【#1】Mua Bán Gà Tre Thái Tại Tây Ninh Trảng Bàng Trong Chuyên Mục Con Giống

Phong trào chơi gà tre Thái diễn ra rất mạnh ở việt Nam vào những năm gần đây, gà tre Thái là giống gà chabo hay là gà Nhật Bản hoặc còn gọi là gà Tre Nhật Bản. Đây là giống gà đẹp được ưa chuộng để chọn làm gà kiểng, nuôi loại gà này khá công phu. Ở Việt Nam thường gọi là gà tre Thái hay gà Tre Thái Lan do nhập về Viêt Nam qua đường Thái Lan là chủ yếu.

Đặc điểm Gà tre Thái

Gà tre Thái có thân hình thấp và trọng lượng nhỏ vào khoảng 600g/con trống, 350g/ con mái, thông qua hình dáng trọng lượng bên ngoài có thể phân biệt con trống và con mái.

Thân hình gà tre Thái

Đặc điểm đặc trưng thân hình thấp ngực nở, đuôi dựng thẳng, mào lớn và dựng chia thành 4 hoặc 5 lá cổ ngắn ngả về phía sau, lông bờm nhiều. Nhìn tổng quát thì thân gà tre Thái tròn và rất ngắn ngực rất tròn nhô rõ về phía trước nhìn rất oai vệ.

Đuôi gà tre Thái

Một đặc điểm khi nhìn vào gà tre Thái thì sẽ thấy lông đuôi dựng cao hơn đầu và xòe đều thẳng như lưỡi kiếm, đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên một cách duyên dáng, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không ngã về phía trước quá nhiều. Đuôi không cong như những loại gà thông thường khác mà thẳng đứng như lá của cây hoa Diên Vĩ.

Lông gà tre Thái

Bộ lông gà tre thái có nhiều màu sắc, giá trị của Gà càng cao nếu lông có màu sắc rõ ràng và không bị lem. Lông rất nhiều và dày ngoài dạng lông thông thường còn có dạng lông xù hoặc mịn.

Các loại gà tre Thái đẹp

Ngoài giống gà tre thái thông thường thì một số biến thể của giống gà tre thái cũng được lọt tóp và ghi nhận là giống gà đẹp đạt chuẩn và ấn tượng như:

Gà tre Thái (Nhạn)

Màu lông phải trắng tinh, lông hơi vàng nhưng không được vàng quá, nếu lông hơi trong mà dính màu lạ là loại không đạt tiêu chuẩn.

Gà tre Thái (đuôi đen)

Có đặc điểm lông đuôi ít đen hay cổ dính ít đen.

Gà tre Thái (Ô Long)

Lông đen tuyền và hơi dính màu ánh Kim thì được chấp nhận, màu ánh Kim chuyển sang màu tím coi như bị lỗi. Nếu hắc sắc tố phát triển mạnh ở vùng mặt (mồng, tai, mắt) bị nhiễm đen thì cũng bị lỗi.

Nguồn gốc gà tre Thái

Gà tre Thái xuất hiện trong hội họa Nhật ngay sau thời kì đóng cửa với thế giới bên ngoài vào những năm 1635 và nó cũng xuất hiện trong hội họa Hà Lan trong cùng thời điểm. Cũng có ý kiến cho rằng các thương gia Hà Lan đã vào gà tre Thái vào Nhật từ những cảng biển vùng Đông Nam Á như Hội An (Việt Nam) hay java (Indonesia).

Gà Tre Thái xuất hiện ở Đức vào đầu thế kỷ 19 sau đó xuất hiện ở Anh vào năm 1860 và được triển lãm rộng rãi từ năm 1910.

Kỹ thuật nuôi gà tre Thái

Để sở hữu những chú gà tre Thái đẹp đòi hỏi người nuôi phải vững kĩ thuật nuôi và cách chăm sóc hiệu quả tốt nhất mới mang lại hiệu suất lợi nhuận cao cho người nuôi.

Điều kiện chăm sóc gà tre thái

Gà tre Thái chỉ có thể nuôi ngoài trời vào mùa khô ráo, vì nhỏ con và nhẹ cân nên chúng không thích hợp để nuôi ngoài trời vào thời tiết lạnh hay ẩm ướt. Gà tre Thái có thể nuôi quanh năm trong nhà trại để tránh những tác động của thời tiết mà vẫn sạch sẽ và khô ráo. Vào mùa đông thì có thể sử dụng ánh sáng đèn đẻ kéo dài thời gian ban ngày cho gà ăn và quan sát gà được kĩ hơn.

Mặc dù gà tre Thái có bề ngoài khác biệt hầu hết các giống gà khác nhưng chúng có thể được cho ăn tương tự.

Thức ăn cho gà tre Thái

Cám viên tổng hợp, ngũ cốc, sạn & nước dành cho gà tre Thái.

Cám hay viên tổng hợp

Ngày nay các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng cám hay viên luôn có sẵn và tiện lợi để nuôi gà thức ăn viên dưới dạng khô được hầu hết người chơi gà sử dụng.

Cám có hai loiaj khô và ướt, cám ướt là có điểm thuận lợi là ít bị vương vãi ra khỏi máng ăn khi gà mổ nhưng cần tính toán để gà ăn hết trong ngày bằng không cám sẽ bị chua phải bỏ đi, máng thức ăn cũng cần được rửa thường xuyên. Các loại cám và viên khô luôn có sẵn trong các tiệm bán thức ăn gia súc.

Ngũ cốc

Cũng có thể cho gà ăn ngũ cốc xen kẻ với thức ăn viên hoặc trộn cả hai. Nên nhớ không cho gà ăn một lượng thức ăn lớn khác bên cạnh thực đơn đã cân bằng nếu không bạn sẽ phá vỡ nó.

  • Bột mì có thể trộn với thức ăn viên theo tỉ lệ 5:5 hoặc ăn dặm trước khi gà đi ngủ.
  • Bột ngô sẽ khiến gà bị mập nếu cho ăn quá nhiều, điều này không tốt vì gà sẽ bị yếu và khó sinh sản, nhưng nếu cho ăn ít và thỉnh thoảng nó sẽ giúp cho chân và mỏ gà vàng tươi.
  • Yến mạnh là loại thức ăn chất lượng nhưng không cân bằng như bột mì.

Sạn

Gà sử dụng sạn vào hai mục đích chính, sạn sử dụng để nghiền các loại thức ăn cứng chảng hạn như ngô, gà phải được cung cấp sạn nếu trong thức ăn có ngô nếu không chúng không thể tiêu hóa một cách thích hợp.

Sạn được chưa trong bộ phận gọi là mề và đó là nơi xay nhỏ ngô. Công dụng khác của sạn là tiết ra canxi để gà phát triển và duy trì sức khỏe và đặc biệt là để tạo vỏ trứng.

Có thể mua loại thức ăn có hai công dụng trong đó đã cung cấp sẵn canxi hoặc thỉnh thoảng vãi một nắm sạn, không phải sạn nào cũng có canxi nhưng sạn được giả từ vỏ ốc sò… thì chắc chắn có.

Nước

Phải luôn cung cấp sẵn nước sạch, khi gà đẻ trứng chúng sẽ tiêu thụ một lượng nước lớn. Chén nước để dưới sàn rất dễ bị bẩn, nên để nước trong nhiều kiểu vòi hay chụp khác.

Cách chọn lựa giống gà tre Thái

Chọn giống gà tre Thái rất quan trọng vì nếu con giống tốt bạn sẽ không mất nhiều công chăm sóc hay lo lắng chúng bị bệnh .

Chọn lựa gà tre thái Với gà trống

Chọn những con nhỏ thấp, ngưc nở và đuôi dựng thẳng. Hình dáng phù hợp với mồng rất to, tính cách lanh lợi và dáng đi lệt bệt, lông nhiều và dày. Lưng rất ngắn và rộng nếu nhìn ngang thì có hình chữ u hẹp do vách cổ và đuôi tạo thành, tuy nhiên hình dạng này không thể duy trì một khi gà hoàn toàn trưởng thành. Cánh dài với chóp chấm đất ở ngay điểm cuối ở thân hông rất ngắn và không lệ rõ

Đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên, lông phải cao hơn đầu, đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không được ngả về phía trước quá nhiều. Đầu to và rộng cử động mạnh mẽ và cong đều mắt to, cổ tương đối ngắn và cong về phía sau và có nhiều lông bờm phủ lên vai.

Cẳng chân cực ngắn nhẵn nhụi, mạnh mẽ và khủy chân sắc góc, bốn ngón chân phải thẳng và xòe đều.

Chọn lựa gà tre Thái với Gà Mái

Đuôi xòe đều và vương quá đầu, lông đuôi phải rộng cặp lông phụng chủ phải hơi cong như lưỡi kiếm. Mồng lớn gai mồng phân đều, dựng thẳng mặc dù mồng đổ về một bên không phải tật. Các đặc khác của gà mái phải theo sát những mô tả với gà trống.

Bán gà tre Thái ở TPHCM

Hoạt động bán gà tre Thái đẹp cũng diễn ra sôi nổi nhưng chủ yếu tập trung ở khu vực phía Nam cụ thể là TPHCM.

Thông thường khi bán gà tre Thái giá sẽ tùy thuộc vào tháng tuổi và hình thái đẹp chuẩn hay không, giá có thể lên đến vài triệu bạc dành cho những chú gà chuẩn đẹp và chỉ tầm vài trăm đối với những chú gà bình thường, người mua gà cần có một ít kinh nghiệm căn bản về gà tre Thái và nên chọn những đơn vị cung cấp uy tín để lưa chọn cho mình những chú gà Thái phù hợp.

Hiện nay ở khu vực TPHCM cũng có nhiều cơ sở uy tín chuyên cung cấp các giống gà tre Thái trên toàn quốc, liên hệ trực tiếp để được tư vấn và hỗ trợ tốt nhất.

【#2】Giá Gà Tre Thái. Mua Gà Tre Thái Ở Đâu? Trang Trại Bán Gà Tre Thái Giá Rẻ

Những chú gà tre Thái có kích thước và khối lượng rất nhỏ. Dáng của chúng lại lùn, đi lệt bệt ngực nở và đuôi dựng thẳng. Nhờ đặc điểm hình thái có phần kỳ dị trên mà nó lại là giống gà yêu thích của nhiều dân chơi. Đầu gà có phần to, rộng, cử động mạnh mẽ và cong đều, mắt to. Mồng lá, chia đều 4,5 gà. Những con gà trưởng thành ngực trở nên đầy đặn, cánh lớn, chóp gần chạm đất nên nhìn chúng có vẻ rất oai vệ.

Gà tre Thái có đặc điểm rất dài và dày. Lông đuôi rộng, dài, cong như hình lưỡi liềm. Các loại gà tre Thái thị trường hay chơi gồm có:

  • Gà tre Nhạn: Lông trắng tinh, hơi vàng
  • Gà nhạn đuôi đen: đuôi chỉ có dính ít lông màu đen.
  • Gà ô: gà có đặc điểm lông đen tuyền , hơi có màu ánh kím vô cùng đẹp mắt.
  • Gà xám tro
  • Gà tre Bông.

Những con gà tre Thái khi nuôi đúng cách thường có màu sắc lông và hình dáng vô cùng đẹp mắt và có giá trị. Tuy nhiên, nếu không biết cách nuôi chăm sóc thì lông gà sẽ xù, xấu không có độ bóng đẹp như gà chính gốc.

Giá gà tre Thái thuần chủng

Người mê chơi gà thường không tiếc tiền để sở hữu một chú gà tre dáng đẹp, lông chuẩn. Giá một cặp gà tre Thái trống mái (thuần chủng) trưởng thành thường dao động từ 1,4 triệu – 2 triệu. Một con gà trưởng thành giá khoảng 400 – 700 nghìn/con.

Có thời kỳ đỉnh điểm khi giống gà tre Thái mới xuất hiện thì giá một con gà đẹp, bộ lông hấp dẫn lên đến 3 -4 triệu/con.

Giá gà tre thái kiểng (gà làm cảnh) thường rơi vào 700 – 1,5 triệu/con

Gà tre Thái (lai) thương phẩm có giá thấp hơn rất nhiều gà tre Thái kiểng. Chi tiết như sau:

  • Gà tre Thái thịt: 170 – 200 nghìn/kg
  • Gà tre Thái con 1 tuần tuổi (gà giống): 30 -45 nghìn đồng/con
  • Trứng gà tre Thái: 3 -4,5 nghìn đồng/trứng.

Dân chơi gà chắc chắn sẽ có kinh nghiệm để đánh giá một con gà đẹp và định giá của nó. Bên cạnh đó, nên đến các cơ sở uy tín, cung cấp gà tre chuyên nghiệp để mua gà. Tránh mua gà không rõ nguồn gốc sẽ gặp phải gà hết đát, không còn chơi được nữa, nhất là với gà tre Thái chọi.

Gà tre Thái nhập chính gốc về Việt Nam luôn có màu sắc đẹp và dáng oai vệ. Tuy nhiên, giá thành lại khá mắc. Hiện nay, có khá nhiều hộ kinh doanh gà chọi, gà tre nhập giống gà này về để nhân giống và bán ra ngoài thị trường. Dân chơi sẽ có cơ hội chơi gà tre Thái đẹp nhưng với giá mềm hơn. Một số địa chỉ cho anh em tham khảo như:

1. Trại gà cảnh Tuấn Dương

Trại gà cảnh Tuấn Dương chuyên cung cấp các loại gà tre, gà kiểng đẹp đa dạng chủng loại. Anh em chơi gà có thể đến trang trại để tham khảo các mâu gà đẹp yêu thích. Gà được chăm sóc với chế độ khoa học, tiêm phòng, phòng bệnh ngay từ khi còn nhỏ. Các loại gà đa dạng chủng loại, kích thước với giá cả hợp lý.

Liên hệ mua gà:

Địa chỉ: 27 đường số 1, p. Hiệp Bình Phước, Q. Thủ Đức, tp Hồ Chí Minh.

Hotline: 0931 946 905.

2. Gà tre thái kiểng Bình Dương

Đây là môt fanpage cung cấp không chỉ gà tre Thái mà còn rất nhiều loại gà tre để làm cảnh khác nhau. Những cá nhân, đơn vị có gà bán sẽ cung cấp hình ảnh, giá bán cũng như cách liên hệ giúp anh em chơi gà thoải mái lựa chọn chú gà mình yêu thích.

Anh em có thể truy cập page: https://www.facebook.com/groups/655064047905663/ để tham khảo những con gà chất lượng.

3. Trại gà tre thái Hoàng Tôn

Trại gà do anh Hoàng Tôn làm chủ hiện cung cấp các loại gà tre Thái, Mỹ, Nhật với chất lượng và giá thành cực kỳ hợp lý. Không ít người chơi đã được sở hữu những chú gà cảnh cũng như gà chọi đá hăng, đánh đâu thắng đó. Gà luôn có sẵn và có cách chuyển cho người mua an toàn, đảm bảo sức khỏe cho gà.

Anh em có thể liên hệ qua facebook hoặc zalo của Hoàng Tôn theo số điện thoại: 0913821664

Fanpage trại gà Hoàng Tôn: https://www.facebook.com/profile.php?id=100026474362997

Để tìm được địa chỉ bán gà tre Thái không phải dễ. Bởi dân chơi thì nhiều nhưng không phải ai cũng bán. Để tìm được nơi bán gà tre Thái người chơi có thể hỏi mua ở các trang trại chuyên chăn nuôi và bán gà tre chuyên nghiệp. Họ thường có đa dạng các loại giống, hoặc không có cũng sẽ tìm giúp anh em chơi gà.

Khu vực tp Hồ Chí Minh thường có rất nhiều trang trại cung cấp gà tre để nuôi thương phẩm, nuôi làm cảnh hoặc gà chọi hơn là khu vực Hà Nội. Khi mua gà nên tìm hiểu trước về giống, giá cả để tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại săn gà chơi. Nuôi gà tre nên chăm sóc tốt để có bộ lông đẹp.

【#3】Mô Hình Trang Trại Nuôi Gà Thả Vườn

Hiện nay, các giống gà được nuôi theo mô hình công nghiệp với chất lượng thịt thấp, mềm và bở, khiến người tiêu dùng không cảm thấy yên tâm. Nắm bắt được nhu cầu này, rất nhiều bà con đã mạnh dạn đầu tư, phát triển mô hình trang trại nuôi gà thả vườn, mang lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Bởi thực tế cách chăn nuôi trên có nhiều ưu điểm và mang lại thu nhập khá cao cho người chăn nuôi.

Với những lợi ích vượt trội của mô hình chăn nuôi gà thả vườn. Hôm nay, sẽ hướng dẫn bà con cách xây dựng trang trại nuôi gà thả vườn hướng thịt tạo năng suất cao. Mô hình đã được áp dụng thành công tại nhiều trang trại lớn trên cả nước.

Mô hình và Kỹ thuật nuôi gà thả vườn

Chuẩn bị chuồng nuôi và dụng cụ cần thiết

Chuồng là nơi để gà ngủ và tránh những lúc trời mưa hay nắng. Mật độ phù hợp là 20-25 con trên mỗi mét vuông (đối với gà con mới sinh đến 4 tuần tuổi); 8-10 con cho mỗi mét vuông (đối với gà từ 1 – 2 tháng tuổi).

Máng ăn, uống:

  • Khi gà con được khoảng 5 ngày tuổi thì mới sử dụng máng ăn, loại nhỏ. Chỉ dùng loại treo khi gà đã được từ 2 tuần tuổi trở lên.
  • Máng uống nước cho gà thì chỉ cần dùng loại treo, đặt ở nhiều vị trí khác nhau (gần với máng ăn) trong khuôn viên chăn thả để gà uống nước thuận tiện hơn.

Hệ thống điện sưởi ấm: Nếu giống nuôi là gà con nên chuẩn bị một khu vực riêng có trang bị đầy đủ hệ thống sưởi ấm để úm cho gà con khỏi lạnh. Loại đèn sưởi phù hợp là 75 oát. Với số lượng 50 con gà có thể dùng 1 bóng đèn và lồng úm với kích thước 2x1x0,5m.

Điều kiện: Một khoảng vườn đủ rộng (1 con/m 2), cao thoáng để thả gà. Đây là không gian để chúng vận động và tìm kiếm thức ăn thêm ngoài tự nhiên. Phải có quây lại bằng lưới hoặc vật liệu khác tùy ý để không cho vật nuôi bay nhảy ra ngoài khu vực nuôi.

Những dụng cụ cần thiết: Trước khi cho gà sử dụng khoảng 1 tuần phải qua khâu sát trùng để đảm bảo an toàn vệ sinh cho vật nuôi. Trang bị đầy đủ thức ăn, vacxin, thuốc đầy đủ theo tiêu chuẩn chăn nuôi của bộ. Đảm bảo chuồng nằm ở hướng chính Đông hay Đông Nam. Thoáng khí khi thời tiết nóng và ấm áp khi đông về.

Kỹ thuật chọn giống gà thả vườn

  • Đối với hình thức nuôi gà lấy thịt. Bà con có thể chọn các giống gà như lương phượng, gà ta, gà hồ, tam hoàng …
  • Quan sát khi chọn giống: chọn những con nhìn nhanh nhẹn; mắt phản ứng nhanh. Lông khô mượt; bụng gọn; không xệ cánh; chân cao to; không bị dị tật.
  • Trọng lượng phù hợp: từ 30 – 35gr/con (1 ngày tuổi)
  • Nên mua lúc sáng hoặc chiều, tránh thời điểm quá nóng hay mưa bão.

Với những đặc điểm của các giống gà nêu trên. Đặc điểm chung là có khả năng kháng bệnh tốt, thịt thơm ngon, dễ nuôi… Là điều kiện rất thuận lợi giúp cho người chăn nuôi có thể tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế. Nó sẽ cải thiện cuộc sống và tiếp tục lựa chọn giống gà nêu trên để đầu tư chăn nuôi.

Nguồn: chúng tôi

【#4】Nuôi Gà Trên Sân Thượng

Nuôi gà trên sân thượng là mô hình chăn nuôi vừa giúp tiết kiệm không gian lại đảm bảo cung cấp được thực phẩm sạch cho gia đình bạn. Tuy nhiên cần phải chú ý nuôi như thế nào để hợp vệ sinh và gà nuôi phát triển tốt nhất.

Nuôi gà ở trên sân thượng

Nếu gia đình bạn ở tại khu vực thành phố thì việc chăn nuôi gà dạng trang trại hay thả vườn thật sự khó. Nhưng bạn biệt không nếu nhàn bạn có sân thượng thì dây cũng là một mô hình chăn nuôi đáng suy nghĩ đấy! Công việc nuôi gà ở trên sân thượng không quá khó nhưng mà cần phải biết cách chăm sóc và giữ vệ sinh chuồng trại hay khu vực sinh sống cho thật tốt.

Cần chú ý những gì khi nuôi gà trên sân thượng

Gà được nuôi trên sân thượng để có phát triển khỏe mạnh bình thường, cho ra năng suất cao và đặc biệt là không gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình bạn thì cần phải lưu ý những điều sau:

Nên xây dựng chuồng trại thích hợp

Chuồng trại luôn là yếu tố quan trọng cần được nhắc đến đầu tiên khi nói đến nuôi gà trên sân thượng. Để nuôi gà ở khu vực này cần phải chuẩn bị chuồng trại cho phù hợp. Vì không gian có giới hạn lại gắn liền với những sinh hoạt trong gia đình vậy nên cần đảm bảo gà được nuôi sẽ không thể chạy ra ngoài, nhảy sang khu vực của hàng xóm, bay lung tung hay gây ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh.

Loại chuồng nuôi thích hợp cho mô hình chăn nuôi này là loại chuồng lưới sàn cao. Khi lắp ráp chuồng, nên đổ thêm một lớp cát dưới phần sàn để chân gà không bị khô và cũng dễ dàng vệ sinh hơn. Nên đặt chuồng nuôi ở hướng ít gió thổi để giúp mùi hôi từ chuồng gà không bị phát tán gây ảnh hưởng những hộ gia đình khác

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ và thường xuyên

Gà là loại gia cầm ăn tạp, vì lượng thức ăn mỗi ngày của gà khá lớn nên lượng phân thải ra mỗi ngày cũng rất nhiều. Nếu như không chú ý vệ sinh thương xuyên thì sẽ rất dễ gây mùi khó chịu, bám lâu. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt của gia đình bạn; và cả nhà hàng xóm xung quanh. Ngoài ra cũng dễ làm gà mắc bệnh hơn vì khu vực sống kém vệ sinh.

Hãy dọn phân gà thường xuyên để bảo vệ môi trường sinh sống, ngăn chặn những dịch bệnh của gà có thể phát sinh.

Xử lý mùi hôi của chuồng gà bằng cách sử dụng men

Để ngăn chặn mùi hôi gây ảnh hưởng cuộc sống gia đình bạn; thì cần sử dụng đến các loại men để giữ vệ sinh chuồng, khử mùi hiệu quả. Sau khi mua men vi sinh để khử mùi cho chuồng nuôi, thì nên rải trực tiếp vào chuồng.

Trồng cây xanh bên cạnh khu vực chuồng nuôi gà

Nên dành một không gian nhỏ trên sân thượng để trồng thêm các loại rau hay chậu cây cảnh; bên cạnh khu vực chuồng gà. Điều này giúp cho việc chăn nuôi gà vì nhờ cây quang hợp; mà lượng không khí sạch sẽ thoát ra. Đồng thời giúp làm giảm mùi hôi của gà đi.

Phân gà cũng có thể tận dụng để bón phân cho cây trồng; vừa tốt lại tiết kiệm được chi phí. Nuôi gà trên sân thượng là một ý tưởng hiện đại; mới lạ và tuyệt vời giúp bạn có được nguồn thực phẩm sạch cho gia đình mình.

Nguồn: gachaybo

nuôi gà ở thành phố, nuôi gà trên sân thượng, nuôi gà trên sân thượng hiện đại hợp vệ sinh

【#5】Giới Thiệu Khái Quát Huyện Nga Sơn

Mỗi lần đọc Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, lòng tôi lại chộn rộn bao cảm xúc khi nghĩ về quê hương, đất nước mình. Thấy yêu quý, thấy tự hào về đất Việt biết bao. Mỗi bài viết trong Thương nhớ mười hai là một chuyến hành trình đưa ta về với những miền đất đẹp giàu, với những sản vật nổi tiếng theo từng tháng ở miền quê bắc bộ. Và đúng như giáo sư Hoàng Như Mai trong lời mở đầu của tác phẩm đã nhận xét ” những sản vật ấy gợi lên tình cảm đất nước quê hương đằm thắm…..”. Về với mảnh đất Nga Sơn, một vùng quê mang nhiều màu sắc huyền thoại, lòng tôi cũng không khỏi xốn xang khi được nghiên cứu, tìm hểu về văn hóa sống của người dân nơi đây, trong đó có văn hóa ẩm thực. Qua đó mới thấy, trên dải đất cong cong hình chữ S, bất cứ nơi đâu, cũng có một nét đặc trưng riêng biệt, một món ăn đậm đà tính quê hương. Nếu như người ta vẫn nhắc đến Phở Hà Nội, nhắc đến Bưởi Thanh Trà, đến nhãn lồng Hưng Yên, bánh Cu Đơ Hà Tĩnh,… Thì khi nhắc đến Nga Sơn ta sẽ phải nghĩ tới: gỏi Nhệch Nga Liên, Dê núi Nga An, rượu Chính Đại Nga Điền, rượu Nga Bạch, Nga Liên,…… những đặc sản thấm đậm tình người, tình quê xứ Thanh.

Đi và ăn rồi mới thấy cách ăn, cách chơi, thú ẩm thực của Xứ Thanh cũng đầy thanh tao, cầu kỳ, sành sỏi và khoa học. Cũng bằng thứ nguyên liệu giống nhau, nhưng cách chế biến và thưởng thức của người dân Nga Sơn thì hoàn toàn đặc biệt và khác lạ. Nó tạo nên cho các món ăn nơi đây hương vị độc đáo đầy ấn tượng, chỉ thưởng thức một lần, cũng nhớ mãi không quên.

Đến với Nga Sơn, mà không thưởng thức dê núi Nga An thì thật là thiếu sót. Dê núi Nga Sơn không nức tiếng, không ồ ạt, ồn ã như Dê núi Ninh Bình, nhưng chắc chắn chỉ 1 lần được thưởng thức Dê núi Nga An – Nga Sơn thì bạn đã có thể hiểu được sự đặc biệt của những món ăn được chế biến từ Dê. Tại sao nên ăn thịt Dê núi? Vì thịt Dê lành, loài Dê ít ốm đau bệnh tật, Dê lại ăn lộc, lá cây trên núi, đó là những lạo thảo dược chứa nhiều vitamin, và khoáng chất tốt cho sức khỏe. Nhất là đối với nam giới, thịt Dê thực là một loại chất bổ. Nếu như Dê núi Nga An cũng được chế biến như Dê núi Ninh Bình thì chắc hẳn nó đã không thể để lại được ấn tượng sâu sắc đến thế! Vậy, điều khác biệt của những món ăn này nằm ở đâu, cách chế biến có bí quyết gì mà gây được nhiều thiện cảm đến vậy?

TIỀM NĂNG DU LỊCH NGA SƠN

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này. Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích

Nga Sơn nằm trên quốc lộ 10, cách thành phố Thanh Hoá hơn 40km, thị xã Sầm Sơn chừng 60km, (nếu đi theo đường biển từ cửa Lạch Sung đến đảo Nẹ đến Sầm Sơn khoảng chừng 30km). huyện Nga Sơn nối với các điểm du lịch phía Bắc, cách nhà thờ đá Phát Diệm chừng 15km, từ Nga Sơn dọc theo quốc lộ 10 đến Quảng Ninh, Hải Phòng chỉ nửa ngày đường.

Do giáp với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, có nhà thờ đá Phát Diệm – một điểm du lịch khá phát triển và cách chùa Bái Đính khoảng 60km là điểm thu hút được rất nhiều khách du lịch nhất là khách du lịch quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện Nga Sơn thu hụt được nguồn khách du lịch từ Ninh Bình đến thăm.

Phía nam giáp với huyện Hậu Lộc, phía tây giáp với huyện Hà Trung – hai huyện có nhiều điểm du lịch nổi tiếng. Vì vậy, huyện Nga Sơn có thể kết hợp với hai huyện để xây dựng một số tuyến du lịch nhằm khai thác có hiệu quả những tài nguyên du lịch của địa phương.

Là một vùng do đất phù sa bồi tụ nên địa hình Nga Sơn nói chung được kiến tạo theo dạng lượn sóng, tạo thành ba vùng: Vùng chiem trũng, vùng đồng màu và vùng ven biển. Độ cao giữa các vùng chênh lệch 0,3-0,5m. Với địa hình như vậy rất thuận lợi cho việc đi lại, thăm quan của khách du lịch. Các điểm du lịch của Nga Sơn phân bố ở những nơi có địa hình không quá khó khăn nên tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch và xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch.

Vị trí địa lí mang lại cho Nga Sơn loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nền nhiệt cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tương đối nóng, lượng mưa trung bình. Nhiệt độ trung bình năm là 23-24 0 C. Lượng mưa trung bình là 1700-1900mm. Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến thàng 10). Có hai thời kỳ khô ngắn là tháng 5,6 và tháng 10,11.

Khí hậu của Nga Sơn không quá khắc nghiệt tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch diễn ra quanh năm và có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch.

