một hướng từ phía biển kéo vào, một hướng từ phía nam do tướng Toa Đô kéo ra. Trận quyết chiến giữa quân Toa Đô và quân Trần do Thái sư Trần Quang Khải chỉ huy đã diễn ra ở khu vực sông Lèn. Bên kia sông Lèn là xã Quang Lộc (Hậu Lộc ngày nay), bên này là xã Nga Lĩnh, Nga Thạch bây giờ. Xác giặc chết ngổn ngang, máu chảy đỏ cả dòng sông (vì vậy đoạn sông xã Nga Thạch còn gọi là sông Thắm). Sau khi chiến thắng quân Nguyên lần thứ III Hoàng thái hậu nhà Trần về chùa Vân Lỗi làm lễ cầu siêu cho các vong hồn của cả quân Nguyên và quân Trần được siêu thoát. Dân làng Vân Hoàn cũng kéo đến rất đông và “sáng tác” trò diễn “Bát man” (Giết chết 8 tên tướng giặc) để mua vui cho Hoàng thái hậu.

Tương truyền có một vị quan ở Tàu, vì tuổi cao mà vợ vẫn không sinh được con để nối dõi tông đường, vị quan đó đã đến chùa Vân Lỗi (là một trong 6 ngôi chùa thiêng ở nươc Nam) để cầu tự. Sau đó ông sinh được con sống ở đó cho đến khi chết.Trên đỉnh núi Vân Hoàn có một cái hang, không rộng lắm nhưng rất sâu người dân nối nhiều sợi dây thưng buộc hòn đá vào đầu dây thả mãi, thả mãi hòn đá xuống nhưng không chạm đất bao giờ. Người dân Vân Hoàn kể lại cứ hàng năm vào dịp đầu năm hoặc một con bò, hoặc một con dê lăn xuống đó để tế thần núi.

Chùa Vân Lỗi rất linh thiêng, những ngày mừng một, rằm, ngày tết, lễ hội rất đông dân ở khắp vùng đến thờ cúng mong mọi điều tốt lành. Đặc biệt vào ngày lễ hội nhân dân làng Vân Hoàn lại tổ chức lễ hội, khách thập phương nhiều tỉnh thành kéo về rất đông.

7. Các di tích lịch sử văn hoá

Đây là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng của huyện Nga Sơn, có rất nhiều người đã biết đến địa danh Ba Đình này. Chiến khu Ba Đình nằm ở xã Ba Đình, cách thị trấn Nga Sơn khoảng 4km về phía tây bắc. Trước đây, chiến khu này là một khu thành luỹ nằm trong vùng ngập nước, bùn lầy của ba làng: Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê. Vào mùa mưa, căn cứ này như một hòn đảo nổi lên giữa cánh đồng nước mênh mông cách biệt giữa các làng khác. Chiến khu này có tên là Ba Đình và mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia. Tại đây đã diễn ra cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cuộc khởi nghĩa này do Đinh Công Tráng, Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt lãnh đạo. Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là luỹ tre vững chắc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Ở trong là một lớp đất cao 3m, chân rộng 8-10m. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai sẵn sang chiến đấu. Thành rộng 400m, dài 1200m. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc, ở hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ “chi”, nhằm hạn chế thương vong. Ở mỗi làng, tại vị trí ngôi đình được xây dựng một đồn đóng quân. ở Thượng Thọ có đồn Thượng, ở Mậu Thịnh có đồn Trung, ở Mỹ Khê có đồn Hạ. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến với nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độc lập. Có thể nói rằng ăn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình đã diễn ra rất ác liệt, thực dân Pháp lúc đó đã phải huy động rất nhiều binh linh để đánh phá căn cứ này.

Cuộc khởi nghĩ Ba Đình và lãnh tụ Đinh Công Tráng được lịch sử đánh giá rất cao. Chính người Pháp cũng phải công nhận rằng: “1886-1887, cuộc công hãn Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất”.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh sau này đã chọn cái tên Ba Đình để đặt tên cho quảng trương Ba Đình, nơi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Chiến khu này đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Đến thăm chiến khu Ba Đình, chúng ta không chỉ hiểu thêm được lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta mà chúng ta còn tự hào về ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam ta. Di tích lịch sử chiến khu Ba Đình đang được đầu tư để tôn tạo xây dựng để xứng đáng là một di tích lịch sử quốc gia. Hằng năm, cứ vào dịp 26 tháng 11 nhân dân Nga Sơn nói chung, nhân dân Ba Đình nói riêng lại tổ chức “lễ hội” Ba Đình. Nhiều năm lễ hội Ba Đình được tổ chức với quy mô cấp tỉnh hoành tráng thu hút hàng vạn khách đến tham dự.

Di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia chùa Thạch Tuyền thuộc thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn.

Bản thần phả được lưu giữ tại đền Trung (Nga Thạch), do quan Hàn lâm viện đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1672 ghi rõ về hai sự kiện quan trọng trên đất Nga Thạch. Đó là vào năm Nguyên Phong thứ nhất(1251) đê sông Lèn bị vỡ, lượng nước mưa rất lớn, mùa màng mất hết, nhân dân lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, bệnh dịch phát sinh, vua Trần Thái Tông đã về đất Nga Thạch chỉ huy quân dân hàn đê cứu dân(Thần Phả đền Trung). Ngày nay, quanh khu vực đồng bằng thuộc khu vực sông Lèn còn nhiều ao hồ, là vết tích của những trận lũ lụt trong các thế kỷ trước. Sau trận lũ lụt, vua Trần Thánh Tông cho xây dựng chùa, đền ở Nga Thạch, để tạ ơn phật thánh đã phù hộ cho việc cứa dân.

Sau trận lũ lụt, vua Trần đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh phương Nam, trên đường hành quân :”…nhà vua Trần đi đến đất khu Đạc Châu, Vạn Bảo, Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, thì thấy trong không trung gió mây bay từ Đông về Tây, vua Trần cho là trước kia đã có linh thiêng( trận lụt năm 1251), phù hộ, bèn bí mật cầu nguyện”(thần phả- tài liệu đã dẫn).

Tiếp đến các sự kiện vào năm 1382-1389, quân chiêm Thành đánh vào Thanh Hoá, quân đội nhà Trần đóng ở Hàm Rồng. Hải quân đóng ở cửa biển Thàn Đầu, Nga Thạch nằm trong tuýen phòng thủ chống giặc.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược, triều đình nhà Trần đã rút lui theo đường biển qua hải phận Nga Thạch- Nga Sơn (1285).

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc giệt giặc Thanh (1877), đóng quân tại phòng tuyến dãy Tam Điệp và đảo Biện Sơn thuộc địa phận và hải phận huyện Nga Sơn và Tĩnh Gia. Nga Thạch nằm ở vị trí tiếp giáp gữa miền Bắc và miền Trung, kề cận giữa hai tuyyén giao thông thuỷ bộ từ Bắc vào Nam đó là con đường bộ thiên lý qua đèo Ba Dội (Bỉm Sơn) và đường biển. Do vị trí địa lý đặc biệt như vậy, nên những biến cố lịch sử của đất nước trong nhiều thế kỷ qua tác động sâu sắc đến vùng quê này, trước hết là con người nơi đây, được tôi luyện ý chí để sống và phát triển.

Nhiều dòng họ đã có mặt rất sớm ở Nga Thạch , cùng đoàn kết để xây dưng quê hương, đã đạt được những thành quả đáng tự hào như dong họ Nguyễn, họ Mai, họ Phạm, họ Lê, họ Trần, họ Hoàng, họ Ngô, họ Phan, họ Vũ có tới 22 người trong các dòng họ đỗ đạt khoa cử và binh nghiệp (văn bia Nga Thạch) qua các triều đại: Triều Lý có 9 vị, triều Trần có 3 vị, triều Lê có 4 vị, triều Nguyễn có 6 vị. Văn có Thám hoa Mai Anh Tuấn, làm thị độc giản tại Hàn lâm viện và nhiều người khác được phong làm Đại học sĩ. Võ có người giữ chức thượng tướng được phong đến chức Hầu. Trong văn học dân gian có câu ca dao, ca ngợi đất Thạch Tuyền có nhiều người học giỏi, thành đạt:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

(Chùa Sỏi ở xã Nga Lĩnh, chùa Bạch Câu ở xã Nga Bạch, chùa Thạch Tuyền).

Sáu mươi đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam dành cho ngôi đền tại Nga Thạch (hiện chỉ còn 12 đạo) là bằng chứng hùng hồn về sự tôn vinh của lịch sử đối với các vị anh hùng của nơi này.

Chùa Thạch Tuyền được xây dựng trong khoảng không gian văn hoá thấm đẫm tính nhân văn như vậy khiến ý nghĩa của ngôi chùa vượt ra ngoài nhận thức trực quan về giá trị văn hoá vật chất của công trình (gồm kiến trúc, các biểu tượng về Phật).

Chùa được xây dựng vào thời Trần (thế kỷ XIII), sau những biến cố lớn xảy ra ở đây (lũ lụt, chiến tranh với Chiêm Thành). Buổi đầu chùa còn đơn sơ làm bằng tre lợp lá cọ, đến triều Cảnh Hưng (1740-1786) được xây dựng kiên cố hơn. Năm 1936 chùa được trùng tu tôn tạo một lần nữa.

Đặt tên chùa thể hiện niềm mơ ước của nhân dân nơi đây về làng quê mình. Thạch có nghĩa là biểu tượng của sự bền vững, rắn chắc. Tuyền có nghĩa là dòng suối, suối thì phải có nước, là nguồn gốc đầu tiên của sự sống muôn loài.

Chùa Thạch Tuyền được đặt ở nơi có vị trí linh thiêng. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính nhận xét về thế đất Thạch Tuyền:

” Hình Quy (Rùa) toạ ở phía tây, hướng đông, chính Cục Càn Tốn là đất cấm anh linh.

Toạ bắc hướng nam, chính cục Quý Đinh, trước Giang Châu trì (ao) bãi là đất cát địa”. (đất có hình con Rùa-Rùa là con vật linh thiêng trong tứ linh:Long, Ly, Quy, Phượng). “Toạ ở phía tây, quay về hướng đông, tinh thần thuận đạo đất trời, đó là đất rất linh thiêng. Toạ ở phía bắc, quay về hướng nam, phía trước có sông Quý, có ao hồ, đồng bãi là đất lành, rất tốt”(Thần phả hệ lưu trữ tại đền Trung, xã Nga Thạch).

Chùa Thạch Tuyền quay về hướng chính nam, bên trái (phía đông) có sông chảy qua. Một không gian rộng mở về phía nam, có ao hồ quanh năm đầy nước, có cánh đồng lúa, bãi bằng phẳng. Hướng tây và hướng bắc chùa có làng xóm quần tụ trong cảnh màu xanh của cây trái. Chùa Thạch Tuyền toạ lạc trên thửa đất với diện tích 4068m 2. Trong khuôn viên chùa có nhiều loại cây che phủ bóng mát như cây đa – còn gọi là cây Dung Thụ, ví như mái nhà. Cây Gạo nở hoa đỏ rực sân chùa vào mùa hạ như bầu trời đầy tinh tú. Cây Đại mỗi năm thay lá thay hoa một lần, là cây thiêng chùa nao cũng có.

Cổng chùa Thạch Tuyền được kiến trúc với quy mô khá đồ sộ, bố trí trên mặt bằng hình thang cân, cổng gồm hai tầng. Hai cầu thang được xây dựng vững chắc ở hai cạnh bên, dẫn lên tầng 2 được sử dụng làm gác chuông. Tầng 2 có 5 cửa cuốn vòm, hai bên cửa thấp dẫn xuống theo chiều mái cổng chồng diêm, với 8 vòm uốn cong, tổng cộng có 16 đầu đao cũng theo thứ tự từ thấp lên cao dần, tăng vẻ bề thế cho công trình. Hai cột nam hình khối vuông xây ốp sát vào hai bên hông cổng.

Đến thăm chùa Thạch Tuyền-một di sản văn hoá cấp quốc gia, cùng phong cảnh nơi đây chúng ta không khỏi bồi hồi, xúc động tưởng nhớ về những thế hệ đã đi qua trong nhiều thế kỷ, bằng sức lao động kiên trì và sáng tạo để tạo lập nên một miền quê trù phú, với một truyền thống văn hoá tốt đẹp góp phần vào lịch sử hào hùng của dân tộc.

7.2.2 Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn

Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch. Ngôi đền được xây dựng lại năm 2008, đến năm 2010 UBND tỉnh Thanh Hoá đã quyết định xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Ngôi đền được xay dựng ngay bên cạnh chùa Thạch Tuyền. Ngôi đền nhỏ dáng thanh thoát, như tâm hồn con người Thám hoa Mai Anh Tuấn “một danh nhân văn hoá, một vị quan trung quân ái quốc…một vị quan cương trực đầy khí phách giàu tinh thần tự tôn dân tộc” (Giáo sư Đinh Xuân Lâm – Viện trưởng Viện sử học Việt Nam).

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tên thật là Mai Thế Tuấn sinh năm Ất hợi (1815) tại làng Lang Miếu phường Thịnh Hào, Hà Nội.

Chuyện xưa kể lại rằng: Bà mẹ đêm nằm mơ đi thăm động Từ Thức, khi ra đến cửa động bà nhin thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, tay cầm cây bút. Cụ già đến gần và nói: Ta cho ngươi một cây bút thần về ngươi sẽ sinh hạ được một cậu con trai tài giỏi, tuấn tú hơn người. Bà đem chuyện đó kể lại với chồng. Ông chồng cho là điềm tốt lành, bèn đem lễ vật về động Từ Thức để lễ tạ. Quả nhiên sau đó bà sinh hạ được một cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, ông bà đặt tệ là Mai Thế Tuấn.

Mai Thế Tuấn sinh ra trong một gia tộc cả 8 đời đều làm quan phục vụ triều Lê, được người đương thời quý trọng khen là:” Hiển hoạn cao khoa, lệnh danh hoàn tiết”,( tiếng tốt, nghĩa trọn).

Cụ thân sinh ra Mai Thế Tuấn là Mai Thế Trinh,hiệu là Đoan Thận , có tiếng hay chữ, nhưng vì tổ tiên đã làm tôi nhà Lê lâu đời, nhà Lê không còn nên không thi cử, không làm quan. Đến khi nhà nguỹen lên, trong nước đã đại định, vua Gia Long xuống chiếu cầu hiền, tìm các danh nho, trung quân Đô thống Thành Quận công Nguyễn Văn Thành Tổng trấn Bắc thành chọn cụ Mai Thế Trinh làm tr huyện Thanh Trì, Thanh Lâm, Tứ Kỳ, được thăng chức Hàn lân viện thị giảng Học sỹ. Cụ có tập thơ” Mông Trai” lưu hành. Cụ bà chánh thất họ Uông, cụ bà thứ thất họ Dương là mẫu sinh của cụ Mai Anh Tuấn. Hai cụ đích mẫu và sinh mẫu đều được phong Tùng ngũ phẩm nghi nhân.

Thuở nhỏ Mai Thế Tuấn đã nổi tiếng học giỏi, năm 1837 đi thi Hương đỗ giải Nguyên, năm ấy ông 22 tuổi. Năm 1843 thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu Bình Nguyên (khi đó luật triều đình nhà Nguyễn bỏ tước Hoàng hậu, Tể tướng và Trạng nguyên, nếu không có luật bỏ ba tước đó thì Mai Thế Tuấn đỗ đầu là Trạng nguyên). Vua Thiệu Trị rất ái mộ bài văn của Mai Thế Tuấn, để tỏ lòng mến tài của Mai Thế Tuấn, nhà vua đã đổi tên Thế Tuấn thành Anh Tuấn, đối với bậc anh tài của đất nước.

Sau khi đỗ Thám hoa, ông được bổ chức Hành Tẩu ở Bí thư sở Toà nội các, và chức Thị độc Viện hàn lâm. Tiếp sau đó ông được bổ nhiệm Án sát Lạng Sơn. Trong trận đánh chống giặc bảo vệ biên cương, ông đã hi sinh anh dũng ở Thất Khê ngày mùng 6 tháng 8 năm Tân Hợi (1881). Nghe tin này, nhà vua ân hận thương tiếc bèn cho triều thần đưa thi hài ông về sinh quán chôn cất long trọng tại làng Hoàng Cầu phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.

Ghi nhớ công lao của một vị Thám hoa cương trực, dũng cảm vì dân vì nước, nhiều nơi trên đất Hà Nội, Thanh Hoá, những con đường được mang tên Mai Anh Tuấn, trường học Mai Anh Tuấn. Dòng họ và nhân dân xã Nga Thạch đã xây dựng lại đền thờ ông để tưởng nhớ tới một con người trung hiếu của quê hương.

Đền thờ ông luôn được dòng họ bà con nhân dân Nga Thạch, nhân dân Nga Sơn, nhất là các sĩ tử thường đến thắp hương cầu nguyện đỗ đạt thành tài. Cầu mong mọi điều tốt đẹp.

7.2.3 Đền thờ Bà Chiêu Nghi Mai Thị Ngọc Tiến Tôn thần

Chuyện xưa kể rằng: Trong tiết xuân ấm áp, trăm hoa đua nở, nhà vua đời Lê đi du xuân ở xứ Thanh, đến vùng đất Thạch Tuyền thấy cảnh sắc đẹp, thuyền vua đi chậm lại, nhà Vua thấy người con gái xinh đẹp đang cầm liềm cắt cỏ ven sông, nhà Vua liền đọc vế đối đại ý rằng: “Người con gái đẹp cắt cỏ ven sông”. Người con gái đẹp kia nghe vậy liền ứng khẩu đáp lại rằng: “Nữ tướng cầm gươm diệt ngàn giặc cỏ”. Nhà vua thấy người con gái nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nên Người vời về cung giúp nhà Vua dạy dỗ con cháu trong hoàng tộc. Bà Mai Thị Ngọc Tiến là con gái đầu của Mậu Quân công, làm quan trong triều Lê. Bà được Chúa Trịnh Tạc (1657-1682) sùng ái đứng đầu trong hậu cung. Bà được phong là Chiêu nghi là bảo mẫu của chúa Khang hương Trịnh Cán (1682-1709). Bà là người có công với dân với nước, khi bà mất nhà Vua rất thương tiếc và gửi câu đối đến viếng đại ý rằng: Khi sống bà là Mẹ của nước, khi chết bà là Thần của nước. Đền thờ bà hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch.

7.3.1 Chùa Tiên (Chùa Mậu Nam) – Di tích quốc gia.

Chùa tiên thuộc địa phận xã Nga An, toạ lạc trên một khu đất rộng đên 8ha. Phía trước là một cánh đồng cát khô khá rộng. Phía sau và hai bên chùa được bao bọc bởi những ngon núi cao và một hồ Đồng Vụa rộng tới 20ha. Chùa Tiên được toạ lạc ở nơi cảnh trí nên thơ, sơn thuỷ hữu tình. Vì vậy mà những vần thơ vịnh cảnh của nhà vua – tao đàn nguyên suý thời Lê (thế kỷ XV) – vẫn còn nguyên một sức sống bất tử để rung ngân ở nơi đất chùa xưa này:

“Nhìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mây qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió ôm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Đây là cảnh tiên, đất Phật và là nơi ra đời của thiên tình sử Từ Thức-Giáng Hương một truyền thuyết sống mãi với thời gian và in sâu trong tâm thức của người xứ Thanh, đất Việt.

Đến với chùa Tiên ai cũng cảm thấy xốn xao và dạt dào rung cảm, bởi không gian văn hoá-lịch sử, thiên nhiên ở đây đã thấm đượm vào nhau một cách thật đặc biệt. Bất kể cảnh trí nào cũng trở thành di tích của lịch sử, di tích của huyền thoại, di tích của tình yêu và nỗi nhớ… trên mỗi cột chùa có câu đối chữ Hán, tổng cộng đến 12 đôi, trong đó có câu:

“Mẫu lĩnh từ vân cao nhất điểm huyền tâm vân tác lữ

Namthiên hồng nhật lệ thiên thu đạo pháp nhật tàng quan”.

(Núi mẹ có một đám mây cao màu huyền tựa người con gái

Trời nam mặt trời đỏ có ngàn điểm sáng ẩn bóng kẻ tu hành).

Trong chùa có treo một chuông đồng nặng khoảng 30kg và ngoài sân có dựng một tấm biađá, là những di vật từ thời phong kiến.

Cứ đến ngày rằm tháng 3 âm lịch là hội chùa. Khách thập phương và phật tử đến bái lễ, vãn cảnh, Chiêm ngưỡng và chiêm nhiệm những giáo lí của đạo Phật. Không ở đâu chúng ta lại có một cảm giác cụ thể hơn về một thuở nguyên sơ của một thiên nhiên tĩnh lặng đến nao lòng, dù cho nền xưa, chùa cũ và cảnh vật có thay đổi ít nhiều. Dân gian đã có thơ ca ngợi cảnh đẹp chùa Tiên như sau:

“Trăng trong gió mát thảnh thơi

Thuyền trà mượn chén hồng mai thay trà

Có cây trăm thước bốn mùa nở hoa…”

Chùa Tiên ở ngày sát hồ Đồng Vụa và dựa lưng vào núi Nhà Bà. Đến chùa, du khách nào cũng muốn trèo lên đỉnh núi Nhà Bà để xem bàn cờ Tiên-một bàn cờ đá thiên tạo rất rộng có rất nhiều hình thù giống quân cờ. Nếu đứng ở đây phóng tầm mắt ra xa sẽ thấy cảnh chùa, núi, hồ, đảo, cây cối, làng mạc một cách thật ngoạn mục.

Nếu như chùa Tiên là cảnh tiên, cõi Phật thì liền kề với nó về phía tây là hồ Đồng Vụa (tên là Đồng Vua – hồ đẹp nên nhiều Vua Chúa đến vãn cảnh, người dân tên “Huý” của Vua nên gọi lái đi là “Vụa”) – một hình ảnh thiên nhiên như được tô điểm thêm cho nó. Hồ được cấu tạo trong đá phiến và đá vôi rộng trên 20ha, ôm bọc lấy ba mặt của hồ (đông-bắc-tây) là núi Vạn Sơn thuộc hệ thống núi Tam Điệp. Nước trong hồ được dồn về từ các thung lũng núi xung quanh. Nước trong xanh đến lạ lùng, nước hồ sâu đủ để du khách du thuyền vãn cảnh. Giữa hồ nhô lên một ngọn núi nhỏ ttrông như hình một “ông rùa”, một hòn non bộ. Đã nhiều thế kỷ đi qua, với biết bao mùa xuân, hạ, thu, đông hồ vẫn trong xanh như thế và không bao giờ cạn. Sắc núi quanh hồ lú thì xanh, lúc thì tím, lúc thì trắng tuỳ theo sự thay đổi của thời tiết. Đến hồ Đồng Vụa vào lúc ban mai, lúc chiều tà và mành đêm buông xuống hoặc những buổi sương mù bao phủ hay những ngày nắng rực rỡ có những đám mây lãng đãng trên trời và quanh đâu đó những đàn dê gặm cỏ chúng tôi mắt và trái tim của ta không chỉ dừng lại ở đường biên lòng hồ mà tất cả những hình ảnh đó đều gợi cảm như ở trong một thế giới của huyền ảo, lung linh lay động tâm hồn mỗi du khách khi đến thăm nơi này.

Từ hồ Đồng Vụa về phía tây nam, nơi cuối hồ có một lèn đá thấp như một cái đĩa. Chỉ cần vượt qua lèn đá này 200m đường núi là chúng ta đến với phủ thông, phủ nằm trong lòng động Phủ Thông. Động này là một động thiên tạo nằm trên vách núi Thông, sát con đường quốc lộ 10, ở trong khu vực của vườn đào xưa. Động này có vòm cửa rộng khoảng 9-10m và cao khoảng 8-9m. Trong lòng động rộng bằng mấy gian nhà, có vách ngăn cửa đi vào phía trong. Đỉnh động có một cửa thông lên trời, làm cho lòng động sáng và thoáng mát. Nhũ đá trong động có nhiều hình thù kỳ thú. Người dân nơi đây đã xây dựng đền Mộu, nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn từ xưa đến nay. Đó chính là Phủ Thông.

Cụm di tích xã Nga An là những di tích đẹp có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh tiên và cõi Phật với khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ, thơ mộng.

7.3.4 Phủ Trèo Nga An – nơi có dấu chân Người Khổng lồ và Mộ Ông Rùa.

7.3.4.1 Dấu chân Người Khổng lồ

Phủ Trèo nằm ở cạnh đường Trèo – nơi có “dấu chân người khổng lồ” dấu chân in sâu lõm vào đá, có tất cả chục bàn chân in lõm sâu vào đá (giống như người ta đi giẫm bước chân vào bãi cát). Người dân nơi đây kể lại rằng: Người Khổng lồ gánh đá để xếp thành những ngọn núi khi đến vùng đất này gần biển lớn để ngăn những đợt sóng lớn Người Khổng lồ đã xếp thành ba dãy núi liền kề nhau gọi là dãy núi Tam Điệp để ngăn sóng to, gió lớn. Vì phải vội vàng để hoàn thành việc gánh đá, ông Khổng lồ đã gánh hai hòn đá lớn, chân ông dẫm xuống đá, đá “lõm sâu” vì qua nặng nên cái đòn gánh bị gãy, hai hòn đá văng ra cách núi chừng 10m. Hiện nay ở đường Trèo, phủ Trèo vẫn còn hai hòn núi đá to. Một hòn giống cái mũ “quan văn”, một hòn giống cái mũ “quan võ”. Người dân nơi đây thường gọi là núi Văn, núi Võ.

