Top 2 # Nuôi Gà Đá Độ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Ruybangxanh.org

Hướng Dẫn Cách Nuôi Gà Đá Độ Từ A

một. Cách nuôi gà đá độ một – Chuồng nuôi

Tùy vào diện tích nuôi gà mà bạn có thể thiết kế chuồng nuôi phù hợp. Hoặc nếu như bạn dự định nuôi gà theo hình thức thả lang thì sẽ đơn giản hơn. Nhưng lưu ý là cách nuôi gà theo kiểu tự nhiên đã ko còn phù hợp vs thời nay nữa. nếu như nuôi số lượng ít thì dễ kiểm soát chứ nuôi đàn lớn thì rất khó. Hoặc nếu như bị bệnh thì tốc độ lây nhiễm rất cao.

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều chuồng nuôi gà, bạn có thể mua về để tách nuôi riêng từng con.

Lưu ý là đối vs chuồng dành cho gà bạn nên treo lên cao, cách mặt đất ít nhất nửa mét. Thứ nhất là hạn chế khá đất bốc lên lúc nắng hoặc nước vào chuồng lúc mưa. Thứ hai là tránh những động vật ra vào chuồng cắn gà. Thứ ba là tránh bệnh tật. Cuối cùng là việc vệ sinh lau dọn cũng sẽ đơn giản hơn.

Gà con sẽ thừa hưởng 75% kỹ thuật của gà mẹ và 25% của gà bố. Do đó việc chọn gà mẹ rất quan trọng.

Cần đảm bảo gà bố và gà mẹ ko cùng huyết thống, cả hai ko có dị tật gì bẩm sinh, mạnh khỏe, bản tính hung hăng, máu chiến. Riêng vs gà trống phải thắng ít nhất 3 trận trở lên.

Về hạng cân thì nên chọn gà mẹ có hạng cân từ 6 lạng – 8 lạng, phối vs gà trống từ 1kg – một.3kg. Trọng lượng của hai gà phối rất quan trọng, nó sẽ quyết định lứa con ra đời nằm ở cân nặng ra sao, từ đó cáp độ ở những hạng mục nhất quyết nào đó.

Gà con mới đẻ ra nên để cho mẹ úm, sau 24h mới cho uống nước. Ít nhất một – 2 ngày mới cho ăn uống.

Về thức ăn cho gà mới đẻ thì cho ăn cám 100%. Tuy nhiên nên hạn chế ko cho ăn cám có chứa nhiều bắp. Vì hệ tiêu hóa của gà con vẫn chưa thực hoàn thiện. Rất dễ khó tiêu, thiệt hại hơn nữa là dẫn tới chết, rất đáng tiếc.

Về nước uống thì lưu ý cho uống nước giếng hoặc nước khoáng – nước bình gia đình bạn hay sử dụng. ko cho uống nước máy thì có chứa chất tẩy nhiều. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh ở gà.

Trong cách nuôi gà đá độ thì liều lượng ăn đóng vai trò rất quan trọng. Cần ứng dụng liều lượng ăn trên từ 0 – 4 tháng tuổi. tới 4 – 7 tháng tuổi thì chuyển sang cho ăn lúa. Nên thay đổi thức ăn từ từ, ví dụ 70% cám + 30% lúa, rồi 50% cám + 50% lúa,.. Riêng vs cám thì cho sử dụng loại nào có chứa nhiều bắp. Mục đích là cho gà mau lớn, những cơ bắp phát triển toàn diện nhất. Gà từ 7 tháng tuổi trở lên thì chuyển sang lúa 50%, cám 30% và rau 20%.

vs sư kê nào nuôi gà theo chế độ vô mồi thì bổ sung thêm thịt bò, lươn, dế, sâu,… cho gà ăn để mau tới pin, máu chiến…

4. Cách nuôi gà đá độ 4 – Phòng phòng ngừa bệnh cho gà

Trong suốt vòng đời của gà ít nhiều sẽ mắc bệnh. Vậy nên những sư kê nên phòng bệnh trước. Cho gà sử dụng vắc xin và vệ sinh chuồng nuôi, máng ăn máng uống thường xuyên.