Nga Sơn có khu vực biển nông chạy dài từ Nga Tân đến Nga Bạch khoảng 10km, vùng bãi triều có thể trồng được: sú, vẹt, nuôi ngao…ngoài khơi có nguồn lợi hải sản phong phú.

Với tài nguyên như vậy, Nga Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, ở vùng bãi triều đã trồng rừng sú, vẹt (ở xã Nga Tân) rộng tới gần 100ha, đây là điểm du lịch thuận lợi để thu hút khách du lịch tới tham quan. Vùng biển Nga Sơn có nguồn hải sản phong phú, đây là nguồn cung cấp thực phẩm cho các nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống của khách du lịch về thăm Nga Sơn.

Nga Sơn nằm giữa các con sông Hoạt và sông Lèn. Sông Lèn thuộc hệ thống sông Mã đoạn chảy qua huyện dài 11km, sông Hoạt là nhánh của sông Lèn đoạn chảy qua huyện khoảng 15km. Tổng lưu lượng nước mùa mưa của các con sông lên tới 1.720m 3/s. Trong các cuộc kháng chiến giữ nước trước đây, sông Hoạt và sông Lèn là đường giao thông thuỷ rất quan trọng. Không những thế, đôi bờ sông Hoạt là dãy núi Tam Điệp còn có những cảnh quan kỳ thú “sơn thuỷ hữu tình”.

III. Tài nguyên du lịch tự nhiên.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này.

Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng như: Động Từ Thức, cảnh đẹp Chùa Tiên, Hồ Đồng vua, đền thờ Mai Anh Tiêm trên núi Quả Dưa, Chùa Thạch Tuyền, chùa Bạch Tượng…dọc đôi bờ sông Hoạt theo dãy núi Tam Điệp còn có biết bao cảnh quan kỳ thú như động Lục Vân, Động Trúc Sơn, cửa Thần Phù, Núi Bia Thần, Núi Lã Vọng, Núi “Rồng Hổ tranh ngọc”, “Giếng thần”, Động Bạch Á … Mật độ di tích “dày đặc” lại rất tự nhiên nằm tập trung ở vùng phía bắc tại dãy núi Tam Điệp và đôi bờ sông Hoạt nên rất thuận lợi cho hoạt động du lịch. Và cũng chính nơi đây từ xưa đã có rất nhiều nhà sử học, bác học như: Phan Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, …các nhà vua, chúa như: Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông, chúa Trịnh Sâm, và cả thái tử nước Lào…vãn cảnh thăm thú tức cảnh, đề thơ trên núi. Đồng thời vùng quê cổ tích này còn hội tụ những di tích lịch sử như: Chiến khu Ba Đình, đền thờ Trần Hưng Đạo, đền thờ Triệu Quang Phục, đền thờ nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh, đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn…

Nga Sơn từ lâu đã nổi tiếng với danh thắng Động Từ Thức, là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng độc nhất vô nhị ở trời Nam. Bởi chỉ có động Từ Thức mới có huyền thoại “Từ Thức gặp Tiên” – một câu chuyện tình đầy lãng mạn, đầy tính nhân văn mà không ở nơi nào có được, một điểm có giá trị rất lớn đối với sự phát triển du lịch của huyện Nga Sơn nói riêng và Thanh Hoá nói chung.

Động Từ Thức còn có tên gọi khác là Động Bích Đào, vì ở ngay cửa động có một quả đào to (tất nhiên bằng đá). Nhưng vì gẵn với câu chuyện Từ Thức gặp Tiên nên dân gian thường gọi là Động Từ Thức.

Động Từ Thức thuộc xã Nga Thiện huyện Nga Sơn, nằm trong dãy núi đá vôi Tam Điệp ở phía đông bắc tỉnh Thanh Hoá. Dưới chân núi trước cửa động có hàng cây cổ thụ xum xuê tán lá, tiếp đến là con kênh dẫn nước, cánh đồng lúa bằng phẳng, xóm thôn xanh ngắt một mầu.

Thắng cảnh Động Từ Thức gắn liền với câu chuyện truyền thuyết Từ Thức gặp Tiên – nàng Giáng Hương.

Tương truyền Từ Thức vốn là người Hoá Châu (Thanh Hoá) thuộc xã Cẩm La huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), làm quan tri huyện ở Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Năm Quang Thái thứ 9 nhà Trần (1396).

Cạnh huyện có ngôi chùa cổ, vườn chùa có cây Mẫu đơn, đến mùa hoa nở người người, lớp lớp chen chân vào xem hoa, gọi là Hội xem hoa.

Tháng 2 năm Bính Tí có ngươi con gái nhan sắc tuyệt trần, vào xem hoa có vịn cành hoa không may bị gãy, vì là Tiên không có tiền chuộc nên người trông giữ hoa bắt lại. Quan huyện tể Từ Thức đến xem hội thấy người con gái xinh đẹp, lại bị trói vào cành hoa, chàng liền cởi áo da cừu trắng đến tăng phòng nộp cho nhà chùa, chuộc người con gái ấy.

Nhân dân ca tụng ông là người nhân từ. Từ Thức là người phóng khoáng đi chơi thường mang theo bầu rượu, cây đàn, túi thơ du ngoạn các nơi có phong cảnh đẹp. Một số quan trên của ông thường hay quở mắng: Cha là Quan cao chấp chính, con không làm được chức quan Huyện tể hay sao ?

Từ Thức than rằng: Ta không vì 3 đấu đậu đỏ (lương tháng) mà gởi thân vào trường danh lợi, lúc nào đó ta sẽ tìm đến non xanh, nước biếc du chơi, chắc là nơi ấy không nỡ phụ ta. Nói đoạn treo ấn từ quan rồi bỏ đi.

Đến Tống Sơn là nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều hang động, bói quẻ thấy đây là vùng đất lành, chim đậu, nên thường lui tới rong chơi, mang theo cây đàn, bầu rượu, túi thơ đến những khe suối nhỏ ngâm vịnh, không đâu thiếu thơ đề.

Một buổi sáng thức dậy nhìn lên cửa bể Thần phù thấy năm sắc mây kết tụ như đoá hoa sen , chèo thuyền đến nơi thấy đó là ngọn núi đẹp. Buộc thuyền, trèo lên thấy ngọn núi đá nhọn cao trên 100 trượng, người như có cánh bay lên. Trước cảnh sinh tình đề thơ rằng:

Thiên thoải bích thu quải trều diên

Hoa thảo nghênh nhân nhập động môn

Bàng giãn dĩ vô tăng thái dược

Diên lu thăng hửu khách tâm nguyên

Lữ du tư vị cầm tam lộng

Điếu đỉnh sinh nhai tửu nhất tôn

Nghĩ hướng vũ lăng ngư phủ vấn

Tiền lai viễn cận thực đào thôn.

Bạt ngàn cây biếc đón hương trời

Hoa quả mời ta đến động chơi

Sườn núi đã không sư hái thuốc

Bờ khe lại có khách tìm chơi

Lữ hành hứng thú đàn ba phiếm

Ngư phủ say sa rượu một hơi

Định đến vũ lăng tìm bạn hỏi

Thôn đào đâu phải quá xa vời.

Đề thơ xong bồi hồi xúc động ngắm nhìn, bỗng thấy vách đá nứt một lỗ hình tròn nhỏ nhưng có thể chui vào được. Từ Thức chui vào bước được mấy bước thì vách đá khép lại. Hoang mang bối rối, lấy tay xoa vách đá thấy một khe nhỏ cong queo như ruột dê, đi vào mấy dặm chợt thấy ngọn đèn treo trên vách đá, theo đường đi lên vòm bước lên đỉnh núi thấy bầu trời sáng sủa, nhìn quanh đến lâu đài cung các. Mây hồng tuyết trắng bám trên các lan can, hoa đẹp cỏ tươi quấn quýt gần xa, thật là một thâm cung nấu mình trong rừng thẳm.

Lòng Từ Thức lâng lâng trầm ngâm suy nghĩ miên man, bỗng thấy trước mắt hai tiên đồng mặc áo xanh đến thưa rằng: Phu nhân thấy chàng chui vào động nên sai chúng tôi ra đón. Qua đường ngầm nến đỏ có một cửa son đối diện cung ngân trên có bảng đề “Kinh hư điện Gác giao quang”. Trên gác có giường Bát Bảo, chăn trắng, bên cạnh đặt một bình hương nhỏ.

Một người mời Từ Thức ngồi và nói rằng: Chàng là người tốt, đã cưu người ở Hội hoa Mẫu Đơn Tiên Du, hạnh ngộ gặp nhau ở đây chả nhẽ lại quên ư. Từ Thức đáp: Tôi là dật sĩ ở Tống Sơn vui cảnh giang hồ làm sao biết được nơi đây Tử Phủ Thanh đô không hiểu sao tôi như tự sinh cánh mới lên được đây song lòng trần còn man mác, chưa hiểu tiền đồ ra sao. Người tiếp chuyện cười và nói rằng: Đây là động thứ sáu trong ba mươi sáu động. Tôi là Nam nhạc địa tiên Nga phu nhân, thấy chàng có nghĩa lớn hay cứu người bị gian nguy nên mời chàng đến đây, rồi đưa mắt bảo các cô gái gọi Nàng A lại.

Từ Thức lét nhìn mặt mũi thì ra là người ngày trước làm gãy cành hoa mẫu đơn ở huyện Tiên Du.

Tiên Nga chỉ vào Giáng Hương và nói: Đây là con gái của ta tên gọi Giáng Hương. Ngày trước nhờ chàng cứu nạn trong hội xem hoa, ơn nghĩa ấy không bao giờ quên, ngỏ ý muốn kết duyên để báo đáp công ơn chàng ngày trước.

Đêm hôm ấy tại Tiên động lấy mỡ Phượng đốt đèn hành lễ giao duyên, hai người báo đáp lễ thành hôn.

Hôm sau, các Nàng Tiên, người cưỡi Rồng, người ngồi võng Hạc, quần áo lộng lẫy đến nơi tụ tập mở yến tiệc trên Gác giao quang, bước lên gác trang trí nội thất toàn bằng lưu ly hổ phách chưa có ai ngồi. Tiên Nga gọi Kim Tiên quần nữ đến bái rước lên gác tiên, ca nhạc liên hoan. Có một người mạc xiêm y màu lam đến nói: Ta đến đây đã tám vạn năm, nay chàng du hành đến không ngại dương trần cách trở, thoả ước nguyện ba sinh, tưởng không phụ lòng nhau, đừng lấy thần tiên là chuyện hoang đường vậy.

Tiếp sau các tiên đồng chia nhau ca vũ, phu nhân ngồi làm chủ toạ, Giáng Hương chuốc rượi mừng vui. Bỗng có một tiên nữ mặc áo lam đến nói: Cần có một kế ước làm tin, vì sợ sau này lạc nhau trên tiên giới khó mà tìm gặp được nhau. Vì trên đời còn lắm quần nho.

Từ Thức có bộ áy náy trong lòng. Phu nhân nói tiếp: Tìm có thể gặp nhưng khó tìm, đạo không phải tu mà tự đến. Rồi đây đình lớn nhà cao bên sóng vỗ, sự đời diễn biến ra sao chưa thể biết trước. Chàng không nhớ chuyện Lộng Nga với Tiên Sử, Thái Loan gặp Văn Tiên, Lan Đã gặp Trương Thạc. Nhiều chuyện đã ghi chép rõ ràng, đó không phải là tấm gương soi hay sao. Nếu lấy việc hôn nhân làm chuyện đùa thì trước đến nay đều là vui đùa diễu cợt cả.

Chuyện vui đang tiếp diễn thì ánh tà dương xuyên qua cửa sổ, hoàng hôn buông xuống mọi người phân tán đi nơi khác.

Từ Thức vui đùa nói với Giáng Hương: Này duyên Tiên Trần phù hợp tại sao có chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, Tăng Nho – Chu Thái, tại sao lại có thơ Xuân Ngọc – Hoàng Lăng. Tuy cảnh có khác nhau nhưng tình là một. Bây giờ quần tiên đã đi xa, ở đây vắng vẻ mà lòng ta không hứng khởi, muốn hoà hợp với nhau mà tình chẳng động. Giáng Hương đáp lại: Đa số các chàng lấy khí huyền nguyên là một chân tình không thể phung phí cho nên đã lên nơi kim đàn mà thân nơi cửa khuyết, ở phủ Thanh đàn dạo chơi nơi xung hán không cần đèn mà lòng trong sáng, không vất vả mà chẳng động tình. Riêng phận thiếp thất tình chưa rửa sạch cho nên trăm loại tình đâu dễ phát sinh. Theo Châu Tử Mị Thiên Phủ mà lại mang nợ dưới cõi trần, thân trên chốn cung tiên mà lòng vẩn đục dưới trần thế. Mong chàng đừng lấy tự tình của thiếp mà so sánh với quần tiên.

Từ Thức đáp: Nếu đã như vậy thì ta không thể xa nàng được. Cả hai người cùng vỗ tay cười.

Phòng của Giáng Hương có bức bình phong, Từ Thức thường đề thơ. Nghĩ lại người xa nhà đã một năm nên nhiều lúc buồn rầu, đi đứng vội vã bất thường có lúc lại chậm chạp, yếu ớt. Nhiều đêm khí lùa vào cửa sổ, gối rơi khí lạnh cảnh vật chập chờn như ai gọi.

Một hôm nhìn xuống trần gian thấy thuyền bè qua lại đông vui bèn gọi Giáng Hương lại trông và nói rằng: Nhà ta ở đó, hiềm vì trời xa sóng cả nên không rõ đâu là quê hương. Có lúc lại nói với Giáng Hương: Ta là người vui thú với cỏ cây, hoa lá, lòng đa sầu đa cảm, dễ động tình nhớ đến quê hương xin nàng cho ta trở về thăm thú quê nhà, rồi sẽ lên đây cùng nàng sống bên nhau đến trọn đời.

Giáng Hương khóc và trả lời: Thiếp không buồn vì chàng trở lại dương trần, nhưng chỉ lo vì đường đi cách trở khó khăn, vả lại chàng ra đi đã lâu đến nay xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa khó mà nhận ra quê hương làng mạc cũ.

Từ Thức lại nói: Đây là ý nguyện khẩn thiết của ta, nàng hãy giúp ta. Giáng Hương can không được bèn tặng một cỗ xe mây chở chàng đi và trao cho chàng một phong thư, dặn chàng: Mai sau nếu không quên tình cũ, thì hãy xem thư này…nói đoạn rơi lệ tiễn biệt.

Về đến quê hương thì vật đổi, sao rời, xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa, mọi vật đều khác trước, người thân thích họ hàng không còn.

Từ Thức tìm đến các cụ già nói rõ họ tên và tìm hiểu thân thích xa gần, tất cả đều ngơ ngác. Duy chỉ một ông cụ nói: Khi còn nhỏ tôi có nghe ông cụ tổ ba đời của tôi cùng họ tên với ông lạc vào rừng cách đây đã tám mươi năm. Từ triều Trần nay đã chuyển sang Triều Lê. Năm Diên Ninh thứ năm.

Từ Thức vô cùng hối hận muốn trở lên tiên thì cỗ xe mây đã biến thành đám mây bay đi mất. Buồn rầu mở thư xem chỉ thấy Giáng hương ghi “Duyên xưa đã hết”. Nhìn trời biển bao la, Tiên trần cách biệt, hơn nữa dù có gặp lại Giáng Hương thì tình duyên đã hết. Từ chán ngán, mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, đi đến núi Hoàng Sơn (Nông Cống) rồi mất tích.

Truyền thuyết dân gian Từ Thức – Giáng Hương là nét đặc sắc độc đáo của thắng cảnh Từ Thức và cũng là nguồn hấp dẫn, thu hút nhiều khách từ xưa đến nay tới đây để vãn cảnh, đề thơ.

Chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương, một thiên tình sử lãng mạn đầy tính nhân văn sâu sắc.

Tạo hoá, như có một bàn tay siêu thần, có phép màu nhiệm tạo nên bao nhiêu cảnh đẹp như thực, như mơ, lung linh rực rỡ sắc màu vẻ huyền bí, bảng lảng vừa gần, vừa xa ở Bồng lai tiên cảnh, gần gũi đến lạ kỳ như giữa đời thường lúc nào cũng gặp bên ta. Cứ tưởng như khi ta chạm bàn tay vào các cảnh vật là Đá như có sự lay động, như có lời thầm thì của đá.

Trong động, trên vách đá, nóc động, nền động nhiều cảnh thơ mộng bởi thạch nhũ. Các bức “phù điêu”, “tượng” rất thực với đời sống thường ngày của con người, của hạnh phúc lứa đôi, mà cảnh là một tác phẩm kỳ ảo của thiên nhiên lưu lại những kỷ niệm trùng hợp của đôi trai tài, gái sắc.

Khi ta bước vào trong động đến khi thăm hết động, cảnh vật trong động được tạo hoá sắp xếp tuần tự, chỉnh chu như một “bài văn mẫu” kể về chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương.

Động Từ Thức được chia làm 3 động nhỏ: Động ngoài, động giữa và động trong. Hay thường gọi là ba cung.

Động ngoài rộng, trần động hình vòng cung như chiếc bát úp khổng lồ. Phía dưới vòng cung ở giữa động một nhũ đá trông như trái Đào Tiên, nhiều bông hoa Mẫu Đơn, một chiếc áo treo bên cạnh của chàng Từ Thức, một cây bút thần. Trung tâm của động ngoài này là cảnh “Quần Tiên hội ẩm” giữa quần tiên ca múa nhân ngày Từ Thức kết duyên với Giáng Hương là hình ảnh Từ Thức đội mũ cánh chuồn đứng sau nàng Giáng Hương xinh đẹp, đôi lứa đang tràn đầy hạnh phúc.

Bước vào phần động giữa là một thế giới kỳ ảo của nhiều cảnh trí mà chỉ có tạo hoá mới tạo ra được. Đầu tiên chúng ta sẽ thấy những kho Tiền, kho Muối, kho Vàng lấp lánh, thật ngạc nhiên khi ta bắt gặp “Rồng chầu ấp trứng” một con Rồng như phù điêu tuyệt đẹp mà có lẽ “chỉ có trời ” mới tạo ra được đẹp như thế. Rồng uốn lượn đang “co” lại “ấp” trứng, những quả trứng rồng mới đẹp làm sao. Quả tròn, to nhỏ nhiều cỡ, vở quả trứng bên ngoài như quả na vừa vàng, vừa thẫm đen trông thật kỳ thú. Rồi những phiến đá nhũ đá mỏng, màu trắng ngà rủ từ trần xuống-những nhũ đá đó gọi là dàn “đàn đá”, “trống đá”. Bởi vì chỉ cần gõ nhẹ vào những thanh nhũ đá, sẽ nghe âm thanh vang lên với những cung bậc khác nhau. Tiếng trầm hùng như từ ngà xưa vọng lại. Tiếng “kim ” như cao vút tận trời xanh.

Càng vào sâu lòng động càng rộng ra, chúng ta sẽ thấy ngỡ ngàng khi gặp bàn cỗ tam sinh có đủ lợn, trâu, dê…một mâm xôi trên có miếng thịt lợn giống như thật. Rồi những dấu tích về tình yêu của Từ Thức và Giáng Hương như: “Buồng tắm” của Giáng Hương và “thư phòng” của Từ Thức, những Bông hoa, những quả Đào tiên, Vầng trăng và có cả những Đôi chim thạch nhũ, một “Bức triện” được khắc tinh xảo như dấu ấn từ quan của Từ Thức. Đối diện là cảnh Ao bèo, Bụi tre, Quả mít, cây Táo, những con Voi, con Dê… gợi hình tượng quê hương trong sự tưởng nhớ của chàng thư sinh Từ Thức. Ngước lên trần là cảnh Từ Thức cùng Giáng Hương đang “cưỡi Xe mây” du ngoạn Bồng lai Tiên cảnh. Cảnh Từ Thức – Giáng Hương cùng che “lộng Vàng” đọc sách, ngâm thơ. Cảnh những con chim Đại bàng sải cánh rộng bay chao đảo giưa bầu trời rộng mênh mông…Đi tiếp là một ngã rẽ, một ngả theo tương truyền là đường lên cõi Tiên của Từ Thức. Tại đây có quán nghỉ chân bằng đá mà chàng nghỉ suốt dọc hành trình và còn có những mắc treo áo, treo mũ bằng đá. Bên cạnh đường lên Tiên là một ngả rẽ hẻm sâu theo đường xoáy ốc vẫn bí ẩn bao đời nay, nhân dân quen gọi là đường xuống Âm phủ tối đen. (dân ở đó kể rằng khắc dấu vào quả bưởi thả xuống, quả bưởi sẽ trôi ra mãi cửa Thần Phù)

Động Trong: Cảnh Từ Thức từ giã Giáng Hương về thăm quê, một đôi dày của Từ Thức thô sơ như bao đôi dày dân giã, một dãy núi có 5 ngọn núi nhỏ “tựa như Ngũ hành sơn”. Nơi Từ Thức đến những bông hoa mẫu đơn, có một bông thật to rủ xuống bên cạnh ngôi mộ của chàng Từ. (Bông hoa Mẫu đơn, mà nàng Giáng Hương vô ý đã làm gãy cành-Duyên cớ đó cho đôi lứa nên duyên vợ chồng). Phía cuối động có vòm thấp, phải cúi đầu mới vào được đó là “lầu cô lầu cậu” rất linh thiêng, những cặp vợ chồng thường vào đó để cầu tự sinh trai tài, gái sắc.

Ở những thế kỷ trước nhiều thi nhân tới động Bich Đào , tức cảnh sinh tình, những vần thơ “thiên cổ kỳ bút” đã sinh ra từ đây để lại cho hậu thế. Hai câu thơ của cụ Huỳnh Thúc Kháng vịnh về động Bích Đào còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ và trong thi đàn Việt Nam:

“Thơ ngọc vội đưa người viễn khách

Động Bích Đào còn để lại tiếng danh sơn”

Nhà thơ, nhà bác học Lê Quý Đôn, trạng nguyên Nguyễn Thượng Hiền, chua Trịnh Sâm đều sáng tác những vần thơ đẹp ngợi ca động Bích Đào.

Sách “Truyền kỳ mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ dành cả một chương viết về kỳ quan thiên nhiên động Bích Đào và câu chuyện Từ Thức. Tập truyện nôm khuyết danh “Từ Thức tân truyện”, rồi “Từ Thức Tiên hôn” của tác giả Lê Khắc Khuyết viết vào đầu thế kỷ XX và những thế kỷ trước, các sách “Thanh Hoá kỳ thắng”, “Thanh Hoá danh thắng”…đều hết sức ca ngợi động Từ Thức.

Bài thơ của bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726-1784):

Trên đảo bầy Tiên chuyện lạ thường

Bích Đào cửa động quá hoang lương !

Đất trời manh áo đày Từ Thức

Mây nước đôi mày đoạ Giáng Hương !

Trống đá tiếng lay vầng nhật sớm

Muối non vị nhạt đẫm thu sương

Người đời khổ bởi mơ tiên cảnh

Ai biết thiên thai cũng hí trường.

Mờ mịt thần tiên ngất dặm dương

Bích Đào động khẩu dấu thê lương

Áo gai phiêu bạt thân Từ Thức

Mây nước già dăm mặt Giáng Hương

Trống đá nghe khuya lay động sớm

Sương thu chăng đượm cát sa trường

Thiên thai bao kẻ từng xây mộng

Nào biết thiên thai cũng hí trường.

Bài thơ của chúa Trịnh Sâm:

Rời thuyền thừa hứng viếng Từ công

Cửa động y nguyên khoá ánh hồng

Xiêm ráng vách treo rờn gấm vóc

Phượng reo đá gõ vọng cung thương

Duyên tiên từ thủơ ba sinh hẹn

Bể khổ nay đà mấy độ dâng.

Chớ bảo giao trì ngày thấm thoát

Chơi đây nào khác dạo Bồng Lang.

(Nguyễn Hữu Vĩ viết – Hồng Phi phiên âm và dịch)

Bài thơ của Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niên (1886-1955) Tổng đốc Thanh Hoá:

Lâng lâng nhẹ gót viếng Đào Nguyên

Mới rõ trần gian chửa dứt nguyên

Vinh lộc đã cam từ huyện ấn

Ái tình còn nặng lụy duyên tiên

Nghê thường mờ mịt chòm mây sớm

Thạch nhũ đầm đìa bóng nguyệt đêm

Hoạn lộ cười mình về quá muộn

Gặp nhau cửa động mới không nên

Nguồn đào thanh thản bước chân

Tiếc thay lòng vẫn duyên trần đa mang

Đã hay treo ấn từ quan

Ái tình còn lụy mơ màng chốn tiên

Nghê thường óng ả mây xiêm

Trăng soi thạch nhũ hồn đêm ngậm ngùi

Ta chưa về cũng đáng cười

Gặp nhau cửa động khôn lời nói năng.

Lâng lâng nhẹ bước tới Đào Nguyên

Trần thế lòng còn vướng nợ duyên

Danh lợi xem khinh treo ấn tín

Ái tình mang nặng luỵ non tiên

Nghê thường nhuộm vĩ mây chiều xám

Thạch nhũ vương hồn bóng nguyệt đêm.

Về muộn ai cười ta đó tá

Gặp nhau cửa động chẳng hàn huyên.

Động Từ Thức là “Bồng lai, Tiên cảnh”. Thiên nhiên ban tặng cho Nga Sơn.

Câu chuyện tình duyên, thắm nồng và dang dở giữa chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương chỉ là một huyền thoại, nhưng được gắn với cảnh động Từ Thức đã tôn thêm tính hiện thực. Tiên cảnh và trần thế, hư và thực đan xen trong câu chuyện, chứng tỏ chất lãng mạn, lạc quan, yêu cuộc sống là bản tính của dân tộc Việt Nam. Danh thắng động Từ Thức mãi mãi xứng danh với “Danh sơn đệ nhất động” ở trời Nam.

Một thắng cảnh nổi tiếng của Nga Thiện đó là núi Bia Thần, nơi thuở xưa có một mỏm đá nhô ra sông thuyền bè có thể đi luồn dưới gầm núi, trên núi có khắc một chữ “Thần” bằng chữ Hán rất lớn, nét chữ khoẻ mạnh, phóng khoáng, ngạo nghễ và oai nghiêm. Sách “Đại nam nhất thống chí” chép rằng: Tương truyền Lê Thánh Tông là tác giả của đại tự trên. Mới đây nhờ khảo sát kỹ của Hồng Phi và Hương Nao các chữ nhỏ khắc hai bên (đã bị ai đó đục phá), mới phát hiện người đề chữ này là “Nhật Nam Nguyên chủ”, tức là chúa Trịnh Sâm. Chữ “Thần” được khắc ở vị trí núi non hiểm trở này, muốn chứng tỏ rằng nước Nam có thần linh canh giữ, không để những kẻ ngoại xâm vào xâm chiếm.

Điều đặc biệt ở vùng “huyền thoại” và “cổ tích” này nhiều địa danh được gắn với chữ Thần (Thần Phù, Bia Thần, Giếng Thần). Chữ Thần ở núi Bia Thần chỉ độc một to lớn ở xã Nga Thiện và cũng ở Động Bạch Á xã Nga Thiện có tấm bia cổ lớn có độc một chữ “Phật” . Các danh thắng như Động Từ Thức, Núi Bia Thần, Động Bạch Á, Núi Lã Vọng, Giếng Thần, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh…các di tích “dày đặc” ở cùng một xã, mà động Từ Thức là “trung tâm”

3. Động Bạch Á xã Nga Thiện

Động Bạch Á là một thắng cảnh nổi tiếng từ xưa, hay còn được gọi là Động Bạch Ác, Bạch Nha. Động Bạch Á thuộc địa phận làng Tri Thiện xã Nga Thiện. Bạch Á (hay Bạch Nha) nghĩa chữ Hán là “quạ trắng”. Người xưa đặt tên là “quạ trắng” có lẽ bởi vì từ xa nhìn về cửa động trước thấy giống như một con quạ khổng lồ đang dang rộng cánh giữa một khoảng trời rộng lớn màu bạc, đất trong động màu ngà, sông nước bao bọc xung quanh nên moi vật dường như màu trắng.

Ngoài các tên gọi trên Động Bạch Á còn là nơi có rất nhiều dơi cư trú. Vì vậy, từ xưa tới nay, nhân dân địa phương còn gọi động theo tên khác nữa là động Dơi.

Động Bạch Á nằm trong lòng một núi đá đứng độc lập thuộc phía đông bắc huyện Nga Sơn. Núi này thường được gọi là núi Bạch Á (hay Bạch Ác, Bạch Nha).

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây đã được các bậc vua chúa và các danh nhân thưởng ngoạn, đề thơ. Đây là một trong những nơi có cảnh đẹp thiên nhiên ban tặng cho vùng quê này.

Ngoài vẻ đẹp thiên nhiên, động Bạch Á còn có chùa thờ Phật. Đây là một trong những ngôi chùa có niên đại từ rất sớm. Trải qua thời gian tồn tại, nơi đây đã trở thành nơi vãn cảnh, thưởng ngoạn và sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh, khách thập phương.

Hiện tại Động Bạch Á còn lưu giữ rất nhiều hiện vật có giá trị về nhiều mặt như hệ thống tượng đá, tượng gỗ, các điêu khắc hình rồng hai bên bậc lên xuống…Điều đó minh chứng cho sự tồn tại của ngôi chùa cũng như sự phát triển của phật giáo khi du nhập vào nước ta, cũng như về vẻ đẹp của động Bạch Á.