Trên đường trèo có “mộ Ông Rùa” tương truyền rằng: ngày xưa ở hồ Đồng Vụa (chùa Tiên) Rùa tu đã chính quả, từ hồ Đồng Vụa rùa leo lên núi theo đường Trèo. Vì phải leo lên núi cao, sức lại yếu nên Rùa phải ăn lá cây “Sống đời” để tiếp tục leo núi. Đến đỉnh đường Trèo thì tịch ở đó. Người dân đi qua thấy có điều lạ Rùa to lại tịch ngay ở bên đường, bên cạnh có cây “Sống đời”. Thấy điều lạ dân chúng chôn cất Rùa chu đáo và cứ người đi qua, người đi lại mỗi người một hòn đá, người nắp đất, người bẻ cây sống đời đắp lên lâu ngày thành mộ to.

Kỳ lạ sau khi hôm ông Rùa mất tối hôm đó gió to, mưa lớn và sáng hôm sau một cây gỗ thật lớn và nhiều gỗ, cây tre trôi dạt vào chân núi, gần mộ ông Rùa, dân cho là điềm lành liền dựng lên đền thờ, sau đó xâycả Chùa, cả Phủ đến mùa Lễ hội dân thập phương kéo về rất đông để chiêm bái cầu mong cho mọi việc tốt lành.

Đây là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng cấp tỉnh của huyện Nga Sơn. Ngôi đền này được gắn liền với huyền thoại được lưu truyền bao đời nay đó là truyền thuyết về Mai An Tiêm và quả dưa hấu đỏ.

Theo truyền thuyết, Mai An Tiêm là con rể của vua hùng thứ 18 vốn tư chất thông minh, lại chăm chỉ nên vua yêu quý giao cho nhiều trọng trách vị vậy mà An Tiêm ngày càng trở nên giàu có. Nhiều quan lại đem lòng ghen tỵ. Một lần trong bữa tiệc, một tên quan nịnh thần nói: Của cải An Tiêm là do Vua ban mà có. An Tiêm nói: Của cải là do tiền nhân để lại, do bàn tay ta làm nên. Nhân cơ hội này bọn nịnh thần đã tâu lại với vua. Vua nổi cơn giận dữ: Đã thế ta đầy đi đảo hoang để xem có phải do bàn tay nó làm ra không. Nói rồi lệnh cho quân lính đầy An Tiêm ra đảo hoang chỉ cho một ít lương ăn và một thanh kiếm cùn. Nơi đảo hoang bốn bề là biển cả mênh mông, chỉ có núi và đá. Vợ chồng An Tiêm phải mò cua, bắt ốc, tối ngủ hang qua ngày.

Rồi một hôm có đàn chim lạ bay đến, chúng ăn một trái lạ: vỏ đen, ruột đỏ. An Tiêm mừng lắm và nói: Trời không nỡ bỏ ta, trời cứu ta rồi, chim ăn được chắc là người cũng ăn được. Nói rồi An Tiêm đem hạt dưa trồng. Ngày qua tháng lại quả dưa lớn dần An Tiêm bổ dưa cả nhà cùng ăn. Dưa vừa ngọt lại mát lành, ăn vào thấy người khoẻ hẳn. Những năm sau dưa trồng càng nhiều, nhớ về quê cha đất tổ An Tiêm khắc tên mình vào quả dưa rồi thả xuống biển. Những quả dưa có tên An Tiêm trôi vào đất liền, những lái buôn đi qua đảo An Tiêm đã đem theo lương thực và các vật dụng để vào xin đổi dưa An Tiêm. Nhờ vậy mà gia đình An Tiêm ngày càng trở nên sung túc, giàu có trong nhà chẳng thiếu thứ gì.

Lúc bấy giờ vua Hùng ốm đau, nhiều bậc thần y đến chữa, thuốc thang những loại tốt nhất đều được sắc uống nhưng bệnh tình không những không thuyên giảm mà còn nặng thêm. Triều đình bấy giờ vô cùng lo ngại cho long thể của người. Chợt có người đi qua hoàng cung rao bán dưa nói rằng: “Ăn dưa vào bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ, bệnh nặng đến đâu cũng khỏi hết”. Vua vội cho gọi người bán dưa vào. Thần dân dâng cho vua quả dưa có khắc chữ “An Tiêm”. Vua sai cận thầm bổ dưa ra cho vua ăn. Quả nhiên khi ăn một lát dưa vừa ngọt lại vừa mát lạnh, vua thấy trong mình khoẻ mạnh, rồi ngồi dậy. Ăn vài lát nữa thần sắc vua thay đổi hẳn. Vua vui vẻ, tươi cười đứng lên đi lại, lòng khoan khoái. Trầm ngâm dây lát rồi vua nói: Nghe kẻ nịnh thần ta đã đầy An Tiêm ra đảo hoang. An Tiêm không chết mà còn cho ta vị thuốc thần diệu và đem lại cho muôn dân trái ngọt. Nói rồi Vua lệnh cho các quần thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về ban thưởng chức tước, bổng lộc và lệnh đem giống Dưa An Tiêm để trồng trong cả nước.

Ngôi đền Mai An Tiêm nằm dưới chân một ngọn núi, có hình như một quả dưa nên mọi người ở đây gọi là núi quả Dưa. Khung cảnh thiên nhiên ở đây gần như còn nguyên sơ, hoang vắng. Trải qua bao biến thiên của thời gian, sóng biển xô vào vách núi, tạo ra những “Vòm hang động”. Biển đã lùi xa nhưng nơi đây nước vẫn còn bao bọc quanh núi An Tiêm. Một khoảng nước rộng trước cửa đền, bên núi “Quả dưa” dân chúng tổ chức thi bơi thuyền nhỏ, nấu cơm thi. Có nhiều vòm rộng thuyền có thể “chui qua” gầm núi. Bên kia đền leo qua cái eo cao khoảng 50m là bãi Dưa Mai An Tiêm. Bãi Dưa rộng đền gần cả 2ha, một thung lũng được bao bọc bốn bên là núi đá. Đứng trên ngọn núi nhìn xuống một phong cảnh đẹp vô cùng. Xa xa phía đông là biển, những hôm trời trong sáng, nhìn thấy những cánh buồm thấp thoáng. Dưới chân núi phía nam, phía bắc là làng quê trù phú đồng xanh, lúa tốt. Những ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo thấp thoáng xen trong những ngôi nhà dân ngói đỏ tường rêu. Phong cảnh làng quê thật ngọt ngào, thanh bình nên thơ.

Quần thể di tích nữ tướng Lê Thị Hoa và danh tướng Trịnh Minh thuộc thôn Ngũ Kiên xã Nga Thiện, là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng câp tỉnh vào ngày 20 tháng 9 năm 1993. Quần thể di tích này thờ bà Lê Thị Hoa – một nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thờ danh tướng Trịnh Minh – thời Trần có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông (1258).

Bà Lê Thị Hoa quê ở thôn Thượng Linh, xã Cảo Linh, huỵên Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Nam Sơn (nay là tỉnh Ninh Bình). Năm 18 tuổi, bà kết hôn cùng Mai Tiến, người cùng huyện văn võ song toàn. Nhưng sau đó, chồng bà bị Tô Định hãm hại bắt giết vào năm Bính Tuất. Bà cùng các con đã đi đến vùng đất Yên Nội (nay thuộc Nga Thiện) để khởi nghiệp trả thù cho chồng và đánh đuổi quân xâm lược. Bà đã có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược, không những thế bà còn là người có công khai phá vùng đất Nga Thiện ngày nay. Tấm lòng trung trinh với dân, với nước của bà Lê Thị Hoa ngay từ thuở ấy, nhân dân Nga Sơn đã lập đền thờ bà ngay tại xã Nga Thiện. Ngày nay, ngôi đền này vẫn còn tồn tại. Tại đền thờ bà Lê Thị Hoa có đôi câu đối bất hủ:

“Thệ báo Tô cừu, thanh Bắc Khấu

Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang”

Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc.

Giữ nghĩa phò Trưng Vương, khôi phục nước.

Tại đền thờ của Bà có một tấm bia lớn ghi về công trạng của Bà.

Ông Lê Thái và vợ họ Dương, khi có mang mơ thấy bắt được con rắn bạch hoa xà năm sắc mà sinh một con gái vào rằm tháng 11 năm Mậu Ngọ ở thôn Thượng Linh Cảo Linh huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (Hà Nam Ninh ngày nay). Ông bà nay đặt tên con là Lê Thị Hoa môi hồng, má phấn. Khi Lê Thị Hoa 18 tuổi có nhà Mai Thông xã Phúc Cốc cùng huyện quen thân ông Lê Thái, đã hỏi Lê Thị Hoa cho con trai mình là Mai Tiến vừa 19 tuổi.

Lấy chồng được hai năm cha mẹ đều mất, Lê Thị Hoa hết lòng hiếu thuận thờ cha mẹ. Lúc này Thái thú Tô Định nghe tiếng tài năng của Mai Tiến, vời về làm quan huyện Gia Lâm, từ chối mãi không được vợ chồng, con cái phải dắt nhau đến Gia Lâm làm quan huyện được 3 năm thi thố ơn huệ với nhân dân. Tô Định thấy Lê Thị Hoa đẹp, bèn giết Mai Tiến để cướp bà làm tỳ thiếp. Lê Thị Hoa ăn ở với chồng được 11 năm sinh được bốn người con trai: Mai Đạt 9 tuổi, Mai Thoả 7 tuổi, Mai An 5 tuổi và Mai Tri 2 tuổi đều khôi ngô, thông minh, tuấn tú. Lê Thị Hoa đưa các con về quê hương, nhiều người lại đến cầu hôn bà. Lê Thị Hoa than rằng “Thôi thà làm quy trinh phụ chứ không làm người phụ bạc”. Lê Thị Hoa bèn bán hết gia tài cứu giúp bà con quanh vùng Phú Cốc, thượng linh được hơn hai ngàn người ra đánh nhau với Tô Định bị thua chạy về thôn Yên Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà.

Khi về Trang Nội, con trai cả vừa 12 tuổi, thực sự đã biết chữ, mẹ con bàn bạc thấy đầu trang Yên Nội khoảng 100 mẫu đất, sầm uất có khu đất cao, rộng một sào, bằng phẳng, dân cư thưa thớt, bèn dựng ngôi nhà tranh và thuê người khai khẩn hơn một năm được mấy chục mẫu ruộng. Lê Thị Hoa bèn gọi những nhà họ Mai cùng lân cận ở Phú Cốc, họ Lê ở Thượng Đình vào ở hương Yên Nội được hơn chục nhà, bà con điaj phương cũng theo bà vào ở, mới vài năm đã lên tới mấy chục gia đình. Lê Thị Hoa vẫn nuôi mối thù không đội trời chung với Tô Định, bà đã nuoi dưỡng bốn người con trưởng thành: Mai Đạt đã 22 tuổi, Mai Thoả 20 tuổi, Mai An 18 tuổi, Mai Trí 15 tuổi các cậu thông minh xuất chúng vượt mọi người. Lúc này mẹ con bà Lê Thị Hoa nghe tin hai Bà Trưng khởi binh ơ của sông Hát Giang, huyện Phú Lạc, phủ Quốc Oai, đạo Hà Tây, đang muốn đi theo thì có tướng của hai Bà Trưng đến dụ bảo. Bà Lê Thị Hoa được cai quản đội nữ, bốn con trai bà Hoa xung làm tả, hữu tiền phong truyền hịch kêu gọi các phủ huyện được hơn 6 vạn người theo, kéo binh thẳng tới đô thành đánh quân Tô Định, Tô Định thua to chạy về nước Bắc. Hai Bà Trưng lên ngôi phong thưởng các quân tướng. Mẹ con bà Lê Thị Hoa không nhận phong thưởng chức tước, chỉ xin được trở về Trang An Nội Nga Sơn tiếp tục khai khẩn đất hoang, được phép miễn thuế và phục dịch. Hai Bà Trưng cho phép hơn bốn chục nhà trang An Nội đều nhường họ Mai làm cả. Đó là thực ấp của của mẹ con bà Lê Thị Hoa. Ngày 25 tháng 8 năm 41, bà Lê Thị Hoa ốm rồi mất. Hai Bà Trưng nghe tin than rằng: “Bà Lê Thị Hoa tính hiền từ lại làm việc thiện, giỏi dạy con nên ban hiệu là Từ Thiện tặng phu nhân”, sai sứ thần về chọn chỗ đất tốt để an táng ở xứ bãi sở, dựng miếu thờ trên nền nhà ở An Nội, nay thuộc Ngũ Kiên xã Nga Thiện, Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.

7.5.2 Đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh

Gần với đền thờ bà Lê Thị Hoa là đền thờ danh tướng Trịnh Minh, một danh tướng thời Trần đã có công lớn trong cuộc kháng chíên chống quân Nguyên lần thứ nhất (năm 1258). Thần phả Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh ghi lại rằng: Đêm ông nội Trịnh Minh nằm ngủ ông bàng hoàng bỗng nghe tiếng ở bên ngoài nói rằng: “Mau dậy mở cửa, mau dậy mở cửa trong kiếm lại được thưởng đoạn nhà Khanh Tướng”. Ông dậy mở cửa không thấy ai. Ông vào nhà thấy thai nương đang đau bụng, sinh được một cậu con trai, mặt mày sáng sủa, khôi ngô, thân thể cao lớn, ông cho đó là phúc trời ban cho vậy. Sớm mai lúc đi ra giếng thấy thanh gươm nổi trên giếng. Ông vớt lấy gươm đem về đặt riêng một chỗ. Từ đó khiến việc nuôi con ngày một cao lớn lạ thường, vẻ mặt hiền hoà, tính bẩm trung hậu, thiên tư đĩnh ngộ, vì thế ông đặt tên là Trung Phụ.

Đến năm 13 tuổi Trung Phụ đi học được mấy năm , văn tài quán triệt, võ nghệ tinh thông, ngàn sử của trăm nhà không có gì là không hiểu. Lúc đó không may bố mẹ cùng mất , ông Trung Phụ một mình làm tang lễ. Mấy năm học đã thành tài, năm 19 tuổi ông dùng tài ra đời đi chu du thiên hạ, các nhân tài thấy đều kính sợ, tôn nhường ông. Rồi ngày qua tháng lại ông đi tơi địa sở trang An Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá thấy dân phong thuần hậu ông xin cư thân ở đó.

Năm ông 23 tuổi, khoảng triều Lí Thái Tông, nhà Vua bèn hạ chiếu tuyển nhân tài, ông đến ứng tuyển. Nhà Vua thấy ông có tài yêu mến lắm và giao phó chức, phong tước. Ông nhận chức tước trở về địa sở ở cũ trang An Nội huyện Nga Sơn hạ lệnh cho bản trang khu đất lập cung dồn sở lấy làm tuần trú ở vậy. Nhân dân ở trong khu đó hết thảy đều xưng thần quy phục và yêu mến ông. Phần những nơi ông đi tuần qua người người phục tùng làm thần tử, trong trấn hạt đều khen là yên ổn nên ông được nhận chức tới quyền kiêm Đô Thống Đại Tướng Quân, đã lâu năm.

Đến cuối triều nhà Lý, thế nước sắp hết ông vì cớ ốm cáo trở về đồn sở khu thượng trang An Nội, ở đó 3 tháng làm lễ mừng, ban thưởng cho nhân dân. Xong việc ông thẳng tiến về quê quán, đi qua nhánh sông Tô không biết sao trời tự nhiên nổi gió mưa lớn, ông đi đến đó thì mất (ngày mùng 6 tháng 3) nhân dân nghe tin mà cảm thương ơn trạch của ông để lại, tự tiến hành lễ điếu viếng ở bản khu cung sở, phụng thờ hương khỏi vậy.

Từ đó về sau nhân dân thường mơ thấy ông trở về cung sở. Nhân dân làm lễ vọng thường linh nghiệm phó thác vào đồng bảo rằng: “Đô tống thần quan, nhân dân tả nghênh đón tế thờ được hưởng phúc thái bình”.

Lại nói về sau: Bỗng đến triều nhà Trần khởi tạo đăng cực thực ấp lên ngôi Hoàng Đế (tức triều thần Thái Tông). Đến năm Thiên Ứng bỗng có giặc Nguyên Minh nổi lớn tích trữ binh lương xâm chiếm đất đai quấy nhiễu dân cư, nhà vua cho là hoạn nạn. Vua thân xuất bản binh đi tuần thiên hạ để chinh phạt giặc. Đánh một trận mưu phân thắng bại. Nhà vua bèn lui quân dồn trú tại một nơi để đặt mưu lập kế. Bỗng từ khi lui quân về qua các nơi đến địa sở khu thượng trang An Nội nhà vua thấy địa sở khu vực này rộng rãi, nhân dân đông bèn trú ở đó. Một đêm nhà Vua mơ thấy một quân nhân mũ áo chỉnh tề đứng trước nhà vua tâu rằng: “Thần là danh tướng triều Lý sắc mệnh Hoàng Thiên trấn trị ở đất linh thiêng này, là phúc thần của dân. Nay nghe Hoàng đế thân chinh muốn dẹp tướng giặc để yên dân”. Tâu xong bỗng biến mất nhà Vua sực tỉnh biết là mơ bèn lệnh cho nhân dân khu ấp làm lễ bái yết rồi triệu tập nhân bản khu hỏi rõ các nhân tài. Nhân dân bèn tâu hết với nhà Vua các con trai nhà họ Trịnh tài tinh thông võ nghệ, sức địch nổi trăm người, hùng cường oai dũng, diện mạo trang nghiêm thế gian hiếm có người như thế ( tức sinh ngày 24 tháng 4 năm Giáp Thìn) tên của ông, tên kiêng huý là Khanh, mẹ là Đỗ Thị Sùng còn ông kiêng tên huý là Minh. Lúc đó ông Minh ra yết kiến trước nhà vua. Nhà vua thấy ông có tài nghệ hơn người, hình giáng xuất chúng bèn thử tài ông, không ai đich nổi ông. Nhà vua bèn ban làm Quyền kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân. Ông Minh nhận chức đó xong bèn cùng các xứ sở cùng các họ nhân dân khu bản, làm gia thần thủ tục, cho gia dựng đồn sở, vì nhà Trần mưu trận lập các cơ ngũ. Ông bái yết nhà vua xin thay nhọc thân mình tiền phong lên trước, chia thành thuỷ, bộ hai đạo cùng tiến đến đồn sở giặc dựng làm 5 đồn gọi là Ngũ Kiên đồn. Trận lập xong giáp chiến một trận, thuỷ bộ đều đánh. Tướng giặc thấy uy lực của ông hết thảy đều khiếp sợ, tranh nhau chạy trốn, tan vỡ chết vô số. Dẹp yên giặc ông bèn lui binh dôn đồn ở đất núi Tam Điệp, dồn binh trú ở đó 3 tháng. Nhà vua nghe tiếng ban cấp ruộng công6 mẫu 7 sào để làm lộc thưởng cho ông. Sau đó ngày 10 tháng 4 ông bỗng nhiên bị ốm rồi mất, nhân dân nghe tin đồn về dáng ở xứ Đường hào bản địa tự tâu với vua. Vua nghe cho đó là công thần có công lao huấn nghiệp với việc mất, ban mệnh Đinh thần đến bản khu (tức nhân danh hiệu khu Ngũ Kiên) làm lễ yết tạ bản đền thờ thiêng, về sau làm lễ tạ vọng điếu ông Minh. Ban thưởng thêm tiền công 100 quan cho nhân dân bản khu, thưởng 100 cân bạc để làm tiền công làm đền thờ, lăng miếu để phụ thờ hương khói, lại phong thưởng 4 vị mỹ tự thượng đẳng phép phúc thần cho phép miễn nhân dân bản khu binh lương các việc tạp dịch trong 5 năm, xếp hạng cùng đất nước lớn lao mãi mãi là hình thức:

– Phong dương cảnh Thành Hoàng dực thánh khuôn quốc, hiền trung cư sỹ, Đô thống thượng đẳng phúc thần Đại Vương.

– Phong bản cảnh Thành Hoàng phụ thắng uỷ trợ kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân huý Trịnh Minh thượng đẳng thần đại vương.

– Cho phép khu Ngũ Kiên (hiện cũ thượng khu) xã An Nội huyện Nga Sơn phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá là bảo hộ phụng thờ hương hoả đền thờ.

Ngày lành xuân nam đào hồng phúc 1672.

Đông các Đại học sĩ viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn thiếu khanh ngày lành mùa đông năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737). Quản giam bách thần tri điện hùng lĩnh Nguyễn Hiền theo bản chính vâng sao.

Sau khi ông mất, vua Trần đã cho xây dựng đền thờ ông và tặng phong: Thượng đẳng phúc thần.

Tại đền thờ ông còn lưu các câu đối ca ngợi ông:

“Đâm xô năng danh tụ cổ dã dĩ

Thần chi vi đức kỳ thị hĩ hồ”

“Quan chức trấn Thanh Hoa, danh cao thập bát

Tướng tài thiên thuỷ kiêm thuỷ bộ tích Đông A”.

Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh hiện đang được nhân dân làng Ngũ Kiên, Nga Thiện thờ cùng một điểm (khu vực tây làng), trong đền thờ còn giữ được nhiều sắc phong, nhiều đồ thờ rất có giá trị nhân dân làng Ngũ Kiên nay và An Nội trước đây rất tự hào vì ở một làng nhỏ được thờ cả hai vị tướng. Dân làng thường gọi là “đền thờ tướng bà, tướng ông” các ngày rằm, ngày giỗ, ngày lễ hội. Con cháu dòng họ Mai Đức (dòng họ của chồng bà Lê Thị Hoa – ông Mai Tiến) nhân dân các xã Nga Trường, Nga Thiện, Nga Vịnh và nhiều nơi trong huyện, ngoài huyện về thắp hương ghi nhớ công ơn của hai vị tướng. Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh đã được UBND tỉnh cấp phép xây dựng, tôn tạo để trở thành một điểm đến du lịch tìm hiểu lịch sử, cùng với các di tích danh thắng: Động Từ Thức, Động Bạch Á, Bia Thần, núi Lã vọng,…tạo nên khu du lịch hấ dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Chùa Thung Sơn hay Thung Sơn Tự, nghĩa là chùa trong núi, còn có tên gọi là chùa Thông, còn gọi là chùa Báo Văn; theo tên làng của xã Nga Lĩnh. Chùa được xây dựng từ thời Nguyễn, khởi sáng trụ trì đầu tiên là hòa thượng Thích Vĩnh Phát.

Trong phong trào Cần Vương chống Pháp thế kỷ XIX để bảo vệ căn cứ chống giặc, núi Thông và chùa Thông đã trở thành vọng gác quan trọng của nghĩa quân Ba Đình – Đinh Công Tráng, Phạm Bành.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, núi Thông và chùa Thông là nơi nuôi giấu cán bộ. Trước và trong khi xây dựng căn cứ cách mạng ở làng Thượng, làng Sến (Nga Thắng), Tứ thôn (Nga Vịnh), Nga Thành…Các ông Tố Hữu, Trịnh Ngọc Điệt, Lê Tất Đắc, Hoàng Xung Phong và nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa khác lấy chùa Thông làm nơi trú chân, liên lạc và hoạt động. Chùa Thông được cấp bằng di tích lịch sử – văn hoá và cách mạng cấp tỉnh ngày 30 tháng 12 năm 1999.

Chùa gồm nhà thờ chính, cung thờ mẫu, nhà thờ tổ bốn vị tổ sư đã trụ trì tại ngôi chùa, các công trình phụ, vườn cây ăn quả, giếng nước…Chùa thông không những là nơi thờ Phật, nơi các tín đồ Phật giáo đến tu hành, mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của bà con trong làng, ngoài xã và trong vùng từ nhiều đời nay. Hiện chùa còn giữ được các bức đại tự, chuông đồng và các pho tượng cổ như tượng Hộ Pháp, tượng Đức Ông, tượng Bà và nhiều pho tượng Phật cùng với các bức chạm khắc có giá trị cao và được bảo quản khá tốt. Chùa Thông còn thờ vua Hùng, lễ hội vào mùng 10 tháng 3 Âm lịch (ngày giỗ tổ Hùng Vương). Ngoài ra còn các ngày lễ mùng 8 tháng Chạp (ngày đức Phật Thích Ca thành đạo), ngày Nguyên tiêu, rằm tháng Giêng, lễ Thượng nguyên, ngày 15 tháng 4 (ngày Phật đản), ngày 15 tháng 7 Âm lịch (ngày Vu Lan báo hiếu), lễ cuối năm…

Chùa Thông nằm trong khung cảnh thiên nhiên đẹp, gần gũi, gần sông, gần đường quốc lộ, tỉnh lộ. Ngoài nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân ngôi chùa còn có giá trị lịch sử và văn hoá.

Kim Quy cổ tự (tức là chùa Kim Quy) hay còn gọi là chùa Yên Hạnh, thuộc làng Yên Hạnh, nay thuộc Thị Trấn Nga Sơn là ngôi chùa thờ Phật, có công trình kiến trúc độc đáo và danh lam thắng cảnh từ bao đời.

Truyền thuyết kể lại rằng: Vùng đất của chùa Kim Quy bây giờ xưa kia là biển cả, ở đây có một con rùa vàng thường xuyên xuất hiện dẫn người dân đi đánh cá, cứu vớt người dân bị nạn khi gặp bão giông, giúp các nhà Vua vào nam ra bắc đánh giặc. Những việc làm đạo nghĩa của Rùa Vàng đã được nhân dân trong vùng biết đến và được tôn là thần Kim Quy. Nghĩa cử cao đẹp của Rùa vàng cũng đã thấu tới Phật Bà Quan Âm, một lần Phật Bà vi hành hạ giới để thử thách Rùa vàng lần cuối trước khi quy nạp về nơi Phật Tổ. Phật bà hoá thành chim Hồng hạc gãy cánh rơi xuống biển, thấy Hồng Hạc bị nạn, rùa vàng dìu chim Hồng hạc bị nạn trả về đàn. Nơi Hồng hạc đậu được nhân dân trong vùng gọi là Thiên Nga Lộ (bây giờ là làng Nga Lộ). Còn nhân dân các làng An Hạnh, An Trang, An Ninh, An Khoái, An Khang, An Lộc, An Đậu lân cận được Phật bà Quan Âm ứng hiện làm chùa thờ Phật, tên gọi là chùa Kim Quy ngay trên cồn cát có hình rùa vàng đang bơi ra biển.

