Top 15 # Om Gà Chọi Tơ / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Ruybangxanh.org

Cách Om Nghệ Cho Gà Tơ Thừa Cân / 2023

Các Bác cứ nhớ giúp em là Vào 3 ra 4;

+ 3 ngày vào nghệ và 4 ngày xả nghệ bằng lá ngải cứu đã nấu chín thêm chút muối là OK

+ 3 lần đi hơi và 4 lần đánh đòn theo đúng chế độ là có thể ra trường đấu được rồi

+ Nghệ già khoảng 3 củ cái là tốt nhất: giúp săn trắc da

+ Xuyên khung thái nhỏ khoảng 200g: bóng da

+ Long lão ra hiệu thuốc bắc mua khoảng 20 đến 30K: diệt khuẩn, min da

+ 1 cục phèn chua bằng đầu ngón tay: mền và dầy da

+ 1 củ gừng già: tránh gió

+ 1 thanh quê bằng ngón tay: giảm mỡ tạo mùi thơm

+ 2 củ địa liền: tránh gió, kháng khuẩn

+ 3 lít rượu trắng: sát trùng tạo môi trường dung môi

Tất cả nguyên liệu các Bác cho vào ngâm cùng nhau, các cụ ta khuyên dùng sau 100 ngày còn các bác nóng tính thì sau 1 tháng là dùng tạm được rồi, tuy nhiên dùng gọi là có mùi thôi nhe nhiều quá là thành gà thịt luôn đấy, em đã bị mấy vụ nóng vội như thế này rồi, phải công nhận là thịt gà thơm mùi quế, mà chủ gà buồn không tả hết.

Chỉ sử dụng với các chú gà đạt đủ các yêu cầu sau:

+ Có tuổi đời trên 12 tháng

+ Đủ tuổi và thừa cân, cần giảm mỡ

+ Gà đã qua chế độ vần vỗ, riêng gà tơ thì tuyệt đối không nên dùng

+ Gà phải có sức khỏe, gà ốm, yếu, mới vần chưa bong vẩy không lên vào bóp nghệ, nếu làm sai rất dễ tụt lực và mất gân.

+ Nên dùng vào buổi tối trước khi đi ngủ; lấy khăn hoặc chổi sơn bôi vừa đủ một lượng thích hợ lên phần da đã tỉa lông của các chú gà

+ Chỉ dùng cho các chú gà thừa mỡ và khỏe mạnh

+ Nên ra nghệ vào sáng sơm hôm sau: sau bữa ăn sáng hôm sau ta lên lau lại các chỗ đã bôi nghệ tối hôm trước, tránh cho gà bị khô da, mất nước dẫn đến mất gân

+ Ta nên vào nghệ 3 lần liên tiếp và ra nghệ 3 lần + thêm 1 lần lau sạch bằng nước ngải cứu nấu chín, trường hợp gà tơ đã vào cốt đủ thịt thì ta chỉ nên dùng nước ngải cưu nấu chính cho thêm ít muối trắng là OK.

Kinh nghiệm để đời từ việc ăn quá nhiều thịt gà tơ, anh em chơi gà đưng quá nóng vội

1. Gà tơ ít hơn 12 tháng tuyệt đối không dùng nghệ và rượu có xoa bóp thì dùng nước ngải cứu đã nấu chín cộng thêm chút muối trắng là OK.

2. Gà tơ mà thừa thịt, cho ăn ít tinh bột, cho ăn thật nhiều rau xanh, xoa nước ngải cứu nóng và phơi nắng thường xuyên là ok, cần giảm cân nhanh thì cho vần 1 trận đau là xuống cân ngay.

3. Rượu lên dùng rượu quê loại lồng độ nhẹ cho rẻ tiền và an toàn, rượu nặng người con chết nữa là con gà chịu sao nổi.

4. Con gà có khung sương và trạng cân của nó, đừng ép gà quá sức vừ mất lực vừa không bền gà, gà đánh nhau bằng đòn bằng sức

5. Tùy thể trạn con gà mà xoa bóp cho phù hợp, ko xoa không được, nhưng nếu xoa nhiều quá cũng không được, vui lòng nhẹ tay hàng dễ hỏng.