Động Bạch Á là một thắng cảnh đã có từ rất lâu. Xưa kia nơi đây là vùng cửa biển. Sau thời gian được phù sa bồi đắp, vùng đất này đã trở nên bằng phẳng và đông dân cư như ngày nay.

“Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú khi chép về động Bạch Á đã viết: “Động Bạch Nha ở bãi biển huyện Nga Sơn, ngọn núi cao đứng sững lên, giữa núi có động sâu, gắn với động Từ Thức”.

Động Bạch Á nằm trong ngọn núi có độ cao khoảng gần 50m so với mực nước biển. Từ trên ngọn núi này chúng ta có thể quan sát cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của vùng đông bắc huyện Nga Sơn một cách rõ ràng.

Để vào động Bạch Á có bốn lối theo bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Các lối vào phía đông và phía nam nằm cao trên lưng chừng động nên ít được sử dụng ra vào, chủ yếu chỉ sử dụng hai lối phía tây và phía bắc, phía tây là cửa ra vào chính phía bắc là lối đi phụ.

Từ phía tây vào , chúng ta phải đi tử dưới lên trên cao khoảng 7m để vào động bằng các bậc lên xuống. Hai bên lối lên xuống là 6 con rồng bằng đá nguyên khối (4 con lớn, 2 con nhỏ).

Tiếp đến là cổng tam quan được xây dựng bằng gạch vữa. Phía trong là sân rộng lớn. Giữa sân đặt tượng Quan Âm Bồ tát.

Tiếp giáp với sân là cửa động rộng, cao thoáng mát. Phía trên của động có khắc 3 tấm bia Ma Nhai.

Qua cửa động vào bên trong được chia thành 3 cung với kích thước khác nhau đều rộng rãi và cao ráo.

Từ cung trong cùng được mở rộng ra hai phía bắc và phía nam khoảng không rộng rãi thông ra ngoài bằng hai cửa nhỏ, cửa phía bắc và cửa phía nam. Tại các vị trí này đều có dấu vết của nền móng xây dựng cũ (có thể đây là nhà chính tẩm cũ). Phía sau được thông ra ngoài bởi một lối nhỏ, phía trên cao hơn so với nền khoảng 4m.

Nhờ có 4 cửa thông nhau nên trong động quanh năm luôn thoáng đãng, khô ráo và mát mẻ. Trên vách động không có nhiều nhũ đá như những động khác, ở phía đông động có một hình “được vẽ” và “tô đắp” như hình Giáng Hương dang đôi cánh bay xuống du ngoạn động này.

Động Bạch Á còn là nơi lưu giữ rất nhiều tượng điêu khắc bằng đá, bia như: Tượng Vũ Sĩ, tượng Phật, tượng Rồng được chạm khắc công phu trên những phiến đá tảng lớn, các bia…

Sách xưa cho biết, trước cửa động có một tấm bia rất lớn từ thế kỷ XII thời Lý đặt trên lưng rùa, nhưng sau này bị mất. May mắn, mới đây đã tìm lại được tấm bia này, đó là bia chữ “Phật”. Bia hình chữ nhật, kích thước cao 1.83m (trán bia hình bán nguyệt, cao 0.26m, đế cao 0.2m). Trên trán bia có khắc tám chữ triện, được giáo sư Hà Văn Tấn dịch là: “Trùng tu Diên Linh chân giáo tự bi” (Bia trùng tu chùa Diên Linh chân giáo). Phải chăng “Diên Linh chân giáo” là tên chữ của ngôi chùa ?. Xung quanh cả 4 mặt đều chạm khắc hoa văn, cành lá, hình rồng thời Lý rất tinh xảo. Nhưng một số chữ đã bị bào mòn, trong đó có niên đại của tấm bia.

Đặc biệt ở động này còn có các tấm bia ma nhai, là nơi lưu giữ được các bút tích của các bậc vua chúa đề thơ ở đây. Trong đó có các bài thơ chữ Hán của các vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Chúa Trịnh Sâm.

Năm 1467, vua Lê Thánh Tông đã dùng thuyền thăm thắng cảnh Bạch Á, sáng tác thơ khắc trước cửa động:

” Ngàn non xanh biếc tựa tầng không

Chùa cổ hang mây quá mịt mùng

Trời nhẹ khí lành xuân bóng toả

Tiết đầy sắc thắm gió không rung

Sau buổi hồng hoang trời đất mở

Trong khuôn tạo hoá quỷ thần thông

Ơn chị Oa Hoàng dành chỗ đẹp

Để ta ghi lại thái bình công”

44 năm sau, Lê Tương Dực cũng tới đây vãn cảnh, cảm hứng sáng tác hai bài thơ khắc trong động có những câu thơ sau ca ngợi vẻ đẹp của thắng cảnh Bạch Á.

” Nghìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mâu qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió êm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Nữ Oa dành lại đó mà

Để ghi công đức triều ta thái bình”

“Nguy nga núi đá điệp trùng trùng

Dấn bước lên cao cảm hứng nồng

Muôn vạn sóng xanh vờn ánh nhật

Một bầu cỏ biếc giỡn xuân phong

Khói mây mờ mịt xa vời ngắm

Hoa cỏ âm thầm thấp thoáng trông

Cảnh trí bút nào mô tả nổi

Lung linh trước mắt đẹp vô cùng”

“Chon von núi cổ điệp trùng trùng

Lên tới non cao thi tứ nồng

Cờ phướn phất phơ vờn ánh nhật

Xiêm đai rực rỡ giỡn xuân phong

Sấm rền vang dội kình vài tiếng

Hoa rực sáng bừng đuốc mấy bông

Cảnh vật bầu trời đầy trước mắt

Cõi Nam cảnh trí đẹp vô cùng”

(Hồng Phi phiên âm, dịch theo bản khắc trên vách động)

Phía trên hai bút tích này là bài thơ Đường luật của Nhật Nam nguyên chủ tức Chúa Trịnh Sâm:

“Động bày riêng chiếm một càn khôn

Chót vót vòm cao núi độc tôn

Vách đá trong ngoài xây lớp lớp

Cửa mây đôi mặt hướng tây đông

Bia hàn khói toả chùa sâu thẳm

Khánh cổ gió lùa xa xóm thôn

Đai ngọc vòng quanh ta thưởng ngoạn

Càn chi ra đó viếng Đào nguyên”

(Hồng Phi phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ)

“Cảnh bày riêng một cõi kiền khôn

Cao chọc vòm trời thế độc tôn

Đá biếc bao từng xây động núi

Cửa mây bốn mặt dựng sườn non

Móc phong bia lạnh nơi chùa thẳm

Gió thổi phương xa tiếng khánh dồn

Đai ngọc vòng quanh trông ngoạn mục

Đào nguyên ngoài đó chẳng đâu còn”

(Tố Nguyên – Nguyễn Thọ Dực dịch)

Ở chính giữa động còn hai bài thơ Đường luật của vua Lê Hiếu Tông.

I. “Thuyền rồng đưa khách thuận buồm dong

Đến viếng Bỗu tiên cảnh thắm hồng

Ngao gắng sức nâng Thiên Phủ quốc

Thu triều xa đỡ Thuỷ Tinh cung

Song cao khoá kín vân hà lặng

Cửa phật treo cao tục lợi không

Những sợ sơn hà không thắng cảnh

Quân vương thi tứ bỗng thêm nồng.”

II. “Hoa non như gấm, cỏ như chăn

Thượng giới chuông rền, đôi phía vang

Cửa động hương xuân bày bướm lượn

Bờ sông nắng ấm áng mây vần

Há không thành kính gìn tâm Phật

Nên xét lò than chống diễn văn

Muôn dặm Tây kinh cờ trở lại

Tạm dừng dưới núi trú ba quân ”

(Hồng Phi – Hương Nao dịch)

Động Bạch Á là một thắng cảnh có giá trị rất lớn về nhiều mặt mỹ thuật, lịch sử, văn hoá và du lịch. Động Bạch Á đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, năm trong khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh. Đồng thời là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh.

Động còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ có giá trị rất lớn như: Tượng cổ bằng gỗ, các tượng phật, tượng quan hầu, tượng rồng bằng đá…thể hiện phong cách nghệ thuật điêu khắc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.

Nơi đây cũng đã lưu giữ nhiều những tác phẩm thi ca đã được nhiều thi nhân thưởng thức và thán phục.

Núi Lã Vọng người dân nơi đây thường quen gọi là núi Lão Vọng (Ông lão ngồi câu cá). Từ bên này Động Từ Thức leo qua Eo “Đầu Lợn” sang bên kia, đi dọc cánh đồng của làng Hoàng Cương chừng gần 200m, ngoảnh mặt nhìn hướng đông có một hòn núi mà trên đỉnh núi có một ông già đang ngồi mặt nhìn hướng đông, nét mặt “đăm chiêu” như đang chứng kiến bao cảnh thăng trầm, bao sự biến thiên của lịch sử. (Cũng nhìn chếch về hướng đông bên kia sông Hoạt Giang là núi Bia Thần). Tương truyền núi Lã Vọng được gắn với câu chuyện đạo sĩ họ La tên Viện. Chuyện kể rằng: Theo truyền thuyết và sử cũ thì năm 1044, vua Lý Thánh Tông đi đánh quân Chiêm Thành, khi đến cửa Thần Phù gặp mưa to, gió lớn thuyền không qua được Bỗng trên núi có một người tự xưng họ La tên Viện tâu với Vua rằng: “Thần sẽ giúp nhà Vua thoát qua cửa biển Thần Phù”. Nhà Vua cho mời đạo sĩ xuống thuyền. Quả nhiên khi đạo sĩ ngồi ở mũi thuyền thì sóng yên, biển lặng. Khi thắng trận trở về, vị đạo sĩ họ La đã mất, nhà vua biết ơn cho lập đền thờ ở chân núi Đường Trèo ( xã Nga An) và phong “áp lãng chân nhân tôn thần” (Người có công đè sóng giúp vua được tôn thành thần)

Non nước Thần Phù vừa linh thiêng, u minh vừa nên thơ.

“Núi vút ngàn trùng non dựng đứng

Rắn bò một giải nước quanh đi”

Đây là một địa danh lịch sử xa xưa gắn với nhiều truyền thuyết, thực chất là một vùng đất nằm ở hai bên cửa biển cũ, nay đã lùi xa trong đất liền hơn 10km. Cửa biển Thần Phù hiện thuộc ranh giới giữa hai xã Yên Lâm huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình và xã Nga Điền,Nga Sơn, Thanh Hoá.

Cửa biển Thần Phù ngày xưa là một cửa biển sóng to, nước giữ nên ca dao Việt Nam đã có câu:

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Thần Phù và vùng cửa biển Thần Phù cũng là một địa danh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam về các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Năm 40 SCN, Lê Thị Hoa – nữ tướng của Hai Bà Trưng đã tổ chức quân đội, phất cao ngọn cờ độc lập chống lại sự tấn công của lão tường Mã Viện.

Vào cuối thế kỷ X, khi vua Đinh Tiên Hoàn vừa mới mất (năm 979), Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn là nhiếp chính. Phò mã Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm tiến ra Hoa Lư đánh nhà Đinh. Nhưng vừa tới cửa Tiểu Khang (cửa Thần Phù) thì bị gió bão đánh chìm. Ngô Nhật Khánh chết đuối, chúa Chiêm may mắn thoát nạn.

Dưới thời Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 (năm 1285), thượng tướng thái sư Trần Quang Khải đã lập một phòng tuyến ở đây để chặn đánh 10 vạn quân Toa Đô từ phía nam (Chăm Pa) đánh ra, đập tan kế hoạch trong đánh ra, ngoài đánh vào của viên tướng tổng chỉ huy Thoát Hoan.

Năm thứ 7 đời Xương Phù(1388), triều vua Trần Hiệu Đế (1377-1388), tướng Nguyền Đa Phương và Hồ Quý Ly đã đánh cho quân Chăm một trận thất bại nặng nề, buộc chúng phải tháo chạy về nước.

Với những giá trị trên, cửa biển Thần Phù cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của huyện Nga Sơn. Đến với cửa biển Thần Phù, chúng ta không chỉ được hiểu biết thêm về lịch sử đấu tranh anh dũng của ông cha ta, mà còn được ngắm phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp mà tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất Nga Sơn.

Cửa biển Thần Phù không chỉ ghi dấu nhiều chiến công của ông cha ta mà còn có những cảnh đẹp đó là động Lục Vân- theo nghĩa là động có sáu tầng mây – động bên Sông Hoạt từ bờ sông leo lên cửa động chừng 20m đường thoai thoải dễ đi. Nhìn bên ngoài động hình vòng tròn như miệng con rồng lớn. Vào trong động, ngay cửa động ở trên vách đá có hình một bên hình con rồng màu vàng đang cuốn mình nhô ra cửa động. Một bên hình con Hổ màu vàng đen cũng đang nhìn ra cửa động. Ngoài cái tên động Lục Vân dân ở đây còn gọi là động “Rồng Hổ tranh quang” vào sâu trong động phải men theo các tầng mây để tìm hiểu thăm thú. Càng vào trong động càng rộng, du khách có cảm giác như đi trên các “tầng mây” có tầng mây rộng thoáng đủ cho cả 5-7 chục người đứng ngắm cảnh.

Năm 1771 chúa Trịnh Sâm đã dừng chân thưởng ngoạn đêm trăng và cảm hứng đề thơ lên vách núi, đến nay vẫn còn:

“Gió đưa, thuyền dâng trăng sáng trôi

Lênh đênh chiếc lá thuận dòng chơi

Làn sông ngấm biếc bèo đôi phía

Rặng núi hang xanh bóng giữa vời

Thấp thoáng mây xanh am cổ hiện

Thập thình chày ngọc giọt thu rơi…”.

Xưa kia trước động có chùa và những điêu khắc chạm trổ trực tiếp lên đá núi. Nhưng hiện nay không còn, chỉ còn thấy một số bút tích chữ Hán của người xưa đến vãn cảnh để lại trong và ngoài động. Trong số đó, có thơ của vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Hoàng giáp Ngô Thị Sĩ (1726-1780), đứng trước cửa động, ngắm nhìn núi non, sông nước hữu tình, và các bài thơ của các thi nhân khắc trên vách đá thì trong lòng cảm thấy xốn sang man mát:

” Khe núi bóng tà hoa lấp lánh

Hàng dương xuân đến điểm râm ran

Suối trong rửa lòng tê tái

Nhà tối đèn treo mộng rảnh rang…”

” Mặt đất chung cùng đôi nhật nguyệt

Bầu tiên riêng chiếm một càn khôn

Chén trôi bóng ngọc theo dòng nước

Đá hoá bầy dê rải động mòn

Cửa chống trời dành riêng có ý

Để trời đêm gắm ánh chiều tuôn”

“Thìên quang bát ngát ngọc xuyên sơn

Ngạo nghễ tầng non giữa thủ yên

Muôn dặm quan hà xa dã ngoại

Một bầu trời hoa có rực quang tiền

Mây già thấp thoáng vui chiêm ngưỡng

Chiếm cả bầu tiên xuân vũ trụ

Thi nhân thêm đẹp thái bình niên”

(Hồng Phi dịch theo bản khắc trên đá)

Động Lục Vân có sức hấp dẫn đối với những nam thanh, nữ tú. Họ thường rủ nhau “leo lên” các tầng mây, những ngọn nến lung linh, ánh sáng huyền ảo càng làm cho cảnh đẹp động Lục Vân thêm thơ mộng, thần tiên.

Đây là một ngọn núi được xem như chiếc cọc tiêu định hướng cho thuyền bè đi lại trên cửa biển Thần Phù xưa kia. Ngọn núi này thuộc thôn Văn Đức xã Nga Phú. Núi Chích Trợ hay thường gọi là núi Chiếc Đũa, núi được tạo nên bởi các phiến đá phẳng cạnh, vuông góc xếp chồng lên nhau, cao khoảng 300-400m, nằm trơ trọi giữa cánh đồng lúa . Xưa kia vùng này còn là biển cả mênh mông, nhiều vua chúa, danh nho Việt Nam đã qua đây, dừng thuyền lên núi thưởng ngoạn và sáng tác thơ văn ca ngợi. Hiện ở vách núi phía bắc còn thấy bài thơ chữ Hán của vua Lê Hiếu Tông vào mùa xuân năm Cảnh Thống thứ tư (1501) và bài thơ của chúa Trịnh Sâm sáng tác vào tháng 2 năm Tân Mão (1771). Những bài thơ của các tác giả đã thể hiện cảm hứng của mình trước cảnh đẹp hùng vĩ của thắng cảnh “Chích Trợ sơn”:

“Vin mây ngồi ngóng sóng triều tuôn

Sừng sững giữa dòng dễ mấy non

Đâu Suất trời tây trên mặt nước

Bồng Lai phía trái tại nhân gian

Sáu ngao đứng vững bền khuôn đất

Muôn ngọn xô vào biển rộng hơn

Vây dựng sóng kình nay đã bặt

Anh hùng như thấy tiểu trần hoàn.”

(Thơ của vua Lê Hiếu Tông – Hồng Phi dịch)

“Bát ngát trông vời biển sắc thâu

Trời đen Chích Trợ chắn dòng sâu

Một mình sừng sững nâng ngao cực

Ai dán nghênh ngang ép thẩn lâu ?

Hơn chục biển bờ nêu trụ đá

Ba ngàn cõi thế dáng tiên châu

Ôm non vượt biển anh hùng chí

Thủa trước nào ta có nghĩ đâu.”

(Thơ của chúa Trịnh Sâm – Hồng Phi dịch)

Núi Chích Trợ có một hang nhỏ xuyên từ bên này sang bên kia chân núi, có thể dễ dàng chui qua mà không cần phải đi vòng. Nếu trèo lên đỉnh núi phóng tầm mắt ra bốn phía ruộng đồng, sông biển sẽ thấy hết được những cảnh đẹp, những điều thú vị và sẽ thây thoải mái , thấy yêu quê hương mình.

Đi từ xa ngắm nhìn Chích Trợ sơn thì thấy ngọn núi này không giống như chiếc đũa chút nào, mà hình giáng như một toà sen nơi cửa Phật. Bởi thế, từ thế kỷ thứ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn đã có những câu thơ nhận xét:

“Viễn chiêm chinh tự liên hoa toạ

Hà dự danh vi Chích Trợ sơn “…

( Xa xem như thể toà sen biếc

“Chiếc đũa” tên này bởi tại sao?…)

Dọc theo sông Hoạt, từ cửa “Thần Phù” xuôi về phía tây chừng hơn 1km chúng ta sẽ gặp núi “Rồng Hổ tranh ngọc” và bên trong ngọn núi là thung lũng rộng chừng cả vài ha, phía cuối thung lũng là chùa Trúc Lâm.

Người xưa kể lại rằng: Non nước Thần Phù, cảnh vật “Sơn thuỷ hữu tình” lại vô cùng thiêng liêng. Trên núi có Hổ là chúa tể sơn lâm, dưới sông nước có Rồng là chúa tể muôn loài. Ngọc Hoàng nhiều lần xuống hạ giới để thăm thú cảnh Thần Phù, Người muốn ban tặng cho Thần Phù một báu vật là “Viên ngọc quý” và rất linh nghiệm. Vừa là “quà tặng” cho một nơi “Sơn thuỷ hữu tình” vừa để “Viên ngọc quý” có phép thuật linh nghiệm giúp dân qua cửa Thần Phù.

Rồng và Hổ cả hai “chúa tể” đều muốn nhận vật quý của Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng phân vân chưa biết giao “viên ngọc quý” cho chúa tể nào vì cả hai đều tài giỏi, kẻ trên núi cao, kẻ dưới sông nước. Một vị thần tâu với Ngọc Hoàng rằng: Bẩm Ngọc Hoàng – Người hãy tung Viên ngọc quý ấy xuống trần gian, chúa tể nào lấy được thì giao cho chúa tể đó. Ngọc Hoàng cho là phải bèn “tung” Viên Ngọc quý đó xuống trần gian. Cả hai “chúa tể” tranh nhau, trổ hết tài nghệ để giành lấy vật báu. Cuộc tranh giành diễn ra nhiều ngày. Rồi đến một hôm Viên Ngọc rơi đến “thung” chùa Trúc Lâm. Bên cạnh thung gần sông Thần Phù, Viên Ngọc rơi xuống sông, cả Hổ và Rồng đều lao xuống nước để “mò” Viên Ngọc quý. Cuối cùng Rồng đã dành được.

Thần Phù là nơi núi non hiểm trở, nhưng cũng là nơi biển rộng, sông sâu, sóng to gió lớn, dân trong nam ra bắc và bắc vào nam từ xa xưa đều đi thuyền qua nơi này vì vậy “ý trời” là muốn giao Viên Ngọc quý cho chúa tể Rồng để giúp dân, giúp nước.

Núi “Rồng Hổ tranh ngọc” hiện còn ở xã Nga Điền – phía tây ngọn núi là hình vị chúa tể Hổ. Phía đông ngọn núi là hình vị chúa tể Rồng. Trong miệng Rồng đang ngậm “Viên Ngọc quý”. Hình núi tạo ra hai vị chúa tể nhìn giống như thật, ở giữa quả núi nơi hai vị chúa tể đang nhìn nhau “một bên tỏ ra tức giận, tiếc nuối, một bên tỏ ra vui vẻ, mãn nguyện”. Dưới cái khoảng không của núi đó là một “thung lũng” khá rộng và bằng phẳng – có nhiều hòn đá nằm rải rác, trong thung có hòn giống con Rùa, có hình giống con Hổ, con Rồng, con Dê, con Cá,…trước cửa thung lũng là hai ngọn núi “chạm đầu” vào nhau tạo ra một cửa nhỏ chỉ đủ cho một người đi qua, ai đi qua cũng phải “cúi đầu” mới vào được bên trong. (Một khách của Tây Ban Nha – tìm hiểu vùng “Thần Phù” rất ngạc nhiên, tò mò và thích thú phát hiện ra cái “kỳ lạ” của hai hòn “đá núi” ở đây). Không giống nhiều đá ở nơi khác, đá núi ở đây giống như “xi măng bỏ quên” của mấy ông thợ xây: Các viên đá nhỏ nhưng liên kết với nhau rất vững chắc.

Trong cùng của thung lũng là ngôi chùa cổ. Dưới chân ngôi chùa cổ rất nhiều hòn đá cả to, cả nhỏ đều giống hình con rùa. Giáo sư – Phó tiến sĩ Hà Đình Đức người được coi là “nhà nghiên cứu Rùa” khi đến thăm nơi đây đã thốt lên: “Ở vùng Thần Phù này sao nhiều Rùa thế”.

Chùa nơi đây có cái tên là Chùa Trúc Lâm (có lẽ xưa ở thung lũng này có nhiều tre, trúc ?). Chùa toạ ở dưới một cái hang khá rộng. Trong chùa có nhiều tượng phật (dân địa phương nói: Sau chùa có một con đường nhỏ có thể đi qua để sang bên Ninh Bình).

Cảnh đẹp, chùa thiêng nên thường có nhiều khách đến tham quan vào những ngày rằm tháng giêng cả mấy trăm người từ Ninh Bình đem theo lều trại, thức ăn, nước uống các tư trang cần thiết vào “cắm trại” ở khu “thung lũng” của ngôi chùa này vừa để vui chơi thưởng ngoạn, vừa để thắp hương cầu nguỵên cho một năm mới mọi điều an lành.

6. Chùa Vân Lỗi xã Nga Lĩnh

Người dân Nga Sơn có câu ca:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm Tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

Chùa Sỏi tức là chùa Vân Lỗi, chùa Sùng Nguyêm hay chùa Vân Hoàn (Vân là mây, hoàn là tụ lại. Vì có nhiều mây màu sắc rực rỡ tụ lại, nên cảnh chùa càng đẹp càng lung linh bởi thế mà có nhiều nàng Tiên giáng xuống để du ngoạn). Chùa Sỏi bởi trước đây nằm ở làng Sỏi, có cả hồ Đồng Sỏi. Về sau làng Sỏi đổi tên thành làng Vân Hoàn nên chùa Sỏi cũng đổi tên là chùa Vân Hoàn.

Chùa Vân Lỗi được toạ lạc trên núi Vân Nham, chùa nằm ở lưng chừng núi, cách mặt đất chừng 20m, trên nóc mái chùa là hang động cao, những thạch nhũ “thả xuống” treo lơ lửng làm cho cảnh chùa càng huyền ảo nên thơ:

“Đông có xóm làng cửa nhà đông đúc, có thể làm nơi phú quý giàu sang.

Nam gần sông dài chảy ra cửa biển khơi có thể làm chốn mênh mông cho thế giới.

Tây có kinh mạch lạc len lỏi đến hương Đại Lỵ, núi Ma Ni có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện.

Bắc kề đường lớn, ăn thông với cửa biển Thần Đầu có thể làm nơi nghỉ đáng tin cho kẻ qua người lại” (Sách đd trang 137)

Xưa kia có một tảng đá lớn nhô ra, như mái hiên nhà che cho chùa. Đứng ở chùa gió nam thổi lồng lộng, hương hoa lá cỏ cây thơm ngào ngạt, cảm giác thật sảng khoái, thanh tao.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” thế kỷ XIX miêu tả “Lên núi trông ra ngoài cửa biển Bạch Câu thì thấy chim biển, thuyền buồm hiện ra trước mắt”.

Ninh Tốn (1743-1790) là tiến sĩ làm quan dưới triều Lê-Trịnh nổi tiếng thơ văn khi đến vãn cảnh chùa có bài ký:

” Kìa núi xanh rậm mà vút lên thẳng đứng như bức bình phong ngọc, lại như trướng gấm thế kia…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của núi Vân Lỗi ư? Phía trước núi là dòng sông lớn, triều dâng sóng cuộn, lồng lộng vòng eo, thuỷ triều lên xuống sớm chiều nhiều vẻ…Đó chẳng phải là cái hùng tráng, dũng mãnh của dòng sông bên sườn Vân Lỗi kia ư? Giữa eo núi hương thơm sắc toả, mịt mùng như móc như mây, lại như lầu gác cô đơn mà cao vút lên, thấp thoáng trong mây, lúc ẩn lúc hiện…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của chùa Vân Lỗi này ư?

Sao cảnh trí nơi đây xưa kia u ám mà ngày nay lại vui tươi nhộn nhịp thế này. Phải chăng cảnh vật cũng có thời bĩ thái?

Ôi! từ khi có vũ trụ, liền có giang san. Núi cao vút thế này và dòng sông cuồn cuộn thế kia, đâu phải chỉ ngày nay mà không biết chúng đã trải qua bao lần hoa khai lá rụng mới có lần này dương mi ngước mắt, để được nhìn, được nói, há lại chịu nhường phần cho những giai thắng như Lục Vân Bạch Á, mà chẳng xếp chúng vào cùng loạilãm xảo của tạo hoá có từ hàng trăm ngàn năm về trước ư?

(Những bút tích Hán-Nôm hiện còn ở các hang động, vách núi đá xứ Thanh – NXB Giáo dục Võ Hồng Phi, Hương Nao năm 2007)

Trước chùa có Phật Quan Thế Âm bồ tát, bên cạnh chùa một chân dung toàn thân vị sư khắc trên vách núi đường nét thần tình, màu sắc rực rỡ tươi sáng, khiến ai nhì cũng tưởng người thật. Vị sư khắc trên vách núi chính là chân dung vị sư trụ trì ở chùa Vân Lỗi này có tên là Thích Từ Di Nguyễn Phúc Công, tự Hụê Xúc, đạo hiệu Vĩnh Toàn Thiền Sư.

Chùa Vân Lỗi có nhiều tấm bia ký (trước đây có tới hơn chục bia) nay còn lại 5 bia. Trong đó đặc biệt có tấm bia ký của danh nho nổi tiếng Phạm Sư Mạnh, đời Trần thế kỷ thứ XIV và tấm bia ký của Tĩnh Vương Trịnh Sâm.

Bài của Phạm Sư Mạnh:

“Đây núi Vân Lỗi

Am sát ven sông

Ai người tạo dựng

Hoàn hảo vô cùng

Giúp kẻ sống chết

Ngàn năm phúc chung

Đức lớn rũ lòng

Chúng sinh cứu vớt

Trên dẫn bến mê

Dưới đưa cõi sống

Người người phấn chấn

Chốn chốn nghe danh

Đạo huyền sâu sắc

Biết đâu là cùng

Tìm về cõi thực

Thoát chốn trần tục

Thần hồn mung lung

Nét vàng thêm sắc

Hiển hiện sáng trưng

Thần non phù trợ

Tín đồ cúng dâng

Ngày đêm không ngót

Khắp chốn giàu sang

Lời này minh ấy

Rạng trang sử vàng”

Bài thơ của Tĩnh Vương Trịnh Sâm:

“Danh thắng nêu cao đệ nhất châu

Dáng non như mực nước như dầu

Am mây nửa khép mong huyền hạc

Bãi cát dường ngăn cợt bạch âu

Nẻo tuyết tiều men chân đá cứng

Đường sao khách vượt bước nghềnh sâu

Cao trông sóng cuộn theo tầm mắt

Trời đất mênh mang một sắc thâu”

Bài thơ của Ninh Tốn:

“Châu Ái lắm kỳ quan

Trong số có Vân Nham

Núi xanh ngôi chùa ẩn

Vách đá chữ vua ban

Non cao xa hướng lại

Nước bạc lượn quanh ngang

Cỏ cây xưa nay đủ

Sông núi tự bận nhàn

Trèo lên phóng tầm mắt

Trong mình mây ngàn”

Chùa Vân Lỗi – Chùa Vân Hoàn là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng, chùa Vân Lỗi cũng rất linh thiêng, nơi đây cũng ghi lại dấu tích của mặt trận quyết chiến thời Trần. Khi quân Nguyễn chia làm ba hướng tấn công vào Thăng Long, một hướng từ phía bắc kéo đến, một hướng từ phía biển kéo vào, một hướng từ phía nam do tướng Toa Đô kéo ra. Trận quyết chiến giữa quân Toa Đô và quân Trần do Thái sư Trần Quang Khải chỉ huy đã diễn ra ở khu vực sông Lèn. Bên kia sông Lèn là xã Quang Lộc (Hậu Lộc ngày nay), bên này là xã Nga Lĩnh, Nga Thạch bây giờ. Xác giặc chết ngổn ngang, máu chảy đỏ cả dòng sông (vì vậy đoạn sông xã Nga Thạch còn gọi là sông Thắm). Sau khi chiến thắng quân Nguyên lần thứ III Hoàng thái hậu nhà Trần về chùa Vân Lỗi làm lễ cầu siêu cho các vong hồn của cả quân Nguyên và quân Trần được siêu thoát. Dân làng Vân Hoàn cũng kéo đến rất đông và “sáng tác” trò diễn “Bát man” (Giết chết 8 tên tướng giặc) để mua vui cho Hoàng thái hậu.