Tổng hợp tin tức đá gà mới nhất tại gachoi,org, tin tức chia sẽ kinh nghiệm, tin tức gachoi hay, gachoi đẹp, gà thần kê, những loại gachoi và cách nuôi chúng như thế nào. Keyword: tintucdaga,tingachoi,tingachoihay, tin gachoi mới, tin tức đá gà mới nhất 2019, tin tức gachoi VN, tin tức đá gà VN, tin tức gà đá VN, tin gachoi VN, trại gà lớn, tin tức mua bán gachoi

Gợi Ý Cách Nuôi Gà Đá Độ Cho Người Mới

Với sức hút của những trận đá gà Campuchia hiện nay, nhiều anh em bắt đầu chuyển sang cách nuôi gà đá độ. Nhằm thỏa mãn đam mê, vừa phục vụ cho việc kiếm tiền. Thế nhưng nuôi gà đá khác hoàn toàn so với gà công nghiệp, đòi hỏi nhiều kỹ năng và hiểu biết nhất định.

Cách nuôi gà đá độ – Bí quyết mà nhiều người tìm đến!

Không phải tự nhiên mà quy trình nuôi gà đá độ lại được nhiều anh em “săn đón” đến thế. Bởi từ lâu đá gà đã trở thành một thú vui rất riêng của người Việt nói riêng và Châu Á nói chung. Chẳng phải thế mà ở các quốc gia như Campuchia, Philippines, Thái Lan,… đều có những trường đấu chuyên nghiệp. Thậm chí còn được mệnh danh là “Thánh địa của đá gà”.

Với sức hút mãnh liệt như vậy, nuôi gà đá độ nhanh chóng trở thành “nghề” kiếm tiền được nhiều người lựa chọn. Nhất là với những anh em cũng đam mê đá gà – cá cược cá độ. Còn gì tuyệt vời bằng khi kiếm tiền từ chính thú vui của mình, đúng không nào?

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều sách vở, thông tin hướng dẫn nuôi gà đá độ. Nhưng khi áp dụng lại vô vàn những khó khăn. Vậy nên nhiều anh em tìm đến những kinh nghiệm thực tiễn, ĐƠN GIẢN và CHÍNH XÁC nhất.

Hiểu được tâm tư và nỗi lo của những anh em mới lần đầu trải nghiệm nuôi gà đá, chúng tôi sẽ hướng dẫn chi tiết nhất những bước cần lưu ý.

Lên kế hoạch nuôi gà đá độ

Cách nuôi gà đá độ là một con đường lâu dài, bản thân bạn cần chuẩn bị sẵn tinh thần, dành nhiều thời gian cho chiến kê cũng như nạp kiến thức liên tục để giúp gà phát triển tốt hơn.

Trong kế hoạch nuôi gà đá độ, bạn cần tính toán chi phí mà mình đầu tư vào là bao nhiêu, diện tích nuôi có rộng không, bạn hướng đến dòng gà nào – gà chuyên đá cựa sắt hay đá chọi, bạn đã tìm được nguồn lấy giống uy tín chưa?….

Trả lời được tất cả những vấn đề trên là bạn đã năm được 30% cơ hội chiến thắng rồi.

Không nên nuôi quá nhiều giống gà đá khác nhau

Lời khuyên cho anh em khi mới tập tành nuôi gà đá độ đó là đừng nuôi quá nhiều giống khác nhau. Gà đá cũng được chia làm nhiều chủng loại, mỗi loài lại có đặc tính và cách nuôi riêng. Việc chưa có kinh nghiệm và kinh tế sẽ khiến bạn “đuối sức” ngay khi bắt đầu.

Vậy nên chỉ chọn 1 – 2 giống gà nhất định để chăm sóc, lai giống và huấn luyện.

Ba yếu tố để cách nuôi gà đá độ THÀNH CÔNG

Có ba yếu tố cần đảm bảo nếu muốn quá trình nuôi gà đá độ được “thành công mỹ mãn”, đó là:

– Đầu tư vào thức ăn: Chế độ dinh dưỡng cho gà đá cực kỳ quan trọng. Không phải cứ cho ăn thật nhiều là tốt. Phải có sự chọn lọc, ngoài thóc/ lúa thì cần phải cho ăn thêm rau xanh, mồi, bổ sung vitamin – khoáng chất – chất điện giải,….