Mong muốn lưu giữ nét đẹp truyền thống Việt

Bài Thuốc Om Gà Chọi / 2023

1.KHƯƠNG HOÀNG (Củ nghệ)

Tên khoa học: Curcuma longa L.

Tên thông thường: Củ Nghệ vàng

Bộ phận dùng: Củ.

Tính vị: Vị cay, đắng, tính ấm.

Quy kinh: Vào kinh Can, tỳ

Tác dụng: Hành khí hoạt huyết. Thúc đẩy kinh nguyệt và giảm đau.

Chủ trị: Trị cánh tay đau, té ngã bị tổn thương.

– Khí huyết ngưng trệ biểu hiện đau ngực, bế kinh và đau bụng: Khương hoàng hợp với Ðương qui, Uất kim, Hương phụ và Diên hồ sách.

– Chứng phong thấp ứ trệ biểu hiện cổ cứng, đau vai gáy và giảm cử động chi: Khương hoàng hợp với Khương hoạt và Ðương qui.

Bào chế: Đào củ vào mùa thu hoặc mùa đông. Sau khi cạo vỏ và bỏ những củ xơ, củ được rửa sạch, đồ chín, phơi nắng cho khô và thái miếng.

Liều dùng: 5-10g

Tên khoa học: Pheritima asiatica michaelssen.

Họ Cự Dẫn (Megascolecidae)

Bộ phận dùng: cả con. Đào lấy thứ khoang cổ, tức là giun già,hay ở chỗ mô đất hoặc nền đình chùa, nhiều nhất ở gốc bụi chuối lâu năm. Muốn dễ bắt giã lá Nghệ răm ngâm nước đổ lên, có giun thì nó trườn lên. Không dùng thứ giun tự bò lên mặt đất giun có bệnh.

Tính vị: vị mặn, tính hàn.

Quy kinh: Vào ba kinh vị, Thận và đại trường.

Tác dụng: làm thuốc thanh nhiệt, lợi thuỷ

Chủ trị: Trị thương hàn phục nhiệt ( nhiệt ẩn nấp trong cơ thể) điên cuồng, to bụng, hoàng đản, còn trị ác sang, sốt rét (cấp, mạn), kinh phong, tràng nhạc v.v…

– Co giật và co thắt do sốt cao: Dùng Địa long với Câu đằng, Bạch cương tàm và Toàn yết.

– Hội chứng ứ bế thấp nhiệt biểu hiện như các khớp đau, đỏ và sưng và suy yếu vận động: Dùng Địa long với Tang chi, Nhẫn đông đằng và Xích thược.

– Hội chứng ứ phong-hàn-thấp biểu hiện như các khớp đau và lạnh kèm suy yếu vận động: Dùng Địa long với Thảo ô và Thiên nam tinh trong bài Tiểu Hoạt Lạc Đơn.

– Bán thân bất toại do tắc kinh lạc, do thiếu khí và ứ máu: Dùng Địa long với Đương qui, Xuyên khung và Hoàng kỳ trong bài Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang.

– Tích nhiệt ở bàng quang biểu hiện như đi tiểu ít: Dùng Địa long với Xa tiền tử và Mộc thông.

– Hen: Dùng Địa long với Ma hoàng và Hạnh nhân.

Liều dùng: Ngày dùng 6 – 12g.

Cách bào chế:

Theo Trung Y:

– Lấy 16 lạng giun đất, ngâm nước vo gạo nếp một đêm, vớt ra tẩm rượu một ngày, sấy khô, cho lẫn xuyên tiêu, gạo nếp mỗi thứ 2 đồng rưỡi rồi sao chung. Hễ gạo nếp chín vàng là được (Lôi Công Bào Chích Luận).