Tương truyền có một vị quan ở Tàu, vì tuổi cao mà vợ vẫn không sinh được con để nối dõi tông đường, vị quan đó đã đến chùa Vân Lỗi (là một trong 6 ngôi chùa thiêng ở nươc Nam) để cầu tự. Sau đó ông sinh được con sống ở đó cho đến khi chết.Trên đỉnh núi Vân Hoàn có một cái hang, không rộng lắm nhưng rất sâu người dân nối nhiều sợi dây thưng buộc hòn đá vào đầu dây thả mãi, thả mãi hòn đá xuống nhưng không chạm đất bao giờ. Người dân Vân Hoàn kể lại cứ hàng năm vào dịp đầu năm hoặc một con bò, hoặc một con dê lăn xuống đó để tế thần núi.

Chùa Vân Lỗi rất linh thiêng, những ngày mừng một, rằm, ngày tết, lễ hội rất đông dân ở khắp vùng đến thờ cúng mong mọi điều tốt lành. Đặc biệt vào ngày lễ hội nhân dân làng Vân Hoàn lại tổ chức lễ hội, khách thập phương nhiều tỉnh thành kéo về rất đông.

7. Các di tích lịch sử văn hoá

Đây là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng của huyện Nga Sơn, có rất nhiều người đã biết đến địa danh Ba Đình này. Chiến khu Ba Đình nằm ở xã Ba Đình, cách thị trấn Nga Sơn khoảng 4km về phía tây bắc. Trước đây, chiến khu này là một khu thành luỹ nằm trong vùng ngập nước, bùn lầy của ba làng: Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê. Vào mùa mưa, căn cứ này như một hòn đảo nổi lên giữa cánh đồng nước mênh mông cách biệt giữa các làng khác. Chiến khu này có tên là Ba Đình và mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia. Tại đây đã diễn ra cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cuộc khởi nghĩa này do Đinh Công Tráng, Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt lãnh đạo. Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là luỹ tre vững chắc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Ở trong là một lớp đất cao 3m, chân rộng 8-10m. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai sẵn sang chiến đấu. Thành rộng 400m, dài 1200m. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc, ở hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ “chi”, nhằm hạn chế thương vong. Ở mỗi làng, tại vị trí ngôi đình được xây dựng một đồn đóng quân. ở Thượng Thọ có đồn Thượng, ở Mậu Thịnh có đồn Trung, ở Mỹ Khê có đồn Hạ. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến với nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độc lập. Có thể nói rằng ăn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình đã diễn ra rất ác liệt, thực dân Pháp lúc đó đã phải huy động rất nhiều binh linh để đánh phá căn cứ này.

Cuộc khởi nghĩ Ba Đình và lãnh tụ Đinh Công Tráng được lịch sử đánh giá rất cao. Chính người Pháp cũng phải công nhận rằng: “1886-1887, cuộc công hãn Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất”.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh sau này đã chọn cái tên Ba Đình để đặt tên cho quảng trương Ba Đình, nơi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Chiến khu này đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Đến thăm chiến khu Ba Đình, chúng ta không chỉ hiểu thêm được lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta mà chúng ta còn tự hào về ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam ta. Di tích lịch sử chiến khu Ba Đình đang được đầu tư để tôn tạo xây dựng để xứng đáng là một di tích lịch sử quốc gia. Hằng năm, cứ vào dịp 26 tháng 11 nhân dân Nga Sơn nói chung, nhân dân Ba Đình nói riêng lại tổ chức “lễ hội” Ba Đình. Nhiều năm lễ hội Ba Đình được tổ chức với quy mô cấp tỉnh hoành tráng thu hút hàng vạn khách đến tham dự.

Di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia chùa Thạch Tuyền thuộc thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn.

Bản thần phả được lưu giữ tại đền Trung (Nga Thạch), do quan Hàn lâm viện đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1672 ghi rõ về hai sự kiện quan trọng trên đất Nga Thạch. Đó là vào năm Nguyên Phong thứ nhất(1251) đê sông Lèn bị vỡ, lượng nước mưa rất lớn, mùa màng mất hết, nhân dân lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, bệnh dịch phát sinh, vua Trần Thái Tông đã về đất Nga Thạch chỉ huy quân dân hàn đê cứu dân(Thần Phả đền Trung). Ngày nay, quanh khu vực đồng bằng thuộc khu vực sông Lèn còn nhiều ao hồ, là vết tích của những trận lũ lụt trong các thế kỷ trước. Sau trận lũ lụt, vua Trần Thánh Tông cho xây dựng chùa, đền ở Nga Thạch, để tạ ơn phật thánh đã phù hộ cho việc cứa dân.

Sau trận lũ lụt, vua Trần đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh phương Nam, trên đường hành quân :”…nhà vua Trần đi đến đất khu Đạc Châu, Vạn Bảo, Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, thì thấy trong không trung gió mây bay từ Đông về Tây, vua Trần cho là trước kia đã có linh thiêng( trận lụt năm 1251), phù hộ, bèn bí mật cầu nguyện”(thần phả- tài liệu đã dẫn).

Tiếp đến các sự kiện vào năm 1382-1389, quân chiêm Thành đánh vào Thanh Hoá, quân đội nhà Trần đóng ở Hàm Rồng. Hải quân đóng ở cửa biển Thàn Đầu, Nga Thạch nằm trong tuýen phòng thủ chống giặc.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược, triều đình nhà Trần đã rút lui theo đường biển qua hải phận Nga Thạch- Nga Sơn (1285).

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc giệt giặc Thanh (1877), đóng quân tại phòng tuyến dãy Tam Điệp và đảo Biện Sơn thuộc địa phận và hải phận huyện Nga Sơn và Tĩnh Gia. Nga Thạch nằm ở vị trí tiếp giáp gữa miền Bắc và miền Trung, kề cận giữa hai tuyyén giao thông thuỷ bộ từ Bắc vào Nam đó là con đường bộ thiên lý qua đèo Ba Dội (Bỉm Sơn) và đường biển. Do vị trí địa lý đặc biệt như vậy, nên những biến cố lịch sử của đất nước trong nhiều thế kỷ qua tác động sâu sắc đến vùng quê này, trước hết là con người nơi đây, được tôi luyện ý chí để sống và phát triển.

Nhiều dòng họ đã có mặt rất sớm ở Nga Thạch , cùng đoàn kết để xây dưng quê hương, đã đạt được những thành quả đáng tự hào như dong họ Nguyễn, họ Mai, họ Phạm, họ Lê, họ Trần, họ Hoàng, họ Ngô, họ Phan, họ Vũ có tới 22 người trong các dòng họ đỗ đạt khoa cử và binh nghiệp (văn bia Nga Thạch) qua các triều đại: Triều Lý có 9 vị, triều Trần có 3 vị, triều Lê có 4 vị, triều Nguyễn có 6 vị. Văn có Thám hoa Mai Anh Tuấn, làm thị độc giản tại Hàn lâm viện và nhiều người khác được phong làm Đại học sĩ. Võ có người giữ chức thượng tướng được phong đến chức Hầu. Trong văn học dân gian có câu ca dao, ca ngợi đất Thạch Tuyền có nhiều người học giỏi, thành đạt:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

(Chùa Sỏi ở xã Nga Lĩnh, chùa Bạch Câu ở xã Nga Bạch, chùa Thạch Tuyền).

Sáu mươi đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam dành cho ngôi đền tại Nga Thạch (hiện chỉ còn 12 đạo) là bằng chứng hùng hồn về sự tôn vinh của lịch sử đối với các vị anh hùng của nơi này.

Chùa Thạch Tuyền được xây dựng trong khoảng không gian văn hoá thấm đẫm tính nhân văn như vậy khiến ý nghĩa của ngôi chùa vượt ra ngoài nhận thức trực quan về giá trị văn hoá vật chất của công trình (gồm kiến trúc, các biểu tượng về Phật).

Chùa được xây dựng vào thời Trần (thế kỷ XIII), sau những biến cố lớn xảy ra ở đây (lũ lụt, chiến tranh với Chiêm Thành). Buổi đầu chùa còn đơn sơ làm bằng tre lợp lá cọ, đến triều Cảnh Hưng (1740-1786) được xây dựng kiên cố hơn. Năm 1936 chùa được trùng tu tôn tạo một lần nữa.

Đặt tên chùa thể hiện niềm mơ ước của nhân dân nơi đây về làng quê mình. Thạch có nghĩa là biểu tượng của sự bền vững, rắn chắc. Tuyền có nghĩa là dòng suối, suối thì phải có nước, là nguồn gốc đầu tiên của sự sống muôn loài.

Chùa Thạch Tuyền được đặt ở nơi có vị trí linh thiêng. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính nhận xét về thế đất Thạch Tuyền:

” Hình Quy (Rùa) toạ ở phía tây, hướng đông, chính Cục Càn Tốn là đất cấm anh linh.

Toạ bắc hướng nam, chính cục Quý Đinh, trước Giang Châu trì (ao) bãi là đất cát địa”. (đất có hình con Rùa-Rùa là con vật linh thiêng trong tứ linh:Long, Ly, Quy, Phượng). “Toạ ở phía tây, quay về hướng đông, tinh thần thuận đạo đất trời, đó là đất rất linh thiêng. Toạ ở phía bắc, quay về hướng nam, phía trước có sông Quý, có ao hồ, đồng bãi là đất lành, rất tốt”(Thần phả hệ lưu trữ tại đền Trung, xã Nga Thạch).

Chùa Thạch Tuyền quay về hướng chính nam, bên trái (phía đông) có sông chảy qua. Một không gian rộng mở về phía nam, có ao hồ quanh năm đầy nước, có cánh đồng lúa, bãi bằng phẳng. Hướng tây và hướng bắc chùa có làng xóm quần tụ trong cảnh màu xanh của cây trái. Chùa Thạch Tuyền toạ lạc trên thửa đất với diện tích 4068m 2. Trong khuôn viên chùa có nhiều loại cây che phủ bóng mát như cây đa – còn gọi là cây Dung Thụ, ví như mái nhà. Cây Gạo nở hoa đỏ rực sân chùa vào mùa hạ như bầu trời đầy tinh tú. Cây Đại mỗi năm thay lá thay hoa một lần, là cây thiêng chùa nao cũng có.

Cổng chùa Thạch Tuyền được kiến trúc với quy mô khá đồ sộ, bố trí trên mặt bằng hình thang cân, cổng gồm hai tầng. Hai cầu thang được xây dựng vững chắc ở hai cạnh bên, dẫn lên tầng 2 được sử dụng làm gác chuông. Tầng 2 có 5 cửa cuốn vòm, hai bên cửa thấp dẫn xuống theo chiều mái cổng chồng diêm, với 8 vòm uốn cong, tổng cộng có 16 đầu đao cũng theo thứ tự từ thấp lên cao dần, tăng vẻ bề thế cho công trình. Hai cột nam hình khối vuông xây ốp sát vào hai bên hông cổng.

Đến thăm chùa Thạch Tuyền-một di sản văn hoá cấp quốc gia, cùng phong cảnh nơi đây chúng ta không khỏi bồi hồi, xúc động tưởng nhớ về những thế hệ đã đi qua trong nhiều thế kỷ, bằng sức lao động kiên trì và sáng tạo để tạo lập nên một miền quê trù phú, với một truyền thống văn hoá tốt đẹp góp phần vào lịch sử hào hùng của dân tộc.

7.2.2 Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn

Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch. Ngôi đền được xây dựng lại năm 2008, đến năm 2010 UBND tỉnh Thanh Hoá đã quyết định xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Ngôi đền được xay dựng ngay bên cạnh chùa Thạch Tuyền. Ngôi đền nhỏ dáng thanh thoát, như tâm hồn con người Thám hoa Mai Anh Tuấn “một danh nhân văn hoá, một vị quan trung quân ái quốc…một vị quan cương trực đầy khí phách giàu tinh thần tự tôn dân tộc” (Giáo sư Đinh Xuân Lâm – Viện trưởng Viện sử học Việt Nam).

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tên thật là Mai Thế Tuấn sinh năm Ất hợi (1815) tại làng Lang Miếu phường Thịnh Hào, Hà Nội.

Chuyện xưa kể lại rằng: Bà mẹ đêm nằm mơ đi thăm động Từ Thức, khi ra đến cửa động bà nhin thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, tay cầm cây bút. Cụ già đến gần và nói: Ta cho ngươi một cây bút thần về ngươi sẽ sinh hạ được một cậu con trai tài giỏi, tuấn tú hơn người. Bà đem chuyện đó kể lại với chồng. Ông chồng cho là điềm tốt lành, bèn đem lễ vật về động Từ Thức để lễ tạ. Quả nhiên sau đó bà sinh hạ được một cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, ông bà đặt tệ là Mai Thế Tuấn.

Mai Thế Tuấn sinh ra trong một gia tộc cả 8 đời đều làm quan phục vụ triều Lê, được người đương thời quý trọng khen là:” Hiển hoạn cao khoa, lệnh danh hoàn tiết”,( tiếng tốt, nghĩa trọn).

Cụ thân sinh ra Mai Thế Tuấn là Mai Thế Trinh,hiệu là Đoan Thận , có tiếng hay chữ, nhưng vì tổ tiên đã làm tôi nhà Lê lâu đời, nhà Lê không còn nên không thi cử, không làm quan. Đến khi nhà nguỹen lên, trong nước đã đại định, vua Gia Long xuống chiếu cầu hiền, tìm các danh nho, trung quân Đô thống Thành Quận công Nguyễn Văn Thành Tổng trấn Bắc thành chọn cụ Mai Thế Trinh làm tr huyện Thanh Trì, Thanh Lâm, Tứ Kỳ, được thăng chức Hàn lân viện thị giảng Học sỹ. Cụ có tập thơ” Mông Trai” lưu hành. Cụ bà chánh thất họ Uông, cụ bà thứ thất họ Dương là mẫu sinh của cụ Mai Anh Tuấn. Hai cụ đích mẫu và sinh mẫu đều được phong Tùng ngũ phẩm nghi nhân.

Thuở nhỏ Mai Thế Tuấn đã nổi tiếng học giỏi, năm 1837 đi thi Hương đỗ giải Nguyên, năm ấy ông 22 tuổi. Năm 1843 thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu Bình Nguyên (khi đó luật triều đình nhà Nguyễn bỏ tước Hoàng hậu, Tể tướng và Trạng nguyên, nếu không có luật bỏ ba tước đó thì Mai Thế Tuấn đỗ đầu là Trạng nguyên). Vua Thiệu Trị rất ái mộ bài văn của Mai Thế Tuấn, để tỏ lòng mến tài của Mai Thế Tuấn, nhà vua đã đổi tên Thế Tuấn thành Anh Tuấn, đối với bậc anh tài của đất nước.

Sau khi đỗ Thám hoa, ông được bổ chức Hành Tẩu ở Bí thư sở Toà nội các, và chức Thị độc Viện hàn lâm. Tiếp sau đó ông được bổ nhiệm Án sát Lạng Sơn. Trong trận đánh chống giặc bảo vệ biên cương, ông đã hi sinh anh dũng ở Thất Khê ngày mùng 6 tháng 8 năm Tân Hợi (1881). Nghe tin này, nhà vua ân hận thương tiếc bèn cho triều thần đưa thi hài ông về sinh quán chôn cất long trọng tại làng Hoàng Cầu phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.

Ghi nhớ công lao của một vị Thám hoa cương trực, dũng cảm vì dân vì nước, nhiều nơi trên đất Hà Nội, Thanh Hoá, những con đường được mang tên Mai Anh Tuấn, trường học Mai Anh Tuấn. Dòng họ và nhân dân xã Nga Thạch đã xây dựng lại đền thờ ông để tưởng nhớ tới một con người trung hiếu của quê hương.

Đền thờ ông luôn được dòng họ bà con nhân dân Nga Thạch, nhân dân Nga Sơn, nhất là các sĩ tử thường đến thắp hương cầu nguyện đỗ đạt thành tài. Cầu mong mọi điều tốt đẹp.

7.2.3 Đền thờ Bà Chiêu Nghi Mai Thị Ngọc Tiến Tôn thần

Chuyện xưa kể rằng: Trong tiết xuân ấm áp, trăm hoa đua nở, nhà vua đời Lê đi du xuân ở xứ Thanh, đến vùng đất Thạch Tuyền thấy cảnh sắc đẹp, thuyền vua đi chậm lại, nhà Vua thấy người con gái xinh đẹp đang cầm liềm cắt cỏ ven sông, nhà Vua liền đọc vế đối đại ý rằng: “Người con gái đẹp cắt cỏ ven sông”. Người con gái đẹp kia nghe vậy liền ứng khẩu đáp lại rằng: “Nữ tướng cầm gươm diệt ngàn giặc cỏ”. Nhà vua thấy người con gái nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nên Người vời về cung giúp nhà Vua dạy dỗ con cháu trong hoàng tộc. Bà Mai Thị Ngọc Tiến là con gái đầu của Mậu Quân công, làm quan trong triều Lê. Bà được Chúa Trịnh Tạc (1657-1682) sùng ái đứng đầu trong hậu cung. Bà được phong là Chiêu nghi là bảo mẫu của chúa Khang hương Trịnh Cán (1682-1709). Bà là người có công với dân với nước, khi bà mất nhà Vua rất thương tiếc và gửi câu đối đến viếng đại ý rằng: Khi sống bà là Mẹ của nước, khi chết bà là Thần của nước. Đền thờ bà hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch.

7.3.1 Chùa Tiên (Chùa Mậu Nam) – Di tích quốc gia.

Chùa tiên thuộc địa phận xã Nga An, toạ lạc trên một khu đất rộng đên 8ha. Phía trước là một cánh đồng cát khô khá rộng. Phía sau và hai bên chùa được bao bọc bởi những ngon núi cao và một hồ Đồng Vụa rộng tới 20ha. Chùa Tiên được toạ lạc ở nơi cảnh trí nên thơ, sơn thuỷ hữu tình. Vì vậy mà những vần thơ vịnh cảnh của nhà vua – tao đàn nguyên suý thời Lê (thế kỷ XV) – vẫn còn nguyên một sức sống bất tử để rung ngân ở nơi đất chùa xưa này:

“Nhìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mây qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió ôm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Đây là cảnh tiên, đất Phật và là nơi ra đời của thiên tình sử Từ Thức-Giáng Hương một truyền thuyết sống mãi với thời gian và in sâu trong tâm thức của người xứ Thanh, đất Việt.

Đến với chùa Tiên ai cũng cảm thấy xốn xao và dạt dào rung cảm, bởi không gian văn hoá-lịch sử, thiên nhiên ở đây đã thấm đượm vào nhau một cách thật đặc biệt. Bất kể cảnh trí nào cũng trở thành di tích của lịch sử, di tích của huyền thoại, di tích của tình yêu và nỗi nhớ… trên mỗi cột chùa có câu đối chữ Hán, tổng cộng đến 12 đôi, trong đó có câu:

“Mẫu lĩnh từ vân cao nhất điểm huyền tâm vân tác lữ

Namthiên hồng nhật lệ thiên thu đạo pháp nhật tàng quan”.

(Núi mẹ có một đám mây cao màu huyền tựa người con gái

Trời nam mặt trời đỏ có ngàn điểm sáng ẩn bóng kẻ tu hành).

Trong chùa có treo một chuông đồng nặng khoảng 30kg và ngoài sân có dựng một tấm biađá, là những di vật từ thời phong kiến.

Cứ đến ngày rằm tháng 3 âm lịch là hội chùa. Khách thập phương và phật tử đến bái lễ, vãn cảnh, Chiêm ngưỡng và chiêm nhiệm những giáo lí của đạo Phật. Không ở đâu chúng ta lại có một cảm giác cụ thể hơn về một thuở nguyên sơ của một thiên nhiên tĩnh lặng đến nao lòng, dù cho nền xưa, chùa cũ và cảnh vật có thay đổi ít nhiều. Dân gian đã có thơ ca ngợi cảnh đẹp chùa Tiên như sau:

“Trăng trong gió mát thảnh thơi

Thuyền trà mượn chén hồng mai thay trà

Có cây trăm thước bốn mùa nở hoa…”

Chùa Tiên ở ngày sát hồ Đồng Vụa và dựa lưng vào núi Nhà Bà. Đến chùa, du khách nào cũng muốn trèo lên đỉnh núi Nhà Bà để xem bàn cờ Tiên-một bàn cờ đá thiên tạo rất rộng có rất nhiều hình thù giống quân cờ. Nếu đứng ở đây phóng tầm mắt ra xa sẽ thấy cảnh chùa, núi, hồ, đảo, cây cối, làng mạc một cách thật ngoạn mục.

Nếu như chùa Tiên là cảnh tiên, cõi Phật thì liền kề với nó về phía tây là hồ Đồng Vụa (tên là Đồng Vua – hồ đẹp nên nhiều Vua Chúa đến vãn cảnh, người dân tên “Huý” của Vua nên gọi lái đi là “Vụa”) – một hình ảnh thiên nhiên như được tô điểm thêm cho nó. Hồ được cấu tạo trong đá phiến và đá vôi rộng trên 20ha, ôm bọc lấy ba mặt của hồ (đông-bắc-tây) là núi Vạn Sơn thuộc hệ thống núi Tam Điệp. Nước trong hồ được dồn về từ các thung lũng núi xung quanh. Nước trong xanh đến lạ lùng, nước hồ sâu đủ để du khách du thuyền vãn cảnh. Giữa hồ nhô lên một ngọn núi nhỏ ttrông như hình một “ông rùa”, một hòn non bộ. Đã nhiều thế kỷ đi qua, với biết bao mùa xuân, hạ, thu, đông hồ vẫn trong xanh như thế và không bao giờ cạn. Sắc núi quanh hồ lú thì xanh, lúc thì tím, lúc thì trắng tuỳ theo sự thay đổi của thời tiết. Đến hồ Đồng Vụa vào lúc ban mai, lúc chiều tà và mành đêm buông xuống hoặc những buổi sương mù bao phủ hay những ngày nắng rực rỡ có những đám mây lãng đãng trên trời và quanh đâu đó những đàn dê gặm cỏ chúng tôi mắt và trái tim của ta không chỉ dừng lại ở đường biên lòng hồ mà tất cả những hình ảnh đó đều gợi cảm như ở trong một thế giới của huyền ảo, lung linh lay động tâm hồn mỗi du khách khi đến thăm nơi này.

Từ hồ Đồng Vụa về phía tây nam, nơi cuối hồ có một lèn đá thấp như một cái đĩa. Chỉ cần vượt qua lèn đá này 200m đường núi là chúng ta đến với phủ thông, phủ nằm trong lòng động Phủ Thông. Động này là một động thiên tạo nằm trên vách núi Thông, sát con đường quốc lộ 10, ở trong khu vực của vườn đào xưa. Động này có vòm cửa rộng khoảng 9-10m và cao khoảng 8-9m. Trong lòng động rộng bằng mấy gian nhà, có vách ngăn cửa đi vào phía trong. Đỉnh động có một cửa thông lên trời, làm cho lòng động sáng và thoáng mát. Nhũ đá trong động có nhiều hình thù kỳ thú. Người dân nơi đây đã xây dựng đền Mộu, nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn từ xưa đến nay. Đó chính là Phủ Thông.

Cụm di tích xã Nga An là những di tích đẹp có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh tiên và cõi Phật với khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ, thơ mộng.

7.3.4 Phủ Trèo Nga An – nơi có dấu chân Người Khổng lồ và Mộ Ông Rùa.

7.3.4.1 Dấu chân Người Khổng lồ

Phủ Trèo nằm ở cạnh đường Trèo – nơi có “dấu chân người khổng lồ” dấu chân in sâu lõm vào đá, có tất cả chục bàn chân in lõm sâu vào đá (giống như người ta đi giẫm bước chân vào bãi cát). Người dân nơi đây kể lại rằng: Người Khổng lồ gánh đá để xếp thành những ngọn núi khi đến vùng đất này gần biển lớn để ngăn những đợt sóng lớn Người Khổng lồ đã xếp thành ba dãy núi liền kề nhau gọi là dãy núi Tam Điệp để ngăn sóng to, gió lớn. Vì phải vội vàng để hoàn thành việc gánh đá, ông Khổng lồ đã gánh hai hòn đá lớn, chân ông dẫm xuống đá, đá “lõm sâu” vì qua nặng nên cái đòn gánh bị gãy, hai hòn đá văng ra cách núi chừng 10m. Hiện nay ở đường Trèo, phủ Trèo vẫn còn hai hòn núi đá to. Một hòn giống cái mũ “quan văn”, một hòn giống cái mũ “quan võ”. Người dân nơi đây thường gọi là núi Văn, núi Võ.

Trên đường trèo có “mộ Ông Rùa” tương truyền rằng: ngày xưa ở hồ Đồng Vụa (chùa Tiên) Rùa tu đã chính quả, từ hồ Đồng Vụa rùa leo lên núi theo đường Trèo. Vì phải leo lên núi cao, sức lại yếu nên Rùa phải ăn lá cây “Sống đời” để tiếp tục leo núi. Đến đỉnh đường Trèo thì tịch ở đó. Người dân đi qua thấy có điều lạ Rùa to lại tịch ngay ở bên đường, bên cạnh có cây “Sống đời”. Thấy điều lạ dân chúng chôn cất Rùa chu đáo và cứ người đi qua, người đi lại mỗi người một hòn đá, người nắp đất, người bẻ cây sống đời đắp lên lâu ngày thành mộ to.

Kỳ lạ sau khi hôm ông Rùa mất tối hôm đó gió to, mưa lớn và sáng hôm sau một cây gỗ thật lớn và nhiều gỗ, cây tre trôi dạt vào chân núi, gần mộ ông Rùa, dân cho là điềm lành liền dựng lên đền thờ, sau đó xâycả Chùa, cả Phủ đến mùa Lễ hội dân thập phương kéo về rất đông để chiêm bái cầu mong cho mọi việc tốt lành.

Đây là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng cấp tỉnh của huyện Nga Sơn. Ngôi đền này được gắn liền với huyền thoại được lưu truyền bao đời nay đó là truyền thuyết về Mai An Tiêm và quả dưa hấu đỏ.

Theo truyền thuyết, Mai An Tiêm là con rể của vua hùng thứ 18 vốn tư chất thông minh, lại chăm chỉ nên vua yêu quý giao cho nhiều trọng trách vị vậy mà An Tiêm ngày càng trở nên giàu có. Nhiều quan lại đem lòng ghen tỵ. Một lần trong bữa tiệc, một tên quan nịnh thần nói: Của cải An Tiêm là do Vua ban mà có. An Tiêm nói: Của cải là do tiền nhân để lại, do bàn tay ta làm nên. Nhân cơ hội này bọn nịnh thần đã tâu lại với vua. Vua nổi cơn giận dữ: Đã thế ta đầy đi đảo hoang để xem có phải do bàn tay nó làm ra không. Nói rồi lệnh cho quân lính đầy An Tiêm ra đảo hoang chỉ cho một ít lương ăn và một thanh kiếm cùn. Nơi đảo hoang bốn bề là biển cả mênh mông, chỉ có núi và đá. Vợ chồng An Tiêm phải mò cua, bắt ốc, tối ngủ hang qua ngày.

Rồi một hôm có đàn chim lạ bay đến, chúng ăn một trái lạ: vỏ đen, ruột đỏ. An Tiêm mừng lắm và nói: Trời không nỡ bỏ ta, trời cứu ta rồi, chim ăn được chắc là người cũng ăn được. Nói rồi An Tiêm đem hạt dưa trồng. Ngày qua tháng lại quả dưa lớn dần An Tiêm bổ dưa cả nhà cùng ăn. Dưa vừa ngọt lại mát lành, ăn vào thấy người khoẻ hẳn. Những năm sau dưa trồng càng nhiều, nhớ về quê cha đất tổ An Tiêm khắc tên mình vào quả dưa rồi thả xuống biển. Những quả dưa có tên An Tiêm trôi vào đất liền, những lái buôn đi qua đảo An Tiêm đã đem theo lương thực và các vật dụng để vào xin đổi dưa An Tiêm. Nhờ vậy mà gia đình An Tiêm ngày càng trở nên sung túc, giàu có trong nhà chẳng thiếu thứ gì.