– Áp dụng chế độ luyện tập phù hợp: Cần lên bảng kế hoạch tập luyện phù hợp cho gà chiến, chẳng hạn như vần hơi trong bao lâu, chạy lồng mấy phút, đứng hồ bao nhiêu,…. Việc tập quá sức hay quá ít cũng sẽ ảnh hưởng đến chiến kê.

– Phòng và chữa bệnh cho gà kịp thời: Kê sư nên chủ động phòng bệnh cho gà ngay từ nhỏ. Điều này rất quan trọng, loại bỏ được nhiều bệnh nguy hiểm sau này. Trong quá trình nuôi hãy chú ý những dấu hiệu bất thường và chữa bệnh ngay nếu không muốn mọi thứ vượt tầm kiểm soát.

Cách nuôi gà đá độ chỉ tóm gọn trong những vấn đề trên. Nhưng khi bắt tay vào làm sẽ thấy vô cùng khó và đòi hỏi sự kiên nhẫn. Chúc anh em thành công với đam mê của mình!

Chế Độ Nuôi Gà Chiến Đẳng Cấp Nhất

Hôm nay Ad xin chia sẻ với các bạn cách nuôi gà chọi với các chế nuôi gà chiến đẳng cấp mà ai cũng biết chơi gà chọi là thú vui tao nhã của rất nhiều người bởi chơi gà chiến là một văn hóa chơi gà của người dân Việt Nam.

Với chế độ ăn của gà chiến thì chắc chắn là gà sẽ không được ăn linh tinh như những chú gà khác được rồi.

Chăm sóc một chú gà chiến cũng rất kỳ công, nhiều khi phải 2 người chăm sóc hai chú gà riêng biệt như vậy cho thấy gà chiến cần được chăm sóc thật tỷ mỉ và rất kỹ càng kèm chế độ ăn được lên thực đơn sẵn đảm bảo sức khỏe thật tốt thì gà mới có thể chơi tốt được trận đấu của mình.

Người biết nuôi sẽ cho gà ăn thóc, chế độ ăn uống tập luyện đúng cách. Như vậy sẽ thu được con gà có sức bền dẻo và sức khỏe tốt.

Người không biết chăm sẽ cho ăn linh tinh, mồi nhiều hoặc không cho ăn mồi, không có chế độ nuôi dưỡng cho đá lúc nào mình muốn, như vậy gà sẽ dễ hỏng lông, có tốt cũng khó ra trường được và dễ hỏng.

Chăm sóc gà mới lớn, mới trưởng thành bạn nên cắt lông , việc chăm sóc long và tỉa long gà cũng như việc bạn được tắm hàng ngày vậy, bạn có tắm gội hàng ngày mới khỏe khoắn được đúng không. Việc gà được tỉa lông cũng y hệt vậy.

Tập cho gà ta làm như sau :

Lần đầu bạn nên cho gà đá đòn khoảng 2 – 3 phút. Lần 2 nâng lên 5 phút.

Lần 3 bạn nên bịt mỏ đẩy hơi ( sổ gà ) bạn nên cho gà vần hơi khoảng 15 phút và 2 phút mở mỏ.

Lần 3 bạn tăng lên khoảng 40 phút và cũng cho 2 – 3 phút đòn.

Cứ như vậy tăng dần tùy thuộc vào sức khỏe và gân cốt của gà mà cho gà đánh.

Nhưng bạn chú ý khi đá gà song nên lau rửa sạch sẽ, và nên xoa bóp massager cho gà mọi lúc bạn rảnh, xoa cần, hông, đùi gà, phần trái chanh ( đầu cánh ).

Nhớ là phun nước chè rồi xoa, có thể xoa cả rượu trắng cũng được rồi bạn phơi nắng cho gà khoảng 2 tiếng đồng hồ. sáng khoảng 9h bạn cho gà ăn và phơi gà.