– Hay dùng nướng khô tán bột, hoặc lẫn muối vào cho hoá ra nước, hoặc đốt tồn tính, hoặc để sống giã nát, tuỳ theo trường hợp mà dùng (Bản Thảo Cương Mục).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Bắt lấy giun khoang cổ, rửa sạch, dùng dao tre xâu vào đầu nó, lách dọc một đường, rửa sạch trong ruột, nhúng vào nước ấm cho nó hơi cứng và bớt nhớt, phanh nó trải lên giữa nong hoặc nia mà phơi, thấy hơi se thì mang vào

sấy khô, giòn, cất kín, hoặc mang bán cho hiệu thuốc. Khi dùng lấy giun khô tẩm rượu hoặc tẩm gừng sao qua dùng hoặc tán bột.

– Cũng bắt giun khoang cổ, ngâm nước vo gạo một đêm, rửa sạch, lại nhúng vào nước ấm cho nó hơi săn lại, rồi mang phơi khô nửa chừng, lấy vào bắt vuốt từng con cho nó đẹp và thẳng ra rồi sấy nhẹ cho khô giòn. Khi dùng cũng tẩm rượu hoặc gừng sao qua như trên.

Bảo quản: dễ bị sâu, cần để nơi kín, khô ráo.

Liều dùng: 5-15g (10-20g ở dạng tươi).

Kiêng kỵ: người hư hàn mà không thực nhiệt thì kiêng dùng.

Tên khoa học: Cinamomum cassia Presl.

Bộ phận dùng: Vỏ gốc hoặc vỏ khô của thân cây.

Tính vị: Vị cay, ngọt, tính nóng.

Qui kinh: Vào kinh Thận, Tỳ, Tâm và Can.

Tác dụng: trừ lạnh và giảm đau, làm ấm kinh lạc và tăng lưu thông.

Chủ trị:

– Thận dương suy biểu hiện như lạnh chi, đau và yếu vùng ngang lưng và đầu gối, bất lực và hay đi tiểu: Dùng nhục quế với Phụ tử, Sinh địa hoàng và Sơn thù du trong bài Quế Phụ Bát Vị Hoàn.

– Tỳ Thận dương hư biểu hiện như đau lạnh ở thượng vị và vùng bụng, kém ăn, phân lỏng: Dùng Nhục quế với Can khương, Bạch truật và Phụ tử trong bài Quế Phụ Lý Trung Hoàn.

– Hàn tà ngưng trệ ở kinh lạc biểu hiện như đau lạnh thượng vị và bụng, đau lưng dưới, đau toàn thân, kinh nguyệt không đều, ít kinh nguyệt: Dùng Nhục quế với Can khương, Ngô thù du, Đương quy và Xuyên khung.

– Nhọt mạn tính: Dùng Nhục quế với Hoàng kỳ và Đương qui.

Bào chế: Cạo sạch lớp vỏ thô, rửa sạch, thái phiến, phơi trong râm cho khô hoặc tán bột.

Kiêng kỵ: Có thai không dùng. Kỵ lửa.

Tên khoa học: Aconitum sinense Paxt.

Họ Mao Lương (Ranunculaceae)

Bộ phận dùng: rễ cái (vẫn gọi là củ).

Rễ cái (còn gọi là củ mẹ): thu hái vào giữa hay cuối mùa xuân là tốt. Nếu để qua mùa thì củ teo và xốp. Thu hái về, cắt bỏ rễ con rửa sạch đất, phơi khô.

+ Ở Trung Quốc có nhiều loại cây Ô đầu: A.fortuei, A.chinense Paxt, A. carmichaeli, mang nhiều tên khác nhau: xuyên ô (mọc ở Tứ Xuyên), Thảo ô (mọc ở Giang Nam). Tuỳ theo sinh lý của củ, củ Ô đầu cũng có tên gọi khác nhau:

+ Ô nhuế: là Ô đầu có hai nhánh ở dưới đế giống như sừng trâu.

+ Trắc tử là vú lớn bên củ phụ tử.

+ Thiên hùng là Ô đầu dưới đất lâu năm không sinh đủ con.

+ Ở Việt Nam, mới phát hiện lại cây Ô đầu và trồng ở Lào Cai với những tên địa phương củ gấu tầu, củ ấu tầu, có Tên khoa học là A. forunei Hamsl (A. chinens Sieb).