Lúc bấy giờ vua Hùng ốm đau, nhiều bậc thần y đến chữa, thuốc thang những loại tốt nhất đều được sắc uống nhưng bệnh tình không những không thuyên giảm mà còn nặng thêm. Triều đình bấy giờ vô cùng lo ngại cho long thể của người. Chợt có người đi qua hoàng cung rao bán dưa nói rằng: “Ăn dưa vào bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ, bệnh nặng đến đâu cũng khỏi hết”. Vua vội cho gọi người bán dưa vào. Thần dân dâng cho vua quả dưa có khắc chữ “An Tiêm”. Vua sai cận thầm bổ dưa ra cho vua ăn. Quả nhiên khi ăn một lát dưa vừa ngọt lại vừa mát lạnh, vua thấy trong mình khoẻ mạnh, rồi ngồi dậy. Ăn vài lát nữa thần sắc vua thay đổi hẳn. Vua vui vẻ, tươi cười đứng lên đi lại, lòng khoan khoái. Trầm ngâm dây lát rồi vua nói: Nghe kẻ nịnh thần ta đã đầy An Tiêm ra đảo hoang. An Tiêm không chết mà còn cho ta vị thuốc thần diệu và đem lại cho muôn dân trái ngọt. Nói rồi Vua lệnh cho các quần thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về ban thưởng chức tước, bổng lộc và lệnh đem giống Dưa An Tiêm để trồng trong cả nước.

Ngôi đền Mai An Tiêm nằm dưới chân một ngọn núi, có hình như một quả dưa nên mọi người ở đây gọi là núi quả Dưa. Khung cảnh thiên nhiên ở đây gần như còn nguyên sơ, hoang vắng. Trải qua bao biến thiên của thời gian, sóng biển xô vào vách núi, tạo ra những “Vòm hang động”. Biển đã lùi xa nhưng nơi đây nước vẫn còn bao bọc quanh núi An Tiêm. Một khoảng nước rộng trước cửa đền, bên núi “Quả dưa” dân chúng tổ chức thi bơi thuyền nhỏ, nấu cơm thi. Có nhiều vòm rộng thuyền có thể “chui qua” gầm núi. Bên kia đền leo qua cái eo cao khoảng 50m là bãi Dưa Mai An Tiêm. Bãi Dưa rộng đền gần cả 2ha, một thung lũng được bao bọc bốn bên là núi đá. Đứng trên ngọn núi nhìn xuống một phong cảnh đẹp vô cùng. Xa xa phía đông là biển, những hôm trời trong sáng, nhìn thấy những cánh buồm thấp thoáng. Dưới chân núi phía nam, phía bắc là làng quê trù phú đồng xanh, lúa tốt. Những ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo thấp thoáng xen trong những ngôi nhà dân ngói đỏ tường rêu. Phong cảnh làng quê thật ngọt ngào, thanh bình nên thơ.

Quần thể di tích nữ tướng Lê Thị Hoa và danh tướng Trịnh Minh thuộc thôn Ngũ Kiên xã Nga Thiện, là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng câp tỉnh vào ngày 20 tháng 9 năm 1993. Quần thể di tích này thờ bà Lê Thị Hoa – một nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thờ danh tướng Trịnh Minh – thời Trần có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông (1258).

Bà Lê Thị Hoa quê ở thôn Thượng Linh, xã Cảo Linh, huỵên Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Nam Sơn (nay là tỉnh Ninh Bình). Năm 18 tuổi, bà kết hôn cùng Mai Tiến, người cùng huyện văn võ song toàn. Nhưng sau đó, chồng bà bị Tô Định hãm hại bắt giết vào năm Bính Tuất. Bà cùng các con đã đi đến vùng đất Yên Nội (nay thuộc Nga Thiện) để khởi nghiệp trả thù cho chồng và đánh đuổi quân xâm lược. Bà đã có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược, không những thế bà còn là người có công khai phá vùng đất Nga Thiện ngày nay. Tấm lòng trung trinh với dân, với nước của bà Lê Thị Hoa ngay từ thuở ấy, nhân dân Nga Sơn đã lập đền thờ bà ngay tại xã Nga Thiện. Ngày nay, ngôi đền này vẫn còn tồn tại. Tại đền thờ bà Lê Thị Hoa có đôi câu đối bất hủ:

“Thệ báo Tô cừu, thanh Bắc Khấu

Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang”

Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc.

Giữ nghĩa phò Trưng Vương, khôi phục nước.

Tại đền thờ của Bà có một tấm bia lớn ghi về công trạng của Bà.

Ông Lê Thái và vợ họ Dương, khi có mang mơ thấy bắt được con rắn bạch hoa xà năm sắc mà sinh một con gái vào rằm tháng 11 năm Mậu Ngọ ở thôn Thượng Linh Cảo Linh huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (Hà Nam Ninh ngày nay). Ông bà nay đặt tên con là Lê Thị Hoa môi hồng, má phấn. Khi Lê Thị Hoa 18 tuổi có nhà Mai Thông xã Phúc Cốc cùng huyện quen thân ông Lê Thái, đã hỏi Lê Thị Hoa cho con trai mình là Mai Tiến vừa 19 tuổi.

Lấy chồng được hai năm cha mẹ đều mất, Lê Thị Hoa hết lòng hiếu thuận thờ cha mẹ. Lúc này Thái thú Tô Định nghe tiếng tài năng của Mai Tiến, vời về làm quan huyện Gia Lâm, từ chối mãi không được vợ chồng, con cái phải dắt nhau đến Gia Lâm làm quan huyện được 3 năm thi thố ơn huệ với nhân dân. Tô Định thấy Lê Thị Hoa đẹp, bèn giết Mai Tiến để cướp bà làm tỳ thiếp. Lê Thị Hoa ăn ở với chồng được 11 năm sinh được bốn người con trai: Mai Đạt 9 tuổi, Mai Thoả 7 tuổi, Mai An 5 tuổi và Mai Tri 2 tuổi đều khôi ngô, thông minh, tuấn tú. Lê Thị Hoa đưa các con về quê hương, nhiều người lại đến cầu hôn bà. Lê Thị Hoa than rằng “Thôi thà làm quy trinh phụ chứ không làm người phụ bạc”. Lê Thị Hoa bèn bán hết gia tài cứu giúp bà con quanh vùng Phú Cốc, thượng linh được hơn hai ngàn người ra đánh nhau với Tô Định bị thua chạy về thôn Yên Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà.

Khi về Trang Nội, con trai cả vừa 12 tuổi, thực sự đã biết chữ, mẹ con bàn bạc thấy đầu trang Yên Nội khoảng 100 mẫu đất, sầm uất có khu đất cao, rộng một sào, bằng phẳng, dân cư thưa thớt, bèn dựng ngôi nhà tranh và thuê người khai khẩn hơn một năm được mấy chục mẫu ruộng. Lê Thị Hoa bèn gọi những nhà họ Mai cùng lân cận ở Phú Cốc, họ Lê ở Thượng Đình vào ở hương Yên Nội được hơn chục nhà, bà con điaj phương cũng theo bà vào ở, mới vài năm đã lên tới mấy chục gia đình. Lê Thị Hoa vẫn nuôi mối thù không đội trời chung với Tô Định, bà đã nuoi dưỡng bốn người con trưởng thành: Mai Đạt đã 22 tuổi, Mai Thoả 20 tuổi, Mai An 18 tuổi, Mai Trí 15 tuổi các cậu thông minh xuất chúng vượt mọi người. Lúc này mẹ con bà Lê Thị Hoa nghe tin hai Bà Trưng khởi binh ơ của sông Hát Giang, huyện Phú Lạc, phủ Quốc Oai, đạo Hà Tây, đang muốn đi theo thì có tướng của hai Bà Trưng đến dụ bảo. Bà Lê Thị Hoa được cai quản đội nữ, bốn con trai bà Hoa xung làm tả, hữu tiền phong truyền hịch kêu gọi các phủ huyện được hơn 6 vạn người theo, kéo binh thẳng tới đô thành đánh quân Tô Định, Tô Định thua to chạy về nước Bắc. Hai Bà Trưng lên ngôi phong thưởng các quân tướng. Mẹ con bà Lê Thị Hoa không nhận phong thưởng chức tước, chỉ xin được trở về Trang An Nội Nga Sơn tiếp tục khai khẩn đất hoang, được phép miễn thuế và phục dịch. Hai Bà Trưng cho phép hơn bốn chục nhà trang An Nội đều nhường họ Mai làm cả. Đó là thực ấp của của mẹ con bà Lê Thị Hoa. Ngày 25 tháng 8 năm 41, bà Lê Thị Hoa ốm rồi mất. Hai Bà Trưng nghe tin than rằng: “Bà Lê Thị Hoa tính hiền từ lại làm việc thiện, giỏi dạy con nên ban hiệu là Từ Thiện tặng phu nhân”, sai sứ thần về chọn chỗ đất tốt để an táng ở xứ bãi sở, dựng miếu thờ trên nền nhà ở An Nội, nay thuộc Ngũ Kiên xã Nga Thiện, Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.

7.5.2 Đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh

Gần với đền thờ bà Lê Thị Hoa là đền thờ danh tướng Trịnh Minh, một danh tướng thời Trần đã có công lớn trong cuộc kháng chíên chống quân Nguyên lần thứ nhất (năm 1258). Thần phả Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh ghi lại rằng: Đêm ông nội Trịnh Minh nằm ngủ ông bàng hoàng bỗng nghe tiếng ở bên ngoài nói rằng: “Mau dậy mở cửa, mau dậy mở cửa trong kiếm lại được thưởng đoạn nhà Khanh Tướng”. Ông dậy mở cửa không thấy ai. Ông vào nhà thấy thai nương đang đau bụng, sinh được một cậu con trai, mặt mày sáng sủa, khôi ngô, thân thể cao lớn, ông cho đó là phúc trời ban cho vậy. Sớm mai lúc đi ra giếng thấy thanh gươm nổi trên giếng. Ông vớt lấy gươm đem về đặt riêng một chỗ. Từ đó khiến việc nuôi con ngày một cao lớn lạ thường, vẻ mặt hiền hoà, tính bẩm trung hậu, thiên tư đĩnh ngộ, vì thế ông đặt tên là Trung Phụ.

Đến năm 13 tuổi Trung Phụ đi học được mấy năm , văn tài quán triệt, võ nghệ tinh thông, ngàn sử của trăm nhà không có gì là không hiểu. Lúc đó không may bố mẹ cùng mất , ông Trung Phụ một mình làm tang lễ. Mấy năm học đã thành tài, năm 19 tuổi ông dùng tài ra đời đi chu du thiên hạ, các nhân tài thấy đều kính sợ, tôn nhường ông. Rồi ngày qua tháng lại ông đi tơi địa sở trang An Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá thấy dân phong thuần hậu ông xin cư thân ở đó.

Năm ông 23 tuổi, khoảng triều Lí Thái Tông, nhà Vua bèn hạ chiếu tuyển nhân tài, ông đến ứng tuyển. Nhà Vua thấy ông có tài yêu mến lắm và giao phó chức, phong tước. Ông nhận chức tước trở về địa sở ở cũ trang An Nội huyện Nga Sơn hạ lệnh cho bản trang khu đất lập cung dồn sở lấy làm tuần trú ở vậy. Nhân dân ở trong khu đó hết thảy đều xưng thần quy phục và yêu mến ông. Phần những nơi ông đi tuần qua người người phục tùng làm thần tử, trong trấn hạt đều khen là yên ổn nên ông được nhận chức tới quyền kiêm Đô Thống Đại Tướng Quân, đã lâu năm.

Đến cuối triều nhà Lý, thế nước sắp hết ông vì cớ ốm cáo trở về đồn sở khu thượng trang An Nội, ở đó 3 tháng làm lễ mừng, ban thưởng cho nhân dân. Xong việc ông thẳng tiến về quê quán, đi qua nhánh sông Tô không biết sao trời tự nhiên nổi gió mưa lớn, ông đi đến đó thì mất (ngày mùng 6 tháng 3) nhân dân nghe tin mà cảm thương ơn trạch của ông để lại, tự tiến hành lễ điếu viếng ở bản khu cung sở, phụng thờ hương khỏi vậy.

Từ đó về sau nhân dân thường mơ thấy ông trở về cung sở. Nhân dân làm lễ vọng thường linh nghiệm phó thác vào đồng bảo rằng: “Đô tống thần quan, nhân dân tả nghênh đón tế thờ được hưởng phúc thái bình”.

Lại nói về sau: Bỗng đến triều nhà Trần khởi tạo đăng cực thực ấp lên ngôi Hoàng Đế (tức triều thần Thái Tông). Đến năm Thiên Ứng bỗng có giặc Nguyên Minh nổi lớn tích trữ binh lương xâm chiếm đất đai quấy nhiễu dân cư, nhà vua cho là hoạn nạn. Vua thân xuất bản binh đi tuần thiên hạ để chinh phạt giặc. Đánh một trận mưu phân thắng bại. Nhà vua bèn lui quân dồn trú tại một nơi để đặt mưu lập kế. Bỗng từ khi lui quân về qua các nơi đến địa sở khu thượng trang An Nội nhà vua thấy địa sở khu vực này rộng rãi, nhân dân đông bèn trú ở đó. Một đêm nhà Vua mơ thấy một quân nhân mũ áo chỉnh tề đứng trước nhà vua tâu rằng: “Thần là danh tướng triều Lý sắc mệnh Hoàng Thiên trấn trị ở đất linh thiêng này, là phúc thần của dân. Nay nghe Hoàng đế thân chinh muốn dẹp tướng giặc để yên dân”. Tâu xong bỗng biến mất nhà Vua sực tỉnh biết là mơ bèn lệnh cho nhân dân khu ấp làm lễ bái yết rồi triệu tập nhân bản khu hỏi rõ các nhân tài. Nhân dân bèn tâu hết với nhà Vua các con trai nhà họ Trịnh tài tinh thông võ nghệ, sức địch nổi trăm người, hùng cường oai dũng, diện mạo trang nghiêm thế gian hiếm có người như thế ( tức sinh ngày 24 tháng 4 năm Giáp Thìn) tên của ông, tên kiêng huý là Khanh, mẹ là Đỗ Thị Sùng còn ông kiêng tên huý là Minh. Lúc đó ông Minh ra yết kiến trước nhà vua. Nhà vua thấy ông có tài nghệ hơn người, hình giáng xuất chúng bèn thử tài ông, không ai đich nổi ông. Nhà vua bèn ban làm Quyền kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân. Ông Minh nhận chức đó xong bèn cùng các xứ sở cùng các họ nhân dân khu bản, làm gia thần thủ tục, cho gia dựng đồn sở, vì nhà Trần mưu trận lập các cơ ngũ. Ông bái yết nhà vua xin thay nhọc thân mình tiền phong lên trước, chia thành thuỷ, bộ hai đạo cùng tiến đến đồn sở giặc dựng làm 5 đồn gọi là Ngũ Kiên đồn. Trận lập xong giáp chiến một trận, thuỷ bộ đều đánh. Tướng giặc thấy uy lực của ông hết thảy đều khiếp sợ, tranh nhau chạy trốn, tan vỡ chết vô số. Dẹp yên giặc ông bèn lui binh dôn đồn ở đất núi Tam Điệp, dồn binh trú ở đó 3 tháng. Nhà vua nghe tiếng ban cấp ruộng công6 mẫu 7 sào để làm lộc thưởng cho ông. Sau đó ngày 10 tháng 4 ông bỗng nhiên bị ốm rồi mất, nhân dân nghe tin đồn về dáng ở xứ Đường hào bản địa tự tâu với vua. Vua nghe cho đó là công thần có công lao huấn nghiệp với việc mất, ban mệnh Đinh thần đến bản khu (tức nhân danh hiệu khu Ngũ Kiên) làm lễ yết tạ bản đền thờ thiêng, về sau làm lễ tạ vọng điếu ông Minh. Ban thưởng thêm tiền công 100 quan cho nhân dân bản khu, thưởng 100 cân bạc để làm tiền công làm đền thờ, lăng miếu để phụ thờ hương khói, lại phong thưởng 4 vị mỹ tự thượng đẳng phép phúc thần cho phép miễn nhân dân bản khu binh lương các việc tạp dịch trong 5 năm, xếp hạng cùng đất nước lớn lao mãi mãi là hình thức:

– Phong dương cảnh Thành Hoàng dực thánh khuôn quốc, hiền trung cư sỹ, Đô thống thượng đẳng phúc thần Đại Vương.

– Phong bản cảnh Thành Hoàng phụ thắng uỷ trợ kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân huý Trịnh Minh thượng đẳng thần đại vương.

– Cho phép khu Ngũ Kiên (hiện cũ thượng khu) xã An Nội huyện Nga Sơn phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá là bảo hộ phụng thờ hương hoả đền thờ.

Ngày lành xuân nam đào hồng phúc 1672.

Đông các Đại học sĩ viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn thiếu khanh ngày lành mùa đông năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737). Quản giam bách thần tri điện hùng lĩnh Nguyễn Hiền theo bản chính vâng sao.

Sau khi ông mất, vua Trần đã cho xây dựng đền thờ ông và tặng phong: Thượng đẳng phúc thần.

Tại đền thờ ông còn lưu các câu đối ca ngợi ông:

“Đâm xô năng danh tụ cổ dã dĩ

Thần chi vi đức kỳ thị hĩ hồ”

“Quan chức trấn Thanh Hoa, danh cao thập bát

Tướng tài thiên thuỷ kiêm thuỷ bộ tích Đông A”.

Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh hiện đang được nhân dân làng Ngũ Kiên, Nga Thiện thờ cùng một điểm (khu vực tây làng), trong đền thờ còn giữ được nhiều sắc phong, nhiều đồ thờ rất có giá trị nhân dân làng Ngũ Kiên nay và An Nội trước đây rất tự hào vì ở một làng nhỏ được thờ cả hai vị tướng. Dân làng thường gọi là “đền thờ tướng bà, tướng ông” các ngày rằm, ngày giỗ, ngày lễ hội. Con cháu dòng họ Mai Đức (dòng họ của chồng bà Lê Thị Hoa – ông Mai Tiến) nhân dân các xã Nga Trường, Nga Thiện, Nga Vịnh và nhiều nơi trong huyện, ngoài huyện về thắp hương ghi nhớ công ơn của hai vị tướng. Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh đã được UBND tỉnh cấp phép xây dựng, tôn tạo để trở thành một điểm đến du lịch tìm hiểu lịch sử, cùng với các di tích danh thắng: Động Từ Thức, Động Bạch Á, Bia Thần, núi Lã vọng,…tạo nên khu du lịch hấ dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Chùa Thung Sơn hay Thung Sơn Tự, nghĩa là chùa trong núi, còn có tên gọi là chùa Thông, còn gọi là chùa Báo Văn; theo tên làng của xã Nga Lĩnh. Chùa được xây dựng từ thời Nguyễn, khởi sáng trụ trì đầu tiên là hòa thượng Thích Vĩnh Phát.

Trong phong trào Cần Vương chống Pháp thế kỷ XIX để bảo vệ căn cứ chống giặc, núi Thông và chùa Thông đã trở thành vọng gác quan trọng của nghĩa quân Ba Đình – Đinh Công Tráng, Phạm Bành.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, núi Thông và chùa Thông là nơi nuôi giấu cán bộ. Trước và trong khi xây dựng căn cứ cách mạng ở làng Thượng, làng Sến (Nga Thắng), Tứ thôn (Nga Vịnh), Nga Thành…Các ông Tố Hữu, Trịnh Ngọc Điệt, Lê Tất Đắc, Hoàng Xung Phong và nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa khác lấy chùa Thông làm nơi trú chân, liên lạc và hoạt động. Chùa Thông được cấp bằng di tích lịch sử – văn hoá và cách mạng cấp tỉnh ngày 30 tháng 12 năm 1999.

Chùa gồm nhà thờ chính, cung thờ mẫu, nhà thờ tổ bốn vị tổ sư đã trụ trì tại ngôi chùa, các công trình phụ, vườn cây ăn quả, giếng nước…Chùa thông không những là nơi thờ Phật, nơi các tín đồ Phật giáo đến tu hành, mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của bà con trong làng, ngoài xã và trong vùng từ nhiều đời nay. Hiện chùa còn giữ được các bức đại tự, chuông đồng và các pho tượng cổ như tượng Hộ Pháp, tượng Đức Ông, tượng Bà và nhiều pho tượng Phật cùng với các bức chạm khắc có giá trị cao và được bảo quản khá tốt. Chùa Thông còn thờ vua Hùng, lễ hội vào mùng 10 tháng 3 Âm lịch (ngày giỗ tổ Hùng Vương). Ngoài ra còn các ngày lễ mùng 8 tháng Chạp (ngày đức Phật Thích Ca thành đạo), ngày Nguyên tiêu, rằm tháng Giêng, lễ Thượng nguyên, ngày 15 tháng 4 (ngày Phật đản), ngày 15 tháng 7 Âm lịch (ngày Vu Lan báo hiếu), lễ cuối năm…

Chùa Thông nằm trong khung cảnh thiên nhiên đẹp, gần gũi, gần sông, gần đường quốc lộ, tỉnh lộ. Ngoài nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân ngôi chùa còn có giá trị lịch sử và văn hoá.

Kim Quy cổ tự (tức là chùa Kim Quy) hay còn gọi là chùa Yên Hạnh, thuộc làng Yên Hạnh, nay thuộc Thị Trấn Nga Sơn là ngôi chùa thờ Phật, có công trình kiến trúc độc đáo và danh lam thắng cảnh từ bao đời.

Truyền thuyết kể lại rằng: Vùng đất của chùa Kim Quy bây giờ xưa kia là biển cả, ở đây có một con rùa vàng thường xuyên xuất hiện dẫn người dân đi đánh cá, cứu vớt người dân bị nạn khi gặp bão giông, giúp các nhà Vua vào nam ra bắc đánh giặc. Những việc làm đạo nghĩa của Rùa Vàng đã được nhân dân trong vùng biết đến và được tôn là thần Kim Quy. Nghĩa cử cao đẹp của Rùa vàng cũng đã thấu tới Phật Bà Quan Âm, một lần Phật Bà vi hành hạ giới để thử thách Rùa vàng lần cuối trước khi quy nạp về nơi Phật Tổ. Phật bà hoá thành chim Hồng hạc gãy cánh rơi xuống biển, thấy Hồng Hạc bị nạn, rùa vàng dìu chim Hồng hạc bị nạn trả về đàn. Nơi Hồng hạc đậu được nhân dân trong vùng gọi là Thiên Nga Lộ (bây giờ là làng Nga Lộ). Còn nhân dân các làng An Hạnh, An Trang, An Ninh, An Khoái, An Khang, An Lộc, An Đậu lân cận được Phật bà Quan Âm ứng hiện làm chùa thờ Phật, tên gọi là chùa Kim Quy ngay trên cồn cát có hình rùa vàng đang bơi ra biển.

Trước cách mạng tháng 8, chùa Kim Quy không chỉ là nơi thờ Phật, mà còn là nơi liên lạc bí mật của quân tự vệ cứu quốc. Sau cách mạng tháng 8 chùa vẫn là cơ sở cách mạng và là nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ Việt Minh. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa vẫn duy trì nhưng không mở lễ hội nhiều để tránh oanh tạc của pháo và máy bay giặc.

Từ ngày non sông thu về một mối, đất nước thống nhất, nhân dân địa phương trong vùng có điều kiện tôn tạo ngôi chùa để giữ gìn nét đẹp truyền thống, văn hoá tâm linh. Tháng 6 năm 1996 UBND tỉnh có quyết định tu bổ và tôn tạo chùa Kim Quy theo yêu cầu của nhân dân địa phương. Ngày 10 tháng 12 năm 1997 chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hoá. Năm 2009 chùa được xây dựng lại khá kiên cố, vững chắc, có cả nhà Mẫu, nhà Tổ tạo thành quần thể bề thế. Chùa toạ lạc ở trung tâm huyện nên ngày rằm, mùng một và dịp lễ hội du khách kéo về rất đông để cầu nguyện mong mọi việc tốt lành.

Cách động Từ Thức khoảng 1km về phía trái có một động khác, còn được ít du khách biết đến gọi là động Mắt Voi. Động này khá rộng, chứa được cả ngàn người, nằm cách chân núi khoảng 70m. Trước cửa động hiện có một ngôi chùa cổ, có tên là “Bạch Tượng tự” (đền Voi Trắng). Cửa chùa có một cây đại hàng mấy trăm tuổi, nằm bò ra phía trước, uốn lượn như một con rồng chầu. Trong chùa còn có một số đồ thờ rất cổ như: Mũ, kiếm, giầy của vua, cặp đèn đồng khổng lồ, con dấu bằng đồng có khắc năm chữ “Linh lang Đại Hành hoàng đế”. Đây là ngôi chùa cổ rất linh thiêng, gần đây mới phát hiện ra một cái động khá rộng, đẹp nằm ở ngay sau chùa. Dân khắp nơi kéo đến về thăm động rất đông. Động đang được bảo vệ để đưa vào khai thác đón du khách. Đây cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của Nga Sơn.

Ngôi chùa này nằm ở thôn Chính Đại xã Nga Điền. Toàn khu chùa có ba toà nhỏ nằm ngang nhau. Chùa nằm bên sông Chính Đại, bên hông chùa có bia Thần Phù để người qua đường có thể thắp hương cầu may.

Những di tích lịch sử – văn hoá ở huyện Nga Sơn không chỉ cho chúng ta thấy được lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn kết hợp với cảnh thiên nhiên đẹp, nguyên sơ càng làm tăng sức hấp dẫn với du khách và có giá trị phát triển du lịch rất lớn.

Trong đền có tượng đá Đại Vương được sơn vôi lại chất sơn đặc biệt, theo các nhà sử học đây là pho tượng đá quý hiếm hiện còn ở Thanh Hoá.

Đền Xuân Đài thuộc xã Nga Thuỷ (tên Xuân Đài là tên làng cổ xưa). Người dân kể rằng: Cách đây khoảng 600 năm, nơi đây là vùng bãi bồi, nhân dân theo các con lạch ra biển bắt tôm cá. Một hôm từ sáng sớm nhân dân đi biển thấy một khối đá lớn trôi dạt trên một mảng bè , dân làng thấy lạ, lấy nước rửa sạch xem thì thấy có chữ: “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”. Thấy vậy bà con dân làng coi đó là điều thiêng bèn rước về để thờ sau này được các thợ đặc tài khắc tác thành tượng Người. Đền Xuân Đài thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, đền rất linh thiêng, du khách thập phương tới thăm quan và thắp hương cầu nguyện rất đông.

Nghè Hậu thuộc xã Nga Bạch. Nghè được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, Nghè Hậu thờ vị Thánh Nương và ” Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Nghè Hậu được xây dựng ngay gần cửa biển Lạch Sung. Nghè Hậu đang còn giữ được vẻ cổ kính. Cổng nghè là hai cột trụ biển bằng đá, to cao, nhưng được chạm khắc hoa văn khá tinh xảo. Hai trụ bên có bốn câu đối với nội dung:nói về nơi thờ tự tứ vị Thánh Nương và năm tháng làm trụ biển, trong đền còn nhiều đồ thờ cúng cổ rất có giá trị , nhiều sắc phong của các đời vua chúa.

Nghe Hậu thờ: tứ vị Thánh Nương và “Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Thần là Hoàng hậu Triều Nam Tống. Khi vua Đoan Tông nhà Tống bị giặc nguyên bức bách phải nhảy xuống sông tự vẫn. Thần cùng với 3 công chúa cũng phải nhảy xuống sông tự vẫn. Xác của 3 người trôi dạt đến Diễn Châu ( Nghệ An) chỗ cửa biển Cần Hải. Nhân vớt xác đem chôn có nhiều hiểu ứng linh dị lớn, nhân dân lập đền thờ rất linh ứng. Các triều vua Lê đem quân đi đánh giặc đều được tán trợ cho thnàh công. Vua Lê phong tặng thần là” Nam Hải” ,”Phúc Thần” các triều đại sau này đều có phong tặng.

Nhiều nơi ở các cửa biển, các cửa Lạch đều lập đền thờ Hoàng hậu và 3 công chúa để cầu mong đi ra khơi sóng yên, biển lặng, tôm cá đầy thuyền.

Thần họ Hoả tên Nguyệt Nga ở xã Bạch Câu(Nga Bạch), thời vua Nhân Tông nhà Lê(1443- 1459) có giặc Chiê Thành vào quấy phá. Vua thân chinh đi đánh, khi qua châu thị huyện Nga Sơn trông thấy vua bằng lòng và lấy làm vợ. Thần bèn hiến kế là cho lập quấn bên đường cho giặc thấy vào quán ăn mà không đề phòng rồi thừa cơ dánh úp. Hôm đó trời nắng to, nhà vua tiến đánh rồi lại lui binh, cho đến trưa rồi vờ thua bỏ chạy. Quân giặc đuổi theo, không thấy quân lính nhà vua, thấy hai bên đương núi nhiều lều quán ăn, trời nóng, bụng đói, trưa lại đến nên quân giặc lao vao quán, ăn uống lo say thừa cơ quân nhà vua tiến vào đánh úp. Quân giặc bị trúng kế, vua bắt sống được vua Chiêm Thành đem về triều và phong cho thần là Hoàng Phi.

Sau thần về thăm quê, đi đến cửa Bạch Câu gặp gió to sóng lớn thì thuyền bị chìmvà hoá. Hay tin vua vô cùng thương tiếc và ban cho dân ở đây tiền và ruộng để lập đền thờ.(Đền thờ Hoàng Phi ở làng TrungĐức xã Nga Trung, nhưng do chiến tranh đền không còn, dòng họ Hoả, nhân dân xã Nga Bạch đã rước vong bà về thờ ở Nghè Hậu. Nơi bà sinh ra ở đó).