Trước cách mạng tháng 8, chùa Kim Quy không chỉ là nơi thờ Phật, mà còn là nơi liên lạc bí mật của quân tự vệ cứu quốc. Sau cách mạng tháng 8 chùa vẫn là cơ sở cách mạng và là nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ Việt Minh. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa vẫn duy trì nhưng không mở lễ hội nhiều để tránh oanh tạc của pháo và máy bay giặc.

Từ ngày non sông thu về một mối, đất nước thống nhất, nhân dân địa phương trong vùng có điều kiện tôn tạo ngôi chùa để giữ gìn nét đẹp truyền thống, văn hoá tâm linh. Tháng 6 năm 1996 UBND tỉnh có quyết định tu bổ và tôn tạo chùa Kim Quy theo yêu cầu của nhân dân địa phương. Ngày 10 tháng 12 năm 1997 chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hoá. Năm 2009 chùa được xây dựng lại khá kiên cố, vững chắc, có cả nhà Mẫu, nhà Tổ tạo thành quần thể bề thế. Chùa toạ lạc ở trung tâm huyện nên ngày rằm, mùng một và dịp lễ hội du khách kéo về rất đông để cầu nguyện mong mọi việc tốt lành.

Cách động Từ Thức khoảng 1km về phía trái có một động khác, còn được ít du khách biết đến gọi là động Mắt Voi. Động này khá rộng, chứa được cả ngàn người, nằm cách chân núi khoảng 70m. Trước cửa động hiện có một ngôi chùa cổ, có tên là “Bạch Tượng tự” (đền Voi Trắng). Cửa chùa có một cây đại hàng mấy trăm tuổi, nằm bò ra phía trước, uốn lượn như một con rồng chầu. Trong chùa còn có một số đồ thờ rất cổ như: Mũ, kiếm, giầy của vua, cặp đèn đồng khổng lồ, con dấu bằng đồng có khắc năm chữ “Linh lang Đại Hành hoàng đế”. Đây là ngôi chùa cổ rất linh thiêng, gần đây mới phát hiện ra một cái động khá rộng, đẹp nằm ở ngay sau chùa. Dân khắp nơi kéo đến về thăm động rất đông. Động đang được bảo vệ để đưa vào khai thác đón du khách. Đây cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của Nga Sơn.

Ngôi chùa này nằm ở thôn Chính Đại xã Nga Điền. Toàn khu chùa có ba toà nhỏ nằm ngang nhau. Chùa nằm bên sông Chính Đại, bên hông chùa có bia Thần Phù để người qua đường có thể thắp hương cầu may.

Những di tích lịch sử – văn hoá ở huyện Nga Sơn không chỉ cho chúng ta thấy được lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn kết hợp với cảnh thiên nhiên đẹp, nguyên sơ càng làm tăng sức hấp dẫn với du khách và có giá trị phát triển du lịch rất lớn.

Trong đền có tượng đá Đại Vương được sơn vôi lại chất sơn đặc biệt, theo các nhà sử học đây là pho tượng đá quý hiếm hiện còn ở Thanh Hoá.

Đền Xuân Đài thuộc xã Nga Thuỷ (tên Xuân Đài là tên làng cổ xưa). Người dân kể rằng: Cách đây khoảng 600 năm, nơi đây là vùng bãi bồi, nhân dân theo các con lạch ra biển bắt tôm cá. Một hôm từ sáng sớm nhân dân đi biển thấy một khối đá lớn trôi dạt trên một mảng bè , dân làng thấy lạ, lấy nước rửa sạch xem thì thấy có chữ: “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”. Thấy vậy bà con dân làng coi đó là điều thiêng bèn rước về để thờ sau này được các thợ đặc tài khắc tác thành tượng Người. Đền Xuân Đài thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, đền rất linh thiêng, du khách thập phương tới thăm quan và thắp hương cầu nguyện rất đông.

Nghè Hậu thuộc xã Nga Bạch. Nghè được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, Nghè Hậu thờ vị Thánh Nương và ” Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Nghè Hậu được xây dựng ngay gần cửa biển Lạch Sung. Nghè Hậu đang còn giữ được vẻ cổ kính. Cổng nghè là hai cột trụ biển bằng đá, to cao, nhưng được chạm khắc hoa văn khá tinh xảo. Hai trụ bên có bốn câu đối với nội dung:nói về nơi thờ tự tứ vị Thánh Nương và năm tháng làm trụ biển, trong đền còn nhiều đồ thờ cúng cổ rất có giá trị , nhiều sắc phong của các đời vua chúa.

Nghe Hậu thờ: tứ vị Thánh Nương và “Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Thần là Hoàng hậu Triều Nam Tống. Khi vua Đoan Tông nhà Tống bị giặc nguyên bức bách phải nhảy xuống sông tự vẫn. Thần cùng với 3 công chúa cũng phải nhảy xuống sông tự vẫn. Xác của 3 người trôi dạt đến Diễn Châu ( Nghệ An) chỗ cửa biển Cần Hải. Nhân vớt xác đem chôn có nhiều hiểu ứng linh dị lớn, nhân dân lập đền thờ rất linh ứng. Các triều vua Lê đem quân đi đánh giặc đều được tán trợ cho thnàh công. Vua Lê phong tặng thần là” Nam Hải” ,”Phúc Thần” các triều đại sau này đều có phong tặng.

Nhiều nơi ở các cửa biển, các cửa Lạch đều lập đền thờ Hoàng hậu và 3 công chúa để cầu mong đi ra khơi sóng yên, biển lặng, tôm cá đầy thuyền.

Thần họ Hoả tên Nguyệt Nga ở xã Bạch Câu(Nga Bạch), thời vua Nhân Tông nhà Lê(1443- 1459) có giặc Chiê Thành vào quấy phá. Vua thân chinh đi đánh, khi qua châu thị huyện Nga Sơn trông thấy vua bằng lòng và lấy làm vợ. Thần bèn hiến kế là cho lập quấn bên đường cho giặc thấy vào quán ăn mà không đề phòng rồi thừa cơ dánh úp. Hôm đó trời nắng to, nhà vua tiến đánh rồi lại lui binh, cho đến trưa rồi vờ thua bỏ chạy. Quân giặc đuổi theo, không thấy quân lính nhà vua, thấy hai bên đương núi nhiều lều quán ăn, trời nóng, bụng đói, trưa lại đến nên quân giặc lao vao quán, ăn uống lo say thừa cơ quân nhà vua tiến vào đánh úp. Quân giặc bị trúng kế, vua bắt sống được vua Chiêm Thành đem về triều và phong cho thần là Hoàng Phi.

Sau thần về thăm quê, đi đến cửa Bạch Câu gặp gió to sóng lớn thì thuyền bị chìmvà hoá. Hay tin vua vô cùng thương tiếc và ban cho dân ở đây tiền và ruộng để lập đền thờ.(Đền thờ Hoàng Phi ở làng TrungĐức xã Nga Trung, nhưng do chiến tranh đền không còn, dòng họ Hoả, nhân dân xã Nga Bạch đã rước vong bà về thờ ở Nghè Hậu. Nơi bà sinh ra ở đó).

8. Những lễ hội truyền thống.

Mùa lễ hội từ đầu tháng Giêng đến tháng tư (âm lịch), Nga Sơn có rất nhiều lễ hội thu hút cả hàng nghìn khách đến thăm quan, dự lễ hội như: Lễ hội chùa Tiên, Mai An Tiêm, Từ Thức, lễ hội Ba Đình và hàng trăm hội làng diễn ra liên tục, hấp dẫn. Trong số đó có một số lễ hội tiêu biểu như:

Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Nga Phú. Đây là lễ hội dân gian gắn liền với truyền thuyết “Quả dưa đỏ” phổ biến rộng rãi trên đất nước ta. Lễ hội Mai An Tiêm ca ngợi thành quả lao động và mang đậm ý nghĩa phồn thực của người dân vào thời kỳ khai hoang lập ấp.

Cũng như các lễ hội khác, lễ hội Mai An Tiêm cũng được tiến hành theo hai phần là phần lễ và phần hội.

Phần lễ bao gồm các công việc:

1. Lễ rước sắc phong đức Thánh Mai An Tiêm từ làng văn hoá Văn Đức đến đền thờ Mai An Tiêm. Lễ rước được tổ chức với quy mô trọng thể và hoành tráng. Thứ tự các đoàn rước gồm:

Dẫn đầu là đội rồng lân (1 rồng, 2 sư tử, 2 kỳ lân)

1.1 Đội cờ dẫn gồm:

– 1 lá cờ tiết.

– 5 cờ ngũ hành: trắng, xanh, đen, vàng, đỏ.

– 4 cờ tứ linh: long, ly, quy, phượng.

– 8 cờ bát quái.

1.2 Ban chinh cổ

– 1 trống cái to đặt trên xe

– 1 chiêng đồng.

1.3 Đội Bát biểu chấp kích:

– 16 người vác bát biểu.

– 16 người vác chấp kích.

– 1 người vác biển gỗ có chữ Thượng đẳng và lịch triều.

1.4 Kiệu hương án.Trên kiệu có:

– Một quả dưa hấu to.

– Hộp sắc phong có hai lộng đi hai bên để che kiệu.

1.5 Phường đồng văn.

– 1 trống cái.

– 8 trống ban.

– 8 trống bản, hai não bạt.

1.6 Phường bát âm.

– 2 đàn nguyệt, 2 sáo, 1 nhị, 1 mõ, 1 sanh tiền, 1 tiu cảnh.

1.7 Kiệu bát cống.Trên kiệu đặt:

– 1 khám thờ có bài vị Mai An Tiêm.

– 2 mâm ngũ quả, có hai lộng đi hai bên che kiệu.

1.8 Kiệu long đình. Trên kiệu đặt: Mũ, áo, hài của thần Mai An Tiêm có hai lộng che hai bên kiệu.

1.9 Kiệu võng

(Kiệu rước Công chúa).

1.10 Đoàn rước rễ (đi hàng đôi)

– Quan viên bô lão.

– Các bản hội của các xã trong toàn huyện gần 3000 người. Ăn mặc trong trang phục lễ hội.

– Đoàn khách (tỉnh, huyện, xã)

– Dân làng văn hoá Văn Đức.

– Dân quanh vùng và khách thập phương

2. Nội dung tế lễ

2.1 Đội tế gồm có:

– 2 đông xướng và tây xướng.

– Gần 3000 người trong các bản hội chấp sự.

3.2 Nội dung cuộc tế.

– Tích cổ tam thống (đánh 3 hồi trống).

– Hai vị đông xướng, tây xướng trong nghi trang tế lễ ra đứng ở vị trí có bày hương án hô to: “Khởi chinh cổ” (nổi chiêng trống).

– Hai người chấp sự đi đến bên giá chiêng, giá trống một người đánh 3 hồi chiêng, một người đánh 3 hồi trống, rồi mỗi người đánh thêm 3 tiếng nữa sau đó vào vái 1 vái rồi lui ra.

– Nhạc sanh tượng vị (ban nhạc về chỗ ngồi).

– Nhạc tác (khởi nhạc).

– Sau đó đánh 3 hồi trống.

3.3 Chúc văn: Ca ngợi công đức Mai An Tiêm.

Kính cáo Anh Linh

Thánh thuỷ tổ khảo

Lạc hầu hàng duệ vương triều

Dực bảo trung hưng linh phù chi thần

Gia phong đoan túc tôn thàn

Mai công huý vển, tự An Tiêm.

Huý nhật: Tam nguyệt, thập nhị nhật

Vĩnh thế chân linh thần chú

Kính các anh linh thượng hạ, tả hữu thờ theo thánh tổ

Mừng hôm nay;

Trống đồng vang dậy núi sông

Trời đất Nga Sơn ngút ngàn linh khí

Rộn rã trống chiêng

Tưng bừng cờ đỏ

Dâng hương ân bái ân đức tiên nhân

Châm nến phụng thờ công lao thánh tổ

Nhớ ngày xưa…

Nước có nguồn, cây có gốc.

Uống nước trong nhớ nguồn chảy từ đâu?

Ăn quả ngọt biết công ai khó nhọc?

Đó chính là truyền thống nhân văn.

Đó cũng chính là tự hào dân tộc.

Nhớ ngài xưa.

Dòng giõ các vua Hùng.

Tư chất thông minh ngay từ thưở nhỏ.

Tin sức mình nuôi chí tự cường.

Chống quân tham, ghét quân bợ đợ.

Câu nói xưa còn vang:

“Của biếu là của lo”

Lời tâu nay còn nhớ:

“Của cho là của nợ”

Phật ý vua cha.

Lệnh đầy biệt xứ

Đây đảo hoang nước biển mênh mông.

Kìa rừng rậm hãi hùng tiếng hổ.

Tất cả trông vào: ba tháng lương ăn.

Một thanh gươm cùn, một hòn đá lửa.

Tin đôi tay ắt sẽ vượt qua.

Sẵn ý chí đâu nào có sợ.

Lượm trái cây lót dạ qua ngày,

Bẫy thú rừng lần hồi qua bữa.

Bỗng một hôm, thấy lũ chim trời,

Đang tranh ăn một loài quả lạ,

Vỏ xanh thẫm,

Ruột đỏ tươi.

Đuổi chim đi, lấy hạt gieo trồng.

Kỳ trái chín ăn vào mát rượi.

Ngày ngày sức lực tăng cường.

Tháng, năm khó khăn đã vợi.

Khắc tên vào quả,

Thả xuống biển khơi.

Tấp nập thuyền buồn ghé vào mua, đổi.

Qủa ngon, trái ngọt,

Dâng tiến vua Hùng.

Thấu hiểu ngọn ngành vua cha liền vội,

Cho thuyền vượt cửa Thần Phù.

Nhắm hướng đảo hoang thẳng tới.

Đón An Tiêm về đất Phong Châu.

Quân xiểm nịnh thảy đều chịu tội.

Vua truyền: Dưa đỏ trồng khắp nơi nơi.

Nức tiếng ngọt, ngon ngàn đời ca ngợi…

4:+Khai mạc lễ hội.

+ Dâng hương tưởng niệm

+ Đánh trống khai hội

+ Múa rồng, lân

+ Biểu diễn nghệ thuật của các đoàn nghệ thuật trong tỉnh gồm: 200 diễn viên chuyên nghiệp, 500 diễn viên quần chúng, tái hiện lại cảnh: cảnh An Tiêm bị đi đầy- cảnh vợ chồng An Tiêm ngoài đảo hoang- cảnh nhà vua cho cận thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về triều đình. Nhà vua ban tước , lộc cho vợ chồng An Tiêm và lệnh cho dân cả nước trồng dưa hấu An Tiêm.

Phần hội:Tổ chức ngày 12-13 tháng 3(âmlịch)

Tổ chức Hội tại các làng văn hoá tiêu biểu toàn huyện: Thi các tiết mục văn nghệ, múa rồng , múa lân. Tổ chức các trò chơi đân gian: thi kéo co, đua thuyền, hái dưa, phóng lao, nấu cơm thi…

Mức độ ảnh hưởng của lễ hội lan rộng khắp huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung và một số huyện ở các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Nam Định…

Lễ hội Bơi Chải truyền thống này diễn ra ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch. Lễ hội truyền thống này ra đời sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938), nhằm vận động con cháu ra tòng quân cứu nước. Lễ hội đã trở thành một ngày hội vui khoẻ của dân làng nơi này. Lễ hội Bơi Chải là hình thức cầu ngư, cầu cho năm mới mưa thuận gió hoà, ngư dân ra khơi tôm cá đầy ghe. Lễ hội còn thể hiện tinh thần thượng võ, nối tiếp giá trị truyền thống của ông cha.

Trước năm 1975 lễ hội này vẫn được tổ chức đều đặn ở thôn Bạch Hải, nhưng khi đất nước thống nhất vì nhiều lí do khác nhau nên lễ hội không được tổ chức nữa. Vừa qua lãnh đạo và UBND xã Nga Bạch và phòng VHTT huyện Nga Sơn đã gửi đơn Sở VH-TT-DL tỉnh xin khôi phục lễ hội này và được đồng ý. Trong dịp tết nguyên đán 2010-2011, vào ngày 3và 4 tết lễ hội bơi chải truyền thống ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch đã được tổ chức lại. Lễ hội thu hút được rất nhiều người tham gia.

9. Một số chợ tiêu biểu ở Nga Sơn

Nga Sơn không chỉ có nhiều lễ hội đặc sắc mà còn có nhiều những sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tiêu biểu là: Chợ chiếu Hói Đào, chợ Hôm sung xã Nga Bạch, chợ Hoàng xã Nga Văn,…

Trước đây Nga Sơn còn có cả chợ Hôm Giún tại thôn Bái Nại xã Nga Hải. Nhưng chương trình lấn biển vào những năm 1980-1990 đã làm cho biển rời xa , con sông Hưng Long trước đây thông từ cửa biển tới chợ Hôm Giún đã bị chặn bởi cống Mộng Giường. Hết sông, hết biển, hết cả làng chài Bái Nại, chợ cũng không còn nữa.

Hiện nay chỉ còn có chợ Hôm Sung ở xã Nga Bạch, là chợ mang đậm văn hoá ở vùng biển Nga Sơn. Chợ vẫn giữ được vẻ sầm uất xưa. Chợ Hôm Sung chỉ họp vào buổi chiều khi tan việc đồng áng cũng là lúc thuyền chài cập bến. Lúc đó, phụ nữ thì tất tưởi gồng gánh cua bể, tôm, cá, mực…còn các bác thuyền chài với những gọng xiếc và chiếc giỏ khổng lồ lớn cũng hối hả rảo bước cho kịp chợ Hôm. Việc mua bán các sản vật địa phương như cá, tôm, gạo, ngô, khoai…chỉ diễn ra chóng vánh trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Chạng vạng tối chợ đã không một bóng người

Chợ chiếu Hói Đào thuộc xã Nga Thanh giáp danh với làng Ngọc Liên xã Nga Liên, nơi đây có nhiều gia đình với các gian hàng chiếu cói đủ các chủng loại màu sắc rực rỡ. Chợ chiếu được họp từ 7 giờ sáng đến khoảng gần 10 giờ là tan. Tấp nập đông vui nhất là khoảng 8 đến 9 giờ. Các sản phẩm của quê chiếu: Chiếu cải, chiếu đậu, chiếu in hoa đủ các kích cỡ. Các loại thảm trải sàn, làn đựng đồ, túi sách, lẵng hoa…và thật dễ thương là chiếc mũ cói ngộ nghĩnh vẫn còn thơm mùi cói khi đội lên đầu. Sản phẩm ở muôn nơi đem đến, rồi các sảp phẩm này từ chợ chiếu lại toả đi muôn nơi đến các thị trường, trong tỉnh trong nước và cả nước bạn. Người bán kẻ mua tấp nập, các phương tiện đem chiếu đến chợ bán, rồi các phương tiện đem chiếu đi ngược xuôi tấp nập. Chợ chiếu chỉ họp tron buổi sáng nhưng ngày nào cũng đều đặn, mưa gió rét buốt chợ vẫn họp bình thường. Sau khi chợ chiếu tan bấy giờ các bà nội trợ quê chiếu tranh thủ ghé sang chợ thực phẩm cạnh đó để mua thức ăn bồi dưỡng cho gia đình sau một ngày lao động vất vả. Các ông chồng cũng tranh thủ tự thưởng cho mình một tô phở nóng, vài cốc bia hơi.

Sau một ngày đi thăm quan các điểm du lịch, du khách có thể tham gia vào những phiên họp chợ tấp nập cùng những người dân vùng biển Nga Sơn để hiểu thêm về văn hoá và con người nơi đây.

10. Nghề chiếu cói truyền thống

Nga Sơn không chỉ có động Từ Thức, núi Mai An Tiêm, di tích lịch sử Ba Đình… Nga Sơn có nhiều làng nghề truyền thống như nghề chiếu cói, nghề mộc, mỹ nghệ, mây tre đan xuất khẩu… Trong đó tiêu biểu là nghề chiếu cói – một làng nghề truyền thống đã nổi tiếng từ rất lâu, nói đến Nga Sơn là chúng ta nhớ tới chiếu cói với câu ca dao nổi tiếng:

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông

Huyện Nga Sơn được trời phú cho dòng phù sa từ sông Đáy, sông Hồng, sông Hoạt bồi đắp mà thành ruộng, thành làng. Tại những vùng đất phù sa mới bồi bị nhiễm mặn rất phù hợp với cây cói, được sử dụng rộng rãi để lợp nhà, dệt chiếu và làm các vật dụng khác. Cây cói, cây đay đã có từ xa xưa, đến nay cũng chưa ai biết cụ thể, chỉ được nghe các cụ kể lại sự tích cây cói, cây đay:

Chuyện xưa kể rằng: Có cô con gái nhà nghèo nhưng xinh đẹp nết na, da trắng như tuyết. Nàng lại có mái tóc dài, đen óng ả. Nàng đem lòng yêu mến chàng trai làng chân quê vùng biển khoẻ mạnh, giỏi nghề chài lưới. Những đêm trăng sao họ hẹn hò nhau ra cửa Lạch, cùng chờ trăng lên, ngắm biển cầu mong cho duyên số viên thành. Ánh trăng sáng như dát ngọc xuống biển, khuôn mặt của nàng đang độ tuổi trăng tròn đã xinh càng thêm đẹp rực rỡ. Tóc nàng vờn bay ve vuốt tấm lưng vạm vỡ của chàng, hương bồ kết thoang thoảng thơm càng làm cho đôi tình nhân thêm nồng thắm. Họ yêu nhau ngọt ngào, đẫm đượm hương phù sa của biển.

Trước ngày về làm dâu nhà người, nàng hẹn chàng trai đến cửa Lạch. Đêm đó trăng mờ nhạt, những đám mây vần vũ, bỗng trôi nổi cơn giông. Nàng chờ mãi, chờ mãi mà chẳng thấy chàng đến. Những giọt lệ của nàng rơi xuống, càng xót thương cho duyên số chẳng thành. Nàng quay đầu nhìn về làng, những tưởng sẽ nhìn thấy bóng chàng đang tới nhưng vô vọng. Nàng nói thầm trong sự tuyệt vọng: Em xin chàng hãy tha lỗi cho em, hẹn chàng ở kiếp sau. Nói đoạn, nàng cầm con dao cắt mái tóc của mình thả vào trong gió, trong đêm.

Những sợi tóc của nàng theo gió bay khắp cả vùng rồi nàng gieo mình xuống biển.

Chàng trai chạy vội vã đến gặp nàng, nhưng chẳng thấy người yêu của mình chỉ có mùi thoang thoảng hương bồ kết và những sợi tóc dài còn vương lại. Chàng vô cùng đau khổ đã giận bản thân mình không bảo vệ được nàng. Chàng biết, để giữ lời thề ước thuỷ chung, nàng đã gieo mình xuống biển. Mắt chàng đăm đắm nhìn ra biển cả mênh mông, vô vọng, thương nhớ, rồi chàng cũng gieo mình xuống biển. Biển cả mênh mông đã ôm trọn đôi tình nhân vào lòng.

Tình yêu thuỷ chung của đôi trai gái đã làm động lòng các vị thần linh. Thần linh đã cho người con gái hoá thành cây Cói còn người con trai hoá thành cây Đay. Sáng hôm sau, thật kỳ lạ cả một vùng rộng lớn những cây Cói xanh mướt, dài óng ả, mọc lên, bên cạnh lại có những cây Đay cứng cáp xanh rờn. Người dân cho đó là điều lành, bèn cắt cây Cói, nhổ cây Đay về, rồi dùng sợi Đay, sợi Cói dệt thành chiếu. Họ mong muốn cho cây Cói, cây Đay mãi mãi gắn bó với nhau. Để nhớ về một mối tình chung thuỷ, son sắc. Sau này ở Nga Sơn và lan rộng ra cả nước có tục lệ “trải chiếu cho cô dâu, chú rể trước đêm động phòng để mong cho sự thuỷ chung hạnh phúc và sinh con đàn cháu đống”.

Nghề chiếu cói Nga Sơn có hầu hết ở các xã trong huyện, nhưng tập trung ở 8 xã ven biển là Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ, Nga Tiến, Nga Tấn. Trong đó các xã Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ được coi là nghề dệt chiếu toàn tòng. Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng mượt. Điều đặc biệt ít có nơi nào trồng được cói dài như nơi này, loại cói chuyên dùng để dệt nên những tấm chiếu vừa đẹp lại vừa bền.

Theo lời các cụ xưa kể rằng chiếu cói Nga Sơn cùng với chiếu Kim Sơn (Ninh Bình) là một trong những vật cống tiến triều đình, được các bậc vua chúa, quý tộc ưa dùng. Trải qua hơn 150 năm tồn tại với không biết bao là thăng trầm, chiếu cói Nga Sơn đã làm nên thương hiệu cho địa phương, góp phần tạo việc làm, đem lại thu nhập cao cho người dân.

Có nhiều loại chiếu khác nhau như: chiếu đậu, chiếu hoa, chiếu kẻ hình, …Mỗi loại chiếu có những ưu điểm riêng. Trong đó chiếu đậu là loại chiếu đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và giá cũng đắt nhất. Chiếu đậu còn gọi là chiếu trơn, mắt tròn, sợi ken phưng phức, nặng, đổ nước không thấm qua. Chiếu có tốt, có đẹp, có thực là chiếu Nga Sơn phải nhìn vào biên chiếu. Chiếu Nga Sơn là món quà quý và nặng tay, nhưng nặng hơn cả là tình của đất, của người làm nên nó.