+ Ở phương Tây, cây Ô đầu được trọng dụng nhất là cây A.napellus L không phân biệt dùng củ mẹ hay củ con, nhưng thu hái ở những thời gian khác nhau, củ mẹ vào cuối xuân, củ con vào cuối thu sang đông.

Nói chung, củ khô, to, da đen, thịt trắng ngà để vào lưỡi thấy tê, không đen ruột là tốt.

Thành phần hoá học: hoạt chất chính của củ Ô đầu là aconitin (chất gây tê đầu lưỡi) và các alcaloid khác. Ngoài ra còn tinh bột, đường, manit, chất nhựa, các acid hữu cơ.

Các cây Ô đầu nói chung đều rất độc (thuốc độc bảng A). Nhiều dân tộc các nước xưa và nay dùng Ô đầu tẩm độc săn bắn súc vật (kể cả voi). Độc là do chất aconitin của nó, uống 1 mg đến 1,5 mg có thể chết người. Trong củ Ô đầu rửa sạch phơi khô, người ta quy định phải có 0,5% alcaloid toàn phần phụ thuộc vào loại cây, từng địa phương thu hái, thời gian thu hái, cách chế biến và bảo quản . Đặc tính của aconitin là rất dễ thủy phân trong dung dịch nước hay cồn ở nhiệt độ thường và với thời gian bảo quản . Với sức nóng (như lùi trong tro nóng), nó càng dễ thuỷ phân để cho chất benzoylaconin (400 – 500 lần kém độc) rồi aconin (1.000 – 2.000 lần kém độc hơn). Do đó, ta có thể giải thích tại sao nhân dân các vùng có cây Ô đầu (Tứ Xuyên – Trung Quốc) dùng củ tươi nấu cháo ăn để trị phong thấp như cơm bữa mà không bị ngộ độc.

Tác dụng: trừ phong, táo thấp, trừ hàn, trợ dương, bổ hoả.

Chủ trị:

Theo Tây y: Làm thuốc trị ho, ra mồ hôi.

Theo Đông y: Trị đau nhức, mỏi chân tay, (dùng ngoài) đặc biệt dùng uống trong chứng bán thân bất toại, chân tay co quắp, mụn nhọt lâu ngày.

Liều dùng: Ngày dùng 3 – 4g để sắc.

Kiêng ky: không thật trúng phong hàn và phụ nữ có thai thì không nên dùng. Cách bào chế:

Theo Trung Y: Dùng Ô đầu sống hoặc nướng chín hoặc cùng nấu với đậu đen để giảm bớt độc tính tuỳ từng trường hợp (Bản Thảo Cương Mục).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Tán nhỏ ngâm rượu 5 – 7 ngày để xoa bóp, hoặc tán bột trộn với bột thuốc khác làm thuốc dùng ngoài, ít khi dùng trong.

Bảo quản: thuốc độc bảng A, để trong lọ kín, nơi khô ráo, mát.

Dễ mọt nên năng phơi sấy (không quá 70 – 80o), tránh nóng ẩm.

Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv.)Diels

Họ Hoa Tán (Umbelliferae)

Bộ phận dùng: rễ (vẫn gọi là củ).

Thứ có thân và cả rễ gọi là Đương quy hay Toàn quy.

Thứ không có rễ gọi là Độc quy. Xuyên quy là quy mọc ở tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) là loại tốt hơn cả.

Lai quy: quy không thật giống.

Toàn quy thường chia ra:

+ Quy đầu (lấy một phần về phía đầu).

+ Quy thân (trừ đầu và đuôi).

+ Quy vĩ (lấy riêng phần rễ nhánh).

Quy có thịt chắc, trắng, hồng, củ to, nhiều dầu thơm không mốc mọt là tốt.

Thành phần hoá học: có tinh dầu (0,2%), chất đường và sinh tố B12.

Tính vị: vị cay, hơi ngọt, đắng, thơm, tính ấm.

Quy kinh: Vào ba kinh Tâm, Can và Tỳ.

Tác dụng: bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường.

Chủ trị:

+ Kinh nguyệt không đều, đau bụng, chấn thương, ứ huyết, tê nhức, huyết hư, sinh cơ nhục, đại tiện bí (dùng sống hay tẩm rượu).