8. Những lễ hội truyền thống.

Mùa lễ hội từ đầu tháng Giêng đến tháng tư (âm lịch), Nga Sơn có rất nhiều lễ hội thu hút cả hàng nghìn khách đến thăm quan, dự lễ hội như: Lễ hội chùa Tiên, Mai An Tiêm, Từ Thức, lễ hội Ba Đình và hàng trăm hội làng diễn ra liên tục, hấp dẫn. Trong số đó có một số lễ hội tiêu biểu như:

Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Nga Phú. Đây là lễ hội dân gian gắn liền với truyền thuyết “Quả dưa đỏ” phổ biến rộng rãi trên đất nước ta. Lễ hội Mai An Tiêm ca ngợi thành quả lao động và mang đậm ý nghĩa phồn thực của người dân vào thời kỳ khai hoang lập ấp.

Cũng như các lễ hội khác, lễ hội Mai An Tiêm cũng được tiến hành theo hai phần là phần lễ và phần hội.

Phần lễ bao gồm các công việc:

1. Lễ rước sắc phong đức Thánh Mai An Tiêm từ làng văn hoá Văn Đức đến đền thờ Mai An Tiêm. Lễ rước được tổ chức với quy mô trọng thể và hoành tráng. Thứ tự các đoàn rước gồm:

Dẫn đầu là đội rồng lân (1 rồng, 2 sư tử, 2 kỳ lân)

1.1 Đội cờ dẫn gồm:

– 1 lá cờ tiết.

– 5 cờ ngũ hành: trắng, xanh, đen, vàng, đỏ.

– 4 cờ tứ linh: long, ly, quy, phượng.

– 8 cờ bát quái.

1.2 Ban chinh cổ

– 1 trống cái to đặt trên xe

– 1 chiêng đồng.

1.3 Đội Bát biểu chấp kích:

– 16 người vác bát biểu.

– 16 người vác chấp kích.

– 1 người vác biển gỗ có chữ Thượng đẳng và lịch triều.

1.4 Kiệu hương án.Trên kiệu có:

– Một quả dưa hấu to.

– Hộp sắc phong có hai lộng đi hai bên để che kiệu.

1.5 Phường đồng văn.

– 1 trống cái.

– 8 trống ban.

– 8 trống bản, hai não bạt.

1.6 Phường bát âm.

– 2 đàn nguyệt, 2 sáo, 1 nhị, 1 mõ, 1 sanh tiền, 1 tiu cảnh.

1.7 Kiệu bát cống.Trên kiệu đặt:

– 1 khám thờ có bài vị Mai An Tiêm.

– 2 mâm ngũ quả, có hai lộng đi hai bên che kiệu.

1.8 Kiệu long đình. Trên kiệu đặt: Mũ, áo, hài của thần Mai An Tiêm có hai lộng che hai bên kiệu.

1.9 Kiệu võng

(Kiệu rước Công chúa).

1.10 Đoàn rước rễ (đi hàng đôi)

– Quan viên bô lão.

– Các bản hội của các xã trong toàn huyện gần 3000 người. Ăn mặc trong trang phục lễ hội.

– Đoàn khách (tỉnh, huyện, xã)

– Dân làng văn hoá Văn Đức.

– Dân quanh vùng và khách thập phương

2. Nội dung tế lễ

2.1 Đội tế gồm có:

– 2 đông xướng và tây xướng.

– Gần 3000 người trong các bản hội chấp sự.

3.2 Nội dung cuộc tế.

– Tích cổ tam thống (đánh 3 hồi trống).

– Hai vị đông xướng, tây xướng trong nghi trang tế lễ ra đứng ở vị trí có bày hương án hô to: “Khởi chinh cổ” (nổi chiêng trống).

– Hai người chấp sự đi đến bên giá chiêng, giá trống một người đánh 3 hồi chiêng, một người đánh 3 hồi trống, rồi mỗi người đánh thêm 3 tiếng nữa sau đó vào vái 1 vái rồi lui ra.

– Nhạc sanh tượng vị (ban nhạc về chỗ ngồi).

– Nhạc tác (khởi nhạc).

– Sau đó đánh 3 hồi trống.

3.3 Chúc văn: Ca ngợi công đức Mai An Tiêm.

Kính cáo Anh Linh

Thánh thuỷ tổ khảo

Lạc hầu hàng duệ vương triều

Dực bảo trung hưng linh phù chi thần

Gia phong đoan túc tôn thàn

Mai công huý vển, tự An Tiêm.

Huý nhật: Tam nguyệt, thập nhị nhật

Vĩnh thế chân linh thần chú

Kính các anh linh thượng hạ, tả hữu thờ theo thánh tổ

Mừng hôm nay;

Trống đồng vang dậy núi sông

Trời đất Nga Sơn ngút ngàn linh khí

Rộn rã trống chiêng

Tưng bừng cờ đỏ

Dâng hương ân bái ân đức tiên nhân

Châm nến phụng thờ công lao thánh tổ

Nhớ ngày xưa…

Nước có nguồn, cây có gốc.

Uống nước trong nhớ nguồn chảy từ đâu?

Ăn quả ngọt biết công ai khó nhọc?

Đó chính là truyền thống nhân văn.

Đó cũng chính là tự hào dân tộc.

Nhớ ngài xưa.

Dòng giõ các vua Hùng.

Tư chất thông minh ngay từ thưở nhỏ.

Tin sức mình nuôi chí tự cường.

Chống quân tham, ghét quân bợ đợ.

Câu nói xưa còn vang:

“Của biếu là của lo”

Lời tâu nay còn nhớ:

“Của cho là của nợ”

Phật ý vua cha.

Lệnh đầy biệt xứ

Đây đảo hoang nước biển mênh mông.

Kìa rừng rậm hãi hùng tiếng hổ.

Tất cả trông vào: ba tháng lương ăn.

Một thanh gươm cùn, một hòn đá lửa.

Tin đôi tay ắt sẽ vượt qua.

Sẵn ý chí đâu nào có sợ.

Lượm trái cây lót dạ qua ngày,

Bẫy thú rừng lần hồi qua bữa.

Bỗng một hôm, thấy lũ chim trời,

Đang tranh ăn một loài quả lạ,

Vỏ xanh thẫm,

Ruột đỏ tươi.

Đuổi chim đi, lấy hạt gieo trồng.

Kỳ trái chín ăn vào mát rượi.

Ngày ngày sức lực tăng cường.

Tháng, năm khó khăn đã vợi.

Khắc tên vào quả,

Thả xuống biển khơi.

Tấp nập thuyền buồn ghé vào mua, đổi.

Qủa ngon, trái ngọt,

Dâng tiến vua Hùng.

Thấu hiểu ngọn ngành vua cha liền vội,

Cho thuyền vượt cửa Thần Phù.

Nhắm hướng đảo hoang thẳng tới.

Đón An Tiêm về đất Phong Châu.

Quân xiểm nịnh thảy đều chịu tội.

Vua truyền: Dưa đỏ trồng khắp nơi nơi.

Nức tiếng ngọt, ngon ngàn đời ca ngợi…

4:+Khai mạc lễ hội.

+ Dâng hương tưởng niệm

+ Đánh trống khai hội

+ Múa rồng, lân

+ Biểu diễn nghệ thuật của các đoàn nghệ thuật trong tỉnh gồm: 200 diễn viên chuyên nghiệp, 500 diễn viên quần chúng, tái hiện lại cảnh: cảnh An Tiêm bị đi đầy- cảnh vợ chồng An Tiêm ngoài đảo hoang- cảnh nhà vua cho cận thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về triều đình. Nhà vua ban tước , lộc cho vợ chồng An Tiêm và lệnh cho dân cả nước trồng dưa hấu An Tiêm.

Phần hội:Tổ chức ngày 12-13 tháng 3(âmlịch)

Tổ chức Hội tại các làng văn hoá tiêu biểu toàn huyện: Thi các tiết mục văn nghệ, múa rồng , múa lân. Tổ chức các trò chơi đân gian: thi kéo co, đua thuyền, hái dưa, phóng lao, nấu cơm thi…

Mức độ ảnh hưởng của lễ hội lan rộng khắp huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung và một số huyện ở các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Nam Định…

Lễ hội Bơi Chải truyền thống này diễn ra ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch. Lễ hội truyền thống này ra đời sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938), nhằm vận động con cháu ra tòng quân cứu nước. Lễ hội đã trở thành một ngày hội vui khoẻ của dân làng nơi này. Lễ hội Bơi Chải là hình thức cầu ngư, cầu cho năm mới mưa thuận gió hoà, ngư dân ra khơi tôm cá đầy ghe. Lễ hội còn thể hiện tinh thần thượng võ, nối tiếp giá trị truyền thống của ông cha.

Trước năm 1975 lễ hội này vẫn được tổ chức đều đặn ở thôn Bạch Hải, nhưng khi đất nước thống nhất vì nhiều lí do khác nhau nên lễ hội không được tổ chức nữa. Vừa qua lãnh đạo và UBND xã Nga Bạch và phòng VHTT huyện Nga Sơn đã gửi đơn Sở VH-TT-DL tỉnh xin khôi phục lễ hội này và được đồng ý. Trong dịp tết nguyên đán 2010-2011, vào ngày 3và 4 tết lễ hội bơi chải truyền thống ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch đã được tổ chức lại. Lễ hội thu hút được rất nhiều người tham gia.

9. Một số chợ tiêu biểu ở Nga Sơn

Nga Sơn không chỉ có nhiều lễ hội đặc sắc mà còn có nhiều những sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tiêu biểu là: Chợ chiếu Hói Đào, chợ Hôm sung xã Nga Bạch, chợ Hoàng xã Nga Văn,…

Trước đây Nga Sơn còn có cả chợ Hôm Giún tại thôn Bái Nại xã Nga Hải. Nhưng chương trình lấn biển vào những năm 1980-1990 đã làm cho biển rời xa , con sông Hưng Long trước đây thông từ cửa biển tới chợ Hôm Giún đã bị chặn bởi cống Mộng Giường. Hết sông, hết biển, hết cả làng chài Bái Nại, chợ cũng không còn nữa.

Hiện nay chỉ còn có chợ Hôm Sung ở xã Nga Bạch, là chợ mang đậm văn hoá ở vùng biển Nga Sơn. Chợ vẫn giữ được vẻ sầm uất xưa. Chợ Hôm Sung chỉ họp vào buổi chiều khi tan việc đồng áng cũng là lúc thuyền chài cập bến. Lúc đó, phụ nữ thì tất tưởi gồng gánh cua bể, tôm, cá, mực…còn các bác thuyền chài với những gọng xiếc và chiếc giỏ khổng lồ lớn cũng hối hả rảo bước cho kịp chợ Hôm. Việc mua bán các sản vật địa phương như cá, tôm, gạo, ngô, khoai…chỉ diễn ra chóng vánh trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Chạng vạng tối chợ đã không một bóng người

Chợ chiếu Hói Đào thuộc xã Nga Thanh giáp danh với làng Ngọc Liên xã Nga Liên, nơi đây có nhiều gia đình với các gian hàng chiếu cói đủ các chủng loại màu sắc rực rỡ. Chợ chiếu được họp từ 7 giờ sáng đến khoảng gần 10 giờ là tan. Tấp nập đông vui nhất là khoảng 8 đến 9 giờ. Các sản phẩm của quê chiếu: Chiếu cải, chiếu đậu, chiếu in hoa đủ các kích cỡ. Các loại thảm trải sàn, làn đựng đồ, túi sách, lẵng hoa…và thật dễ thương là chiếc mũ cói ngộ nghĩnh vẫn còn thơm mùi cói khi đội lên đầu. Sản phẩm ở muôn nơi đem đến, rồi các sảp phẩm này từ chợ chiếu lại toả đi muôn nơi đến các thị trường, trong tỉnh trong nước và cả nước bạn. Người bán kẻ mua tấp nập, các phương tiện đem chiếu đến chợ bán, rồi các phương tiện đem chiếu đi ngược xuôi tấp nập. Chợ chiếu chỉ họp tron buổi sáng nhưng ngày nào cũng đều đặn, mưa gió rét buốt chợ vẫn họp bình thường. Sau khi chợ chiếu tan bấy giờ các bà nội trợ quê chiếu tranh thủ ghé sang chợ thực phẩm cạnh đó để mua thức ăn bồi dưỡng cho gia đình sau một ngày lao động vất vả. Các ông chồng cũng tranh thủ tự thưởng cho mình một tô phở nóng, vài cốc bia hơi.

Sau một ngày đi thăm quan các điểm du lịch, du khách có thể tham gia vào những phiên họp chợ tấp nập cùng những người dân vùng biển Nga Sơn để hiểu thêm về văn hoá và con người nơi đây.

10. Nghề chiếu cói truyền thống

Nga Sơn không chỉ có động Từ Thức, núi Mai An Tiêm, di tích lịch sử Ba Đình… Nga Sơn có nhiều làng nghề truyền thống như nghề chiếu cói, nghề mộc, mỹ nghệ, mây tre đan xuất khẩu… Trong đó tiêu biểu là nghề chiếu cói – một làng nghề truyền thống đã nổi tiếng từ rất lâu, nói đến Nga Sơn là chúng ta nhớ tới chiếu cói với câu ca dao nổi tiếng:

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông

Huyện Nga Sơn được trời phú cho dòng phù sa từ sông Đáy, sông Hồng, sông Hoạt bồi đắp mà thành ruộng, thành làng. Tại những vùng đất phù sa mới bồi bị nhiễm mặn rất phù hợp với cây cói, được sử dụng rộng rãi để lợp nhà, dệt chiếu và làm các vật dụng khác. Cây cói, cây đay đã có từ xa xưa, đến nay cũng chưa ai biết cụ thể, chỉ được nghe các cụ kể lại sự tích cây cói, cây đay:

Chuyện xưa kể rằng: Có cô con gái nhà nghèo nhưng xinh đẹp nết na, da trắng như tuyết. Nàng lại có mái tóc dài, đen óng ả. Nàng đem lòng yêu mến chàng trai làng chân quê vùng biển khoẻ mạnh, giỏi nghề chài lưới. Những đêm trăng sao họ hẹn hò nhau ra cửa Lạch, cùng chờ trăng lên, ngắm biển cầu mong cho duyên số viên thành. Ánh trăng sáng như dát ngọc xuống biển, khuôn mặt của nàng đang độ tuổi trăng tròn đã xinh càng thêm đẹp rực rỡ. Tóc nàng vờn bay ve vuốt tấm lưng vạm vỡ của chàng, hương bồ kết thoang thoảng thơm càng làm cho đôi tình nhân thêm nồng thắm. Họ yêu nhau ngọt ngào, đẫm đượm hương phù sa của biển.

Trước ngày về làm dâu nhà người, nàng hẹn chàng trai đến cửa Lạch. Đêm đó trăng mờ nhạt, những đám mây vần vũ, bỗng trôi nổi cơn giông. Nàng chờ mãi, chờ mãi mà chẳng thấy chàng đến. Những giọt lệ của nàng rơi xuống, càng xót thương cho duyên số chẳng thành. Nàng quay đầu nhìn về làng, những tưởng sẽ nhìn thấy bóng chàng đang tới nhưng vô vọng. Nàng nói thầm trong sự tuyệt vọng: Em xin chàng hãy tha lỗi cho em, hẹn chàng ở kiếp sau. Nói đoạn, nàng cầm con dao cắt mái tóc của mình thả vào trong gió, trong đêm.

Những sợi tóc của nàng theo gió bay khắp cả vùng rồi nàng gieo mình xuống biển.

Chàng trai chạy vội vã đến gặp nàng, nhưng chẳng thấy người yêu của mình chỉ có mùi thoang thoảng hương bồ kết và những sợi tóc dài còn vương lại. Chàng vô cùng đau khổ đã giận bản thân mình không bảo vệ được nàng. Chàng biết, để giữ lời thề ước thuỷ chung, nàng đã gieo mình xuống biển. Mắt chàng đăm đắm nhìn ra biển cả mênh mông, vô vọng, thương nhớ, rồi chàng cũng gieo mình xuống biển. Biển cả mênh mông đã ôm trọn đôi tình nhân vào lòng.

Tình yêu thuỷ chung của đôi trai gái đã làm động lòng các vị thần linh. Thần linh đã cho người con gái hoá thành cây Cói còn người con trai hoá thành cây Đay. Sáng hôm sau, thật kỳ lạ cả một vùng rộng lớn những cây Cói xanh mướt, dài óng ả, mọc lên, bên cạnh lại có những cây Đay cứng cáp xanh rờn. Người dân cho đó là điều lành, bèn cắt cây Cói, nhổ cây Đay về, rồi dùng sợi Đay, sợi Cói dệt thành chiếu. Họ mong muốn cho cây Cói, cây Đay mãi mãi gắn bó với nhau. Để nhớ về một mối tình chung thuỷ, son sắc. Sau này ở Nga Sơn và lan rộng ra cả nước có tục lệ “trải chiếu cho cô dâu, chú rể trước đêm động phòng để mong cho sự thuỷ chung hạnh phúc và sinh con đàn cháu đống”.

Nghề chiếu cói Nga Sơn có hầu hết ở các xã trong huyện, nhưng tập trung ở 8 xã ven biển là Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ, Nga Tiến, Nga Tấn. Trong đó các xã Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ được coi là nghề dệt chiếu toàn tòng. Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng mượt. Điều đặc biệt ít có nơi nào trồng được cói dài như nơi này, loại cói chuyên dùng để dệt nên những tấm chiếu vừa đẹp lại vừa bền.

Theo lời các cụ xưa kể rằng chiếu cói Nga Sơn cùng với chiếu Kim Sơn (Ninh Bình) là một trong những vật cống tiến triều đình, được các bậc vua chúa, quý tộc ưa dùng. Trải qua hơn 150 năm tồn tại với không biết bao là thăng trầm, chiếu cói Nga Sơn đã làm nên thương hiệu cho địa phương, góp phần tạo việc làm, đem lại thu nhập cao cho người dân.

Có nhiều loại chiếu khác nhau như: chiếu đậu, chiếu hoa, chiếu kẻ hình, …Mỗi loại chiếu có những ưu điểm riêng. Trong đó chiếu đậu là loại chiếu đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và giá cũng đắt nhất. Chiếu đậu còn gọi là chiếu trơn, mắt tròn, sợi ken phưng phức, nặng, đổ nước không thấm qua. Chiếu có tốt, có đẹp, có thực là chiếu Nga Sơn phải nhìn vào biên chiếu. Chiếu Nga Sơn là món quà quý và nặng tay, nhưng nặng hơn cả là tình của đất, của người làm nên nó.

Hiện nay, người dân Nga Sơn không chỉ đơn thuần dệt chiếu cói mà còn làm ra nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ với những hoạ tiết hoa văn đẹp như làn, mũ dép, hộp, tấm thảm, đồ dùng trang trí khác…bằng cói rất được ưa chuộng.

Mọi người biết đến Nga Sơn với những đặc sản nổi tiếng chỉ có riêng ở vùng đất này đó là: gỏi cá nhệch, rượu Chính Đại, dê núi ủ trấu…đó không chỉ là những món ăn ngon mà mang cá những nét văn hoá của người dân Nga Sơn.

Cá nhệch là loại cá chỉ có ở vùng biển nước lợ, thường to bằng cỡ ngón chân cái, hình dáng gống con lươn đồng,nhưng dài hơn phần đầu có cái mang phòng to hơn. ở các vùng đầm lầy ngập mặn như Nga Sơn, Kim Sơn – Ninh Bình, Giao Chỉ – Nam Định thường rất sẵn, nhưng chỉ có ở Nga Sơn mới có cách chế biến đặc biệt hơn cả thành đặc sản ” gỏi cá nhệch” và đã trở thành món” đặc sản”của nhiều du khách trong,ngoài tỉnh và cả du khách nước ngoài ưa thích. Người ta nói: đến Nga Sơn ngoài việc thăm thú” Sơn thuỷ hữu tình”nếu chưa thưởng thức” Gỏi cá nhệch” thì coi như chưa đến Nga Sơn.( nhiều người ở nơi xa, chuyện vui là chưa đến Nga Sơn, nhưng biết Nga Sơn qua chuyện Động Từ Thức, Mai An Tiêm, Chiếu Nga Sơn và đặc biệt “Đặc sản gỏi cá nhệch”).

Gỏi cá Nhệch được làm qua rất nhiều công đoạn: Cá sống được bắt về bỏ trong chậu, cho một ít nước vôi trong vào để cá nhả hết nhớt rồi vớt ra rửa sạch. Mổ bỏ nội tạng, lột da và lọc riêng phần nạc rồi đem thái thành từng miếng nhỏ cỡ to hơn sợi mỳ tôm. Cá sau khi thái được ngâm chừng 5 phút trong nước dừa tươi có pha một chút muối, rồi vớt ra vắt thật khô, cho vào một chiếc bát tô sứ to rồi vắt vào đó nước riềng để thấm cá, trộn đều cho đến khi cá ngấm nước riềng chuyển sang màu vàng ngà thì lại vắt cho thật khô rồi bầy lên đĩa xong trộn với thính. Thính để trộn gỏi cũng phải được chế biến rất cẩn thận, hai phần gạo trộn với một phần ngô, ngâm chừng 15 phút rồi vớt ra đem rang nhỏ lửa cho chín vàng, đem xay mịn là được. Nước ăn gỏi thì chẻo là quan trọng nhất nó là chất kết dính của gỏi và các loại gia vị. “Chẻo” được chế biên rất công phu, bao gồm da và xương cá rán giòn, xay nhuyễn, thịt nạc rán giòn xay nhuyễn mẻ ngấu lọc kỹ cùng với hành tỏi, mắm muối, mì chính…được chế biến thành cùng một loại nước đặc biệt với rất nhiều hương vị. Rau sống ăn gỏi gồm: lá Sung, lá Vọng cách, lá Lộc vừng, lá húng…và không thể thiếu đĩa ớt, riềng thái nhỏ để ăn kèm.

Lấy một chiếc lá sung to quấn lại thành hình chiếc phễu, cho gỏi cá cùng các loại rau thơm, gia vị vào trong, cuối cùng là một thìa chẻo đặc sánh rồi gói lại…chén rượu nỏ đưa cay, vài miếng bánh đa vừng, ngồi trên thuyền mà lòng man mát, ngất ngây niềm vui cùng bạn bè tâm đắc, thực khách cứ vừa nhân nhi, vừa vui chuyện về vùng đất Nga Sơn cho đến tàn canh lúc nào không biết

Sau khi thăm quan, leo núi thấm mệt du khách thưởng thức món gỏi cá Nhệch với rượu Chính Đại thì sẽ thấy rất ngon miệng và sức khoẻ dường như được phục hồi. Vì cá Nhệch là loại cá rất khoẻ, bởi thế người ta tin rằng ăn cá Nhệch là một món ăn bổ, có tác dụng tăng gân cốt, khí huyết và sức khoẻ của con người.

Ở Thanh Hoá, các loại rượu ngon nổi tiếng như nếp Cẩm Cẩm Thuỷ, rượu Nếp cái hoa vàng, rượu Tăng làng Quảng, rượu Cần Bá Thước…nhưng có lẽ làm say lòng khách du lịch nhất chính là rượu nếp Nga Sơn. Kinh nghiệm dân gian cho thấy rằng để có được mẻ rượu ngon phải hội tụ đủ các yếu tố đó là: “thiên thời – địa lợi – nhân hoà”. Thì đây, Nga Sơn vốn sẵn có nguồn nước đã từng tạo ra giống dưa Mai An Tiêm ngon, mát, giống nếp cái hoa vàng ngát hương, cộng với loại men bí truyền và kinh nghệm ngàn đời của người nông dân cần cù chịu khó và các yếu tố hài hoà kết hợp với nhau để tạo ra một sản phẩm đặc biệt là rượu nếp Nga Sơn.

Gạo nếp được nấu gọi là nếp lật, tức là gạo nếp chỉ được xay bỏ lớp vỏ trấu, hạt gạo đang còn nguyên lớp vỏ lụa bao phủ bên ngoài. Cơm rượu được đồ chín tới rồi tãi ra nong cho nguội, trộn với men và ủ kỹ trong chum sành, độ vài ba ngày khi chum rượu toả mùi thơm quyến rũ là được. Quy trình chưng cất rượu cũng bằng phương pháp thủ công truyền thống, nồi nấu rượu bằng kim loại nhưng bình ngưng (nơi hơi rượu ngưng lại thành dòng rồi chảy vào chai) lại được làm bằng gỗ mít và lò rượu nhất thiết chỉ được đun bằng củi, như vậy là để cho rượu được đằm không bị sốc và quan trọng là không bao giờ bị khê rượu. Phương pháp truyền thống này cho năng xuất không cao nhưng bù lại cho chất lượng rượu không thể chê vào đâu dược.

Nhấm một chút rượu đã có cảm giác thơm đầu lưỡi của mùi nếp mới, cay cay của men say nơi cuống họng, còn khi chép miệng một cái thì cái cay đã hoá thành cái ấm nóng dần lan toả tới mọi huyết mạch cơ thể…và đó chính là cái duyên của rượu nếp Nga Sơn.

Thịt dê vốn là một loài thực phẩm bổ dưỡng được nhiều người ưa thích, với những người sành điệu thì tiết canh dê hay các món ăn chế biến từ thịt dê thực sự là món khoái khẩu. Trong thực đơn thịt dê có thể chế biến được thành rất nhiều món như lẩu dê, dê sào lăn, dê tái chanh, cháo dê…nhưng món dê thui cả con có lẽ chỉ có ở vùng núi đá Nga An- Nga Sơn mới có. Thực đơn của món dê thui thật đơn giản chỉ có ba món chính là tiết canh dê, dê tùng xẻo và cháo dê nhưng cách chế biến thì quả thật công phu tốn nhiều công sức.

Tiết dê được hãm đóng vào chai dành để đánh tiết canh, dê được cạo lông sạch sẽ rồi khéo léo mổ moi hết nội tạng ra ngoài( đặc biệt phái lấy được hai hạch hoi của dê nằm ở đoạn gáy dê nơi tiếp giáp với bả vai để thịt dê được thơm ngon). Dùng các loại lá thơm nhồi vào bụng dê như lá ổi, lá sả, lá bưởi…. Khâu kín lại, bọc bên ngoài bằng một lớp lá chuối tươi rồi để luôn lên nền đất ẩm. Vật liệu để thui (đốt) dê chủ yếu là rơm nếp trộn với trấu, cho phủ kín con dê rồi mới quạt lửa,trở đi trở lại con dê độ bốn năm lần, mỗi lần độ năm sáu mươi phút thì mới đạt yêu cầu. Sức nóng của lửa rơm từ bên trên cộng với hơi ẩm từ lòng dất hoà quyện làm cho thịt dê chí mền và có một hương vị đặc biệt quyến rũ thực khách, dê ủ trấu chín đều không bị mất mùi và thịt rất ngon.

Bát tiết canh đỏ tươi để khai vị, tiếp đó là đĩa thịt dê đốt nóng hổi ăn kèm với các loại rau thơm chấm với tương gừng, lâng lâng men rượu nếp Nga Sơn…thì chỉ cần thêm bát nhỏ cháo xương dê nấu với đậu xanh nữa là để du khách thêm một lần lưu luyến với Nga Sơn.

Đây cũng là một đặc sản của Nga Sơn. Thông thường thịt dê được chế biến thành các món như: dê tái, dê xào…Nhưng ở Nga Sơn thịt dê được chế biến theo một cách rất đặc biệt. Sau khi thịt dê được làm sạch, người ta để nguyên cả con, ướp da vị vào bên trong bụng của con dê. Sau đó người ta làm chín con dê bằng cách vùi vào trấu, sức nóng của trấu sẽ làm chín được thịt dê. Vì thế mà thịt dê vẫn giữ nguyên được hương vị thơm ngon và màu của con dê không bị thay đổi. Chính những điều này đã làm nên đặc trưng riêng cho món ăn mà chỉ có ở Nga Sơn.

Mức độ đa dạng: Nga Sơn có giá trị nổi bật về tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên có sức hấp dẫn mạnh, đặc biệt là động Từ Thức và đền thờ Mai An Tiêm, chùa Tiên là những điểm đến thu hút nhiều khách du lịch.

Khả năng tiếp cận tài nguyên cũng rất thuận lợi do địa hình của huyện khá bằng phẳng, đặc biệt là mạng lưới giao thông đi lại tại các điểm du lịch khá tốt. Trong những năm gần đây, các điểm du lịch như động Từ Thức, đền thờ Mai An Tiêm di tích lịch sử Ba Đình…các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hoá khác vẫn đang được tiếp tục đầu tư, trùng tu tôn tạo lại tổ chức nhiều lễ hội với quy mô cấp tỉnh để nhằm phục vụ, thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan nhiều hơn.

Những tài nguyên du lịch ở Nga Sơn đang được sử dụng, khai thác hợp lí hơn, nghành du lịch cũng đang được Đảng bộ và nhân dân huyện quan tâm phát triển nhiều hơn.