Hiện nay, người dân Nga Sơn không chỉ đơn thuần dệt chiếu cói mà còn làm ra nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ với những hoạ tiết hoa văn đẹp như làn, mũ dép, hộp, tấm thảm, đồ dùng trang trí khác…bằng cói rất được ưa chuộng.

Mọi người biết đến Nga Sơn với những đặc sản nổi tiếng chỉ có riêng ở vùng đất này đó là: gỏi cá nhệch, rượu Chính Đại, dê núi ủ trấu…đó không chỉ là những món ăn ngon mà mang cá những nét văn hoá của người dân Nga Sơn.

Cá nhệch là loại cá chỉ có ở vùng biển nước lợ, thường to bằng cỡ ngón chân cái, hình dáng gống con lươn đồng,nhưng dài hơn phần đầu có cái mang phòng to hơn. ở các vùng đầm lầy ngập mặn như Nga Sơn, Kim Sơn – Ninh Bình, Giao Chỉ – Nam Định thường rất sẵn, nhưng chỉ có ở Nga Sơn mới có cách chế biến đặc biệt hơn cả thành đặc sản ” gỏi cá nhệch” và đã trở thành món” đặc sản”của nhiều du khách trong,ngoài tỉnh và cả du khách nước ngoài ưa thích. Người ta nói: đến Nga Sơn ngoài việc thăm thú” Sơn thuỷ hữu tình”nếu chưa thưởng thức” Gỏi cá nhệch” thì coi như chưa đến Nga Sơn.( nhiều người ở nơi xa, chuyện vui là chưa đến Nga Sơn, nhưng biết Nga Sơn qua chuyện Động Từ Thức, Mai An Tiêm, Chiếu Nga Sơn và đặc biệt “Đặc sản gỏi cá nhệch”).

Gỏi cá Nhệch được làm qua rất nhiều công đoạn: Cá sống được bắt về bỏ trong chậu, cho một ít nước vôi trong vào để cá nhả hết nhớt rồi vớt ra rửa sạch. Mổ bỏ nội tạng, lột da và lọc riêng phần nạc rồi đem thái thành từng miếng nhỏ cỡ to hơn sợi mỳ tôm. Cá sau khi thái được ngâm chừng 5 phút trong nước dừa tươi có pha một chút muối, rồi vớt ra vắt thật khô, cho vào một chiếc bát tô sứ to rồi vắt vào đó nước riềng để thấm cá, trộn đều cho đến khi cá ngấm nước riềng chuyển sang màu vàng ngà thì lại vắt cho thật khô rồi bầy lên đĩa xong trộn với thính. Thính để trộn gỏi cũng phải được chế biến rất cẩn thận, hai phần gạo trộn với một phần ngô, ngâm chừng 15 phút rồi vớt ra đem rang nhỏ lửa cho chín vàng, đem xay mịn là được. Nước ăn gỏi thì chẻo là quan trọng nhất nó là chất kết dính của gỏi và các loại gia vị. “Chẻo” được chế biên rất công phu, bao gồm da và xương cá rán giòn, xay nhuyễn, thịt nạc rán giòn xay nhuyễn mẻ ngấu lọc kỹ cùng với hành tỏi, mắm muối, mì chính…được chế biến thành cùng một loại nước đặc biệt với rất nhiều hương vị. Rau sống ăn gỏi gồm: lá Sung, lá Vọng cách, lá Lộc vừng, lá húng…và không thể thiếu đĩa ớt, riềng thái nhỏ để ăn kèm.

Lấy một chiếc lá sung to quấn lại thành hình chiếc phễu, cho gỏi cá cùng các loại rau thơm, gia vị vào trong, cuối cùng là một thìa chẻo đặc sánh rồi gói lại…chén rượu nỏ đưa cay, vài miếng bánh đa vừng, ngồi trên thuyền mà lòng man mát, ngất ngây niềm vui cùng bạn bè tâm đắc, thực khách cứ vừa nhân nhi, vừa vui chuyện về vùng đất Nga Sơn cho đến tàn canh lúc nào không biết

Sau khi thăm quan, leo núi thấm mệt du khách thưởng thức món gỏi cá Nhệch với rượu Chính Đại thì sẽ thấy rất ngon miệng và sức khoẻ dường như được phục hồi. Vì cá Nhệch là loại cá rất khoẻ, bởi thế người ta tin rằng ăn cá Nhệch là một món ăn bổ, có tác dụng tăng gân cốt, khí huyết và sức khoẻ của con người.

Ở Thanh Hoá, các loại rượu ngon nổi tiếng như nếp Cẩm Cẩm Thuỷ, rượu Nếp cái hoa vàng, rượu Tăng làng Quảng, rượu Cần Bá Thước…nhưng có lẽ làm say lòng khách du lịch nhất chính là rượu nếp Nga Sơn. Kinh nghiệm dân gian cho thấy rằng để có được mẻ rượu ngon phải hội tụ đủ các yếu tố đó là: “thiên thời – địa lợi – nhân hoà”. Thì đây, Nga Sơn vốn sẵn có nguồn nước đã từng tạo ra giống dưa Mai An Tiêm ngon, mát, giống nếp cái hoa vàng ngát hương, cộng với loại men bí truyền và kinh nghệm ngàn đời của người nông dân cần cù chịu khó và các yếu tố hài hoà kết hợp với nhau để tạo ra một sản phẩm đặc biệt là rượu nếp Nga Sơn.

Gạo nếp được nấu gọi là nếp lật, tức là gạo nếp chỉ được xay bỏ lớp vỏ trấu, hạt gạo đang còn nguyên lớp vỏ lụa bao phủ bên ngoài. Cơm rượu được đồ chín tới rồi tãi ra nong cho nguội, trộn với men và ủ kỹ trong chum sành, độ vài ba ngày khi chum rượu toả mùi thơm quyến rũ là được. Quy trình chưng cất rượu cũng bằng phương pháp thủ công truyền thống, nồi nấu rượu bằng kim loại nhưng bình ngưng (nơi hơi rượu ngưng lại thành dòng rồi chảy vào chai) lại được làm bằng gỗ mít và lò rượu nhất thiết chỉ được đun bằng củi, như vậy là để cho rượu được đằm không bị sốc và quan trọng là không bao giờ bị khê rượu. Phương pháp truyền thống này cho năng xuất không cao nhưng bù lại cho chất lượng rượu không thể chê vào đâu dược.

Nhấm một chút rượu đã có cảm giác thơm đầu lưỡi của mùi nếp mới, cay cay của men say nơi cuống họng, còn khi chép miệng một cái thì cái cay đã hoá thành cái ấm nóng dần lan toả tới mọi huyết mạch cơ thể…và đó chính là cái duyên của rượu nếp Nga Sơn.

Thịt dê vốn là một loài thực phẩm bổ dưỡng được nhiều người ưa thích, với những người sành điệu thì tiết canh dê hay các món ăn chế biến từ thịt dê thực sự là món khoái khẩu. Trong thực đơn thịt dê có thể chế biến được thành rất nhiều món như lẩu dê, dê sào lăn, dê tái chanh, cháo dê…nhưng món dê thui cả con có lẽ chỉ có ở vùng núi đá Nga An- Nga Sơn mới có. Thực đơn của món dê thui thật đơn giản chỉ có ba món chính là tiết canh dê, dê tùng xẻo và cháo dê nhưng cách chế biến thì quả thật công phu tốn nhiều công sức.

Tiết dê được hãm đóng vào chai dành để đánh tiết canh, dê được cạo lông sạch sẽ rồi khéo léo mổ moi hết nội tạng ra ngoài( đặc biệt phái lấy được hai hạch hoi của dê nằm ở đoạn gáy dê nơi tiếp giáp với bả vai để thịt dê được thơm ngon). Dùng các loại lá thơm nhồi vào bụng dê như lá ổi, lá sả, lá bưởi…. Khâu kín lại, bọc bên ngoài bằng một lớp lá chuối tươi rồi để luôn lên nền đất ẩm. Vật liệu để thui (đốt) dê chủ yếu là rơm nếp trộn với trấu, cho phủ kín con dê rồi mới quạt lửa,trở đi trở lại con dê độ bốn năm lần, mỗi lần độ năm sáu mươi phút thì mới đạt yêu cầu. Sức nóng của lửa rơm từ bên trên cộng với hơi ẩm từ lòng dất hoà quyện làm cho thịt dê chí mền và có một hương vị đặc biệt quyến rũ thực khách, dê ủ trấu chín đều không bị mất mùi và thịt rất ngon.

Bát tiết canh đỏ tươi để khai vị, tiếp đó là đĩa thịt dê đốt nóng hổi ăn kèm với các loại rau thơm chấm với tương gừng, lâng lâng men rượu nếp Nga Sơn…thì chỉ cần thêm bát nhỏ cháo xương dê nấu với đậu xanh nữa là để du khách thêm một lần lưu luyến với Nga Sơn.

Đây cũng là một đặc sản của Nga Sơn. Thông thường thịt dê được chế biến thành các món như: dê tái, dê xào…Nhưng ở Nga Sơn thịt dê được chế biến theo một cách rất đặc biệt. Sau khi thịt dê được làm sạch, người ta để nguyên cả con, ướp da vị vào bên trong bụng của con dê. Sau đó người ta làm chín con dê bằng cách vùi vào trấu, sức nóng của trấu sẽ làm chín được thịt dê. Vì thế mà thịt dê vẫn giữ nguyên được hương vị thơm ngon và màu của con dê không bị thay đổi. Chính những điều này đã làm nên đặc trưng riêng cho món ăn mà chỉ có ở Nga Sơn.

Mức độ đa dạng: Nga Sơn có giá trị nổi bật về tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên có sức hấp dẫn mạnh, đặc biệt là động Từ Thức và đền thờ Mai An Tiêm, chùa Tiên là những điểm đến thu hút nhiều khách du lịch.

Khả năng tiếp cận tài nguyên cũng rất thuận lợi do địa hình của huyện khá bằng phẳng, đặc biệt là mạng lưới giao thông đi lại tại các điểm du lịch khá tốt. Trong những năm gần đây, các điểm du lịch như động Từ Thức, đền thờ Mai An Tiêm di tích lịch sử Ba Đình…các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hoá khác vẫn đang được tiếp tục đầu tư, trùng tu tôn tạo lại tổ chức nhiều lễ hội với quy mô cấp tỉnh để nhằm phục vụ, thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan nhiều hơn.

Những tài nguyên du lịch ở Nga Sơn đang được sử dụng, khai thác hợp lí hơn, nghành du lịch cũng đang được Đảng bộ và nhân dân huyện quan tâm phát triển nhiều hơn.

Ở Nga Sơn có một số cơ sở dịch vụ phục vụ cho nhu cầu ăn nghỉ của du khách như: Khách sạn 2 sao thương mại Nga Sơn (Thị Trấn), Hồng Chương (Thị Trấn), Hảo Phụng (Nga Thanh), nhà hàng ẩm thực gỏi Thịnh Lịch (Nga Liên), nhà hàng dê ủ trấu Ngọc Toản, Hoàng Việt (Nga An), Quy mô các cơ sở đang được mở rộng và nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Số lượng khách du lịch đến tham quan các điểm du lịch ở Nga Sơn liên tục tăng từ năm 1990 đến 2006, trong đó chủ yếu là khách du lịch nội địa. Năm 1990 có 2500 khách nội địa, 3 khách quốc tế, 13 khách doanh nghiệp đến thăm quan du lịch ở Nga Sơn. Đến năm 2021 đã tăng lên 5 khu du lịch đó là:

+ Khu du lịch Động Từ Thức (xã Nga Thiện): Động Từ Thức, Động Bạch Á, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, tướng Trịnh Minh.

+ Khu du lịch Mai An Tiêm: Khu di tích Mai An Tiêm (Nga Phú), Chùa Tiên, Hồ Đồng Vụa (Nga An). Đặc biệt Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức hàng năm vào ngày 12, 13/3 âm lịch với quy mô cấp huyện, hoặc tỉnh thu hút hàng vạn nhân dân và khách thập phương.

+ Khu du lịch chiến khu Ba Đình (Xã Ba Đình)

+ Khu di lịch sinh thái dọc sông hoạt: Của Thần phù, Chùa Hàn Sơn, Núi “Rồng hổ tranh ngọc” và chùa Trúc Lâm, Động Lục Vân (Nga Điền), Lã Vọng, Bia Thần (Nga Thiện).

+ Khu du lịch sinh thái biển.

Việc tổ chức quản lý ở các điểm du lịch cũng đang được quan tâm nhiều hơn. Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang được bảo vệ và tôn tạo để nhằm mục đích phát triển du lịch Nga Sơn.

Ngày 10/7/2009 UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 2166/QĐ-UBND về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch động Từ Thức và các di tích, danh thắng huyện Nga Sơn đến năm 2021 và định hướng đến năm 2021.

Ngày 05/8/2011 UBND huyện Nga Sơn ban hành Quyết định số 1389 /QĐ-UBND về việc phát triển du lịch đến năm 2021 và tầm nhìn 2021. Đề án đã đánh giá thực trạng, tiềm năng du lịch Nga Sơn, những hạn chế tồn tại đặc biệt đề án đã đề ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả để đẩy mạnh phát triển du lịch của Nga Sơn. Trong những năm tiếp theo và tầm nhìn đến năm 2021 để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa phương, quy hoạch xây dựng nông thôn mới Nga Sơn giàu, đẹp, văn minh.

【#3】Sài Gòn Có Một… Xóm Gà

Xóm Gà là một xóm quê, nhưng có đường lộ rải nhựa, xe ngựa, xe hơi đi lại thuận tiện, lại có một chợ tuy nhỏ nhưng người mua kẻ bán cũng khá đông, đa số là dân thôn quê quanh vùng Gò Vấp. Nhà cửa ở đây xen lẫn những ngôi nhà tranh, nhà gỗ và lợp mái tôn, những căn nhà làm bằng vật liệu nhẹ để cho thuê – người thuê đều là dân nghèo tứ xứ. Sáng lên Sài Gòn – Chợ Lớn làm, tối mới về ngủ qua đêm. Xuất xứ của cái tên “Xóm Gà” là gì thì cho tới nay chưa có tài liệu nào nói rõ.

Có người nói, vì trước đây, ở xóm này có chợ bán gà từ các vùng quê lân cận mang tới bán buôn cho người Sài Gòn. Nhưng cũng có người nói trước đây, ở xóm Bình Hòa, có một khu đá gà của các tay máu mê cờ bạc, thường Chủ nhật, ngày lễ ôm gà tới đá độ, ăn thua bạc ngàn (tiền thời đó). Có điều chắc chắn là Xóm Gà khi xưa, cách đây gần một thế kỷ đã nổi tiếng là xóm anh chị cờ bạc, những người lạ mặt không dám lui tới.

Xóm gà – Ngã tư Lê Quang Định – Nguyễn Văn Đậu (quận Bình Thạnh, TP HCM)

Xóm Gà không phải là một địa danh hành chính ghi trong bản đồ. Cái tục danh “Xóm Gà” là do dân gian đặt cho. Xã Bình Hòa, đất rộng người thưa lại xa trung tâm gần 10 cây số. Đất rộng bỏ hoang nhiều, nên người tứ xứ đã kéo nhau đến đây cư ngụ và làm ruộng, chăn nuôi gia súc. Ở đây là đồng ruộng nên người ta nuôi đa phần là gà để đem lên chợ thành phố bán sỉ. Từ tờ mờ sáng, họ đã quang gánh lũ lượt mang gà đi bán. Gà thịt, gà giò, gà trống thiến, gà kiểng, gà nòi, gà chọi đủ loại. Sau này những con buôn đã đích thân tới xóm này để lựa gà, mua gà cho tiện và rẻ hơn. Nơi đây trở thành một xóm chuyên nuôi gà và bán gà nên được dân gian gọi là Xóm Gà.

Ngoài việc cung cấp gà thịt, người dân ở đây có nuôi thêm giống gà tre, gà nòi để đá độ, ăn giảng tượng trong các dịp lễ hội, tết nhất. Sau này lại có những tay nuôi gà nòi, gà tre (loại gà đá nhỏ con) đem gà lại đây thách đá ăn tiền, ta gọi là đá độ. Thời đó Xóm Gà hay bị những tay du côn ở Hóc Môn, Bà Điểm, Bình Chánh… kéo nhau đến thách thức đá độ. Và ở Xóm Gà đã xuất hiện những tay anh chị chuyên đối đầu với dân chơi ở xa tới. Thời đó, từ năm 1910 đến năm 1945, phải kể đến những tay anh chị như Năm Đồ, Năm Tồn, Ba Giáp… mà nay nhiều người tuổi trên bát tuần còn nhớ rõ.

Ở Xóm Gà có hai ba hạng anh chị. Một loại hạng đúng là “du côn” đâm thuê chém mướn, những tay này cứ mở miệng ra chửi thề, là tay đấm, chân đá. Một hạng nữa được gọi là “đàn anh” lúc nào cũng tỏ ra nghiêm trang và đứng đắn, trọng nghĩa khinh tài, hễ gặp việc gì nguy hiểm thì sẵn sàng lăn xả vào bênh vực, dù kẻ địch có mạnh hơn cũng không chịu thua. Hạng người này có máu anh hùng mã thượng, không ai chịu thua ai và không sợ ai. Những đàn em trong Xóm Gà đã tặng cho những người này cái tên xước danh là “Đại ca”.

Vào khoảng năm 1910 đến 1919, tại Bình Hòa có một người tên là Nguyễn Hữu Nghĩa làm thông phán ở sở Tạo tác Gia Định. Tánh ông cương trực, lại có ngón võ cao cường. Những người thân cô thế cô bị bọn du côn cướp giật, vô cớ gây sự đánh lộn là ông Nghĩa sẵn sàng can thiệp giải vây, nếu chúng không nghe, ông Nghĩa ra tay đánh cho chúng những trận đòn sống chết để chúng ngán sợ, không lui tới Xóm Gà gây rối, phá phách.

Cũng tại Xóm Gà còn có một người được coi là tay anh chị nhất vùng, tên là Năm Tôn, làm thợ ở xưởng Ba Son. Mỗi khi anh định ra tay đánh ai thì anh quyết hạ cho được, dù người đó có thế lực như đội xếp (cảnh sát) mã tà hay biện Tây cũng không lùi bước. Nhưng không phải vô cớ anh đánh người, chỉ những kẻ cậy khỏe mạnh, cậy quyền thế ức hiếp kẻ thân cô thế cô, thì anh Năm Tồn mới ra tay can thiệp. Vì vậy đàn em của Năm Tồn cũng khá đông để bảo vệ cho anh.

Năm Tồn cư ngụ ở Xóm Gà từ khi mới sanh ra. Miếng đất của anh là nơi hương hỏa của gia đình anh để lại. Nay anh Năm Tồn đã chết nhưng tiếng tăm của anh vẫn còn được nhiều người ở vùng Gia Định nhắc tới. Chỗ nhà đất Năm Tồn ở khi xưa, nay là chợ Chồm Hổm ở ngã tư Bình Hòa (hay là ngã tư Thầy Sóc), cũng có người còn gọi là chợ Năm Tồn để ghi nhớ một tay anh chị một thời vang bóng.

Kể thành tích giới giang hồ anh chị mà không nhắc đến Ba Giáp thì thiếu sót.

Ba Giáp nguyên quán ở Quảng Bình, nhưng theo gia đình lưu lạc vào vùng Xóm Gà – Bà Chiểu sinh sống, Ba Giáp tướng người khôi ngô, mặt xương, mũi thẳng, mắt sáng, tính tình cương trực, dám nói dám làm, không bao giờ chịu lùi bước trước kẻ địch có quyền thế. Ba Giáp sống bằng nghề dạy võ, có nhiều môn sinh và anh sống độc thân, không vợ con. Những tay du côn có tiếng ở vùng Chợ Lớn khi xưa như Tư Mắt, Năm Liễu hay Sáu Thắm, Tư Son ở vùng An Nhơn, Gò Vấp, nghe danh Ba Giáp đều bái phục và đặt cho Ba Giáp cái xước danh “Lý Ngươn Bá”.

Bữa nọ tại chùa Ông có đám làm chay, có một bọn du côn vùng Hóc Môn, Bà Điểm kéo đến giựt heo quay cúng trên tay em út Ba Giáp và còn ra tuồng không sợ ai. Ba Giáp nghe tin, tới can thiệp phân phải trái. Bọn du côn không coi ai ra gì, hơn 10 tên xông vào đánh Ba Giáp, nhưng một mình Ba Giáp đã đánh cho bọn chúng nhừ tử, đứa nào đứa nấy đều mang thương tích bỏ chạy ráo trọi. Kể từ đó về sau, không còn đám du côn nào ở vùng xa dám bén mảng tới vùng Xóm Gà, Bình Hòa nữa.

Vào đúng tuổi 25, Ba Giáp đã xuống tóc vào chùa quy y, dứt phần đời, bỏ lại cái tên Ba Giáp vùng Xóm Gà, để vào tu tại chùa Sắc Tứ Tập Phước và mang pháp danh Thiện Minh. Sau đó thầy Thiện Minh sang trụ trì chùa Hội Phước, lên tới chức Hòa thượng rồi viên tịch vào ngày 11 tháng 11 âm lịch, năm 1947…

Thi sĩ Tản Đà và bài thơ về Xóm Gà

Xóm Gà càng nổi danh vì đã từng có nhiều văn nhân, ký giả tên tuổi khắp Bắc – Trung – Nam tới cư ngụ.

Xóm Gà bây giờ nhìn từ trên cao

Điều lý thú hơn nữa là nơi đây lại chính là chốn tạm dừng chân của nhà thơ tên tuổi lẫy lừng: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu – trong thời gian ông vào đất Nam Kỳ làm báo.

“Hồi đó ông Diệp Văn Kỳ có đề nghị với Tản Đà để ông tặng nhà thơ số tiền trang trải công nợ. Ông yêu cầu Tản Đà khi hết nợ rồi, vào Nam viết cho tờ Đông Pháp Thời Báo. Trong lúc đã cạn ly thứ ba, Tản Đà cao hứng nhận lời ngay. Và ông Diệp Văn Kỳ mở bóp ra, lấy hai xấp giấy bạc trao vào tay nhà thơ một cách tự nhiên như hai người bạn đã quen biết nhau từ lâu. Tản Đà cầm lấy, cũng không ngạc nhiên gì hết. Các văn hữu cùng ngồi uống rượu không cho là việc lạ, vì ai cũng biết tánh phóng khoáng của Chủ nhiệm Đông Pháp Thời Báo trong sự đối xử với bạn làng văn. “Sau đó, Tản Đà đứng dậy cáo từ người bạn mới và hẹn khi ra Bắc thu xếp công việc ông sẽ vào liền…”.

“Cái nhà của chúng tôi ở kế tiếp với Xóm Gà, nó là một nơi nhà quê thuộc làng Bình Hòa, cách Bà Chiểu 4 cây số và cách Sài Gòn độ 10 cây số. Nhà có bốn gian. Gia đình ông và tôi thuê một gian thì cũng hơi chật, nếu thuê hai gian thì đủ lắm rồi. Nhưng vì tòa nhà ấy mới làm xong, chúng tôi là những khách đến ở đầu tiên, cho nên Tản Đà nhất định thuê cả bốn gian: Một gian làm buồng, một gian làm buồng giấy, một gian làm buồng ăn, còn lại một gian nữa thì để mắc một cái võng đem ở Bắc vào. “Theo sự sắp đặt ấy, sau khi nhà đã thuê xong, Tản Đà liền đi mượn người phá mấy bức tường ở giữa để lấy đường thông gian nọ sang gian kia và lấy gạch xây cái bể cạn”. “Cái nhà này cũng không lấy gì làm đắt, tất cả bốn gian có 28 đồng. Với số lương của chúng tôi, nó là một phần mười chứ gì. Thế mà tháng nào cũng phải khất độ vài bốn hẹn”.

Và Tản Đà có mặt ở Xóm Gà làm báo với ông Kỳ. “Ông Diệp Văn Kỳ rước ông vào tòa soạn cũng chỉ mong Báo Đông Pháp Thời Báo được những nét bút tài hoa tô điểm “trang văn chương” với hai chữ ký “Tản Đà” đã lừng danh từ Nam chí Bắc với một bài thơ mỗi tuần, còn ông Tùng Lâm phụ tá và cả ông Ngô Tất Tố nữa. Ông Chủ nhiệm Đông Pháp Thời Báo dám tỏ bụng liên tài, thù lao Tản Đà mỗi tháng một trăm đồng (bằng lương chủ quận, hồi đó một viên thư ký ăn lương có mười hai đồng). Ấy vậy mà lắm khi báo sắp lên khuôn, tòa soạn vẫn chưa có bài thơ nào của Tản Đà. Ông Kỳ cho tùy phái ba lần, bốn lượt vào tận nhà của thi sĩ ở Xóm Gà (Gia Định) để đốc thúc. Có lần Tản Đà nổi nóng, đã thốt ra một câu nói lịch sử “Làm thơ đâu phải bửa củi mà muốn lúc nào là có lúc đó?”.

Làm báo với ông Diệp Văn Kỳ ít lâu, Tản Đà lại khăn gói trở ra Bắc để hy vọng tục bản tờ “An Nam Tạp Chí” của ông. Nhưng Tản Đà vẫn nhớ cái Xóm Gà nên trong khi đi xe lửa về Bắc, lúc tàu tới Nha Trang, Tản Đà đã cảm hứng sáng tác một bài thơ đề là:

Gửi tòa soạn

Đông pháp Thời báo “Xóm Gà tan giấc rạng vầng ô, Tối đến Nha Trang rượu một bồ. Trợ bút đã xin từ bác Diệp, Văn chương để lại cậy thầy Ngô. Dám quên “Đông Pháp” người tri kỷ? Riêng nhớ “An Nam” bức địa đồ. Hai chuyến chơi Xuân Thìn với Mão, Đi ra còn nhớ mãi đường vô”. Phạm Thứ Lang Năng lượng Mới số Xuân 2021

【#4】Gà Chọi Kết Là Gì, Tổng Hợp Video Đá Gà Chọi Kết Hay

Nếu đam mê gà đá, tham gia nhiều đấu trường, giao lưu nhiều kê sư,… chắc hẳn bạn đã từng nghe qua cái tên “gà chọi kết”. Nhưng về tìm hiểu thì không có bất cứ thông tin gì về giống gà này. Vậy gà chọi kết là gì? Có phải một giống gà đá không? Ưu nhược điểm ra sao? Bài viết hôm nay sẽ cung cấp tất tần tật các thông tin hữu ích. Theo dõi ngay!