Chú ý mỗi lần gà chọi đi chọi về nên cho nghỉ 10 ngày cho lần 1, 2 – 15 ngày cho lần 3, 4.

Chế Độ Dinh Dưỡng Trong Chăn Nuôi Gà

– Trong dinh dưỡng gia cầm năng lượng thường được xem là nguồn dinh dưỡng giới hạn nhất vì nhu cầu lớn so với các chất dinh dưỡng khác. Nhu cầu năng lượng của gia cầm có thể được xác định là mức năng lượng cần thiết cho sinh trưởng hoặc cho sản xuất trứng và cho duy trì mọi hoạt động sống của cơ thể. Thiếu năng lượng dẫn đến sự suy giảm các quá trình trao đổi chất và các hoạt động chức năng cơ thể gây nên tình trạng còi cọc, chậm lớn, năng suất giảm ở gia cầm sinh sản.

– Trong thức ăn chứa 2 dạng chất dinh dưỡng có thể cung cấp năng lượng chính, đó là Lipid và Glucid.

* Glucid (hay còn gọi tinh bột): có vai trò cung cấp năng lượng, chuyển hóa thành phần mỡ và đạm cho cơ thể, tạo năng lượng để gà chuyển hóa vật chất và vận động. Glucid chiếm khoảng 60% trong thức ăn cho gia cầm trong các dạng nguyên liệu như: bắp, cám, tấm, khoai mì,… Gia cầm sử dụng tinh bột rất tốt, nhưng để tiêu hóa tinh bột cần có vitamin B 1, tuy nhiên tinh bột từ củ thì thường thiếu vitamin nhóm B. Cũng cần lưu ý hàm lượng chất độc và tình trạng nấm mốc khi sử dụng khoai mì làm thức ăn cho gia cầm.

* Lipid (hay còn gọi chất béo): là chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cao cấp hơn 2 lần so với glucid. Đối với gia cầm, lipid tạo một phần năng lượng và chủ yếu tạo mỡ. Nhu cầu chất béo trong cơ thể gia cầm rất ít: gà con cần dưới 4% (nếu cao hơn sẽ dẫn đến tiêu chảy), gà hậu bị và gà đẻ cần dưới 5% (nếu cao hơn sẽ làm gà mập mỡ khó đẻ), đối với gà nuôi thả có thể cung cấp chất béo nhiều hơn. Trong thức ăn cho gà công nghiệp, người ta sử dụng 2 – 6% dầu thực vật hoặc mỡ công nghiệp có tác dụng tốt, tăng năng suất, giảm tiêu tốn thức ăn. Chất béo còn cung cấp các axit béo thiết yếu như axit linoleic, axit linolenic và axit arachidonic. Chất béo giúp hòa tan các vitamin A, D, E và K, các sắc tố để cho cơ thể dễ hấp thu làm da và mỡ vàng, tăng màu vàng của lòng đỏ trứng. Ngoài ra chất béo trong thức ăn cũng có tác dụng làm giảm độ bụi giúp giảm thiếu các bệnh về đường hô hấp. Khi bổ sung chất béo vào thức ăn cần chú ý bổ sung các chất chống oxy hóa để bảo vệ các axit béo không no, bảo vệ các vitamin trong thức ăn.

– Vitamin là chất có hoạt tính sinh học cao cần thiết cho các quá trình trao đổi chất của cơ thể sống. Với nồng độ thấp nhưng vitmain có vai trò quyết định sự tồn tại của tất cả quá trình sống. Vitamin tham gia và cấu trúc của các nhóm enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa trong quá trình đồng hóa, dị hóa, quyết định sự sinh trưởng, sinh sản và tính kháng bệnh của gia cầm. Một vài vitamin có thể được vi sinh vật trong ruột tổng hợp nhưng rất ít nên cần thiết phải được bổ sung theo thức ăn hoặc nước uống. Khi thiếu hoặc thừa vitamin sẽ gây nên những tình trạng đặc trưng như sau:

1. Vitamin A: có vai trò quan trọng trong việc điều hòa trao đổi protein, lipid, glucid, cần thiết cho sự hoạt động bình thường của tuyến giáp trạng, vỏ tuyến thượng thận, các tế bào biểu mô, là nguyên liệu tạo rodopxin của thị giác. Thiếu vitamin A gà con còi cọc, chậm lớn, sừng hóa và viêm niêm mạc mắt, sừng hóa thanh khí quản nên dễ bị bệnh hô hấp, bệnh cầu trùng sẽ nặng thêm và khó chữa, gà dễ mắc những bệnh nhiễm trùng, tỷ lệ chết cao (gà con chết sau 2 – 4 tuần với triệu chứng thần kinh trước khi chết, mổ khám sẽ thấy ống dẫn niệu tích đầy urat, gà đẻ giảm năng suất trứng do buồng trứng phát triển kém, niêm mạc ống dẫn trứng bị sừng hóa, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ thụ tinh thấp, tỷ lệ chết phôi cao, thường chết phôi.

– Nguồn vitamin A và sắc tố vàng được cung cấp từ những thực liệu chứa nhiều caroten như bắp vàng, bột cỏ giúp cho màu lòng đỏ trứng đậm hơn, da và mỡ gà vàng. Vitamin A dễ hư hỏng khi trộn vào thức ăn nên cần có thêm chất chống oxy hóa, khi tồn trữ thức ăn lâu sẽ bị mất vitamin A.

– Nhu cầu vitamin A ở gia cầm phụ thuộc vào tuổi và sức sản xuất của chúng: gia cầm non đang sinh trưởng nhanh cần khoảng 12.000 – 15.000 IU/kg thức ăn, gà đẻ trứng cần 10.000 – 12.000 IU.

2. Vitamin D: tham gia vào quá trình trao đổi chất khoáng, protein và lipid. Giúp điều hòa quá trình gắn kết Ca, P và Mg vào xương, kích thích các phản ứng oxy hóa khử. Khi thiếu vitamin D gia cầm non mắc bệnh còi xương, xương chân và xương lưỡi hái cong, dị dạng; gà đẻ bị bệnh xốp xương, xương dễ gẫy, bại liệt chân, lòng trắng trứng loãng, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, tỷ lệ ấp nở thấp, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 19 – 20.

– Nhu cầu vitamin D tùy thuộc vào giống gà, gà có sức sinh trưởng và năng suất trứng cao thì nhu cầu vitamin D cao, gà nuôi nhốt trong chuồng thiếu ánh sáng thì nhu cầu vitamin D cao, khẩu phần không cân đối Ca và P cũng khiến gà cần nhiều vitamin D. So với vitamin A, chỉ nên cung cấp vitamin D với tỷ lệ: D/A= 1/8 – 1/10, không nên cung cấp dư vitamin A và D (quá 25.000 IU/kg thức ăn vitamin A; 5.000 IU/kg thức ăn vitamin D 3) vì sẽ gây vôi hóa ở thận, nếu kèm với dư protein thì tình trạng dư thừa sẽ nguy hiểm dễ gây chết.

3. Vitamin E: giúp ngăn cản quá trình oxy hóa, bảo vệ các hợp chất sinh học và các acid béo chưa no, tạo điều kiện thuận lợi trao đổi Phospho, glucid và protein, kích thích sự tạo thành các hoocmon thùy trước tuyến yên, tăng cường sự hấp thu các vitamin A và D, giúp ổn định thành mạch, màng tế bào của tuyến sinh dục. Thiếu sẽ gây tình trạng gà bị ngẹo đầu, mỏ trúc xuống, mất thăng bằng, đi đứng loạng choạng, đi thụt lùi, hoại tử cơ trắng vùng cơ ức và cơ đùi (giống như tình trạng thiếu Selen); ở gia cầm sinh sản sẽ giảm tỷ lệ thụ tinh, giảm tỷ lệ đẻ, trứng đã thụ tinh có phôi phát triển kém, phôi chết nên tỷ lệ ấp nở thấp.

– Vitamin E có nhiều trong các mầm hạt, bột lá cây xanh non sấy nhanh, vitamin E rất dễ bị phá hủy trong không khí, nhạy cảm với oxy và ánh sáng.