Ở Nga Sơn có một số cơ sở dịch vụ phục vụ cho nhu cầu ăn nghỉ của du khách như: Khách sạn 2 sao thương mại Nga Sơn (Thị Trấn), Hồng Chương (Thị Trấn), Hảo Phụng (Nga Thanh), nhà hàng ẩm thực gỏi Thịnh Lịch (Nga Liên), nhà hàng dê ủ trấu Ngọc Toản, Hoàng Việt (Nga An), Quy mô các cơ sở đang được mở rộng và nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Số lượng khách du lịch đến tham quan các điểm du lịch ở Nga Sơn liên tục tăng từ năm 1990 đến 2006, trong đó chủ yếu là khách du lịch nội địa. Năm 1990 có 2500 khách nội địa, 3 khách quốc tế, 13 khách doanh nghiệp đến thăm quan du lịch ở Nga Sơn. Đến năm 2021 đã tăng lên 5 khu du lịch đó là:

+ Khu du lịch Động Từ Thức (xã Nga Thiện): Động Từ Thức, Động Bạch Á, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, tướng Trịnh Minh.

+ Khu du lịch Mai An Tiêm: Khu di tích Mai An Tiêm (Nga Phú), Chùa Tiên, Hồ Đồng Vụa (Nga An). Đặc biệt Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức hàng năm vào ngày 12, 13/3 âm lịch với quy mô cấp huyện, hoặc tỉnh thu hút hàng vạn nhân dân và khách thập phương.

+ Khu du lịch chiến khu Ba Đình (Xã Ba Đình)

+ Khu di lịch sinh thái dọc sông hoạt: Của Thần phù, Chùa Hàn Sơn, Núi “Rồng hổ tranh ngọc” và chùa Trúc Lâm, Động Lục Vân (Nga Điền), Lã Vọng, Bia Thần (Nga Thiện).

+ Khu du lịch sinh thái biển.

Việc tổ chức quản lý ở các điểm du lịch cũng đang được quan tâm nhiều hơn. Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang được bảo vệ và tôn tạo để nhằm mục đích phát triển du lịch Nga Sơn.

Ngày 10/7/2009 UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 2166/QĐ-UBND về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch động Từ Thức và các di tích, danh thắng huyện Nga Sơn đến năm 2021 và định hướng đến năm 2021.

Ngày 05/8/2011 UBND huyện Nga Sơn ban hành Quyết định số 1389 /QĐ-UBND về việc phát triển du lịch đến năm 2021 và tầm nhìn 2021. Đề án đã đánh giá thực trạng, tiềm năng du lịch Nga Sơn, những hạn chế tồn tại đặc biệt đề án đã đề ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả để đẩy mạnh phát triển du lịch của Nga Sơn. Trong những năm tiếp theo và tầm nhìn đến năm 2021 để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa phương, quy hoạch xây dựng nông thôn mới Nga Sơn giàu, đẹp, văn minh.

【#6】Cùng Hội Bạn Oanh Tạc Những Địa Điểm Gây Sốt Ở Bắc Kạn

Tham khảo những chuyến xe đi Bắc Kạn quanh năm

Các chuyến từ Hà Nội và các vùng lân cận phía bắc đi Bắc Kạn

Các chuyến xe Sài Gòn và các tỉnh phía Nam đi Bắc Kạn

    Công ty cổ phần CPCVTDV Bắc Kạn

    Số điện thoại: 0281 3878117 – 0281 3870838

    Lịch trình : Bắc Kạn – Thái Nguyên

    Giờ xuất bến : Bắc Kạn 5h đến 11h40

    Lịch trình : Bắc Kạn – Hà Nội

    Giờ xuất bến : Bắc Kạn 5h50-6h50-7h-7h30-11h15

    Lịch trình : Bắc Kạn – Nam Định

    Giờ xuất bến : Bắc Kạn 4h30

    Lịch trình : Bắc Kạn – Ba Bể

    Giờ xuất bến : Bắc Kạn 14h30

    Lịch trình : Bắc Kạn – Na Rì

    Giờ xuất bến : Bắc Kạn 7h Na Rì 11h30

    Lịch trình : Bắc Kạn – Chợ Đồn

    Giờ xuất bến : Bắc Kạn 8h15-13h15 Chợ Đồn 7h50

Kinh nghiệm du lịch Ba Bể- Bắc Kạn

Ba Bể là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây hấp dẫn du khách bởi những nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Bởi những thắng cảnh và di tích lịch sử mang đậm dấu ấn một thời. Bởi những con người dân tọc miền nùi hiền lành, mộc mạc, chân phương. Du lịch Ba Bể sẽ giúp bạn tìm ra những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử vang vọng một thời. Để chuyến hành trình khám phá Bắc Kạn sẽ trọn vẹn hơn.

1.Nên đến Ba Bể vào thời gian nào?

Bạn có thể đến Ba Bể vào bất cứ thời gian nào trong năm. Tuy nhiên, quãng thời gian đẹp nhất là vào tháng 5, tháng 6. Lúc này tiết trời mát mẻ, nắng cũng không oi nồng. Thêm vào đó vào tầm này trời thường chưa bắt đầu mưa nên rất thuận tiện để bạn khám phá Bắc Kạn. Nếu đi vào mùa mưa bạn nên trang bị thêm dụng cụ đi mưa như áo mưa, ô.

2.Kinh nghiệm chọn khách sạn/ nhà nghỉ/ homestay ở Ba Bể

3.Trải nghiệm những món ăn đặc sản ở Ba Bể

  • Thịt lợn bản hun khói: Là loại thịt được tuyển chọn từ những chú lợn ngon và chất lượng trong bản. Khi xắt ra có màu hồng đào trông rất bắt mắt. Loại thịt này có vị ngọt đậm và mùi thơm rất đặc trưng. Ăn có vị đậm đà, không ngán. Món này thường đường người dân địa phương đãi khách quý, khách phương xa. Nếu đến Ba Bể, nhất định bạn phải thử qua món thịt lợn hun khói độc đáo này.
  • Cá nướng Ba Bể: Cá được đánh bắt tại hồ Ba Bể. Sau đó được người dân địa phương chế biến liền nên rất tươi. Khi ăn có vị ngọt thơm, chắc thịt, giòn giòn và không hề ngán. Bạn có thể vừa thưởng thức món này cùng với rượu ngô và vừa đi thuyền du ngoạn trên hồ Ba Bể.
  • Tôm chua Ba Bể: Thịt tôm sau khi được làm sạch sẽ đem đi trộn với các nguyên liệu đặc trưng khác rồi ủ kín. Sau khi tôn đã ngấm gia vị, người dân sẽ đem tôm này đi chế biến. Thịt tôm sau khi chế biến có vị thơm, chua dìu dịu và se se cay. Món này ăn cùng với thịt chân giò hoặc ba chỉ luộc sẽ càng đậm đà và trọn vẹn hương vị hơn. Đây là món đặc sản khiến khách du lịch ăn một lần là nhớ mãi hương vị đặc trưng của nó.
  • Bánh ngải: Đây là món ăn đặc trưng của riêng người dân tộc Tày. Bánh được làm tự loại gạo nếp nương ngon nhất. Bánh có màu xanh đặc trưng, lại có mùi thơm của ngải cứu.
  • Các loại rau rừng: như rau sắng, rau bồ khai, rau dớn… Đây đều là những loại rau rừng rất hấp dẫn của Ba Bể. Rau thường không giữ được độ tươi lâu nên sau khi hái mang về sẽ được chế biến ngay.
  • Khâu nhục: Đây là đặc sản hấp dẫn của Ba Bể nói riêng và Bắc Kạn nói chung. Khâu nhục được chế biến chủ yếu từ khoai môn Bắc Kạn và thịt ba chỉ. Khi ăn sẽ cảm nhận được thịt thơm mềm, khoai ngọt bùi, thanh thanh.

4.Những địa điểm du lịch ở Ba Bể

  • Vườn quốc gia Ba Bể: Là di sản thiên nhiên quý giá của Bắc Kan nói riêng và của Việt Nam nói chung. Vườn quốc gia Ba Bể là hệ thống bao gồm rừng nguyên sinh trên núi đá vôi. Xung quanh là hồ nước trong xanh. Rừng là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật quý hiếm như gà lôi, phượng hoàng, vooc mũi hếch…
  • Động Hua Mạ: Động Hua Mạ là một thắng cảnh thuộc khu vực vườn quốc gia Ba Bể. Hang nằm bên dòng sông Lèng thơ mộng, hiền hòa. Xung quanh là cây cối xanh rì, rậm rạp. Hang động quanh năm âm u. Là nơi kích thích sự dũng cảm và tò mò của biết bao nhiêu du khách khi du lịch đến Ba Bể này.
  • Động Puông: là một trong những điểm đến mà bạn không nên bỏ qua khi du lịch Ba Bể. Đây là nơi con sông Năng chảy xuyên qua dãy núi đá vôi tạo thành với nhiều cột đá hùng vĩ. Khi du thuyền trong động Puông bạn sẽ có cảm giác như lạc vào một xứ sở thần tiên. Xung quanh chỉ có tiếng khua của mái chèo, tiếng hót líu lo xa xôi của những chú chim rừng. Dường như mọi lo toan, mệt mỏi đều tan biến khi bạn dong thuyền tham quan động Puông này.

Kinh nghiệm du lịch Na Rì

Huyện Na Rì thuộc Bắc Kạn nổi tiếng với địa hình chủ yếu là đồi núi, thung lũng hẹp, độ dốc lớn. Tuy nhiên, Na rì lại sở hữu nhiều điểm du lịch đẹp nức lòng khách du lịch như: chợ Tình Xuân, động Nàng Tiên, thác Đà Năng… Và có vô vàn món ăn ngon, hấp dẫn ở nơi này chờ bạn khám phá.

1.Nên đến Na Rì vào thời gian nào?

Nếu bạn yêu thích những phiên chợ của Bắc Kạn thì nên đến Na Rì vào khoảng tháng 3 âm lịch. Vì hội chợ truyền thống xã Xuân Dương (Na Rì) mỗi năm chỉ họp một phiên duy nhất vào ngày 25 tháng 3 âm lịch. Phiên chợ này bày bán mọi mặt hàng. Không chỉ là nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa mà đây còn là nơi gặp gỡ, giao lưu, tìm kiếm bạn tình cho mình của người dân nơi đây.

Bên cạnh đó, đến Na Rì vào mùa xuân bạn sẽ có cơ hội tham gia nhiều lễ hội nơi đây. Các lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc như lễ hội Lồng tồng bản Pjoo – xã Lam Sơn, huyện Na Rỳ. Các lễ hội này đều mang những nét đẹp đặc trưng riêng của người dân tộc với mục đích cầu mong cho con người có sức khỏe, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu.

Khu vực này ít homestay hơn so với ở Ba Bể. Tuy nhiên lựa chọn một khách sạn an ninh tốt, sạch sẽ và đầy đủ tiện nghi cũng là lựa chọn tuyệt vời. Đến với Na Rì, bạn sẽ không lo thiếu chỗ nghỉ ngơi. Vì nơi này có rất nhiều nhà nghỉ và khách sạn phục vụ quý khách 24/24.

  • Miến dong Na Rì: Đến Ba Bể nhưng chưa thưởng thức qua miến dong Na Rì thì xem như chuyến đi của bạn chưa trọn vẹn. Miến được làm từ tinh bột nguyên chất của những củ dong riềng trồng trên đèo Áng Toòng. Nhờ đôi bàn tay khéo léo của người dân đã làm ra món miến thơm, ngon và dai. Món miến này hoàn toàn không sử dụng phẩm màu. Và được chế biến hoàn toàn thủ công. Miến có màu vàng hoặc trong đục, Sợi miến dai, thơm mùi dong riềng. Để lâu không bị nát như những loại miến miền xuôi.
  • Bánh Pẻng phạ: Để thưởng thức món này, bạn nên đến Na Rì vào mùa xuân. Vì bánh pẻng phạ thường xuất hiện trong dịp người Tày đón mừng năm mới đầu năm hoặc lễ hội xuống đồng.
  • Thịt treo gác bếp: Cách chế biến món thịt này vô cùng độc đáo: Thịt heo rừng được nia xát muối , bóp rượu, bóp nước vắt từ một loại lá trong rừng. Sau đó cho vào chảo ủ ba đến bốn ngày, rửa nước đun sôi để nguội, phơi ráo nước rồi treo trên gác bếp. Một món ăn với cách chế biến độc đáo này chắc chắn sẽ mang một hương vị rất riêng, rất khác mà không phải ở đâu cũng có thể có được.
  • Động Nàng Tiên: Động Nàng Tiên thuộc xã Lương Hạ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Đây là một hang đá tự nhiên có từ lâu đời, mang trong mình biết bao thăng trầm của lịch sử. Không chỉ là nơi có khung cảnh thiên nhiên đẹp, nơi có rất nhiều nhũ đá rủ xuống thành nhiều hình thù khác nhau. Mà động Nàng Tiên còn gắn với biết bao câu chuyện truyền thuyết huyền bí, chờ bạn đến khám phá.
  • Thác Nà Đăng: Thuộc xã Lương Thành, huyện Na Rì. Thác Nà Đăng là một thác nước chảy từ đỉnh núi xuống với độ cao trên 100m. Hòa cùng với thiên nhiên núi rừng hùng vĩ, hiểm trở đã tạo nên một cảnh đẹp thiên nhiên hiếm thấy. Đến đây bạn không chỉ đắm mình trong dòng thác hung dữ nhưng thơ mộng ấy mà bạn còn có cơ hội trải nghiệm, khám phá vẻ đẹp mộc mạc, bình yên của núi rừng Tây Bắc.
  • Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ: Là nơi lưu giữ được hiện trạng nguyên sơ của thiên nhiên mà không có bất kì tác động nào của con người. Kim Hỷ là nơi sở hữu một hệ sinh thái động, thực vật phong phú và đa dạng, với rừng trên núi đá vôi, biểu trưng cho giá trị độc đáo của vùng Đông Bắc Việt Nam.
  • Ngoài ra, bạn có thể đến xã Lam Sơn, xã Xuân Dương vào dịp đầu năm để tham dự các lễ hội truyền thống của người dân địa phương Na Rì. Hội chợ là nơi hội tụ nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc Tày, Nùng, Dao… Là nơi để bà con dâng lên đấng thần linh những mâm cỗ cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Bên cạnh đó, chợ tình Xuân Dương cũng là một trong những lễ hội lớn nhất ở Na Rì. Là nơi để các đôi nam nữ nắm tay nhau nhảy múa, hát hò, chúc tụng và uống rượu. Là nơi tổ chức nhiều cuộc thi thố, gắn kết thêm tình làng nghĩa xóm của người dân nơi này. Nếu tham gia những ngày hội này, bạn sẽ hiểu hơn về nếp sống và những phong tục tập quán của người dân bản địa nơi này.

Kinh nghiệm du lịch Bạch Thông

Bạch Thông là một huyện thuộc trung tâm tỉnh Bắc Bắc Kạn. Đến với Bạch Thông, bạn sẽ được tận hưởng một làn không khí mát lành, trong veo của núi rừng trùng điệp và những thác nước thơ mộng. Nơi bạn sẽ được trải nghiệm với nhiều điểm du lịch như đèo Giàng, thác Roọm… Cùng với rất nhiều món ăn ngon, lạ, hấp dẫn khác. Bạch Thông hứa hẹn sẽ góp cho chuyến du lịch của bạn thêm nhiều trải nghiệm thú vị.

1.Nên đến Bạch Thông vào thời gian nào?

Bạch Thông mùa nào cũng mang một nét đẹp đặc trưng. Nhưng nếu bạn đi vào tháng 8 đến tháng 10 bạn sẽ có cơ hội thưởng thức đặc sản quýt Quang Thái. Đây là loại quýt ngon và có số lượng rất ít ở vùng này. Không nên đi vào mùa mưa vì vào mùa này, ở các con thác mưa lũ rất nhiều, gây nguy hiểm cho những du khách muốn trèo đèo, lội thác.

2.Kinh nghiệm chọn khách sạn/ nhà nghỉ/ homestay ở Bạch Thông

  • Lạp xưởng hun khói: Lạp xưởng ở Bạch Thông được làm từ thịt heo nên thịt rất thơm và chắc. Lạp xưởng được ướp bằng gừng đá. Loại gừng mà chỉ mọc trên đá của người dân tộc miền núi nên có mùi thơm đặc biệt, khác hoàn toàn với các loại gia vị miền xuôi. Bạn có thể mua món này về làm quà cho gia đình, người thân.
  • Trám đen: là quả đặc sản của núi rừng Việt Bắc, đặc biệt là ở Bắc Kạn. quả trám bùi, ngậy, đậm đà. Bảo đảm bạn đã thưởng thức qua một lần sẽ nhớ mãi mùi vị này. Quả trám ở Bắc Kạn hoàn toàn trong môi trường tự nhiên không bị ảnh hưởng hay tác động bởi hóa chất nên rất an toàn cho sức khỏe.
  • Các loại rau rừng: cũng là một đặc sản rất riêng của Bạch Thông. Rau rừng ăn kèm với các loại thịt hun khói sẽ mang đến cho bạn hương vị ngon ngất ngây. Hầu hết các loại rau rừng đều hoàn toàn từ thiên nhiên, không có bất kì hóa chất nào. Vì vậy không những giữ được hương vị tự nhiên mà nó còn bảo đảm sạch, an toàn cho sức khỏe.

4.Những địa điểm du lịch ở Bạch Thông

  • Thác Roọm: thuộc xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông. Cách thị xã Bắc Kạn khoảng 8km theo tỉnh lộ Bắc Cạn – Chợ Đồn. Khu thác này gồm sông núi, quần thể bãi đá với nhiều hình thù khác nhau. Dòng thác treo chênh vênh giữa triền núi, khi thì dữ dội, mạnh mẽ đập vào các phiến đá. Khi lại hiền hòa, thơ mộng như đang reo ngân giữa núi đồi. Và trong cái không khí trong lành, thoáng đãng ấy, khách du lịch như rũ bỏ mọi mệt mỏi, căng thẳng, lo âu của cuộc sống để tận hưởng từng khoảnh khác, tìm lại chình mình. Chỉ có ta và thiên nhiên- bình yên và thanh thản. Sau khi đã vui chơi ở thác, bạn có thể trở về làng để ăn uống, nghỉ ngơi.
  • Khu di tích lịch sử Nà Tu: Di tích lịch sử Nà Tu thuộc xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, Bắc Kạn. Trong quá khứ, khu di tích này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bộ đội ta. Ngày nay, nó đã được tôn tạo khang trang lại. Bao gồm nhà sàn tưởng niệm Bác Hồ; nhà bia, lán thanh niên xung phong và các công trình phụ trợ khác. Nơi đây mỗi năm vinh dự được các Đảng, cấp nhà nước tới thăm. Sẽ là một địa điểm thích hợp dành cho những bạn yêu thích lịch sử Việt Nam, tìm về những tháng ngày huy hoàng của bộ đội ta.

Kinh nghiệm du lịch Chợ Mới

Thị trấn Chợ Mới- Bắc Kạn giáp tỉnh Thái Nguyên, nơi mà sao bao nhiêu thăng trầm vẫn giữ được cho mình những nét đẹp văn hóa không bị phai tàn theo thời gian. Đến với Chợ Mới, bạn sẽ được chìm đắm trong những vườn hoa tràn đầy sắc màu ở Thung lũng Hoa, được thưởng thức những món ăn đặc sản không phải nơi nào cũng có. Du lịch Chợ Mới chắc chắn sẽ không khiến bạn thất vọng!

1.Nên đến Chợ Mới vào thời gian nào?

Mùa xuân là thời điểm đẹp để bạn đến thăm Chợ Mới. Vào thời gian này, ở chùa Thạch Long thường tổ chức lễ dâng hương. Bạn có thể đến và tham dự, dâng hương để cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình và người thân. Ngoài ra, mùa xuân cũng là thời điểm nhiều nơi trong huyện tổ chức lễ hội đón mùa xuân nên rất nhộn nhịp, đông vui. Không chỉ là thời gian thích hợp để bạn chụp hình lưu niệm mà còn là dịp để bạn trải nghiệm, tiếp xúc với đời sống của dân tộc miền núi.

Bạn cũng có thể đến Chợ Mới vào dịp tháng 6, tháng 7 để thưởng thức món trứng kiến độc đáo nơi này.

2.Kinh nghiệm chọn khách sạn/ nhà nghỉ/ homestay ở Chợ Mới

3.Trải nghiệm những món ăn đặc sản ở Chợ Mới

  • Bánh trứng kiến: bao gồm các nguyên liệu: trứng kiến, bột gạo, lá non của cây vả. Món này làm khá vất vả. Người dân phải tự tay đi lấy trứng kiến về làm nhân bánh. Khi ăn, bạn sẽ cảm nhận được độ dẻo của gạo nếp, vị mềm của lá vả, và đặc biệt là vị béo béo ngậy ngậy của nhân bánh được làm từ trứng kiến.
  • Lợn sữa quay: Lợn sau khi làm sạch được quay trên than hồng. Lợn quay được tẩm ướp gia vị đặc trưng của miền núi nên có vị thơm, vị ngậy. Bảo đảm ăn một lần sẽ nhớ mãi hương vị này. Lơn sữa quay này xuất hiện khá nhiều ở vùng núi nhưng muốn thưởng thức hương vị ngon nhất bạn phải thử ở Chợ Mới, Bắc Kạn.

4.Những địa điểm du lịch ở Chợ Mới

  • Chùa Thạch Long:thuộc xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Ngôi chùa này được mệnh danh là chùa thiêng nước đá. Quả thực vậy, ngôi chùa chứa trong mình rất nhiều sự tích, huyền sử đẹp. Mỗi sự tích lại đưa bạn đến gần hơn những truyền thống văn hóa đẹp của người bản xứ. Mỗi dịp xuân về, chùa lại thu hút hàng ngàn khách tứ phương đổ về dâng hương cầu phúc, cầu ấm no, thịnh vượng. Ngôi chùa mang vẻ đẹp trang nghiêm, thanh tịnh và rất yên tĩnh. Đây chính là nơi để bạn rũ bỏ đi mọi nhơ nhớp, ồn ào của trần thế. Là nơi để bạn lắng nghe tiếng lòng mình và thư giãn sau những ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi.
  • Thung lũng hoa: nằm ở xóm Đồng Luông, xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Đây là địa điểm lý tưởng cho mọi người cắm trại, dã ngoại, vui chơi, chụp hình cưới, chụp hình lưu niệm… Đến với thung lũng hoa này, bạn sẽ đắm chìm trong vườn hoa tam giác mạch, hoa cải, hoa violet, cúc vạn thọ… Nơi có những hang động, thác nước tuyệt đẹp. Trên nền hoa trắng xóa kết hợp với màn sương mờ ảo cùng dòng thác hùng vĩ đã tạo nên một khung cảnh lãng đãng, đẹp mắt như bức tranh thủy mặc. Nơi đây còn là địa điểm tổ chức nhiều trò chơi dân gian như bập bênh, tùng còn, đầy bè mảng. Đến với thung lũng hoa, bạn sẽ hòa mình vào nhịp sống của người dân, được họ kể cho nghe về những phong tục tập quán và trải nghiệm những món đặc sản nơi này.
  • Hang Thắm Làng: Hang không chỉ đẹp, rộng mà còn là nơi lưu giữ hệ động- thực vật khá phong phú như: khỉ, sơn dương, gà rừng, chim công… Xung quanh hang là những ăn nhà sàn xinh xắn thấp thoáng bên vườn cây. Bạn có thể nghỉ ngơi ở nơi này. Người dân địa phương rất thân thiện và mến khách.

【#7】Sài Gòn Có Một… Xóm Gà

Xóm Gà là một xóm quê, nhưng có đường lộ rải nhựa, xe ngựa, xe hơi đi lại thuận tiện, lại có một chợ tuy nhỏ nhưng người mua kẻ bán cũng khá đông, đa số là dân thôn quê quanh vùng Gò Vấp. Nhà cửa ở đây xen lẫn những ngôi nhà tranh, nhà gỗ và lợp mái tôn, những căn nhà làm bằng vật liệu nhẹ để cho thuê – người thuê đều là dân nghèo tứ xứ. Sáng lên Sài Gòn – Chợ Lớn làm, tối mới về ngủ qua đêm. Xuất xứ của cái tên “Xóm Gà” là gì thì cho tới nay chưa có tài liệu nào nói rõ.

Có người nói, vì trước đây, ở xóm này có chợ bán gà từ các vùng quê lân cận mang tới bán buôn cho người Sài Gòn. Nhưng cũng có người nói trước đây, ở xóm Bình Hòa, có một khu đá gà của các tay máu mê cờ bạc, thường Chủ nhật, ngày lễ ôm gà tới đá độ, ăn thua bạc ngàn (tiền thời đó). Có điều chắc chắn là Xóm Gà khi xưa, cách đây gần một thế kỷ đã nổi tiếng là xóm anh chị cờ bạc, những người lạ mặt không dám lui tới.

Xóm gà – Ngã tư Lê Quang Định – Nguyễn Văn Đậu (quận Bình Thạnh, TP HCM)

Xóm Gà không phải là một địa danh hành chính ghi trong bản đồ. Cái tục danh “Xóm Gà” là do dân gian đặt cho. Xã Bình Hòa, đất rộng người thưa lại xa trung tâm gần 10 cây số. Đất rộng bỏ hoang nhiều, nên người tứ xứ đã kéo nhau đến đây cư ngụ và làm ruộng, chăn nuôi gia súc. Ở đây là đồng ruộng nên người ta nuôi đa phần là gà để đem lên chợ thành phố bán sỉ. Từ tờ mờ sáng, họ đã quang gánh lũ lượt mang gà đi bán. Gà thịt, gà giò, gà trống thiến, gà kiểng, gà nòi, gà chọi đủ loại. Sau này những con buôn đã đích thân tới xóm này để lựa gà, mua gà cho tiện và rẻ hơn. Nơi đây trở thành một xóm chuyên nuôi gà và bán gà nên được dân gian gọi là Xóm Gà.

Ngoài việc cung cấp gà thịt, người dân ở đây có nuôi thêm giống gà tre, gà nòi để đá độ, ăn giảng tượng trong các dịp lễ hội, tết nhất. Sau này lại có những tay nuôi gà nòi, gà tre (loại gà đá nhỏ con) đem gà lại đây thách đá ăn tiền, ta gọi là đá độ. Thời đó Xóm Gà hay bị những tay du côn ở Hóc Môn, Bà Điểm, Bình Chánh… kéo nhau đến thách thức đá độ. Và ở Xóm Gà đã xuất hiện những tay anh chị chuyên đối đầu với dân chơi ở xa tới. Thời đó, từ năm 1910 đến năm 1945, phải kể đến những tay anh chị như Năm Đồ, Năm Tồn, Ba Giáp… mà nay nhiều người tuổi trên bát tuần còn nhớ rõ.

Ở Xóm Gà có hai ba hạng anh chị. Một loại hạng đúng là “du côn” đâm thuê chém mướn, những tay này cứ mở miệng ra chửi thề, là tay đấm, chân đá. Một hạng nữa được gọi là “đàn anh” lúc nào cũng tỏ ra nghiêm trang và đứng đắn, trọng nghĩa khinh tài, hễ gặp việc gì nguy hiểm thì sẵn sàng lăn xả vào bênh vực, dù kẻ địch có mạnh hơn cũng không chịu thua. Hạng người này có máu anh hùng mã thượng, không ai chịu thua ai và không sợ ai. Những đàn em trong Xóm Gà đã tặng cho những người này cái tên xước danh là “Đại ca”.

Vào khoảng năm 1910 đến 1919, tại Bình Hòa có một người tên là Nguyễn Hữu Nghĩa làm thông phán ở sở Tạo tác Gia Định. Tánh ông cương trực, lại có ngón võ cao cường. Những người thân cô thế cô bị bọn du côn cướp giật, vô cớ gây sự đánh lộn là ông Nghĩa sẵn sàng can thiệp giải vây, nếu chúng không nghe, ông Nghĩa ra tay đánh cho chúng những trận đòn sống chết để chúng ngán sợ, không lui tới Xóm Gà gây rối, phá phách.

Cũng tại Xóm Gà còn có một người được coi là tay anh chị nhất vùng, tên là Năm Tôn, làm thợ ở xưởng Ba Son. Mỗi khi anh định ra tay đánh ai thì anh quyết hạ cho được, dù người đó có thế lực như đội xếp (cảnh sát) mã tà hay biện Tây cũng không lùi bước. Nhưng không phải vô cớ anh đánh người, chỉ những kẻ cậy khỏe mạnh, cậy quyền thế ức hiếp kẻ thân cô thế cô, thì anh Năm Tồn mới ra tay can thiệp. Vì vậy đàn em của Năm Tồn cũng khá đông để bảo vệ cho anh.

Năm Tồn cư ngụ ở Xóm Gà từ khi mới sanh ra. Miếng đất của anh là nơi hương hỏa của gia đình anh để lại. Nay anh Năm Tồn đã chết nhưng tiếng tăm của anh vẫn còn được nhiều người ở vùng Gia Định nhắc tới. Chỗ nhà đất Năm Tồn ở khi xưa, nay là chợ Chồm Hổm ở ngã tư Bình Hòa (hay là ngã tư Thầy Sóc), cũng có người còn gọi là chợ Năm Tồn để ghi nhớ một tay anh chị một thời vang bóng.

Kể thành tích giới giang hồ anh chị mà không nhắc đến Ba Giáp thì thiếu sót.

Ba Giáp nguyên quán ở Quảng Bình, nhưng theo gia đình lưu lạc vào vùng Xóm Gà – Bà Chiểu sinh sống, Ba Giáp tướng người khôi ngô, mặt xương, mũi thẳng, mắt sáng, tính tình cương trực, dám nói dám làm, không bao giờ chịu lùi bước trước kẻ địch có quyền thế. Ba Giáp sống bằng nghề dạy võ, có nhiều môn sinh và anh sống độc thân, không vợ con. Những tay du côn có tiếng ở vùng Chợ Lớn khi xưa như Tư Mắt, Năm Liễu hay Sáu Thắm, Tư Son ở vùng An Nhơn, Gò Vấp, nghe danh Ba Giáp đều bái phục và đặt cho Ba Giáp cái xước danh “Lý Ngươn Bá”.