GÀ CHỌI KẾT LÀ GÌ

Trên thực tế, gà chọi kết không phải một giống gà cụ thể. Theo nhiều kê sư giải thích thì:

– Gà chọi: Là gà đá.

– Kết: Nghĩa là con gà mà bạn thích, quý và kết nó. Hiểu đơn giản thì những con gà đá hay, có tài, thắng nhiều kỳ,…

Nói một cách dễ hiểu thì đây là cách gọi của những chú gà đá hay, sở hữu đòn đánh ấn tượng, đã từng tham gia nhiều đấu trường và giành chiến thắng. Hay đơn giản là kê sư “kết nó” chỉ vì một đặc điểm nào đó.

Nhìn chung khi nói đến “gà chọi kết” bạn có thể mường tượng nó như một chú gà tài hoa, đá tốt hoặc có đặc điểm “hơn người”.

TỔNG HỢP VIDEO ĐÁ GÀ CHỌI KẾT HAY NHẤT

ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA GÀ CHỌI KẾT

Qua khái niệm gà chọi kết, chắc anh em cũng phần nào nắm được ưu nhược điểm của những chú gà này rồi, đúng không nào.

·Thường là những chú gà tài

·Sở hữu đòn đánh hay

·Sức bền, chịu đòn tốt

·Ngoại hình ổn

– Về nhược điểm:

·Số lượng ít, khó gặp

·Giá thành cao

LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỞ HỮU MỘT CHÚ GÀ CHỌI KẾT

THỨ NHẤT – GÀ CHỌI KẾT PHẢI ĐẢM BẢO VỀ TÔNG DÒNG

Một chú gà chọi có tông dòng tốt thì quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc sẽ dễ hơn một chú gà thông thường. Đó là lý do vì sao mọi kê sư đều quan tâm đến vấn đề phối giống, tìm kiếm con mái + con trống tốt để kết hợp.

Khi chọn gà trống, gà mái cần lưu ý các vấn đề sau:

– Gà mái: Hung dữ, sở hữu đòn đánh càng tốt, có sức khỏe,…

– Gà trống: Ngoại hình ổn, có sức khỏe, thắng ít nhất 2 – 3 trận….

Bên cạnh đó lưu ý cả gà bố lẫn gà mẹ đều không cùng huyết thống hoặc lai cận huyết, dị tật bẩm sinh,… vì sẽ di truyền cho đời con.

Sau khi phối giống thành công hãy để gà mẹ tự ấp trứng và nuôi dưỡng. Đến khoảng 2.5 – 3 tháng thì tách trống và mái ra nuôi riêng,

THỨ HAI – ĐẢM BẢO CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG

Nuôi gà đá có rất nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn lại có chế độ dinh dưỡng khác nhau. Chẳng hạn như:

– Với gà con: Tập trung cho ăn thật nhiều để tăng cân, cơ thể phát triển toàn diện, có sức đề kháng để chống lại bệnh tật….. Ưu tiên cho ăn cám thay vì thóc/ lúa. Vì lúc này hệ tiêu hóa của gà chưa hoàn thiện, rất dễ mắc bệnh khó tiêu. Ở tuổi này cũng chưa cần cho ăn mồi.

– Với gà đang trong giai đoạn trưởng thành: Thay cám bằng thóc/ lúa (ưu tiên nên ngâm qua nước một đêm trước khi cho gà sử dụng để tăng hàm lượng dinh dưỡng cũng như giúp tiêu hóa nhanh). Bổ sung thêm mồi, rau xanh, vitamin, khoáng chất cho gà,…. Đây là giai đoạn gà tăng cơ.

– Với gà trưởng thành: Cân nhắc chế độ dinh dưỡng, tránh trường hợp gà tăng cân không kiểm soát. Tăng khẩu phần rau, giảm chất đạm xuống (thóc/ lúa). Mồi cũng bổ sung thường xuyên – khoảng 2 đến 3 lần trong tuần để tăng độ bền, sức khỏe và độ máu chiến.

Ngoài ra thì còn có chế độ dinh dưỡng trước khi thi đấu, chế độ dinh dưỡng trong quá trình biệt dưỡng,… anh em đều phải lưu ý.

THỨ BA – MUỐN SỞ HỮU GÀ CHỌI KẾT KHÔNG THỂ THIẾU QUY TRÌNH HUẤN LUYỆN

Đây là tiêu chí cuối cùng nếu muốn sở hữu một chú gà chọi kết. Có rất nhiều phương pháp tập luyện tăng sức bền và khả năng chiến đấu cho gà, như:

– Chạy lồng: Nhốt một chú gà cùng trạng vào bội, cho chú gà cần tập luyện ở ngoài. Hãy đảm bảo hai chú gà không thể cọ mỏ được. Sau đó chú gà bên ngoài sẽ tự động chạy quanh bội để tìm cách chui vào, giao chiến với con bên trong. Việc chạy liên tục như thế sẽ giúp chân chúng chắc khỏe hơn, tăng lực cho mỗi cú đánh.

– Tập chuồng quầng, chuồng bay: Đây là hai loại chuồng thiết kế riêng để hỗ trợ gà chọi tập luyện.

Chuồng bay thì chú trọng chiều cao hơn chiều rộng, anh em làm một cái chuồng thật cao rồi bắt cây ở giữa – đồng thời treo thức ăn ở vị trí này. Cho gà tập luyện bằng cách thả vào chuồng, chúng sẽ bay lên khi cần thức ăn và bay xuống nếu muốn di chuyển. Mỗi ngày đều tập đi tập lại như thế sẽ giúp đôi cánh chắc khỏe, tạo nên nhiều đòn đánh ấn tượng từ trên cao.

– Xổ gà: Nhớ là xổ thử để gà quen với không khí của đấu trường thôi chứ không đá thật. Nhớ bịt mỏ và cựa của hai chú gà lại để không bị thương. Sau đó để chúng tự vần/ sáp vào nhau. Cách huấn luyện này trông đơn giản nhưng hỗ trợ tăng sức bền rất lớn.

– Khác: Ngoài tập luyện cho gà kê sư nên nhớ vào nghệ cho gà để da dẻ đỏ lên vừa đẹp mắt vừa tăng độ dày cho da. Cắt tỉa lông để cơ thể chúng trở nên nhẹ nhàng hơn, hạn chế bị đối thủ quắp/ cắn khi thi đấu. Bên cạnh đó làm nước dầm cẳng để giúp chúng thư giãn, máu huyết lưu thông….

Muốn mua gà chọi kết bạn có thể đến các trang trại nuôi gà có tiếng để tham khảo. Hoặc mua lại từ những kê sư chơi đá gà – chỉ cần ra giá cao, người bán sẽ không ngại “share” đâu.

Còn về mức giá của gà chọi kết thì không có khoảng giá cụ thể, nhưng thường thì khá cao, dao động tầm vài chục – vài trăm triệu là hết sức bình thường.

【#5】Đón Năm Dậu, Nói Chuyện Gà Trong Thành Ngữ Tục Ngữ

Có lẽ vì thế, từ xa xưa, hình ảnh con gà đã trở nên thân thiết với đời sống của người dân. Và từ cuộc sống, gà bước vào kho tàng trí tuệ của dân gian qua lời ăn tiếng nói hàng ngày, qua việc đúc kết những kinh nghiệm sống.

Từ xưa trong những bức tranh dân gian Đông Hồ, tranh gà, tranh lợn với màu sắc đường “nét tươi trong” đã từng là nơi gởi gắm những ước mơ giản dị của nhân dân về một cuộc sống ấm no, sung túc. Ngay trong những hoàn cảnh nghèo khó nhất, việc gây dựng lại cơ nghiệp cũng thường bắt đầu từ việc “đi vay đi dạm được một quan tiền – Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái về nuôi”. Thế mới biết ở một đất nước nông nghiệp trồng lúa nước như ở ta, việc tăng gia thêm một đàn gà để nhặt thóc dư gạo thừa sau mùa vụ là rất phổ biến. Có lẽ vì thế, từ xa xưa, hình ảnh con gà đã trở nên thân thiết với đời sống của người dân. Và từ cuộc sống, gà bước vào kho tàng trí tuệ của dân gian qua lời ăn tiếng nói hàng ngày, qua việc đúc kết những kinh nghiệm sống. Thử làm một cuộc khảo sát nho nhỏ trong kho tàng thành ngữ tục ngữ dân gian, ta thấy gà chiếm một vị trí không phải nhỏ.

Đó là sự quan sát liên hệ đặc tính, hoạt động của gà với tự nhiên để đoán định thời tiết khí hậu, mùa màng: Mỡ gà thời gió, mỡ chó thời mưa, Ráng mỡ gà có nhà thì chống, Chớp đông nhay nháy gà gáy thì mưa…

Bên cạnh đó, hình ảnh con vật này được dân gian quan sát và khai thác rất chi tiết ở nghĩa đen để truyền tụng kinh nghiệm chăn nuôi:

Nuôi gà phải chọn giống gà Gà di bé giống nhưng mà đẻ mau Lông dày thịt béo về sau đẻ nhiều Đẻ nhiều trứng lớn con vừa khéo nuôi Chả nên nuôi giống pha mùi Đẻ không được mấy con nuôi vụng về Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua; Gà trắng chân chì mua chi giống ấy

Cùng với các con vật quen thuộc khác như trâu bò, chó lợn; gà luôn được chăm chút và đúc kết nhiều kinh nghiệm quý để làm sao cho việc chăn nuôi chúng thật sự đem lại kết quả tốt, mong có thể cải thiện phần nào đời sống kinh tế vốn chật vật vất vả của người lao động thời xưa: Con chó huyền đề, con gà năm móng đem về mà nuôi – Chó quen nhà gà quen chuồng – Chó liền da, gà liền xương – Thưa con nhớn trứng – Chó giữ nhà, gà gáy trống canh -Lợn nhà gà chợ – Gà cựa dài thì rắn, gà cựa ngắn thì mềm – Cau hoa gà giò – Vịt già gà tơ – Gà lấm lưng chó sưng đồ – Chó già gà non – Ếch tháng ba gà tháng bảy – Con gà tốt mã về lông, răng đen về thuốc rượu nồng về men – Chuồng gà hướng đông, cái lông chẳng còn – Lợn thả, gà nhốt – Vịt rau gà cúp chớ nuôi – Cơm đâu no chó thóc đâu no gà – Một tiền gà ba tiền thóc – Thương con thì cho ăn quà, nuôi gà phải tốn thóc – Chớ bán gà ngày gió, bán chó ngày mưa….

Nhưng phong phú và đa dạng hơn cả vẫn là mảng tục ngữ mà ở đó hình ảnh con gà như một cái cớ để dân gian thể hiện cái nhìn sâu sắc, thâm thúy và rất tinh tế của mình về cuộc sống, về con người. Trong trường hợp này, con gà dùng để so sánh, liên hệ, liên tưởng. Gà trở thành phương tiện để triết lý về nhân tình thế thái nhưng không phải là thứ triết lý khô khan thường thấy. Triết lý dân gian luôn đồng hành cùng với cái nhìn thể hiện tình cảm, thái độ, cảm xúc của tác giả dân gian:

Có cái nhìn mô tả khách quan như Cơm gà cá gỏi (Món ăn ngon như cơm thịt gà và gỏi cá) – Đông như đám gà chọi – Chó ăn đá gà ăn sỏi (nơi đất đai cằn cỗi, trơ trọc và nghèo khổ) – Đẻ như gà – Trứng gà trứng vịt (Suýt soát như nhau không thua kém là bao) – Thứ nhất phao câu thứ nhì đầu cánh – Ngủ gà ngủ vịt…

Có cái nhìn tích cực như Con tông gà nòi (Con nhà truyền thống học giỏi, tài cao) – Con cha gà giống – Da trắng như trứng gà bóc (ngoại hình đẹp) – Đầu gà còn hơn đuôi trâu – Đầu gà má lợn…

Cái nhìn thương cảm thở than như Gà sống (trống) nuôi con – Mẹ gà con vịt – Vạ vịt chưa qua vạ gà đã đến (Liên tiếp gặp rủi ro rắc rối, thoát điều không may, tai họa này, lại gặp điều không may tai họa khác)…

Cái nhìn chê trách nhẹ nhàng như một nụ cười rộng lượng: Lúng túng như gà mắc tóc – Mặt tái như gà cắt tiết – Run như gà bị cắt tiết – Nháo nhác như gà phải cáo (như gà lạc mẹ) – Te tái như gà mái nhảy ổ – Dáo dác (Rối) như gà mắc đẻ – Trói gà không chặt – Thóc chắc nuôi gà rừng – Trông (nghe) gà hóa cuốc – Ăn cơm gà gáy cất binh nửa ngày (tác phong, lối làm ăn lề mề, chậm chạp trong mọi công việc, từ những việc sinh hoạt hàng ngày đến những việc quan trọng cần kíp như việc nhà binh) – Con cà con kê (Lan man và dông dài hết chuyện này sang chuyện khác) – Đá gà đá vịt (thỉnh thoảng mới ghé vào hoặc tham dự gọi là cho có mặt) – Đầu gà đít vịt (Cọc cạch, chắp nối, không đồng bộ, không tương hợp) – Hăng máu gà – Học như gà đá vách – Lộp bộp như gà mổ mo (Bộp chộp không có sự cân nhắc kỹ lưỡng, thiếu chín chắn trong suy nghĩ, nói năng) – Lờ đờ như gà ban hôm (có dị bản: “như gà mang hòm”: Ngờ nghệch chậm chạp, kém tinh khôn ví như trạng thái lờ đờ của gà bị bỏ trong bồ đựng kín, mang đi đường dài) – Rũ như gà cắt tiết – Vắng chúa (chủ) nhà gà mọc đuôi tôm (hay: vọc niêu tôm, gà bươi bếp) – Xua gà cho vợ – Ông nói gà bà nói vịt – Phù thủy đền gà…

Nhưng cũng có cái nhìn hàm ý phê phán, lên án nặng nề như Chó săn gà chọi, Cõng rắn cắn gà nhà, Mèo mả gà đồng, Chân gà lại bới ruột gà, Gà tức nhau tiếng gáy…

Và thuyết phục hơn cả là những lời răn dạy đạo đức đối nhân xử thế. Hình ảnh giản dị gần gũi của con gà đã làm cho những lời khuyên bảo ấy không hề tỏ ra “lên giọng” dạy đời mà thủ thỉ tâm tình nhẹ nhàng đi sâu vào lòng người bao thế hệ: Khôn ngoan đá đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau – Gà khôn dấu đầu chim khôn dấu mỏ – Đãi cứt sáo lấy hạt đa, đãi cứt gà mót hạt tấm (khuyên con người biết chắt chiu cần kiệm) – Gà cỏ trở mỏ về rừng (biết nguồn gốc, thân tộc, họ hàng) – Còn con gà trống gà mái thì còn gà giò – Gà đẻ thì gà cục tác – Một tiền gà ba tiền thóc – Tiền trao gà bắt lấy – Thịt gà, cá chép, ba ba, trong bấy nhiêu thứ liệu mà phải kiêng – Mẹ gà con vịt chắt chiu, Mấy đời mẹ ghẻ nâng niu con chồng – Gà chê thóc chẳng bới (thì) người mới chê tiền – Gà ăn hơn công ăn – Cơm đâu no chó, thóc đâu no gà (lời khuyên về sự chừng mực có mức độ)…

Đôi khi con gà lại mang đến những ý tưởng hài hước, hóm hỉnh về con người như một nụ cười ý nhị của dân gian: Gà già khéo ướp lại tơ, Nạ dòng trang điểm gái tơ mất chồng – Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con – Gà béo thì bán bên Ngô, gà khô thì bán láng giềng – Hóc xương gà, sa cành khế – Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng – Bé ăn trộm gà, cả ăn trộm trâu, lâu lâu làm giặc…

So với những câu tục ngữ có hình ảnh gà đơn nghĩa nói về thời tiết, kinh nghiệm chăn nuôi, ở đây, dân gian – những tác giả đầy trí tuệ của thành ngữ, tục ngữ đã nhìn xuyên qua những đặc điểm sinh học của gà để tìm thấy ở đó những mối quan hệ phong phú và cũng lắm phức tạp giữa người với người. Ở trường hợp này, hình ảnh gà luôn luôn đa nghĩa. Chẳng hạn mượn khả năng bới đất tìm mồi của gà để sáng tạo ra câu Chân gà lại bới ruột gà – tức là tự mình vạch áo cho người xem lưng, bới móc chuyện nhà mình, hoặc làm hại chính những người thân quen, ruột thịt của mình. Hay từ chuyện gà trống hay đá nhau lại liên hệ đến những mối mâu thuẫn không đối kháng cần hóa giải giữa những người có chung một mối liên hệ nào đó (gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau). Tương tự, tiếng gáy của gà cũng được ví von thành thói cạnh tranh không lành mạnh, tật đố kỵ nhỏ nhen do ham danh háo lợi. Thói quen kiếm ăn của gà lại được khái quát thành những loại người hèn kém chỉ biết làm ăn, kiếm chác nhỏ nhặt ở nơi quen thuộc không biết nhìn xa trông rộng (Gà què ăn quẩn cối xay)…

Sự tinh tế trong quan sát, sự thâm thúy trong những liên hệ bất ngờ, hiệu quả diễn đạt và sức tác động ý nghĩa của những thành ngữ tục ngữ (về gà nói riêng) vì thế tăng lên đáng kể. Ta có thể thống kê ra đây những đặc điểm ấy. Về chủng loại như gà giò, gà tre, gà di, gà ác, gà trống, gà mái… Vềđặc điểm sinh học như lông, đầu, da, xương, cánh, ruột, phao câu…; như ăn thóc gạo, sinh sống ở chuồng trại, đẻ trứng và giữ con, (gà mái), gáy và đá (gà trống)…Và từ đó mà khái quát lên đủ mọi vấn đề về con người như tính cách và bản chất; phẩm chất và đạo đức; thói quen sinh hoạt và các mối quan hệ…Và những câu tục ngữ, thành ngữ sưu tầm chưa đầy đủ nêu trên cũng là một minh chứng sinh động cho sự đa dạng trong việc khai thác một con vật quen thuộc để chuyển tải túi khôn kinh nghiệm của quần chúng nhân dân.

Năm mới đến, trước dịch cúm gia cầm có nguy cơ bùng phát, một lần nữa thấy rằng con gà – cùng với số phận của những người dân quê cũng chịu lắm long đong vất vả. Mong rằng con gà – con vật quen thuộc với đời sống nhân dân – sẽ mang trở lại niềm hy vọng không bao giờ lụi tắt dù cuộc sống có dồn đẩy con người vào bước đường cùng. Như bài ca dao “Mười cái trứng”, từng cái trứng của con gà mái Kẻ Diên đẻ ra bị thối ung như từng niềm hy vọng bị dập tắt phủ phàng, rồi khi ba con gà con – ba niềm vui mới bừng nở thì “con diều tha, con quạ bắt, con cắt xơi”. Những tưởng bài ca ấy sẽ kết thúc bằng tiếng kêu thét tuyệt vọng cho cuộc sống quá đỗi bất công đau đớn. Nhưng không, thật bất ngờ, trong bất cứ hoàn cảnh nào thì cuộc sống vẫn tiếp diễn và con người vẫn cứ tràn đầy một niềm tin tưởng lạc quan:

Còn da lông mọc, còn chồi lên cây… Trần Tùng Chinh

【#6】Kiếm Tiền Tỷ Nhờ Vào Gà Bảy Núi

Bạn đã bao giờ nghe qua cái tên 7 núi, hay còn gọi là Thất Sơn chưa? Vùng đất An Giang quê tôi lạ lắm, đã từ bao đời nay người ta vẫn còn thắc mắc sao lại có đến 37 ngọn núi ở giữa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ai cũng biết rằng ở những nơi có núi, trước kia đều là vùng biển, trải qua bao thời gian biến đổi đã tạo nên những ngọn núi hùng vĩ.

Ấy thế mà An Giang quê tôi, không phải là vùng biển mà vẫn có núi, và có đến 37 ngọn núi hùng vĩ không thua bất cứ nơi đâu. Nhưng đẹp nhất và nổi bật nhất phải kể đến 7 ngọn núi ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Chính vì thế mà người ta đã gọi vùng này là vùng Thất Sơn – 7 núi. máy ấp trứng chất lượng cao

Loại gà này sống ở vùng hoang dã có tiếng gáy rất hay và có thể bay như chim vì sức khỏe khá là mạnh so với gà thong thường của chúng ta thường nuôi. Và ngươi dân ở đây rất thích vì gà có bản tính rất lỳ đòn khi ra chiến trường.vì vậy nó là loại giống gà quý hiếm ở việt nam.đặc biệt các quý ông rất thích ăn để về nhà vợ khen…nhưng cái gì thì cũng có cái giá của nó, giống gà này rất khó nuôi nên rất quý không phải ai biết nuôi là cũng nuôi được.may

Được các người dân cho biết, gà này thường xuất hiện ở trên vùng đồi núi các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang). Nhưng vì thường bị săn bắn nhiều nên hiện giờ chỉ còn vài con ở núi Cấm, núi Dài.Nhiều người nghe về lợi nhuận của gà này rất cao nếu nuôi được nên ai cũng muốn săn về thuần chủng.nhưng sự thật thì chưa có ai nuôi được giống gà này mặc dù đã săn gần hết khu vực an giang này về nuôi.Có người vào rừng may mắn hốt nguyên ổ gà về, nhưng thuần dưỡng thì gà rừng vẫn chẳng thể thành “gà nhà”.ap

Từ những câu chuyện rỉ tai của anh lái xe đưa rước khách lên núi Cấm (xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang), chúng tôi nghe được mô hình thuần dưỡng, nhân nuôi gà rừng Bảy Núi có thể coi là độc nhất tại An Giang được phát triển thành công ngay dưới chân núi Cấm. Chủ nhân của mô hình là một thầy giáo trẻ tên Bùi Trọng Khang (34 tuổi), giáo viên dạy Hóa, đang công tác tại Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang).trung

Trại gà rất nhỏ chỉ rộng khoảng 30 m2 đất phía sau ngôi nhà anh Khang. Anh cho biết: “Tôi là dân núi Cấm nên từ nhỏ đã mê gà rừng Bảy Núi. Tình cờ một lần tôi lên núi cấm bẫy được 2 con gà mái va 1 con gà trống. tôi nảy ra ý định đem về thuần hóa chúng. Lúc đầu, việc chăm sóc cũng khó do nó là loại sống nơi hoang dã nên cho ăn thì không ăn.. tôi nằm suy nghĩ cả đêm rồi nãy ra ý tưởng cho chúng vào sống chung với gà nhà,vì nó thấy được thức ăn mà chủng loài của nó ăn được thì tất nhiên nó cũng ăn theo. Rồi từ đó từ từ nó quen rồi tôi mới nuôi được.rồi tôi mới bắt đầu lai tạo chung với gà tre ở nhà. Ðến nay, tôi nuôi gà rừng cũng được năm năm rồi”. Trong khuôn viên khoảng 30 m2 với 10 chuồng gà, khoảng sân cát để gà tìm bới và một máy ấp trứng mua của chị Hoàng Phương quận 7 tphcm đã cho ra đời hàng nghìn chú gà rừng Bảy Núi quý giá. Hiện, trại có 22 gà mái đang kỳ đẻ trứng và hơn hai chục chú gà trống đầy đủ những đặc trưng riêng biệt như mồng tích, chân nâu đen, tai trắng…. Số gà rừng trong chuồng lên đến hàng trăm con, gà mẹ đẻ đến 200 trứng một đợt. Nếu có mái ấp trứng đàng hoàng, tỷ lệ gà con sống có thể đạt tới 80%. Thu nhập của gà này tuy không nhiều nhưng nhờ nó cũng đủ trang trải với lương ít ỏi của ngành giáo viên mà 2 vợ chồng có thể sinh sống. Hiện gà trống rừng Bảy Núi được anh Khang bán với giá 1,5 triệu đồng/con.ap trung

Thu nhập bình quân từ mô hình bảo tồn, chăm sóc, nhân nuôi giống gà rừng quý hiếm Bảy Núi của thầy giáo trẻ Bùi Trọng Khang khoảng hơn 50 triệu đồng/năm.Vì muốn có thu nhập thường xuyên nên anh chỉ bán gà trống về đá chơi thôi chú anh không bán gà mái vì dân gian thường có câu : con chó giống cha, con gà giống mẹ, vì thế anh luôn muốn độc quyền trong lĩnh vực gà bảy núi này.

anh không bán gà mái không phải vì muốn độc quyền mà do đã có không ít người đang cố lai tạo gà mái rừng Bảy Núi nguyên chủng với các loại gà khác dẫn đến nguồn gien quý, đặc trưng của gà rừng Bảy Núi đang có nguy cơ mất đi. Nếu mất giống thuần chủng gà rừng Bảy Núi, không chỉ mình tiếc mà tất cả những ai yêu gà rừng Bảy Núi này cũng tiếc”, anh Khang bộc bạch.may ap

Ngày nay, trong khi nhiều loài gia cầm, thú tự nhiên quý hiếm đang ngày một bị tận thu, tận diệt thì mô hình thuần dưỡng, chăm sóc, nhân nuôi, bảo tồn nguồn gien gà rừng Bảy Núi quý hiếm của thầy giáo Bùi Trọng Khang cần được nhân rộng.ap trung

【#7】Hội Mua Bán Gà Tre Lai

Đối cùng với phần đa người yêu ưng ý nuôi thú cưng, đồ vật nuôi làm chình ảnh, thì các loại chó cảnh, cá chình ảnh tuyệt chyên ổn chình ảnh là đều loại thú nuôi quen thuộc. Song ít bạn nghe biết một trúc đùa cũng khá được quan tâm không kém, kia chính là con gà chình ảnh. Nuôi gà đang trở thành đam mê cùng sở trường của không ít tín đồ trong những năm qua, tự đó nhu cầu thương lượng, giao thương mua bán con kê cũng dần dần tăng dần. Hiện sinh hoạt toàn nước vẫn có không ít giống kê quý hiếm, từ những giống như con gà phiên bản địa nhỏng con gà nòi giống, kê rừng,… cho đến đều một số loại con gà nhập vào tự nước ngoài như con gà Serama, kê Mỹ nhập, con kê Asil tốt con gà Peru,… Với gần như như thể con kê sinh sản năng suất cao hơn nữa cùng thường sẽ có sức đề kháng cao hơn nữa các giống như gà cỏ thường thì, không rất nhiều mang lại tác dụng kinh tế tài chính mà lại còn hỗ trợ chình ảnh, phục vụ yêu cầu tinh thần cho những người Chuyên Viên nuôi con gà cảnh. quý khách là gần như yêu mến quá trình nuôi gà, rất có thể là con kê đẻ trứng, con kê đem giết hoặc nuôi con gà chình ảnh và bạn đang yêu cầu cài đặt thêm 1 vài như là gà không giống để gia công đa dạng mẫu mã hơn hoặc nhiều người đang mong muốn download gà chình họa tương đương hoặc không khí sân vườn đơn vị chật nhỏ bé, ai đang ao ước phân phối con gà cảnh,… bạn có thể tương tác ngay lập tức với Chợ Tốt.