+ Tỳ táo, Tỳ hàn, ăn ít, băng huyết (tẩm rượu sao):

+ Quy đầu: chỉ huyết, bổ.

+ Quy thân: dưỡng huyết

+ Quy vĩ: hành huyết.

– Thiếu máu, kinh nguyệt không đều: Dùng Đương quy với Bạch thược, Thục địa hoàng và Xuyên khung trong bài Tứ Vật Thang.

– Kinh nguyệt ít: Dùng Đương qui với Hương phụ, Diên hồ sách và Ích mẫu thảo.

– Vô kinh: Dùng Đương qui với Đào nhân và Hồng hoa.

– Chảy máu tử cung: Dùng Đương qui với A giao, Ngải diệp và Sinh địa hoàng. . Đau do chấn thương ngoài: Dùng Đương qui với Hồng hoa, Táo nhân, Nhũ hương và Một dược.

. Đau do nhọt và hậu bối: Dùng Đương qui với Mẫu đơn bì, Xích thược, Kim ngân hoa và Liên kiều.

. Đau bụng sau đẻ: Dùng Đương qui với Ích mẫu thảo, Táo nhân và Xuyên khung.

. Ứ trệ phong thấp (đau khớp): Dùng Đương qui với Quế chi, Kê huyết đằng và Bạch thược.

– Táo bón do khô ruột: Dùng Đương qui với Nhục thục dung và Hoả ma nhân

Liều dùng: Ngày dùng 4 – 28g.

Cách Bào chế:

Theo Trung Y: Rửa sạch bằng rượu, cắt bỏ đầu, thái mỏng, tẩm rượu một đêm.

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

– Rửa qua bằng rượu, nếu không có rượu rửa bằng ít nước cho nhanh, vẩy ráo nước ủ một đêm cho mềm, thường đem bào mỏng một ly (dùng sống), cách này thường dùng.

– Nếu rửa bằng nước và muốn để lâu, phải sấy nhẹ qua diêm sinh để chống mốc. Nếu bị mốc thì lấy rượu tẩy đi. Nếu quy bé, đồ qua cho mềm, xếp vào nhau, đập bẹp, ép thành miếng to rồi bào, sẽ được miếng quy to và đẹp.

– Có thể bào mỏng rồi đem tẩm rượu và nếu cần thì sấy nhẹ lửa. Có người pha rượu với mật ong (1/5) để làm dịu tính cay rồi tẩm.

– Có thể sau khi tẩm rượu thì sao qua (vi sao) để trị băng huyết.

Bảo quản: để nơi khô ráo, đựng trong hòm gỗ, có lót ít vôi sống, khi trời ẩm nên mở hòm cho thoáng gió. Khi sấy, phơi không dùng sức nóng quá là mất tinh dầu.

Chú ý: Đầu rễ có tác dụng bổ máu hơn. Phần cuối rễ tốt cho hoạt huyết. Phần thân rễ: hoạt huyết và bổ máu.

Khi dùng phối hợp Đương qui với rượu có thể làm tăngtác dụng bổ máu.

Kiêng ky: Tỳ thấp, tiêu chảykhông nên dùng.

Tên khoa học: Daemonorops, draco Bl.

Bộ phận dùng: dịch bài tiết mầu đỏ từ quả và thân.

Tính vị: vị ngọt, mặn, tính ôn.

Qui kinh: Vào kinh Tâm và Can.

Tác dụng: cầm máu chữa lành vết thương. Hoạt huyết và trừ ứ bế, giảm đau.

– Xuất huyết do chấn thương ngoài: Dùng Huyết kiệt tán nhuyễn rắc vào hoặc có thể phối hợp với Bồ hoàng.

– Loét mạn tính, Sưng và đau do ứ máu do chấn thương ngoài. Dùng Huyết kiệt với Nhũ hương và Một dược trong bài Thất Li Tán.

Bào chế: Thu hái vào mùa hè. Sấy hoặc hầm cho đến khi thành nhựa rắn, sau đó nghiền thành bột.