Bữa nọ tại chùa Ông có đám làm chay, có một bọn du côn vùng Hóc Môn, Bà Điểm kéo đến giựt heo quay cúng trên tay em út Ba Giáp và còn ra tuồng không sợ ai. Ba Giáp nghe tin, tới can thiệp phân phải trái. Bọn du côn không coi ai ra gì, hơn 10 tên xông vào đánh Ba Giáp, nhưng một mình Ba Giáp đã đánh cho bọn chúng nhừ tử, đứa nào đứa nấy đều mang thương tích bỏ chạy ráo trọi. Kể từ đó về sau, không còn đám du côn nào ở vùng xa dám bén mảng tới vùng Xóm Gà, Bình Hòa nữa.

Vào đúng tuổi 25, Ba Giáp đã xuống tóc vào chùa quy y, dứt phần đời, bỏ lại cái tên Ba Giáp vùng Xóm Gà, để vào tu tại chùa Sắc Tứ Tập Phước và mang pháp danh Thiện Minh. Sau đó thầy Thiện Minh sang trụ trì chùa Hội Phước, lên tới chức Hòa thượng rồi viên tịch vào ngày 11 tháng 11 âm lịch, năm 1947…

Thi sĩ Tản Đà và bài thơ về Xóm Gà

Xóm Gà càng nổi danh vì đã từng có nhiều văn nhân, ký giả tên tuổi khắp Bắc – Trung – Nam tới cư ngụ.

Xóm Gà bây giờ nhìn từ trên cao

Điều lý thú hơn nữa là nơi đây lại chính là chốn tạm dừng chân của nhà thơ tên tuổi lẫy lừng: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu – trong thời gian ông vào đất Nam Kỳ làm báo.

“Hồi đó ông Diệp Văn Kỳ có đề nghị với Tản Đà để ông tặng nhà thơ số tiền trang trải công nợ. Ông yêu cầu Tản Đà khi hết nợ rồi, vào Nam viết cho tờ Đông Pháp Thời Báo. Trong lúc đã cạn ly thứ ba, Tản Đà cao hứng nhận lời ngay. Và ông Diệp Văn Kỳ mở bóp ra, lấy hai xấp giấy bạc trao vào tay nhà thơ một cách tự nhiên như hai người bạn đã quen biết nhau từ lâu. Tản Đà cầm lấy, cũng không ngạc nhiên gì hết. Các văn hữu cùng ngồi uống rượu không cho là việc lạ, vì ai cũng biết tánh phóng khoáng của Chủ nhiệm Đông Pháp Thời Báo trong sự đối xử với bạn làng văn. “Sau đó, Tản Đà đứng dậy cáo từ người bạn mới và hẹn khi ra Bắc thu xếp công việc ông sẽ vào liền…”.

“Cái nhà của chúng tôi ở kế tiếp với Xóm Gà, nó là một nơi nhà quê thuộc làng Bình Hòa, cách Bà Chiểu 4 cây số và cách Sài Gòn độ 10 cây số. Nhà có bốn gian. Gia đình ông và tôi thuê một gian thì cũng hơi chật, nếu thuê hai gian thì đủ lắm rồi. Nhưng vì tòa nhà ấy mới làm xong, chúng tôi là những khách đến ở đầu tiên, cho nên Tản Đà nhất định thuê cả bốn gian: Một gian làm buồng, một gian làm buồng giấy, một gian làm buồng ăn, còn lại một gian nữa thì để mắc một cái võng đem ở Bắc vào. “Theo sự sắp đặt ấy, sau khi nhà đã thuê xong, Tản Đà liền đi mượn người phá mấy bức tường ở giữa để lấy đường thông gian nọ sang gian kia và lấy gạch xây cái bể cạn”. “Cái nhà này cũng không lấy gì làm đắt, tất cả bốn gian có 28 đồng. Với số lương của chúng tôi, nó là một phần mười chứ gì. Thế mà tháng nào cũng phải khất độ vài bốn hẹn”.

Và Tản Đà có mặt ở Xóm Gà làm báo với ông Kỳ. “Ông Diệp Văn Kỳ rước ông vào tòa soạn cũng chỉ mong Báo Đông Pháp Thời Báo được những nét bút tài hoa tô điểm “trang văn chương” với hai chữ ký “Tản Đà” đã lừng danh từ Nam chí Bắc với một bài thơ mỗi tuần, còn ông Tùng Lâm phụ tá và cả ông Ngô Tất Tố nữa. Ông Chủ nhiệm Đông Pháp Thời Báo dám tỏ bụng liên tài, thù lao Tản Đà mỗi tháng một trăm đồng (bằng lương chủ quận, hồi đó một viên thư ký ăn lương có mười hai đồng). Ấy vậy mà lắm khi báo sắp lên khuôn, tòa soạn vẫn chưa có bài thơ nào của Tản Đà. Ông Kỳ cho tùy phái ba lần, bốn lượt vào tận nhà của thi sĩ ở Xóm Gà (Gia Định) để đốc thúc. Có lần Tản Đà nổi nóng, đã thốt ra một câu nói lịch sử “Làm thơ đâu phải bửa củi mà muốn lúc nào là có lúc đó?”.

Làm báo với ông Diệp Văn Kỳ ít lâu, Tản Đà lại khăn gói trở ra Bắc để hy vọng tục bản tờ “An Nam Tạp Chí” của ông. Nhưng Tản Đà vẫn nhớ cái Xóm Gà nên trong khi đi xe lửa về Bắc, lúc tàu tới Nha Trang, Tản Đà đã cảm hứng sáng tác một bài thơ đề là:

Gửi tòa soạn

Đông pháp Thời báo “Xóm Gà tan giấc rạng vầng ô, Tối đến Nha Trang rượu một bồ. Trợ bút đã xin từ bác Diệp, Văn chương để lại cậy thầy Ngô. Dám quên “Đông Pháp” người tri kỷ? Riêng nhớ “An Nam” bức địa đồ. Hai chuyến chơi Xuân Thìn với Mão, Đi ra còn nhớ mãi đường vô”. Phạm Thứ Lang Năng lượng Mới số Xuân 2021

【#8】Phòng, Chống Dịch Cúm Gia Cầm::chớ Xem Thường Mối Nguy Từ Gà Chọi

Nhiều người nuôi gà chọi không muốn tiêm phòng cúm gia cầm cho gà, vì lo sợ gà xuống sức.

Nhiều người nuôi gà chọi thường né tránh mỗi khi có người lạ hỏi thăm, nhất là cánh nhà báo. Chúng tôi cố gắng tiếp cận họ dù đã nói cho họ biết mục đích của mình. Ông Lê Tánh ở thôn Tây 4, xã Diên Sơn, Diên Khánh (Khánh Hòa) là một người “mê” đá gà từ nhỏ. Những năm trước giải phóng, khi còn là một thanh niên, ông Tánh mê đá gà đến nỗi “quên ăn, quên ngủ”, hầu như ngày nào cũng có mặt ở các trường gà Thành Diên Khánh hay Nha Trang. Nay, ông Tánh cũng còn say mê đá gà nhưng trường đá gà chỉ quanh quẩn ở những sân đất ven xóm. Gà của ông cũng không còn nhiều như trước, chỉ đếm trên đầu ngón tay và “đối thủ” cũng chỉ là những chú gà chọi của những người trong làng. Chơi đá gà bây giờ đối với ông như thú tiêu khiển, giải trí lúc tuổi già chứ không mang tính đỏ đen, sát phạt như hồi còn trẻ. Ông Tánh “cưng” con gà đá của mình như con, ẵm bồng, vuốt ve, nuông chiều như nâng trứng mỏng, ăn uống thì không thiếu thứ gì, cốt chỉ để cho gà khỏe, đẹp da, chiến đấu tốt. Đối với ông, chuyện tiêm phòng dịch cho gà tuy có nhưng lúc gà còn nhỏ và chỉ “can thiệp” trên gà mẹ. Còn đối với gà đá thì không được đụng tới, vì theo ông, gà sẽ đá không hay, gân yếu, té lên té xuống, đi đứng không vững. Do vậy, từ khi gà được 6 – 7 tháng là ông dứt khoát không cho ai tiêm phòng.

Niềm đam mê đá gà của anh Ngô Văn Phú (Vĩnh Trung, Nha Trang) cũng không thua kém ông Tánh. Tuy bận rộn với công việc của xưởng mộc nhưng anh không bao giờ quên săn sóc mấy con gà đá. Hễ buông công việc là anh Phú ra ngay lồng gà. Anh phải bỏ vài trăm ngàn đồng để mua cho được lồng nhốt gà đá đúng quy cách. Lồng to, lỗ nhỏ, thanh tre đều, không sắc cạnh, không làm trầy xước da gà. Còn chế độ ăn hay thuốc bổ cũng đều đặn. Anh cho gà ăn thịt bò để tăng sức đề kháng và độ bền khi “lâm trận”. Về chế độ phòng bệnh, anh cũng rất chú ý, tiêm, uống đều đặn theo hướng dẫn của Thú y; nhưng cũng như ông Tánh, anh Phú không bao giờ tiêm phòng cho gà chọi có cân nặng 1kg. Theo anh Phú, nếu tiêm phòng cho gà, gân chân sẽ bị “luộc”, nhanh già, bước đi xệu xạo, dễ té ngã. Anh Phú chỉ dám cho gà uống thuốc phòng tụ huyết trùng chứ không dám để tiêm phòng H5N1…

Với lý do như vậy nên hầu như người nuôi gà chọi nào cũng “bỏ qua” cơ hội tiêm phòng CGC.

Tôi còn nhớ cách đây một năm, khi đưa tin tình hình dịch CGC bùng phát tại xã Vĩnh Phương (TP. Nha Trang) sau khi tỉnh công bố dịch, ông Tào Anh Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Thú y cho biết, con đường lây nhiễm CGC có nhiều cách, nhiều khi có thể do một loài chim di trú thường xuống ăn cùng với đàn gia cầm (GC) hoặc do nhốt chung nhiều loài GC với nhau, vi rút H5N1 từ loài này có điều kiện đi vào cơ thể loài khác khi sức đề kháng yếu. Đường lây nhiễm này thường xảy ra đối với các hộ nuôi GC lẻ tẻ, manh mún trong khu dân cư (KDC). Tuy nhiên, nếu được tiêm phòng tốt, GC có thể chống chịu được bệnh dịch và dễ dàng vượt qua nhiều khi trên cơ thể vẫn còn mang vi rút H5N1.

Xem những người nuôi gà chọi, thấy họ săn sóc gà của mình mới thấy “ớn lạnh”, nếu chẳng may gà chọi của họ đã nhiễm vi rút cúm thì sao? Hàng ngày, họ vuốt ve con gà, xổ lông, tắm nắng cho gà, thậm chí còn xúc thức ăn hay xổ nước cho gà, nhất là lúc gà đang đá. Mặt kề mặt, môi kề môi, thậm chí nước dãi của gà cũng chính là nước bọt của chủ nhân. Nếu gà không được tiêm phòng cúm, trong mình tiềm ẩn vi rút H5N1 thì nguy cơ lây lan CGC sang người sẽ rất lớn.

Có thể thấy, cách nuôi GC trong KDC không tiêm phòng, không có biện pháp phòng dịch rất dễ dẫn đến dịch bệnh phát sinh, đặc biệt là CGC sẽ lây cho người là mối nguy hiểm đáng sợ. Nuôi GC không chú ý tiêm phòng, nhất là nuôi gà chọi (vì lo ngại gà đá dở, xuống sức) đã khiến người nuôi gà chọi “quay lưng” với việc tiêm phòng H5N1. Gà chọi tuy có sức đề kháng tốt hơn gà thường, nhưng cũng không thể vì thế mà không cảm nhiễm với vi rút CGC. Vì vậy, người nuôi gà chọi không nên chủ quan, nên tiêm phòng cho gà để tránh dịch CGC.

【#9】Kinh Nghiệm Nuôi Gà Chọi Thu Lại Tiền Tỉ Của Chàng Thanh Niên Trẻ Tuổi

Niềm đam mê chọi gà của chàng thanh niên trẻ bắt nguồn từ việc tiếp thị với mẹ. Cậu bé nhìn thấy con gà và nhìn vào chợ từ đầu đến cuối. Ông bố Long An biết con trai thích ăn gà nên mua cho con vài con gà nhưng đều chết hết. Cho đến tháng 5/2014, Long Anh đã nuôi thành công 3 con gà mái và 1 con trống. Từ đó, gà đẻ trứng và lớn lên. Bố của Long An thấy các con tôi đi học về, vào chuồng gà, sau khi ăn xong thì sống trong chuồng gà, bố cháu nói nếu cháu sống như thế này thì sẽ mãi là nông dân.

Các bạn trẻ đến với trại nhân giống bằng niềm đam mê và kết hợp với tìm hiểu trên mạng Internet. Anh thường xuyên trao đổi gà, dần dần đàn gà sinh sản với số lượng đáng kinh ngạc, hiện anh đang sở hữu một trang trại gà lớn với hơn 200 con giống. Nhằm quảng bá môn chọi gà hơn nữa và tạo uy tín đối với khách hàng, Long nhãn quyết định thành lập Công ty TNHH Gà đặc sản Long nhãn. Theo tính toán, mỗi năm Long nhãn bán ra thị trường từ 60.000 đến 700.000 con gà, bao gồm cả chọi, chọi thịt và gà ta. Ước tính mỗi năm doanh thu xấp xỉ 1 tỷ đồng.

Kinh nghiệm có một không hai

Theo Long Anh, đối với gà chọi, từ cách chọn giống, chăm sóc, mỗi giai đoạn có chế độ dinh dưỡng khác nhau. Gà từ 1 – 5 ngày tuổi được ăn cám, ngô, gạo. Từ 5 ngày tuổi trở ra, cậu phối cám, ngô, gạo với cá, tất cả được nấu chín. Cá ở đây là cá tươi ở chính dòng sông thuộc huyện Kiến An. Được học qua một lớp kiến thức về đông y, Long Anh bổ sung thêm một số loại thảo dược trong thức ăn cho gà. Nếu thời tiết thay đổi, gà được uống lá trầu không, lá ngải trộn với tỏi. Khi ngủ, gà còn được mắc màn để tránh gà bị muỗi đốt.

Gà mái khoảng 6 tháng bắt đầu cho đẻ trứng. Gà trống 9 tháng trở lên mới bắt đầu cho đạp mái. Để thụ tinh cho gà được tốt, cho 3 con mái với 1 con trống trong chuồng 1 m2. Trong quá trình ấp, Long Anh cho gà mẹ ấp trứng một thời gian rồi mới cho vào lò ấp bình thường. Theo lí giải, đây là cách giúp con giống gà chọi khỏe hơn.

Giống gà tốt

Chia sẻ về cách chăm gà, Long Anh nói: “Do còn đi học phổ thông nên tôi phải sắp xếp thời gian biểu cho gà, bắt đầu từ 5 giờ dậy cho gà ăn. Người chưa ăn nhưng đã phải lo cho gà ăn. Nghe ai bảo cho gà ăn gì tốt, tôi đều nhịn tiền ăn sáng để mua. Yêu động vật từ nhỏ nên khi được tận tay chăm sóc một con gà, tôi thấy có trách nhiệm hơn nhiều”. Nuôi con gà chọi như chăm trẻ con phải để ý từ bãi phân nó như thế nào. Sáng dậy nhìn trong chuồng phân không tốt là rất lo”, Long Anh chép miệng nói.

Chia sẻ kinh nghiệm

Long Anh cho biết thêm: “Tôi cung cấp gà giống đạt tiêu chuẩn cho các trang trại vệ tinh, cung cấp vắcxin và thuốc phòng dịch. Sau 8 – 10 tháng, sẽ thu mua những con gà thịt trưởng thành tiêu chuẩn tại trại. Mô hình này đảm bảo lợi ích nhiều bên, nhà cung cấp, người chăn nuôi và khách hàng”. Ngay từ mới lập nghiệp, chàng trai trẻ đã bắt đầu tính chuyện “bán gà trên mạng”. Bởi “nếu bán loanh quanh trong xã thì giá trị không cao”. Trên facebook, Long Anh thường xuyên đăng bài quảng bá gà chọi. Gà Đông Tảo và trao đổi kinh nghiệm với anh em chăn nuôi.

Chàng thanh niên kể về bí kíp “bán gà trên mạng”: “Ban đầu khi bán hàng online. Khách hàng rất thiếu lòng tin, nhưng thiếu đâu tôi bổ sung đó. Trước khi giao hàng cho khách, tôi thường quay video. Những con gà đó và gửi qua facebook, zalo. Tôi bảo hành luôn trong quá trình vận chuyển nên khách hàng rất tin tưởng”.

Bí thuật nuôi gà chọi

Những thông tin về kinh nghiệm nuôi gà hy vọng phần nào giúp bạn thực hiện tốt hơn. Hãy theo dõi bài viết tại trang .

Nguồn: nhachannuoi.vn

【#10】Gà Trống Đánh Nhau Với Nhau: Lý Do Nên Làm Gì Để Ngăn Chặn Sự Hung Hãn

Những người có con gà ở đầu mấy con gà trống thường phải đối mặt với tính cách hung hãn của những kẻ cầm đầu. Những con đực bạo lực gây ra rất nhiều rắc rối cho chủ nhân, vì điều này chúng làm xáo trộn trật tự trong nhà và làm cho gà đẻ căng thẳng, giảm sản lượng trứng. Điều quan trọng là phải hiểu tình huống, tại sao những con gà trống đánh nhau với nhau, phải làm gì với nó và làm thế nào để không làm hại gia đình chim.

Nguyên nhân gà chọi

Trong bản chất của gà trống, gà trống có nhiệm vụ bảo vệ gà của mình khỏi các đối thủ cạnh tranh và những kẻ săn mồi khác nhau. Số lượng gà mái phải ở cùng để đảm bảo việc kiếm ăn và thụ tinh tùy thuộc vào sức của gà trống. Nếu có từ hai con đực trở lên trong chuồng gà mái, thì việc đánh nhau giữa chúng là không thể tránh khỏi để thiết lập sự ổn định thứ bậc của bầy. Họ bắt đầu tìm hiểu mối quan hệ từ khi mới chín tuần tuổi.

Tại sao gà trống bắt đầu chiến đấu và tấn công nhau phụ thuộc vào các lý do khác nhau:

  1. Con đực mắc phải khi còn thiếu niên hoặc muộn hơn khi trưởng thành. Anh ta không thể chấp nhận sự thật về quyền lực của chủ nhân, vì tính cách của anh ta đã được hình thành.
  2. Một cuộc chiến giữa một con gà trống già và một con gà trống non để thiết lập một hệ thống phân cấp mới. Một con gà trống non là người lạ với bầy, và con già sẽ bảo vệ lãnh thổ của mình, đôi khi bạo lực và đẫm máu.
  3. Cạnh tranh giữa những con gà trống con đang cố gắng giành lấy vị trí của con đầu đàn thống trị trong bầy.
  4. Dấu ấn về tính cách của một trong các con trống có thể chồng lên thái độ tiêu cực trong quá khứ của chủ hoặc những con gà khác đối với anh ta, do đó gà trống lớn lên trở nên thù địch với những con khác.
  5. Điều kiện chật chội trong chuồng gà buộc những con chim phải sống sót với nhau do quá căng thẳng.
  6. Chưa tính được tỷ lệ gà mái so với gà mái: có quá nhiều con đực trong đàn.
  7. Hành vi hung dữ tăng cường vào mùa xuân khi quá trình giao phối được kích hoạt.

Việc đánh nhau giữa các con gà trống là một vấn đề đối với chủ chim, vì nó khiến con đực phân tâm khỏi điều quan trọng nhất: lớp bọc của gà mái. Trong các trận đấu, gà kém ăn, căng thẳng, ít đẻ trứng, sút cân.

Có nhiều cách để cố gắng hòa giải những chú gà trống không yên. Cung cấp các điều kiện cần thiết trong chuồng gà, theo thời gian, nó sẽ có thể đạt được cạnh tranh lành mạnh, những con đực có năng suất và những con gà vệ chính thức.

Vật liệu cách nhiệt

Những con gà trống con mới nhập đàn thường trở nên hung dữ.Vị trí của họ vẫn chưa được xác định, và họ trở thành đối tượng tấn công của những cá nhân mạnh mẽ. Do đó, một nam thanh niên có thể trở nên hung hãn và tấn công bất cứ ai mà anh ta cho là nguy hiểm đối với bản thân. Cách ly sẽ giúp giải quyết vấn đề – chủ sở hữu phân bổ một chuồng chim hoặc chuồng gà riêng cho kẻ nổi loạn để giảm thiểu các cuộc gặp gỡ giữa những con gà trống thù địch.

Không nên để nó đi dạo chung cho đến khi kẻ xâm lược ngừng hành động cảnh giác.

Chế độ ăn khi đói sẽ giúp dạy cho cá chọi một bài học. Cách ly ngay sau khi tấn công, chỉ để lại nước sạch và không được thăm chim trong hai ngày. Vì vậy, gà trống sẽ không chết vì mất nước, và sẽ suy nghĩ về hành vi của mình. Vì gà có trí nhớ theo từng giai đoạn, điều này cho phép chủ sở hữu đóng vai một vị cứu tinh. Sau 2 ngày, vào chuồng và cho gà ăn, bạn có thể thấy nó rất vui khi gặp bạn và trở nên linh hoạt hơn.

Cắt hoặc tỉa mỏ sẽ giúp bảo vệ những cá thể yếu hơn khỏi sự tấn công của những con vật nuôi có lông hung dữ. Những người chăn nuôi gia cầm thiếu kinh nghiệm coi phương pháp này là tàn nhẫn không cần thiết, nhưng phần mỏ bị cắt bỏ không ngăn cản gà trống ăn uống trong tương lai. Đồng thời, những con gà trống ngừng mổ những con chim bình tĩnh. Một trong những phương pháp khử trùng phổ biến nhất là sử dụng lưỡi dao nóng. Cắt laser cũng được sử dụng, nhưng ít thường xuyên hơn do chi phí cao. Cắt tỉa lông ở tuổi trưởng thành chỉ nên được thực hiện như một biện pháp cuối cùng và với sự hỗ trợ của một chuyên gia có kinh nghiệm.

Có thể xảy ra trường hợp con đực có hành vi hung dữ do các yếu tố kích thích. Cần phải chú ý thời điểm nam nhân thay đổi tâm trạng, kích động cái gì. Nó có thể là quần áo sáng màu hoặc chuyển động đột ngột. Đôi khi trẻ nhỏ tỏ ra hung dữ đối với gà, và sau đó gà trống đối với người thân của chúng.

Sau khi theo dõi cẩn thận hành vi của con lông vũ, người ta có thể hiểu được nó phản ứng mạnh mẽ với điều gì và loại trừ lý do kích động gây hấn.

Bằng cách lắp một chiếc gương trong chuồng gà mái, chủ nhân sẽ khiến kẻ thù của chính mình trở nên bắt nạt một “kẻ thù” mới. Con có lông sẽ bắt đầu chiến đấu với sự phản chiếu, quên đi những đối thủ khác. Phương pháp này có 2 nhược điểm đáng kể: gà trống có thể phớt lờ gương hoặc ngược lại, tự làm mình bị thương quá nhiều.

Đặc biệt là những cá nhân tức giận có thể đập ngực và đập đầu vào gương.

Kính đặc biệt

Phát minh của người nông dân Trung Quốc Xiao Long đã bị ép buộc. Ông cho biết, trong trang trại thường xuyên xảy ra các cuộc ẩu đả giữa những con gà trống, hậu quả là có tới 10 con chết mỗi ngày. Ông kết luận rằng các loài chim nhìn thấy nhau và đây là một thách thức đối với chúng. Kính được phát minh dưới dạng một giá đỡ nhỏ bằng nhựa gắn vào mỏ. Đôi mắt đang nhắm nghiền. Con chim có thể ăn và uống, nhưng không nhìn thấy đối tượng để gây hấn. Kính không phải là thuốc chữa bách bệnh, nó chỉ hạn chế tình trạng không kiểm soát được. Trong một không gian chật hẹp, hạn chế, các loài chim có khả năng xúc giác cao hơn, chúng có thể mổ lông và vuốt xuống nhau bằng cách chạm vào.

Phương pháp cần được tiến hành ngay tại hiện trường vụ án. Ngay sau khi gà trống bắt đầu chiến đấu, bạn cần bắt kẻ gây hấn và nhúng nó vào một thùng nước lạnh, đổ nó ra khỏi xô hoặc tưới nó bằng vòi. Các lựa chọn không phải là cơ bản, điều quan trọng là phát triển phản xạ ở chim. Ngay khi con gà trống bước vào cuộc chiến, quy trình giáo dục ngay lập tức được lặp lại. Thường thì 5-7 lần dội nước là đủ để sửa tính nóng nảy của kẻ gây rối.

Trừng phạt thân thể là một phương pháp không mong muốn và được sử dụng như một biện pháp cuối cùng khi không có biện pháp can thiệp nào khác giúp ích. Các nhà hoạt động vì quyền động vật phản đối phương pháp trừng phạt này, cho rằng đó là bạo lực đối với những người anh em nhỏ hơn của chúng ta. Ngược lại, những người nuôi chim có kinh nghiệm lại coi phương pháp này là hiệu quả vì nó truyền đạt thông tin đến chim trống đang hoành hành theo cách dễ tiếp cận.

Để điều chỉnh phản xạ, cần trừng phạt ngay con gà trống sau khi tấn công con khác. Trong trường hợp này, điều quan trọng là phải tính toán sức mạnh để không làm hại chim.

Giảm địa vị trước gà

Thế giới loài chim sống theo những quy tắc riêng của nó. Trong gà trống, con nào tấn công trước được coi là đối thủ lợi hại nhất. Nếu chủ nhân vào chuồng gà mái và tấn công gà trống trước, nó sẽ cố gắng bỏ chạy. Bản năng tự bảo tồn ở mọi sinh vật đều nằm ở vị trí đầu tiên. Định kỳ nhớ lại ai là người chịu trách nhiệm trong chuồng gà mái, người chủ sẽ có thể hạ thấp địa vị của gà trống trước gà mái và làm dịu bớt sự hung hăng của nó, biến nó thành nỗi sợ hãi trước một đối thủ mạnh hơn.

Để tránh đánh nhau giữa gà trống, bạn phải tuân theo các quy tắc:

  1. Số lượng con đực phải là tối ưu: cho 1 gà trống tối đa 12-16 gà mái.
  2. Cung cấp cho lãnh thổ của chuồng gà các bát uống và máng ăn. Khi đã chia thành từng nhóm, gà sẽ không phân chia khu vực và sẽ ít đánh nhau hơn.
  3. Nếu có một số lượng lớn gà trống trong một chuồng gà mái, bạn có thể đặt một cái thang nghiêng ở giữa. Để tránh một cuộc chiến, những cá nhân yếu sẽ chạy lên tầng trên.
  4. Nó là giá trị theo dõi chế độ ăn uống và chế độ ăn uống của chim. Một thực đơn cân bằng, thức ăn hỗn hợp và vitamin là cách phòng chống stress tuyệt vời ở gà.
  5. Hành vi của chim phụ thuộc vào ánh sáng bên trong chuồng gà mái: không nên quá sáng hoặc ngược lại, quá mờ.

Việc ngăn chặn sự hung dữ ở con đực không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào chủ nhân. Thông thường di truyền ảnh hưởng đến hành vi của các loài chim. Có những giống chó mà những con đực hung hãn thường gặp hơn những con khác. Khi mua người lớn, bạn cần đảm bảo rằng trước đây đã từng có nỗ lực thể hiện sự hung hăng.

Những trận đấu giữa các con cái cũng không ngoại lệ. Hành vi của chúng trở nên hung dữ vì những lý do sau:

  • nếu không có người đứng đầu trong đàn, thì trật tự và kỷ luật trong đàn gà bị xáo trộn;
  • chuồng gà chật chội, không có chuồng nuôi thả rông;
  • sự không tương thích của các loại đá;
  • một số ít người cho ăn và uống;
  • mùa đông, khi gà thường ở trong phòng tối;
  • thiết lập một hệ thống phân cấp giữa chim non và chim già;
  • căng thẳng khi thay đổi môi trường xung quanh.

Chỉ cần thiết lập các điều kiện sống hoặc nếu cần thiết, trồng một con đực, thì hành vi của gà sẽ thay đổi.

Những thay đổi về nội dung sau đây sẽ giúp ngăn chặn tình trạng mổ và ăn thịt đồng loại ở gà:

  • kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm theo quy định;
  • trong thời tiết khô nóng, phun nước máy vào gà;
  • điều chỉnh độ chiếu sáng (sơn bóng đèn màu đỏ – điều này sẽ giúp chim bình tĩnh lại);
  • cung cấp quyền tiếp cận thống nhất cho người uống và người cho ăn;
  • nếu số lượng nhiều hơn 30 – 40 con thì phải chia chuồng đi bộ hoặc chuồng gà;
  • cung cấp cho gà chất độn chuồng;
  • Nơi đặt tổ nên ở nơi có bóng râm.

Những người nông dân đã phát hiện ra rằng bằng cách cung cấp phạm vi tự do cho những con chim, nguy cơ bị cắn hoặc ăn thịt đồng loại giảm đáng kể.