Bạn đang xem: Mua bán gà tre lai

Mua cung cấp con gà tre tại Chợ Tốt

Gà tre là 1 giống con gà gồm thân hình bé dại .Ở đất nước hình chữ S gà tre không chỉ nuôi để mang thịt mà lại còn tồn tại quý giá kinh tế khá cao đó là Việc nuôi con kê để gia công chình ảnh, có con nuôi làm cho chình ảnh quý giá lên tới mức cả trục triệu VND. Gà tre ở Viêt Nam siêu rất được yêu thích để làm chình họa cũng chính vì form size của bọn chúng nhỏ dại, nhẹ, color lông đẹp nhất cùng rất giản đơn nuôi cùng với diện tích S nhỏ, tương xứng nuôi làm cho chình họa. Hiện giờ những dòng kê tre ở toàn nước vô cùng đa dạng bởi vì Việc gia nhập của khá nhiều những mẫu gà tre quốc tế cùng bọn chúng đã có được lai chế tác cùng nhau tạo nên tương đối nhiều những chiếc con kê tre lai. Các tương đương kê tre thông dụng hiện thời nlỗi con kê tre Tân Châu, kê tre Mỹ, kê tre Thái,…

Mua buôn bán gà chọi trên Chợ Tốt

Gà chọi là cái thương hiệu bình thường của phần lớn tương tự con kê chọi trên toàn nước, gà chọi được tuyển lựa tự rất nhiều tương tự gà hiếu chiến ngơi nghỉ khắp các Khu Vực trên toàn quốc. Đó là một trong Một trong những lí vì chưng trường tồn những tương đương con gà chọi khác nhau, trong những số đó gồm như là con kê nòi, gà tre, con kê rừng. Những như là con kê chọi khét tiếng được người mê say gà đá hết sức yêu thích như gà chuyên về đòn sử dụng đòn nỗ lực công sức của con người để tấn công, mặc dù lờ đờ nhưng trẻ khỏe, đối phương bọn chúng đòn vẫn nguy nan tính mạng của con người, con gà thiên về cựa đao pháp thì nhanh nhứa hẹn, dìu dịu linh hoạt vào tấn công cùng che chở, giáp thương đối thủ dựa vào song cựa dung nhan bén, lối đánh nhanh, rất đẹp.

Mua cung cấp kê Đông Tảo tại Chợ Tốt

Trong toàn bộ các tương tự gà phổ cập trên việt nam bây chừ, nhắc đến kiểu như kê Đông Tảo là bạn ta đã nghĩ cho ngay một giống con kê quý hiếm với rất nhiều Điểm lưu ý khác biệt so với đông đảo như là kê không giống. đặc điểm trông rất nổi bật của tương tự con gà này là có cặp chân sù sì, to lớn với tương đối thô so với số đông tương tự gà khác. Chẳng hồ hết là giống con gà quý hiếm của nước ta, như thể gà này cũng tương đối khó tính với cũng không dể dàng nuôi bọn chúng. Tại như thể con gà này chúng cần có sự thoải mái và dễ chịu và tự do thoải mái chạy nhảy thì cần được bao gồm một khoảng chừng Sảnh rộng lớn với chuồng trại cần thoáng rộng, cũng chính vì bọn chúng xa lạ nhốt. Chính chính vì vậy sống tương đương kê này đến ta thịt vô cùng ngon, unique cùng khôn xiết snạp năng lượng chắc chắn, bọn chúng được đến nạp năng lượng cám thoải mái và tự nhiên không đề nghị thuốc phát triển.

Những điều cần để ý lúc mua con kê như thể, con gà chình ảnh tại Chợ Tốt

Kiểm tra coi Màu sắc tất cả hệt như hình hay không?Kiểm tra triệu chứng sức mạnh hiện giờ của con con gà gồm bị tín hiệu ủ rủ tốt phi lý gì tốt không?Kiểm tra phiếu tiêm chống mang lại kê.

【#8】Mít Trà Cú Là Ai? Trại Gà Mít Trà Cú Đẳng Cấp 2021

Gà Mít Trà Cú nổi tiếng bởi sự đăng cấp và tỷ lệ chiến thắng rất cao. Độ nổi tiếng của nhân vật này không còn là điều qua xa lạ với người dân Trà Vinh và toàn bộ anh em trong giới chơi gà đá hiện nay. Một tay chơi gà nổi tiếng nhất khu vực Tây Nam Bộ ở thời điểm hiện tại. Không chỉ dừng lại ở Việt Nam anh còn lấy tiếng tại nước bạn campuchia với độ chịu chơi với những trận gà lên đến hàng tỷ đồng.

Lý lịch Mít Trà Cú

Mọi người đang thắc mắc và chưa rõ Mít Trà Cú là ai đúng không ạ? Chúng tôi đã tiến hành một chuyến tìm hiểu thật sự, bởi chúng tôi cũng là một người con cùng quê với anh ấy.

Mít Trà Cú là ai?

Những chúng ta không thể phủ nhận rằng Mít Trà Cú là một danh kê tho mo thực thụ.

Gà Đòn Việt Nam – Các Dòng Gà Đòn Tốt Nhất Hiện Nay

Mít Trà Cú tên thật là gì?

Tên thật của Mít Trà Cú là: Đặng Hữu Tiền

Mít Trà Cú sinh năm bao nhiêu?

Anh sinh năm 1978

Mít Trà Cú Quê ở đâu?

Anh sinh ra và lớn lên tại Huyện Trà Cú – Tỉnh Trà Vinh.

Mít Trà Cú có thật sự giàu

Gần đây cuối năm 2021 và đầu năm 2021 Mít Trà Cú mới thật sự cho chúng ta thấy thế nào là đăng cấp của một ông chủ trại gà khét tiếng. Sở hữu căn biệt thự rông hơn 2000 mét vuông, ao nuôi cá lơn nhất khu vực, nhiều xe sang, siêu xe…Là một người đam mê đầy đủ mọi bộ môn. Với tin đồn những cây dừa anh trồng trước là lên đến hàng trăm triệu mỗi cây. Đến thời điểm hiện tại thì cái tên Mít Trà Cú được xem như là một thương hiệu gà đá nổi tiếng và đầy uy tín.

Tiểu sử Mít Trà Cú

Mít trà cú xuất thân từ một gia đình không khá giải cho lắm, anh đam me gà từ năm 14 – 15 tuổi. Nghe đồn anh có một người anh em là một giang hồ mafia tại nước ngoài cụ thể ở đâu chúng tôi chưa rõ, đây là những gì tìm hiểu được từ những người dân gần đấy. Đến khoảng năm 2021 thì mẹ anh bị bắt về tội ghi lô đề, hiện đang vẫn ngồi tù. Những điều này khiến anh không hề gục ngã mà còn phấn đấu hơn.

Con gà đầu tiên mà anh mua đó là của anh Cọp, mọi việc đều bắt đầu từ duyên, niền đam mê mãnh liệt bắt đầu từ đó. Lặn lội khắp các trại gà nổi tiếng để tìm hiểu học hỏi nhiều phương pháp nuôi gà đá đỉnh cao nhất. một số người anh em đó là: Phương (Phương tóc dài), Anh Hảo (Hảo Vũng Tàu) tại Vũng Tàu, Tường Vi (Đại diện thần ưng thomo Thunderbiro), Phúc Barcelona (Phúc Bình Dương – Trịnh Minh Phúc) tại Bình Dương, Đặng Hữu Hưng (Lão Ngoan Đồng) tại Gò Công.

Bạn cần mua và học hỏi các xem cựa gà tham khảo bài viết sau:

Lò Bán Cựa Gà Đá Tiền Siêu Thông – Xem Cựa Gà 2021

Cuộc đời sự nghiệp trở thành Sư Kê của Mít Trà Cú

Năm 14 tuổi đối với những đứa trẻ khác ở vùng quê Trà Cú tất cả đều nhút nhát, những mọi thứ diễn ra với anh đều ngược lại. Tiếp xúc nhiều các chú bác đam mê gà đá và từ đó anh cũng quen, người xưa thường có câu “gần mực thì đen gần đèn thì sáng” anh đã tìm kiếm được niềm đam mê thật sự của mình. Tính đến nay anh chơi gà cũng trên 20 năm. Hiện nay anh sở hữu trại gà với diện tích hơn 2600m2 hàng chục để tử chăm sóc gà một cách chuyên nghiệp.

Đặng Hữu Tiền nắm trong tay các giống gà có thể nói là hiếm tại VN, anh phải lặn lội sáng các nước bạn đi tìm chủng loại mới nhằm tạo ra giống gà đỉnh cao nhất hiện tại, trại gà đa dạng về chủng loại và giá cả. Một số giống gà nổi tiếng mà anh sở hữu như Việt lại Mỹ, Điều, Chuối, Bướm, thuần Việt, gà Tre, Mã Lai, Indo…

Mãi cho đến khoảng năm 2021 – 2021 đây là khoảng thời gian sáng lạng nhất trong con đường sự nghiệp trở thành sư kê của mình. Anh bắt đầu lấn sân sang các bồ gà nổi tiếng như 67 và 999 tại tho mo, Đức Huệ, Long An. Chính phóng viên của nhà Cái VN138 chúng tôi đã chứng kiến toàn bộ. Liên tục nhận được các giải thưởng danh giá như Derry gà vệ mỗi tháng, Cup tranh hùng kê. Từ đó anh tạo được nhiều mối quan hệ xã hội cực tốt, và được mọi người yêu quý.

Nhà cái VN138 với tư cách là một đối tác của anh Mít Trà Cú, xin chia sẻ trang đá gà ăn tiền trực tuyến đỉnh cao nhất nay, tổng hợp các bồ gà nổi tiếng hiện nay. nạp rút nhanh gọn kín đáo. Đăng ký ngay tại ảnh bên dưới.

ĐĂNG KÝ ĐÁ GÀ TRỰC TIẾP THOMO

Trại gà Mít Trà Cú mới nhất năm 2021

Đi sâu vào vấn đề chính đó là tình hình chăm sóc trại gà hiện tại của anh “Sa Mít” hiện nay có ổn không và những gì mà mọi người đồn thổi có thật sự chính xác. Gà Mít Trà Cú cam kết bán gà đúng giống, đúng giá. gà Mít Trà Cú nói không với các loại thuốc kích thích làm tăng thể trạng cũng như độ dung mãng tạm thời. Tức là anh em mua gà xổ thử thấy gà đá rất hay nhưng khi về thì lại khác hoàn toàn, đây là những thủ đoạn của những kẻ kinh doanh trại gà kém uy tín mọi người cần tránh.

Trại gà Mít Trà Cú với già giao động từ 5 triệu đồng đến hàng trăm triệu mỗi con, phù hợp với mọi nhu cầu của tất cả dân chơi chơi gà. Đá nhỏ đá lơn gì anh đều cung cấp gà cho anh em. Hiện nay anh có trên 10 giống gà nổi tiếng khắp thế giới. Và sẵng sàng giao lưu học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, mọi người cần có thể liên hệ và đến tận bồ gà anh mít để tham khảo.

Đá Gà Tre – Kinh Nghiệm Nuôi Gà Tre Đá Chuyên Nghiệp 2021

Địa chỉ trại gà Mít Trà Cú

Sau nhiều lần tu bổ và nay địa chỉ trại gà Mít Trà Cú chính thức hiện nay đó là:

Tên thường gọi trại gà: Trại gà Mít Trà Cú

Địa Chỉ: Xã Lưu Nghiệp Anh, Huyện Trà Cú, Tỉnh Trà Vinh

Số điện thoại, hotline: 034 422 4422

Youtube Mít Trà Cú: Các bạn có thể vào chúng tôi sau đó tìm với từ khóa “Trại gà Mít Trà Cú” hàng loạt video về Mít Trà Cú sẽ xuất hiện anh em tha hồ tham khảo.

Facebook Mít Trà Cú: Hiện có hơn 96.000 người theo dõi với tên là Đặng Hữu Tiền. Mọi người cẩn thận hiện có rất nhiều người giả mạo anh.

Mít Trà Cú đá gà thomo mới nhất

Hiện tại tình hình dịch bệnh nên việc sang thomo đá gà còn hạn chế, nên những trận gà mới nhất của anh Mít Trà Cú còn hạn chế. Mọi người chờ đợi và săn đón thông tin mới nhất sẽ được cập nhật sau. Những trường gà tại biên giới Thomo anh thường tham gia nhất đó là 999 và 67. Dấu ấn đặc biệt là trận tứ hùng anh thắng cả 3 trận liên tiếp và con gà đấy anh bán lại cho chủ bồ 999 với giá trên 100 triệu đồng.

XEM ĐÁ GÀ TRỰC TIẾP

Những trận đụng độ làm nên tên tuổi Mít Trà Cú

Đây chỉ là những trận đụng đồ gà chiến nổi tiếng mà chúng ta biết được, còn rất nhiều trận đấu lớn âm thâm hơn mà chúng ta không thể nào tìm hiểu được. Những trận gà nổi tiếng của anh tại trường gà Thomo với các lão đại như

  • Trận đá gà Mít Trà Cú mới nhất đụng độ với Lão Ngoan Đồng.
  • Gà Mít Trà Cú đụng độ Phụng Hoàng Kê.

Trận gà này nghe đâu có rất nhiều anh em hưởng ứng theo số tiền đặt cược tại bồ lên đến hàng tỷ đồng.

Tổng quan về Mít Trà Cú

【#9】Gà Đá Bổn Dữ Bến Tre: Coi Lông, Giò, Tướng Gà.

Những người mới tập tễnh chơi gà chọi thì lại càng rối trí hơn về các tên gọi màu sắc lông khác nhau giữa gà đòn và gà cựa, giữa các địa phương gọi tên màu lông khác nhau. Do đó nếu xem lại trong Văn chương truyền khẩu chúng ta có một số câu ca dao đúng và một số câu ca dao sai do hiểu lầm hay không dựa trên cơ sở của Ngũ Hành mà ra.

*Quan hệ của mùa theo màu gà. Chẳng hạn, vào mùa đông, gà ô cực thịnh (vượng), gà xám mạnh (tướng), gà nhạn ổn định (hưu), gà ó vàng sa sút (tù) và gà điều bại (tử).

“Gà đá quan trọng nhất là tông mái. Gà mái nòi, chủ không bao giờ bán mà chỉ tặng, biếu cho người rất thân để giữ giống, giữ tông “chó giống cha, gà gống mẹ” là vậy. Những con gà tài chịu đòn giỏi, sức bền, có nhiều thế độc là do gà mẹ di truyền. Gà nòi cha cũng quan trọng, gà cha cũng phải tài, ăn nhiều độ, chưa thua thì mới sinh ra được gà tài, gà hay. Thường một đám gà con khi tuyển chọn cũng chỉ được một vài con gà tài.Ngoài ra cũng giới thiệu với bạn đọc những loại gà được cho là “Thần Kê”, “Linh Kê” nếu mang một số đặc điểm đặc biệt sau: II. Phân định màu lông theo Phong thủy Ngũ hành.

Muốn phân định màu lông 1 cách chính xác chúng ta phải nhìn vào lông mã và lông bờm cổ của gà để xác định chứ không dựa trên lông ở thân hay đuôi gà. Đó chỉ là màu lông phụ để gọi cho dễ nhận diện con gà mà thôi. Thí dụ con gà có lông ức, lông đùi, lông cánh, lông đuôi màu đen nhưng lông mã và lông bờm cổ màu đỏ thì ta gọi là con gà Ô Tía hay Tía chứ không gọi nó là gà Ô được. Tuy chữ Ô đọc trước chữ Tía nhưng Ô không phải là màu lông chính mà là lông Tía là màu chủ đạo để định màu trong Phong Thủy Ngũ hành.

1. Gà Ô – mạng Thuỷ: đây là con gà có lông mã và bờm cổ màu đen, bất luận là mã kim hay mã tre hay mã lại. Con gà Ô hợp cách theo thứ tự các màu vảy sau đây: màu trắng, kế đến là đen và sau cùng là màu xanh hay màu chì (màu chì còn được gọi là màu da đá do màu đen pha với trắng hay xanh mà ra).

Những màu sau đây được xem là không hợp cách : đó là màu mây ráng đỏ do màu chân vàng pha màu đỏ bên trên vảy như màu mây. Thứ đến là màu chân vàng.

Ô Mã lại hợp cách chân đen.

Những màu chân sau đây được xem là không hợp cách : đó là màu chân vàng và màu chân trắng. Trong câu ca dao ở trên “Xám chân vàng cả làng mất váy” ý muốn nói đến Xám tuyền mạng mộc. Còn những màu lông xám khác như Xám hồng hay Xám son thì màu chân vàng lại được xem là hợp cách vì màu lông chủ đạo của xám hồng là màu đỏ (tía) chứ không là xám nữa nên sự hợp cách thay đổi theo Ngũ Hành, vì trong trường hợp này lông Xám chỉ là tên gọi để nhận diện mà thôi. Riêng màu lông Xám sắt tức là gà Xám có lông mã và lông bờm cổ màu đen. Nếu lông mã và bờm cổ chỉ pha lẫn ít lông đen thì được gọi là Xám bẩn. Gà Xám bẩn chính là mạng Mộc nên rất kỵ màu chân trắng. Nhưng nếu gà Xám có mã và bờm cổ đen hoàn toàn thì đây là Xám Sắt chinh hiệu hay gọi cho đúng màu lông là Xám Ô thì chân trằng lại đúng mạng và hợp cách.2. Gà Xám – mạng Mộc: đây là con gà có lông mã và bờm cổ có màu xám khô, xám bẩn hay xám mã lại. Con gà Xám có màu lông này sẽ hợp các màu chân sau đây: màu chân đen, màu chân xanh, chì và sau cùng là màu chân vàng mây có pha ráng đỏ.

Những màu chân được xem là không hợp cách: chân trắng và chân đen.

3. Gà Điều – mạng Hoả : đây là con gà có màu chiếm đại đa số trong các màu lông của gà chọi. Gà điều có lông mã và bờm cổ màu đỏ rực hay màu đỏ mật. Có nơi như ngoài Bắc hay miền Trung thì gọi đây là gà Tía. Còn trong miền Nam thì thường gọi là lông điều, riêng dân chơi gà cựa còn tuỳ theo màu lông cánh, đuôi, ức mà gọi con gà những cái tên nghe rất lạ là Khét, Que,… như đã nói đến ở trên những màu lông này chỉ là phụ và giúp nhận diện màu lông con gà dễ dàng hơn mà thôi. Nếu những con gà khét, que này có mã và bờm cổ màu đỏ thì vẫn là gà mang mạng Hoả. Những màu chân sau đây được xem là hợp cách: chân xanh, chì, chân vàng mây có ráng đỏ và sau cùng là chân vàng. Gà Điều hợp cách chân xanh.

Những màu chân sau đây được xem không hợp cách với con gà mang mạng Thổ: đó là màu chân đen và chân xanh hay chì.

Con gà mạng Thổ không hợp cách.

4. Gà Vàng – mạng Thổ : con gà có lông vàng ít được chuộng vì hay bị nhầm lẫn cho là màu lông gà Tam hoàng, gà tàu là loại gà thịt. Tuy nhiên có những loại màu lông khác cũng được xếp hạng là gà mạng Thổ đó là gà cú, gà bịp là tiếng ngoài Bắc gọi gà lông ó mã lại, gà có màu lông chuối trắng hay chuối vàng. Gà mạng Thổ thì hợp với các màu chân sau: chân vàng có ráng mây đỏ, chân vàng và chân trắng. Khi xét màu lông vàng thổ và màu lông điều đỏ thì nhiều người hay lẫn lộn và gọi một cách “vô thưởng vô phạt” là Tía đỏ hay Tía vàng – nghe buồn cười và sai lạc hoàn toàn về màu sắc. Đã là Tía thì dĩ nhiên là đỏ và không phải là màu vàng.

Khi xét màu lông mà không xét kỹ là đỏ hay vàng, cứ cho là lông màu Tía tràn phát rạ thì dễ xảy ra sự nhầm lẫn, chẳng hạn như chân trắng thì hợp với con gà mạng Thổ lông vàng, trong khi con gà Tía mạng Hoả thì lại không hợp cách với màu chân trắng.

Những màu chân được xem là không hợp cách: chân xanh và chân vàng mây có ráng đỏ.

Nhạn hợp cách chân vàng.

Phương pháp xét màu cho hợp cách ở trên ở trên đều dựa trên căn bản của Ngũ hành tương sinh và tương khắc. Ở đây chúng ta chỉ đưa ra những cách ghép màu sắc cho hợp với phương pháp của Ngũ hành để thấy sự hài hoà theo lẽ tự nhiên. Sự hợp cách này không có nghĩa tuyệt đối và cũng không có nghĩa sẽ mang lại kết quả thực tiễn là sẽ mang về chiến thắng hay chiến bại khi đem gà ra sới. Những yếu tố về màu sắc như màu lông, màu vảy ở chân, màu mỏ và màu mắt đều là do yếu tố di truyền từ những con gà gốc (gà nọc) đã được truyền xuống cho các thế hệ sau qua việc phối giống. Ngoài việc phối giống cho hợp cách về màu lông và màu vảy ở chân, người nuôi gà chọi phải hiểu biết và ứng dụng những yếu tố khác quan trọng hơn trong di truyền học đó là cách chọn gà về đòn lối, thế đá, thể lực và hình trạng để mang lại kết quả khả tín và cho ra những chiến kê xuất sắc hơn.

Mạng gà được xác định dựa vào viền màu xung quanh con ngươi. Về cơ bản có các màu sau đây: viền vàng, gạch=mạng thổ, viền đen=mạng thủy, viền trắng=mạng kim và viền xanh=mạng mộc; viền đỏ=mạng hỏa không tồn tại trên thực tế.

5. Gà Nhạn – mạng Kim : gà nhạn là gà có màu mã kim và lông bờm cổ màu trắng. Một điều lý thú là rất ít khi thấy gà nhạn lông mã mái. những con gà có màu lông bướm, khét sữa, vv… nhưng nếu lông mã và bờm cổ màu vàng như gà chuối đều được xem là gà có mạng Thổ. Gà Nhạn hợp cách với màu chân như sau: chân vàng, chân trắng và chân đen.

Trong tướng pháp học có nói về cách chọn gà tốt. Cũng giống như xem tướng người, khi xem tướng gà cũng phải xem đến giống gà:

Phần giới thiệu cách xem tướng gà dựa vào 13 yếu tố trên sẽ được nói chi tiết ở dưới

Vảy gà ở “hàng thành” và “hàng quách” phải rõ ràng, phân minh, vảy lớn, vuông vắn, đừng quá thiếu, quá thừa mới tốt.Đoán màu lông:

· Nếu con gà màu vàng hoặc khét thì dù lông cánh thế nào cũng là gà vàng hoặc khét.

· Nếu màu ô hoặc điều thì nếu cuối lông cánh nó màu đỏ thì là điều, còn nếu màu đen thì là ô.

· Gà điều chân xanh thì thành gà xanh và thuộc hành mộc như là gà xám nhưng dưới cơ gà xám.

· Gà xám bông trên cơ gà xám tuyền nhưng chỉ trên cơ chút đỉnh vì cơ bản nó vẫn là gà xám (ví dụ như gà vàng hay khét bông cũng đừng nên đụng gà xám vì về cơ bản chúng vẫn là vàng và khét).