– Nhu cầu vitamin E cho gia cầm là 20 IU/kg thức ăn, khi hàm lượng chất béo trong thức ăn tăng cao 8 – 10% thì nhu cầu vitamin E tăng đến 30 IU.

4. Vitamin K: có tác dụng làm đông máu, được sử dụng trong thức ăn cho gà con và gà đẻ để phòng chống xuất huyết khi bị bệnh cầu trùng và bệnh Gumboro với liều 2mg/kg thức ăn sẽ cải thiện được tỷ lệ nuôi sống.

Gia cầm rất nhậy cảm với việc thiếu vitamin B 1, khi thiếu dẫn đến triệu chứng chân đưa về phía trước, các ngón chân run, đầu ngẩng lên trên (ngược với thiếu vitamin E đầu gập xuống), đi đứng khó khăn, tích nước trong mô nên thịt nhão, phù nề do tích nước dưới da nhiều, nhu động ruột kém nên tiêu hóa kém, gà ăn ít, tình trạng nặng có thể co giật và chết. Gia cầm thường thiếu B 1 trong trường hợp sử dụng nhiều thức ăn củ như khoai mỳ, khoai lang hoặc thức ăn hạt dự trữ lâu ngày, bảo quản không tốt nên bị mốc.

– Nguồn thức ăn chứa nhiều B 1 như nấm men, men rượu, sử dụng chế phẩm từ nấm men 2 – 3% hoặc cám gạo, cám mì 5 – 10% trong thức ăn cho gia cầm sẽ đáp ứng đủ nhu cầu vitamin B 1 cho gia cầm là 2mg/kg thức ăn.

Thiếu vitamin B 2 gà con sẽ bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, viêm quanh khóe mắt, chân bị liệt ngón co quắp, di chuyển khó khăn, mắt nhắm, ghèn dính làm mắt mở khó khăn. Gà đẻ giống sẽ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 12 – 18, gà con mới nở bị liệt chân.

– Cần cung cấp cho gà con 3 – 4 tuần tuổi lượng vitamin B 2 là 8mg/ kg thức ăn, các loại gà khác cần 5 – 6mg/kg thức ăn.

– Vitamin B 2 có nhiều trong các loại rau quả xanh non, mầm hạt, nấm men. Vitamin B 2 rất dễ bị oxy hóa trong không khí và mau hư.

Thường chỉ gặp trường hợp thiếu do thức ăn bị sấy ở nhiệt độ cao làm vitamin B 3 bị phân hủy. Thiếu sẽ gây hiện tượng viêm da ở góc mắt và miệng, viêm nứt các ngón chân, rụng lông, sinh trưởng chậm, giảm sức kháng bệnh, gà đẻ giảm năng suất, tỷ lệ ấp nở giảm.

– Vitamin B 3 có nhiều trong các loại thức ăn hạt, nấm men, nghèo trong các loại củ quả. Nhu cầu đối với gia cầm là 20mg/kg thức ăn hỗn hợp.

Tình trạng thiếu vitamin B 5 giống như thiếu vitamin B 2 và B 3, các lóp biểu bì của da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ lệ ấp nở kém.

– Nhu cầu viatmin B 5 ở gà con là 40mg/kg thức ăn, gà đẻ là 30mg/kg thức ăn.

– Vitamin B 5 có nhiều trong thức ăn hạt, thức ăn lên men, thức ăn xanh, thường gặp những tình trạng thiếu vitamin B 5 là do trong thức ăn thiếu tryptophan làm cho cơ thể khó hấp thu vitamin B 5.

: Thiếu sẽ dẫn đến tình trạng giảm tính thèm ăn, ăn ít, chậm lớn, gây thiếu máu.

– Nhu cầu đối với gà thịt là 4,5mg/kg thức ăn, gà đẻ là 3,5mg/kg thức ăn, khi tỷ lệ protein trong thức ăn tăng thì nhu cầu vitamin B 6 cũng tăng lên.