Chọn gà tài phải xem đủ 13 yếu tố:”Vảy, Lưng, Cần Cổ, Mắt, Đầu Gà, Mặt Gà, Cựa Gà, Ngón chân, Tướng đi đứng, Ngực, Lưỡi, Tướng Gáy, Thế Đá”

1. Thư hùng kê: 1 chân trắng, 1 chân đen hay 1 chân vàng, 1 chân xanh … Tóm lại là mỗi chân 1 màu khác nhau.

2. Lão thần đồng : Gà có cái đầu rất già nhưng thân hình thì lại rất tơ.

3. Lục đinh: Gà 6 cựa.

4. Gà độc long: chỉ có 1 mắt từ khi sinh ra.

5. Gà song sinh : Một trứng nở 2 con.

6. Gà hắc thiệt : Gà lưỡi đen hoặc có bớt đen hay xanh.

7. Gà lưỡng thiệt : Lưỡi chẻ đôi.

8. Gà ma : Là gà ít chịu đá con nào nhưng nếu chịu đá là thắng.

9. Gà trữ thực tả : Gà có bầu diều nằm bên trái.

10 Gà túc : Đụng đến gà này là nó túc liên tục, còn gọi là gà kêu con. Chân có 2 màu khác nhau. DƯỚI ĐÂY LÀ HƯỚNG DẪN CHI TIẾT CÁCH XEM 13 YẾU TỐ để chọn gà tốt

11. Gà ngọc: ban đêm gáy trong miệng phát ra ánh sáng.

12. Gà tử mị: Ban đêm ngủ duỗi cánh, duỗi đầu như chết

13. Gà tử mị trường : Gà này ra trường thụt đâu, thụt cổ đứng củ rủ, mặt tái nhợt.

14. Mị khuất : Ban đêm gà ngủ tướng rất thảm thiết, đáng thương, cứ bỏ đầu vào cánh lại rớt ra, mỏ chống xuống đất.

15. Đoản thiệt: lưỡi thụt sâu vào trong hoặc không có lưỡi (gà lưỡi rùa). Miệng gà này có mùi hôi thối.

16 Lưỡng hậu : Gà có 2 phao câu hoặc 2 bình dầu.

17. Gà lông thép : Lông quăn và cứng (giống như cọng thép nhỏ)

18. Gà lông tượng : Lông đuôi và cánh có cái gần giống lông nhím.

19. Giáp cần: Gà có vảy lớn ở cần cổ.

20. Địa giáp (vảy dép) : Gà có 1 vảy lớn dưới chậu.

21. 1 cựa trắng, 1 cửa đen hoặc gà ô chân trắng cựa đen hoặc ô chân vàng, cựa đen, mỏ đen.

22. Cuồng kê: gà có đôi mắt lửa, tròng đen là xanh, đôi mắt đổi màu tuỳ lúc.

23. Móng rồng: Đôi ngón nội cong vào giữa, còn gọi là “bán nguyệt nội”, nếu được vảy xếp nhô lên, cạnh sắc bén từ ngón đến quản thì càng tốt, gọi là “vảy rồng”

24. Lắc mặt : Lúc nào đầu gà cũng lắc cũng rảy

25. Né lồng : Gà hay né tất cả những gì khi nó đi ngang qua, nếu úp trong bội thì né bội.

26. Gà nhím: Khi ngủ lông dựng lên như lông nhím.

27 Gà cò : Gà ngủ đứng bằng 1 chân

28. Quái kê : Gà ngủ, 1 mắt nhắm, 1 mắt mở

29. Gà nước ròng: Gà chỉ trổ tài vào lúc thủy triều lên.

29. Gà sinh thế: Gà này khi đá, tự nó sinh ra những thế độc địa, tuỳ theo lối đá của đối thủ mà có biến đổi thế đá của mình.

30. Gà lưỡng nhãn : 1 Mắt trắng 1 mắt đen (giống y như bị đui)

31. Giáp thiệt: Gà có móng trong lưỡi

32. Gà có móng trên mòng.

33. Nửa mình có màu này, Nửa mình màu khác (phân chia ràng)

34. Có 1 số gà bị dị tật nhưng lại đá rất hay.

Ngoài ra còn những con gà rất lạ, rất hiếm (nghe dân đá gà kể lại):

Gà tử mị dơi: Khi ngủ trên cây thì treo mình như con dơi.

Gà có mụt ruồi, trên mụt ruồi có lông như tóc quăn.

Vảy độ đôi khi có một hàng, đôi khi hai hàng, nếu chân này một hàng, chân kia hai hàng thì dở, “hàng độ” và “hàng hậu” lấn hết chỗ, để không có “hàng kẽm” thì xấu, rất khó ăn độ, “đường hậu” và “đường độ” đụng nhau thì nan giải lắm. “Hàng độ” luôn luôn nghiêng về mặt tiền thì tốt.

– Vảy kẽm sát cựa nhỏ, to dần đi lên gối, nếu hai hàng kẽm của hai chân thật giống nhau như đúc là quá tốt. “Kẽm” và “độ” cùng song song đi lên đừng thiếu nhau là tốt. Hàng độ có phân chia vảy độ ra thì phải thua.

– Chân hai hàng trơn tru, rõ ràng sạch sẽ, nếu tướng cũng tốt thì gà hay, đá có nhiều thế khác nhau.

– “Hàng độ” đóng nhiều hàng, vảy nhỏ lăn tăn thì không tốt(độ tấm). “Hàng độ” đóng càng cao càng nhỏ dần và ngả về “hàng quách”, là đúng cách nhất. “Hàng độ”, hai phân cao thấp không đều, coi chừng có thua….

– “Hàng kẽm” phải song song với “hàng độ”, và dài hơn “hàng độ” lên tận gối mới tốt, khỏe gà.

Hàng kẽm và độ đều nhau, song song, nhưng nếu kẽm thiếu một vảy với hàng độ, vảy thứ mấy, độ thứ ấy phải thua.

Độ tam tằng: gà có một “hàng độ” và hai “hàng kẽm’, gọi là “tam tằng”, khá lắm. “Hàng kẽm” có một cái chấm, và một vảy yếm ở cuối hàng kẽm và độ nhập lại, vuốt đuôi có một vảy chính giữa gọi là chấn, con gà có hai thứ ấy nên dùng, chỉ có một cũng dùng, nếu thiếu cả hai thì không nên xài.

Độ liên ba: gà có một “hàng độ” và ba “hàng kẽm”.

Độ tam trái: gà có một “hàng độ” và một “hàng kẽm”, thêm có ba vảy chụm lại hình chữ “phẩm” nằm ngang, không lớn không nhỏ, chẳng thấp, gà này không phải trả độ (không thua).

Gà một chân có độ “tam tằng”, chân kia “song khai” như vậy không đúng cách, hay thua bậy. Biên hoặc chu vi:

Biên một hàng không đứt quãng rất tốt, thượng sách, vảy chữ nhật hoặc vuông, gà vảy mặt tiền loạn, thì hàng liên hai và ba hàng cũng dùng tốt. Vấn cán hoành khai, ở trên có ba hoặc bốn cái, ở dưới có vảy “nguyệt tà”, gà ấy cứng đòn, ưa đá hầu, dọc, ngang.

Vấn cán hoành khai dưới cựa có vảy “hàm cốt”, xuyên giáp hay “lạc mai” gà hay đá mé.

Nếu gà có “án thiên” II hoặc III đã thắng độ, không nên đá với gà có “phủ địa” chưa thắng độ. Lục đinh lục giáp: là gà “lục đinh” mỗi chân có quấn thêm ba cái quấn ngang cựa, cũng gọi là “tam cường”, ấy cũng là gà độc.

+ Gà có những điểm đốm nhỏ, ẩn trong vảy lớn, màu đỏ hoặc xanh, đá dữ, ăn đòn trả đòn ngay, điểm đỏ ăn điểm xanh.

+ “Hàng hậu” phải cùng xếp lên mới đúng cách, tránh vảy lên vảy xuống, tránh chia đôi chia ba, gà có “hàng hậu” thật đúng cách như thế đã tám phần mười hay rồi, “hàng hậu” cho đến cựa vẫn to và rõ.

Một nửa hậu úp xuống, một nửa úp lên, trái lại nó thêm hay đôi chân đều khá lắm, gọi là“bán phản hậu”.

Vảy thới hoa đăng:

“Thới hoa đăng’ rất cần thiết cho vảy gà, “thới hoa đăng” tốt là : từ thới lên đều đến cựa và được một vảy của “hàng quách” chặn lại tại đó, cả đôi chân cũng thế, khá lắm, ngoài ra nếu lên thẳng đến gối thì càng quý, nhưng tránh lên quá cựa “giữa cán” rồi bị đứt quãng từ đó. Đôi thới đúng cách nhất ta đếm được 1-2 vảy mỗi bên, bằng không đều thì chân trái hơn chân phải mới nên dùng.

Bể biên khai hậu là cậu gà nòi:

“Đường quách” có một vảy nứt ra chia làm hai, đồng thời “đường hậu’ lại có một vảy khai ra rõ rệt, gà ấy là gà hay, gọi là “”bể biên khai hậu.

– Gà hai chân đều có “phủ địa” hoặc I, II, III không đồng bậc, gà này phải thua gà có “tứ trực”. Nếu “phủ địa” liền bốn cái, thì không phải cách.

+ Tất cả những vảy, những chấm, những điểm đốm, đều theo: đỏ ăn đen, đen ăn xanh, xanh ăn lợt, lợt ăn bán sắc.

+ Những ngón chân thì vảy phải xếp quay đầu ra phía trước, gốc về sau mới đúng cách.

+ Hậu phải từ 14 vảy đổ lên mới tốt.

+ Có những vảy tài vảy tốt thường đóng ở chân trái mới đúng cách, vì vảy tài chân trái ăn vảy tài chân phải.

+ Chẳng thà không có vảy tốt, còn nếu có “án thiên”, “phủ địa”, “bản phủ kích giáp”, “ám long”, mà không đúng cách và nhất là hàng độ và kẽm chẳng may thì không nên xài.

– Gà nào “hàng quách” loạn thứ loạn lớp, mà “hàng độ”, “hàng kẽm” minh bạch, biên liền lạc, ngay thẳng một hàng, gà này vào hạng ưu tú, ăn liền mấy độ, khó thua.

– Gà hàng thành, quách như một lùm, một chân có hai hàng, còn một chân có điểm đốm chính giữa từ trên xuống khỏi cựa, ấy là văn võ toàn tài, khó ăn được gà này.

– Nếu có vảy “huỳnh kiền” đóng từ vảy thứ 2 đến 5 đều tốt. Vảy thứ 2 ăn vảy thứ 5, thứ 3 ăn thứ 4 v.v…

“Huỳnh kiền” có ăn độ rồi đá với gà “huỳnh kiền” chưa ăn độ, thì như chưa ăn độ.

Vấn cán hoàng khai: đóng trên thì đá ngang, đóng tại cựa thì đá cần cổ, nếu vảy “vấn cán hoành khai” có thêm “xuyên giáp”, thường hay ở hàng quách, dưới cựa, có vậy gà thường đi trên, ưa lòn xuống dưới, giỏi đá nhiều thế.

Lưng gà hay phải theo xuôi với cần cổ bằng ngang, thẳng băng, xéo tiếp với đuôi.

+ Gà lưng dài thì tốt, lưng ngắn thì dở, to hông thì có dư sức khỏe.

+ Tránh chơi gà lưng gù, vòm cong như lưng tôm, loại gà bất tài.

+ Lưng gà và lưng cánh, tạo thành một mặt phẳng trên lưng, gọn gang nhỏ dần về đuôi, hơi xéo xuống đuôi, gà ấy giỏi lắm.

+ Lưng xéo xuống đất về phía cổ, gà dở.

+ Lưng xéo xuống đất về phía đuôi, gà tốt.

+ Lưng bằng ngang, có con hay con dở, đa số là dở.

+ Bề ngang của lưng tại hai bên nách, nhỏ, lép, gà thiếu tính bền.

+ Trên lưng có bộ lông mã thả thong hai bên hông, phía sát đuôi, gà nhiều lông mã, xem rậm rạp, tốt lắm.

Nếu những lông này dài, nhọn như kim được thả xuống, mũi chỉ về phía trước, chứng tỏ gà bền sức, cựa đâm nhiều, rất quý, mã ấy gọi là “mã kim”.

+ Nếu lông mã, cái to cái nhỏ, nửa mái lại nửa gà thường, gà ấy tốt, thường là gà hay. Lông mã mọc nhiều hai bên đùi, quý lắm.

+ Gà xám tro, ô ướt, tuyền một sắc, tốt.

+ Ngũ sắc thì may độ lắm, không kỵ sắc nào.

+ Lông mã nhiều sắc không tốt, nhưng có ít chấm như sao, lại quý.

+ Lông mã có màu như lông công là gà hay, có tài.

+ Đôi vai gồ lên, không bằng phẳng, vai hẹp, tốt. Gà ấy đứng nước khuya giỏi ( chẳng nên lầm với hai trái chanh, càng lớn càng tốt).

Cổ gà nòi thường dài, nhưng nếu dài quá thì lại yếu, cần cổ sẽ không lấn được lúc giao chiến. Cần cổ được kể từ dưới lỗ tai trở xuống đến gáy, chạm lưng, nếu gà cần cổ quá nhỏ, thật bất tiện, gà ấy yếu, khó trả đòn mãnh liệt. “Gà cựa” cũng như “gà đòn”, cổ to là tốt, nhưng thường “gà cựa” cổ bé nhỏ hơn “gà đòn”.

Cổ có nhiều hình thù khác nhau: cổ tròn, cổ dẹp, cổ liền, cổ rời, cổ cò và cổ kên kên.

CỔ TRÒN: Đứng nhìn gà, ta thấy cần cổ tròn như một ống tre.

CỔ DẸP: Cần gà sẽ chia làm đôi một cách rõ rệt, một nửa dành cho xương cần, một nửa dành cho cuống họng, cổ không được no tròn.

CỔ LIỀN: Cổ liền thường tròn, đưa tay bóp xương cần, không thấy nhưng mắt cần ráp lại, tựa như mắt tre vậy.

CỔ ĐÔI: Cần cổ gà cứng, tròn to từ trên xuống quá khỏi gáy, không phải cổ đôi, thường ở gáy có miếng da mỏng kéo từ cổ xuống lưng.

CỔ RỜI: Trái ngược với cổ liền, ta sẽ thấy từng mắt nổi lên rõ ràng khi đưa tay nắn cần cổ.

CỔ CÒ: Gà cố dài nhòng thẳng tắp hoặc quá cong sau ót và trước ngực.

CỔ KÊN KÊN: Là cổ ngắn, tròn, cong trên ót, trước ngực, cổ không lồi ra, cổ to và liền.

Lấy tay đẩy cổ gà qua lại, lên xuống, trong khi tay kia giữ thân gà, cốt xem cần có cứng không, yếu là dở.

– Cổ ngắn là đúng cách nên dung.

– Cổ tròn và dài là gà đi trên, đánh từ cần cổ địch thủ trở lên.

– Cổ dẹp và ngắn là gà chạy dưới, đá chuyên hầu, vai, đùi, ngực.

Cổ gà vừa đòn vừa cựa thường to mà đẹp, như vậy vẫn có khi dung được.

Cổ gà nếu thấy một vảy đóng sau tai, tựa như vảy dưới chân, có khi lông cổ che mất, xem rõ mới biết, rất tốt, gà này được mệnh danh là “linh kê”, quý lắm.

– Cần cổ tròn và liền: hay tạt xuống hay quăng, đá trên

– Cần cổ dẹp và ngắn: hay đá dưới đá lòn

– Cần cổ dẹp và dài hoặc tròn mà lỏng rời, cổ xấu.

Mắt gà: giác quan bất lộ.

Con mắt là nơi biểu lộ tính khí của con gà nhiều nhất. Nó gan lì, hung hăng và tài ba là dường nào, cũng đều nhận thấy từ nơi con mắt.

Tiền khởi nhìn con mắt phải sâu, đừng sâu hoắm khiến con gà chậm chạp. Mắt bằng ngang, không sâu chẳng lồi, gà ấy có bản tánh hiền lành, nhát đòn. Nếu mắt lồi, không tốt, dễ đuối, nhát. Mắt gà tốt thường có viền đen chung quanh mí, tròn và con ngươi phải tròn như hạt trai, con ngươi đen, thật tròn, nhỏ mới linh động, thế mới đúng câu “giác tâm nhị tiểu” của Lê Văn Duyệt. Trong mắt có nhiều màu sắc khác nhau.

– Trắng dã: tính khí lỳ lợm, gan dạ, đòn độc.– Trắng ngà: cũng tốt nhưng kém hơn màu trắng dã.– Vàng thau: hung hăng, dữ tợn, lỳ lợm.– Vàng đất đốm đen: gọi là mắt rắn hổ, nếu mí mắt bằng ngang, gọi chung là “mắt ếch” (mí mắt không cong theo vòng tròn của mắt).– Mắt ếch: màu nâu có đốm đen hoặc nâu huyền, gà lỳ lợm.– Mắt sao: tựa như mắt bạc và xám.– Mắt hạt cau: mắt trắng, hoặc đỏ hay xám hoặc vàng, có tủa ra chỉ hồng, dữ dằn.– Mắt lửa: mắt màu đỏ tía như lửa, gan dạ, hung hăng.– Mắt xanh: có màu xanh nhạt, nhìn xa tựa như mắt trắng, gà có tài.

– Mắt đen thui: còn gọi là “mắt cá lóc”, nhát, dễ chạy bậy.– Mắt đỏ nhạt: nếu hơi lồi thì gọi là “mắt ốc cao”.– Mắt xám: thường.

+ Nếu là loại nhạn, chuối, ô bông, bông nhạn, bướm, xám gạch, ngũ sắc, xám tro, mà có những màu mắt kể trên thì khôn, xứng tướng.

+ Nếu mà có đôi chân trắng (những màu mắt kể trên) sẽ không tốt. Ngoại trừ mắt hạt cau dung được.

Nếu là loại: điều, ó, ô, xám, khét, ngũ sắc, ô điều, và có những màu sắc trên chơi mới quý.

– Cặp mắt trắng, đôi chân trắng, cái mỏ trắng, nếu là: ô, ô điều, điều xám, đều là gà tốt.

– Gà có chân xanh mắt bạc, vàng thau, tốt.

– Gà ô chân xanh hoặc đen, nên có những mắt trắng hoặc những màu nên chơi.

( chung quy chỉ nên dung những màu mắt kể trên).

Nếu gà có mỗi mắt một màu khác nhau, gà này tuy khá nhưng không nên chơi, vì nó kém bền, không đúng cách, thuận một bên, dễ mù.

Còn gà có hai màu, nhợt nhạt ở một bên mắt, gà ấy yếu, bở sức, đòn thường.

Loại gà “đổi màu” theo cảnh vật xung quanh, gà này có tài, nhưng nhát gan (lúc màu này lúc màu nọ).

– Độc long là gà từ trứng sinh ra chỉ có một mắt (quí tướng) thuộc loại gà hay.

– Bổ túc cho mắt, mí mắt phải mỏng, để mở ra khép lại dễ dàng, dễ cảm kích hơn.

1) GÒ MÁ: Gò má của gà cần phải cao mới quý, và cũng để bảo vệ đôi mắt khỏi nguy hiểm, nếu cao mà rộng càng quý hơn. 2) LỖ TAI: Phải được nhiều lông nhỏ, cứng che kín, để bảo vệ khi giao chiến, có thể đất cát lọt vào, gây trở ngại cho óc, làm gà mất nhanh nhẹn. 3) LỖ MŨI: Lỗ mũi nên mở rộng, để gà không nghẹt thở lắm. 4) GÒ TRÊN MẮT: Phía trên mắt gà nòi thường thường nhô lên một cái gò, khiến ta thấy con mắt sâu xuống gò này có nhiều hình, có con gò cao, con lại gò thấp, thường gò cao tốt hơn, nhưng đừng quá cao để che mất mắt khi đứng trên nhìn xuống, chỉ them chậm chạp.

Những gò này được tính từ lỗ tai chạy dài ra gần phía mũi.

gà nào thì sọ với cổ cũng cách nhau 1 rãnh ngang, nhưng tùy con, nhiều và ít mà thôi. Gò nổi: nổi lên sát phía mỏ, con mắt hơi lui về phía sau tai, thì bộ mặt gà dữ hiện ra ngay. Gò lép: gà thường đánh trên, nhưng kém gan dạ. Gò lồi: gà đánh trên, đánh dưới tùy con, nhưng gan lỳ.

– Gà mặt có nhiều vết nhăn nheo, gọi là mặt “gốc tre”, tốt lắm, gà này rất bền sức và gan dạ.

– Mặt gà có những bớt đen, gọi là “mặt lọ”, gà này dữ.

– Con mắt nghiêng, ngửa lên trời, mắt hơi cao lên đỉnh đầu, gọi là “gà mặt cóc”, gan dạ, bền sức.

– Đứng trước mặt gà, nhìn xuống đầu, sẽ thấy đầu hình tam giác, tính từ trái qua phải, nếu đầu gà dẹp, gà ấy lẹ lắm, tránh né rất nhanh, trái lại, đầy, to là gà chậm.

– Trên đỉnh đầu, sọ được chia làm hai, gọi là “sọ đôi” như đã nói trên, gà tuy yếu nhưng “quăng” giỏi, có biệt tài đá “song phi”, không cần cắn cổ, gà này đá mở rộng.

– Đầu gà bề ngang rộng, gà ấy gan dạ, chậm chạp hay hứng đòn.

– Đầu gà hẹp (nhìn từ trên xuống), nhút nhát, chuyên môn so vảy trước khi đá, nếu thấy địch tài ba, là cuốn gói (độn khứ lai kê).

– Đầu vừa, không quá rộng và quá hẹp, mắt sâu, gà lỳ lợm, chịu đựng giỏi, ra đòn khéo, nhưng coi chừng mắt quá sâu thì chậm.

– Con mắt to, lớn cả ngoài khuôn loại ấy có biệt danh là “chí tứ bất thoái”, gà ấy sống chết coi thường, rất gan lỳ nên chơi.

Đầu gà phải nhỏ hơn cổ, ít ra cũng bằng cổ, đừng lớn hơn sinh ra chậm chạp, nặng nề, trên đỉnh đầu chia ra làm hai, ấy là sọ đôi thường yếu.

Đầu gà bằng láng, tròn, thon xuôi như quả xoài là tốt.

Đầu tròn xuôi xuống cổ, nhưng cách cổ bằng một khấc, lõm xuống rồi mới đến cổ, tiếp tục cong vòng xuống thân, loại đầu này thường trên đỉnh bằng trơn, tốt lắm, đích thị gà thế, lúc giao chiến gà này luôn luôn thủ giấu cái đầu của nó dưới bụng, dưới cánh địch thủ.

Mặt gà cũng có lắm hình dáng khác nhau tùy theo từng dòng, “dòng cựa” khác “dòng đòn” khác, “dòng chung đúc” và nhiều loại ” dòng bản xứ” khác nhau.

Thí dụ: Mặt điền: vuông

Mặt tam giác: tam giác

Mặt nhật: chữ nhật

Mặt góc tre: nhăn nheo như gốc tre

Mặt cú: giống mặt con cú

Mặt lục: lục giác

Mặt khuyết: tam giác lõm

Mặt ó: giống mặt con ó.

Mặt tròn: tròn

Mặt nhọn: nhọn

Mặc cóc: giống mặt con cóc

Mặt lọ: có bớt đen như lọ

Mặt bán nguyệt: hình bán nguyệt

Mặt quạ: giống mặt con quạKhuôn mặt là khoảng chung quanh con mắt.

+ Gà có “mặt điền”: thường là gà đòn, gan góc, đòn đá hóc hiểm, nếu con mắt thụt sâu, gan lỳ.

+ Gà có “mặt tam giác”: thường là gà cựa, cựa đâm liên tục, nhanh nhẹn lẹ làng, gà mặt tam giác thuộc dòng gà cựa danh tiếng.

+ Gà “mặt nhọn”: lẹ làng, nhưng nhát, bở. Gà mặt nhọn có thể được chung đúc từ gà “mặt tròn’ và “tam giác” mà ra.

+ Gà “mặt tròn”: gà lỳ và lanh lẹ, nhưng kém bền sức, bằng gà “mặt điền”.

+ Gà “mặt nhật”: có tướng đẹp trai, điêu luyện, nếu hay thì tuyệt hay, bằng không bình thường, nhưng không dở.

+ Gà “mặt cóc”: biệt danh là “chí tử bất khoái”, gan lắm, chết không chạy.

+ Gà mặt “gốc tre’: cũng gan dạ không kém, xem bộ mặt không thấy thư sinh, chỉ thấy lầm lỳ, sống chết bất cần.

+ Gà “mặt cú”: mang trong mình tính tình dữ tợn, thêm điêu ngoa.

+ Gà “mặt lọ”: cũng nên chơi, chẳng kém gì các gà khác.

+ Gà “mặt lục”: hay dở tùy con.

+ Gà mặt “bán nguyệt”: dữ tợn hơn mặt tròn.

Còn nhiều loại mặt khác, chung quy cũng là do những loại mặt nói trên chung đúc ra, vẫn nên chơi tùy con, tùy tài.

Gà đòn nên chơi mặt vuông, gà cựa mặt tam giác, gà pha đòn pha cựa mặt nhật là đúng.

+ Gà “mặt khuyết”: đòn hoặc cựa đều hay.

Các loại mặt tốt thì gò má và gò mắt phải cao mới hay.

+ Gà “mặt quạ”: trông dữ dằn, ham chiến đấu.

+ Gà “mặt ó”: lanh lợi dữ tợn và to gan, đa số gà mặt ó thuộc dòng giống tốt.

– Khoảng cách ở mặt từ mí mắt đến lỗ mũi, rộng sâu là gà nhạy đòn, địch thủ dễ mất bình tĩnh với nó.

– Khuôn mặt gà tròn, rộng chung quanh khuôn viên ra tới mũi bằng phẳng, gà ấy bình tĩnh điềm đạm, đánh một đòn đáng một đòn.

– Gà “mắt lửa”: đỏ như lửa, có thể đổi màu tùy lúc, hoặc thêm đốm đen, xanh xanh, con ngươi cũng đen hoặc xanh, đúng gà ấy được mệnh danh là “cuồng kê”, gà quý lắm.

– Gà tròng vàng sậm có điểm đen hoặc xanh, loại mắt thau cũng quý.

Như đã nói qua, mắt trắng dã, đá nhanh đòn, né tránh gọn gang, ra đòn nguy hiểm, mắt long lanh sáng ngời, chớp có sao, là loại khôn ngoan ít có.

Cựa gà được gắn liền gần thới tại đôi chân. Cựa giống một long xương, ruột có máu bọng, đầu nhọn. Cựa có khi to gần bằng ngón tay út, có khi nhỏ như đầu đũa, thường chỉ về phía sau, hơi cong hoặc thẳng tùy con. Cựa có nhiều loại:

1) Cựa sáp: bên ngoài được bao bọc bởi một lớp men, dẻo như sáp, nếu lấy dao mà cạo, ta sẽ thấy ra những lớp như cạo đèn cầy, sau đó là đến lớp xương rồi mới đến máu. 2) Cựa thép: thường màu đen, nếu cạo sẽ thấy cứng hơn nữa, dẻo. 3) Cựa xương: màu trắng đục, nếu cạo sẽ thấy giòn cứng. 4) Cựa vôi: lớp ngoài rất bở, tựa như vôi đóng, không gọt chuốt được. 5) Cựa da: đụng mạnh vào cựa thấy lung lay, rung rinh (cựa giấp).* Hình dáng của cựa:

– Đôi cựa dài, hơi cong mũi được gọi là “song đao”.

– Nếu mũi cựa hơi nghiêng về phía sau một chút, đứng cất chéo lên nhau, được gọi là “song đao nghiêng” (cựa độc).

– Nếu cong ít hơn song đao gọi là “siêu đạo” (cựa độc).

– Hai cựa ngay thẳng chỉ vào nhau gọi là “giao chỉ” (cựa khá).

– Nếu thẳng, quay mũi ra phía khác, gọi là cựa “hứng gió” (dở).

– Nếu ngay thẳng, và chỉ xuống đất được gọi là “chỉ địa” (thường).

– Nếu cựa “chỉ địa” được vảy huyền tram đóng ngay cựa (đâm nhiều), còn gọi vảy ấy là “trung huyền” (huyền tram công tự)

– Cựa cong ra phía sau nhiều như cặp sừng trâu gọi là “hom lọp” (xấu).

– Trên cựa có một vảy to, dưới cựa có một vảy to, có đòn tài.

– Trên và dưới cựa chính, có nổi lên hai cựa phụ thấp hơn, nếu hai cựa này rung rinh, thì tốt, gà quý, gọi là “cựa lục đinh”.

– Gà cựa, cựa có chấm hình lưỡi liềm, hay lưỡi đao, nó ửng nổi trong cựa, cựa trắng thì ửng đen, cựa đen ửng trắng, nhìn qua ánh sáng mới thấy được, cựa này không kỵ gà nào, nếu có gà tài đâm là đâm chết, gọi là “uyên võ đệm giáp”.

– Cựa có ba chấm mọc ra, nhọn như móng cọp, đâm rất độc, gà địch bị đâm chịu không nổi mà chạy, gọi là “cựa độc đinh”.

– Cách từ cựa xuống thới, có bốn năm chấm tròn, trên to dưới nhỏ, chân cựa vuông, đáu tròn nhỏ, là cựa độc, gọi là “thượng áp hạ”.

– Cựa nhỏ như đầu đũa, dài, gọi là “cựa kim”.

– Cựa ngắn ngay sát với thới, xuôi một chiều như nhau, ngược với cựa”hứng gió” gọi là “cựa êm”, còn tùy xuôi nhiều hay ít, nếu xuôi ít và cất chéo lên nhau thì tốt, đồng thời phải cong vừa.

– Nếu đóng sát thới cựa đâm nhiều.

– Hai cựa một màu đen một màu trắng, hoặc phân nửa trắng phân nửa đen cho một cựa, có tên là “nhật nguyệt” (cựa dữ, tốt).

– Tam cường: mỗi chân có ba cựa, một cựa dài và hai cựa ngắn hai bên, hai chân như nhau, gọi là “tam cường” gà này đá hiểm (hai cựa phụ gần như lộ nổi).

– Cựa lục đinh: trên dưới cựa chính có kèm hai cựa phụ nhưng thấp hơn, nếu hai cựa phụ này rung rinh thì rất quý, gà quý mới có.

– Đại đoản cao: cựa to bản và ngắn, tầy đầu, thường thấy ở cựa “lục đinh” (gà đòn), gà này ưa đá cần, đòn khá.

– Cựa thắt lại ở gốc và nở ra ở phía ngoài, nó khấu vào chung quanh cựa, gà có cựa như thế nhất định đâm mắt địch thủ.

– Cựa nhiều thép, chột nhỏ, tròn, cựa đóng sát thới, cần nhất là “vọng cựa” chiều cựa theo thới, khi xếp xuống phía dưới gọn hơi cong lên, nghiêng từ gốc đến ngọn cựa lối 10 hay 12 độ và dài tới 3 hoặc 4 phân là cựa đáng sợ nhất.

– Cựa dóng cao, to chột gọi là cựa “củ cải”, xấu.

– Cựa xốc lên gối gọi là “chỉ thiên” xấu.

– Cựa “hứng gió” cựa gài của nó xoay ngang, quẹt ra phía sau và chúi đầu xuống là cựa xấu.

1) Ngón giữa: dài, gọi là “ngón chỉ mạng gà” (bổn mạng), 4) Ngón nhỏ: (ngắn) gọi là “ngón thới”.

Lúc gà đứng ta nâng “ngón ngọ” (phía móng) bật lên bật xuống nếu vững chắc thì tốt, ta sẽ nghe tiếng đập xuống rất mạnh, cần nhất móng cho dài, ta lại đếm xem “ngón ngọ” từ móng vào suốt ngón được bao nhiêu vảy, càng nhiều thì càng tốt.

18 đến 19 vảy: gà thường tài.

20 đến 21 vảy: gà tạm (tùy theo tài riêng).

22 vảy trở lên: gà rất tốt.

Nơi những ngón này, chỉ có vảy, gân, xương, không nên có thịt bủng beo mới tốt, có thể nhìn rõ từng long một, nhìn ngón cho thanh tao, ốm.

Nếu những vảy ở ngón chân, gồ cao lên như sống dao, sắc, ngón chân dài, mấy đầu ngón chân hơi cong vào long, gọi là “gà móng rồng”, rất quý“ngón ngọ”.

Đó là câu châm ngôn của các “sư kê”, được truyền tụng nhau từ đời này qua đời nọ, mục đích là chỉ bảo cách tìm gà hay giống tốt.

Gà không giống nhau ở tướng đi, mỗi con mỗi khác, con thì đi hai chân khít nhau, con thì rộng ra, hoặc đưa chân thấp, nâng chân cao, có khi lúc bước cả ba ngón đều xòe ra, trái lại con thì cụp vào, con thì vừa đi vừa lắc người lắc cổ, con thì cứng đơ như pho tượng v.v….

– “Chấm muối quăng ra” có nghĩa là:

Khi con gà đi, chân bước vào, đồng thời, mấy ngón chân túm lại khi sắp sửa chấm đất mới dương ra, kiểu đi này là “quý tướng”, rất tốt, ngón càng túm nhiều càng hay.

Lại có con đi thì đầu cổ lúc lắc, và mặt rảy lia lịa, tựa hồ như có vật gì dính, cần rảy bỏ, luôn luôn như vậy, ấy mới quý, đúng là “gà lắc mặt”.

Khi bắt một con gà vào một cái lồng, cái bội, con gà đứng thụt đầu thụt cổ, nép mình, nếu đi đi lại lại thì nghiêng bên này bên kia trông lạ mắt, nó sợ cái lồng, có bội đụng vào mình nó, mặc dầu có thể dư sức cho nó quạt cánh thong thả, đó là gà “né lồng” có kiểu đi “bán nguyệt”, hai chân bước chéo qua chéo lại.

– “Đứng giọt mưa” là

Vai nó rất cao, ngực ưỡn ra, đuôi xuôi xuống, cổ thẳng băng và dựng cao, đứng như thế, có thế giọt mưa trơn tuột, trông rất đẹp mắt, “gà giọt mưa” mặt sáng sủa, thường có tài đi đường trên, đánh đầu cổ địch thủ.

– “Đứng đòn cân” là:

Mình gà ngang như cán cân lúc thăng bằng, lúc đi, nó không cất cao cổ như “gà giọt mưa”, trái lại, cái đầu thả thấp, tựa như muốn chui ẩn. Gà này chuyên chạy dưới, đánh trong. Gà đánh trong nếu bình thường thì dở, trái lại gặp con có tài thì thật là “xuất chúng”.

Những con có tướng chẳng ra trên mà cũng chẳng ra cân, anh này lanh lẹ lắm, nhưng thế đánh gần như loạn xạ, lung tung.

Con gà khi đi có vẻ lấc xấc, xông xáo, gà này tùy tài tùy sức, nhưng thuộc dòng võ tướng, thích đấm đá nhiều, ham mái túc con lia lịa, tính tình không đằm thắm.

Gà đi đứng điềm đạm, mắt nhìn từ tốn nhưng sắc bén, không ham mái, chẳng đánh con, thoạt nhìn, người không rành tưởng gà thiếu sung sức, kém nuôi, nhưng kỳ thật, nó có một bản tính cố định như vậy, nó thuộc dòng dõi “văn tướng”, trên “võ tướng” một bậc (không “hữu dõng vô mưu”). Bước đi đâu là từng bước nhẹ nhàng, thân mình khó rung chuyển bình tĩnh, nhìn vật gì rất sắc bén, con mắt soi thẳng vào vật nhìn, bản mặt không vô tư chút nào, thường những gà tiếng tăm là nó, quý lắm.

Lúc đi, gà thường nhón gót, chịu đựng bằng ngón, không để chân đụng đất, tướng đi có vẻ khó khăn, bạn nên để ý, bắt xem có thể có “địa giáp”, nếu đúng thì hẳn gà ấy xứng danh là “linh kê”, (địa giáp là một vảy được gán giữa lòng bàn chân, giữa chậu). Không xem không biết được, vì vảy này nằm dưới gót chân, sát đất. Lại có con có nhiều vảy nhỏ, rõ ràng dưới chân, cùng là gà tốt.

“Ức ngưỡng nghinh thiên”

Ngực gà có hai hình dáng khác nhau, một là bằng lỳ, dựng đứng, hai là hơi cong xuôi vào bụng. Ngực dựng đứng, bằng tốt hơn cả.

+ Màu lông tại ngực nếu có màu ó, gọi là “ức ó”, tốt, gà dữ.

+ Tại ngực, có một lỗ hõm gọi là “hang cua”, nếu hang cua nhỏ, tốt.

+ Ngực mang theo bầu diều, ở bên phải, nhưng nếu bầu diều đó được gà mang bên trái, có “quý tướng”, gọi là “trữ thực tả’.

+ Lúc gà đi, ngực gà không nảy không rung thì tốt, gà ấy dòng giống quý phái thuộc loại gà “văn tướng”, có mưu lược chiến thuật.

Nếu gặp gà không có lưỡi, ấy là quý, ví như “thần thánh”, được xếp hạng “thần kê”. Bởi không lưỡi nên khi gáy phát ra âm thanh kỳ lạ, giật ba bốn tiếng.

Nói là không lưỡi, kỳ thật lưỡi có, nhưng thụt quá sâu xuống dóc họng không thấy.– Lưỡi rùa, đoản thiệt: gà có lưỡi thụt sâu hoặc bị cắt ngang, loại “thần kê”.– Bạch thiệt: gà lưỡi trắng, thường tùy con.– Hắc thiệt: gà lưỡi đen, “linh kê”.– Lưỡng thiệt: lưỡi gà chẻ làm đôi, “gà chiến”.– Lưỡi gà to bản: biểu lộ sự chậm chạp.– Lưỡi gà nhỏ như mã kim: lanh lẹ có thừa.

+ Lưỡi thụt sâu xuống bốc họng, nếu có thể thấy được, cũng rất quý, gà này gáy thường khác lạ với gà khác, là đúng nó.

+ Gà có lưỡi đen hoặc bớt đen đều quý, gọi là “linh kê”.

+ Đầu lưỡi được chẻ làm đôi, cũng là loại gà hay lắm.

+ Ngoài đầu lưỡi tựa như bị cắt bằng ngang, lưỡi cụt ngủn, gà này hiếm và quý.

Có những đặc điểm trong lưỡi như thế được gọi là gà “ẩn tướng” hoặc “ủ tướng” cũng vậy đều tốt cả.

1) Số tiếng:2) Số âm thanh:Âm minh trường: là con gà gáy tiếng cuối cùng, kéo dài đến hết hơi, gà ấy gan, nhưng kém tài. Âm minh đoản: là con gà gáy tiếng cuối cùng ngắt, ngắn ngủn, gà ấy có vẻ gắt gao, gan dạ, tài ba. Âm minh trung: gáy tiếng cuối không dài cũng không ngắn, gà ấy “văn võ song toàn”, được mọi mặt. Âm minh thủ đoản: gáy tiếng cuối ngắn, toàn tiếng gáy có vẻ rít nghe tựa tiếng gà tre, báo hiệu gà có biệt tài (gà độc) nhưng phải đều tiếng. Âm minh hùng đoản: gáy tiếng cuối ngắn, toàn tiếng gáy to, ồ, gà ấy bền bỉ, gan dạ, có tài đá đòn. Âm minh thư trường: tiếng cuối kéo dài, toàn tiếng như gà tre, ấy là gà kém. Âm minh hùng trường: tiếng cuối kéo dài, toàn tiếng gáy to, ồ, không nét . Gà này có thể đòn tốt, bền nhưng không độc, đá kém hay.– TIẾNG RÍT: hay rít là gà dữ, “âm minh phụ”. Gà rít to, mở rộng miệng thì tốt, nếu rít nhỏ trong miệng, thì phải kéo dài mới tốt.– Song phụ âm minh và tam phụ âm minh: rít hai hay ba tiếng một lúc là gà độc, có tài lắm, miệng mở rộng rít tiếng lớn, gắt gao như heo rít.– Gà ngọc: khi gà gáy ban đêm, ta nhìn trong miệng, thấy hơi sáng, nên có tục gọi là “gà ngậm ngọc”, dĩ nhiên là phải quý rồi, nó là “linh kê”.– Gà túc: khi ta bắt, hoặc đụng đến mình nó, thì gà này kêu túc túc giòn tai, lại khi đang ra trưởng đá, bất kỳ ở hiệp nào, lúc vô nước, gà vẫn kêu túc túc tựa như gà kêu con, con này chiến lắm, thuộc loại “chiến kê”.– Gà trữ thực tả: thường thì bầu diều gà nằm bên phải, trái lại gà này ngược đời, có bầu diều nằm bên trái, ấy là “chiến kê”.

Tóm lại, khi gáy cần cổ nên ngay thẳng, phát ra âm thanh rõ rệt, to lớn, gọn gàng, ngắt quãng, hơi rè khan, được thổi mạnh từ trong miệng phát ra ngoài, và khi dứt cũng ngắt gọn, ấy là tiếng gáy hoàn hảo, báo hiệu đó là một “chiến kê”.

Nếu “song phụ” và “tam phụ” được kèm theo những tiếng rít ngắn sau, đó là “linh kê” gà quý, đích thị chẳng sai.

+ Gà nào khi gáy, cổ gân lên, vẹo lệch không thẳng, đòn đá cũng kém ngay. Gáy mà cần cong, vẹo qua lại như rắn, con ấy kém bền.

+ Khi gà gáy miệng phải mở rộng mới có triển vọng, trái lại, lúc gáy mỏ khép kín, gà không khá.

+ Khi gáy mỏ dưới rung ít thì tốt, rung nhiều thì xấu, không rung càng quý.

+ Tiếng gáy không đều, chỗ to chỗ nhỏ, gà này chóng mệt, bở sức, kém bền.

+ Gà gáy 4 hay 5 tiếng, nhưng ngắt từng âm thanh rõ ràng, đó là gà hay, trái lại tiếng gáy không phân rõ âm thanh, là tiếng gà thường tài.

+ Ban đêm gà gáy đúng giờ, gà ấy có đòn tài, đòn độc, “quý tướng”, thường trổ những đòn ấy vào những nước nhất định.

Âm thanh gà gáy trầm bổng khác nhau, nhiều giọng khác nhau.

Tiếng cuối cùng là âm thanh hạ thấp nhất, không tốt, đa số dở. Thí dụ : ò – ó – o – ò 4 tiếng (thấp, cao, vừa, thấp).

Tiếng cuối cùng là âm thanh vừa, gà ấy hay dở tùy con. Thí dụ : ò – ó – o – o 4 tiếng (thấp, cao, vừa, vừa).

Tiếng cuối cùng được kéo dài, trong đó có 2 âm thanh thứ nhất là “vừa” và thứ hai là “thấp”, dứt khoát gà ấy không nên dùng, tuy bền. Thí dụ: ò – ó – o o oò 4 tiếng (thấp, cao, vừa, vừa kéo dài xuống thấp).

+ Nếu muốn biết âm thanh cuối cho rõ, ta lấy âm thanh cuối so với âm “vừa” thứ ba, nếu cuối cao hơn “vừa” là cao, thấp hơn “vừa” là thấp, bằng “vừa” là trung bình.

+ Gà gáy, tất cả tiếng đều to cùng nhau là tốt.

Được xếp hạng “thần kê” bởi không có lưỡi, nên khi gáy phát ra âm thanh kỳ lạ, giật ba bốn tiếng sau cùng:

Ò – ó – o – o (ta thấy bốn chữ o tức gà gáy bốn tiếng). Đó là tiếng gáy thường nhất của giống gà.

Trái lại, “thần kê” gáy từ bảy tám tiếng trở đi:

Ò – ó – o – o – o – o – o (7 tiếng, những tiếng o nhỏ là tiếng giật).

+ Gà gáy 5 tiếng là gà có tài (Ò – ó – o – o – o ).

+ Gà gáy ba tiếng, tiếng gáy như vậy không tốt, biểu lộ sự kém cỏi ( Ò – ó – o ).

Điều cần biết là con gà chẳng bao giờ đá một chân, nó luôn luôn nhảy lên đá bằng hai chân, “ngón nghề” trong võ thuật gọi là “song phi”.

Lúc nhảy đá gà dùng sức mạnh, phụ giúp bằng đôi cánh và bộ lông đuôi. Nạp, xạ: lúc mới xáp trận, còn dư sức, gà không cần nắm mỏ đầu để làm điểm tựa mà đá, chỉ từ xa nhảy lên, vừa đá vừa đâm, gọi là “nạp”, hoặc “xạ” hay “đòn buông”.. Đá lông: nó dùng mỏ nắm chặt bất cứ một chỗ nào làm điểm tựa rồi lấy sức nhảy đá, cánh quạt, cựa đâm, nắm lông mà đá. Hồi mã thương: hai gà đang đánh nhau, bỗng có con “giả thua” bỏ chạy một vòng, địch thủ liền đuổi theo uy hiếp, không ngờ nó đứng lại, nghiêng qua, lấy thế thật nhanh thật mạnh, đá vào đầu vào cổ địch thủ, có khi nó trổ ngón nghề ấy hai, ba lần, và mỗi khi đá, đôi khi ta thấy nhồi liên tiếp ba bốn đòn, gọi là “hồi mã tam thương”. Sỏ, mé: cắn mép môi, hay mồm rồi đá trúng mặt, trúng cổ, địch thủ đau vô cùng. Đá vai: lấy mỏ cắn vai rồi đá thốc lên. Đá lông yếm: chui đầu xuống gần bụng, nắm lông ngực đá thốc lên, còn gọi là Lấn: dùng cần cổ lấn gà địch không cho đứng thăng bằng, thì làm sao địch trổ ngón được. Vỉa tối: chui cổ vào cánh gà địch, ở luôn trong đó, cắn mổ da non như da nách, đùi non, kẹt cánh, nắm cho chắc mà đá lên, vừa đá vừa đâm, có khi trúng phổi, trúng hông, lợi hại vô cùng. Vỉa sáng: chuyên luồn cổ vào cánh gà địch, thò đầu lên, bạ đân nắm đó, đá mạnh lên, đòn này sẽ gây cánh địch thủ, ưa bị xệ cánh và mất sức. Khai vựa lúa: nắm mổ gà địch, dùng sức đá trúng cằm nó, chỗ ấy gọi là “chữ tử”, và gọi là “đá hầu”. Đâm hang cua: dùng cựa đâm trúng “hang cua”, ở trên ngựa cạnh dưới cổ, nếu đâm sâu, gã giãy chết trào máu miệng tại chỗ. Nước nạp: lúc đầu mới vào đá, hai gà nhảy lên, bốn chân đọ mạnh vào nhau, nếu đôi cựa chạm nhau gọi là “khắc cựa”. Nước đứng: nước chịu đứng bền bỉ của gà, càng lâu càng đứng vững để chống trả. Đi trên: khi đá gà chỉ nhắm vào phần trên địch thủ mà đá vào mỏ, đầu, cổ, ngực, lưng. Chạy dưới: chỉ thích chui lòn dưới bụng, đội ngược lên, thừa cơ cắn đùi, ngực, bụng, để đấm đá. Đòn đấm: cắn mổ đầu và nắm mồng lại giáng mạnh hai chân vào mặt, hầu, cổ, ngực v.v..của địch thủ. Đá ngang: mổ đầu địch thủ, và đứng ngang một bên, đá vào cần cổ, vào mặt. Quăng: đang đá, gà nhảy cao “quăng” đôi chân vào mặt địch thủ, có khi mạnh quá mình cùng xoay theo. Liên cước: mổ một lần, đá hai, ba cái liên tiếp. Độc cước: mổ một lần, đá một cái đích đáng. Đá mã kỵ: đá trúng mu lưng địch thủ. Thọc huyết: nhảy thật cao, khi mình gà rơi gần địch thủ, nó mới tung chân đá thọc vào ngực. Đâm mắt cần: cần cổ gà có từng đốt ráp lại như mắt tre, nếu bị đâm trúng những “mắt” ấy, gà quẹo xương cổ, đứng quay mòng mòng. “đá bưng tô”, nếu đòn này trúng, địch thủ sẽ lộn nhào có khi.

【#10】20 Bài Tập Yoga Trẻ Hoá Và Làm Đẹp Da Mặt Bạn Không Nên Bỏ Qua

Khi nói đến tập Yoga mọi người vẫn thường nghĩ đến tác dụng của việc giảm cân giữ dáng qua các động tác tập nhằm săn chắc cơ thể, điều này hoàn toàn đúng, nhưng Yoga không chỉ có vậy, việc tập Yoga thường xuyên và đúng phương pháp có thể giúp bạn trẻ hoá làn da cực kỳ hiệu quả, việc tập Yoga trẻ hoá cũng giúp bạn xua tan đi những lo lắng Stress từ công việc và cuộc sống bận rộn – thứ đang âm thầm lấy đi tuổi thanh xuân của bạn….

20 bài tập Yoga trẻ hoá và làm đẹp da mặt bạn không nên bỏ qua

Như bạn đã từng nghe nói “Thời gian là kẻ thù của sắc đẹp”, dù bạn muốn hay không thì theo thời gian, quá trình sản xuất collagen của cơ thể sẽ chậm lại cùng với đó là lượng eslatin (có tác dụng kết nối các tế bào da) yếu dần cũng là lúc da bạn đối mặt với các vấn đề lão hóa như: xuất hiện nhiều nếp nhăn, da chảy xệ, kém đàn hồi, nám, sạm da… khiến khuôn mặt bạn trở nên già nua kém sắc.

Phần lớn mọi người khi rơi vào tình trạng này thường tìm đến các loại mỹ phẩm chăm sóc da hoặc các liệu pháp Y khoa nhằm khắc phục các nếp nhăn, các triệu chứng về lão hoá da mà bỏ qua những động tác massage mặt hoặc cao hơn là những động tác Yoga dành riêng cho việc chăm sóc da mặt. Nói đến Yoga trẻ hoá & làm đẹp cho khuôn mặt có thể còn lạ lẫm ở Việt Nam nhưng trên thế giới, đặc biệt là Ấn Độ, có hàng triệu người tham gia những khoá học Yoga trẻ hoá da mặt ngay từ trước khi xuất hiện những biểu hiện của việc lão hoá da.

Đúng như tên gọi của nó, việc học Yoga trẻ hoá sẽ giúp bạn có 1 làn da khoẻ khoắn, loại trừ các nếp nhăn hoặc vết thâm ở quâng mắt thông qua các bài tập làm nóng cơ thể kèm theo 10 bài tập giúp thu gọn và làm căn da mặt và cuối cùng là 10 động tác Yoga có tác dụng trẻ hoá làn da mà bạn nên làm.

Khoá học Yoga trẻ hoá & làm đẹp khuôn mặt tại chúng tôi được thiết kế với hơn 20 động tác tập trung vào việc chăm sóc các vùng da của khuôn mặt, những động tác Yoga này là sự pha trộn giữa các tư thế cơ thể trong yoga và các động tác, biểu cảm của khuôn mặt để cải thiện da, chống chảy xệ và tăng cường sự săn chắc cho cơ mặt. Yoga cho khuôn mặt cũng dạy bạn cách sử dụng cơ mặt đa dạng hơn. Kết quả là trông bạn sẽ trẻ trung, rạng rỡ hơn. Làn da cũng sáng mịn hơn nhờ tăng cường tuần hoàn máu.

Các bài tập trong khoá học Yoga trẻ hoá này được chia ra thành nhiều động tác nhỏ tập trung vào từng bộ phận trên khuôn mặt như: vùng mắt, vùng cổ, vùng má & trán, mỗi động tác đều được hướng dẫn thứ tự cũng như thời gian thực hiện tốt nhất để đạt được hiệu quả cao nhất. Sau vài tuần tập luyện, chắc chắn bạn sẽ thấy hiệu quả rõ rệt. Kiên trì tập luyện trong thời gian dài như một thói quen, bạn sẽ sở hữu làn da và sự trẻ trung hơn nhiều so với tuổi bạn.