: có nhiều trong các loại thức ăn xanh và được vi khuẩn đường ruột tổng hợp, chỉ thiếu khi thức ăn nấu ở nhiệt độ cao hoặc gà bị bệnh đường ruột. Khi thiếu sẽ gây thiếu máu, số lượng hồng cầu giảm, gà con giảm tăng trọng, còi cọc, xuất hiện sự rối loạn sắc tố như trên lông đen, vàng có những đốm trắng. Gà sinh sản cho trứng tỷ lệ ấp nở thấp.

– Nhu cầu vitamin B9 cho gà con là 1mg/kg thức ăn, gà đẻ là 0,7mg/kg thức ăn.

: Khi thiếu gây hiện tượng thiếu máu, giảm tăng trọng, sức kháng bệnh kém, gà đẻ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều, và kéo theo thiếu Cholin.

– Vitamin B 12 có nhiều trong thức ăn động vật, vi sinh vật.

– Nhu cầu vitamin B 12 ở gia cầm phụ thuộc vào sự cung cấp đủ Methionin, Cholin, Vitamin B 9, vitamin B 3, nếu thiếu những chất này thì nhu cầu B 12 sẽ tăng lên. Khi các chất trên đã cung cấp đủ thì nhu cầu vitamin B 12 của gia cầm là 10 – 15µg/kg thức ăn.

– Là vitamin thuộc nhóm B, khi thiếu gây triệu chứng gan nhiễm mỡ, thiếu máu, rối loạn phát triển bộ xương, gà thường bị yếu chân. Nếu trong khẩu phần thức ăn có cung cấp đủ các vitamin khác như B 12, B 6, B 9 và axit amin Methionin thì nhu cầu Cholin chỉ khoảng 600 – 1.300mg/kg thức ăn. Cholin có nhiều trong các hạt họ đậu, nấm men.

– Tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh trùng, có tính chất chống oxy hóa trong cơ thể. Vitamin C được tổng hợp trong cơ thể nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng stress thì nên cung cấp vitamin C qua thức ăn hoặc nước uống cho gia cầm với liều 100 – 500mg/kg thức ăn. Khi thời tiết nóng, chủng ngừa, cân gà hoặc đàn gà bị bệnh truyền nhiễm thì dùng vitamin C liều cao giúp cho đàn gà mau chóng ổn định và vượt qua những yếu tố bất lợi.

Được tổng hợp trong đường tiêu hóa, khi thiếu sẽ gây viêm da, rụng lông, rối loạn sự phát triển của bộ xương, tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu vitamin H cho gia cầm là 0,2mg/kg thức ăn.

– Chất khoáng có vai trò quan trọng trong việc tạo xương ở gà và tham gia vào các hoạt động trao đổi chất của cơ thể. Nhu cầu khoáng của gia cầm non và hậu bị là 2 – 3%, ở gia cầm đẻ là 4 – 7% vì cần nhiều Canxi – Phospho để tạo vỏ trứng. Một số chất khoáng tham gia vào quá trình tạo máu như Fe, Cu, Co,… một số khác tham gia tạo hệ đệm và men xúc tác cho các phản ứng trong cơ thể như NaCl, K, Mg, Mn, Zn, I, Se,…

– Khi thiếu hoặc thừa khoáng chất sẽ gây nên những tình trạng đặc trưng:

* Thiếu đồng (Cu) ở mức thấp hơn 3 – 4mg/kg thức ăn sẽ làm giảm khả năng sử dụng Fe, giảm sức kháng bệnh, giảm hàm lượng của vitamin C và B 12 trong cơ thể. Thừa sẽ gây tình trạng ngộ độc như loạn dưỡng cơ, mề bị bào mòn, tích nước trong mô, chất chứa manh tràng đen.

Nguồn: http://nguoichannuoi.com

LÁI THIÊU 1501

LÁI THIÊU 1502

LÁI THIÊU 1503

Sản phẩm đặc biệt cao đạm

từ 1 ngày đến 7 ngày tuổi

Sản phẩm đặc biệt cao đạm

từ 8 ngày đến 22 ngày tuổi

Sản phẩm đặc biệt cao đạm

từ 23 ngày tuổi đến xuất bán