Liều dùng: 1-1,5g dưới dạng thuốc viên.

Kiêng kỵ: không dùng huyết kiệt khi không có dấu hiệu ứ huyết.

Tên Hán Việt khác: Vũ nát (Bản kinh), Vũ trạch (Biệt lục), Mã xĩ phàn (Bản thảo tập chú), Nát thạch (Cương mục), Minh thạch, Muôn thạch, Trấn phong thạch (Hòa hán dược khảo), Tất phàn, Sinh phàn, Khô phàn, Minh phàn, Phàn thạch.

Tên khoa học: Alumen, Sulfas Alumino Potassicus.

Tên gọi:

(1) Phàn có nghĩa là nướng, vị này do một loại khoáng chất nướng ra mà thành, nó có màu trong sáng nên gọi là Minh cho nên gọi là Minh phàn.

(2) Khi rang lên cho 1 vị xốp trắng nhẹ khô nên gọi là Khô phàn.

(3) Phàn là phèn, Minh là trong sáng, vị phèn có màu trong và sáng.

Mô tả:

Điều chế phèn chua từ nguyên liệu thiên nhiên là Minh phàn thạch, công thức K2S0, Sulfataluminium A12 (S04)3, A14(OH)3 có lần ít sắt nung Ming phàn thạch (Alunite) rồi hòa tan trong nước nóng, lọc và kết tinh sẽ được phèn chua, đó là loại muối có tinh thể to nhỏ không đều, khi thì một miếng to không màu hoặc trắng, có khi trong hay hơi đục, tan trong nước không tan trong cồn, Rang ở nhiệt độ cao phèn chua mất dần hết nước để thành Phèn phi, xốp nhẹ gọi là khô phàn (Alument Usium).

Sản địa:

Các nước đều có, Minh phàn thiên nhiên là một khối kết tinh hình 8 mặt màu trắng, vì lượng thiên nhiên ít nên phải cần nhân tạo mới đủ dùng.

Tác dụng:

Táo thấp, sát trùng, khử đàm, chỉ huyết, đồng thời lại còn có tác dụng làm mửa mạnh nhiệt đàm.

Tính vị, qui kinh:

Vị chua chát, tính lạnh Nhập kinh Tỳ.

Chủ trị, liều dùng:

NGứa âm hộ, đới hạ, ngứa lở (tán bột xức hoặc sắc rửa). Cổ họng sưng đau, đờm dãi nhiều, động kinh. Dùng từ 2-1 chỉ uống, ngoài dùng tùy thích.

Kiêng kỵ: Chứng ho âm hư cấm dùng. Không nên uống nhiều uống lâu.

Sơ chế: Nung đá Minh phàn (ALUNITE) sau đó hòa tan trong nước nóng, lọc và kết tinh, ngoài ra có thể chế phèn chua bằng cách nung đất sét cho tác dụng với ACID SULFURIC, rồi trộn với dung dịch KALI SULFAT rồi kết tinh. Dùng thứ trắng trong là thứ tốt.

Bào chế:

(1) Phương pháp ngày xưa:

Cho phèn chua vào nồi đất nung đỏ rực cả trong lẫn ngoài, lấy ra đậy kín lại, cho vào trong tàng ong lộ thiên mà đốt, cứ 10 lạng phèn thì 6 lạng tàng ong, đốt cháy hết để nguội lấy ra tán bột. Gói giấy lại, đào đất sâu 5 tấc, chôn 1 đêm rồi lấy ra dùng (Lôi Công).

– Không nấu thì gọi là sinh phàn, nấu khô cho hết nước gọi là Khô phàn. Nếu uống phải chế cho đúng cách (Lý Thời Trân).

(2) Phương pháp ngày nay dùng 1 chảo gang có thể tích chứa được gấp 5 lần thể tích muốn phi, để tránh phèn trào ra. Cho vào chảo đốt nóng đến khi chảy, nhiệt độ có tới 800-9000. Phèn bồng trào lên, cho đến khi nào không thấy bồng trào lên nữa thì rút lửa để nguội. Lấy ra cạo bỏ cái đen hoặc vàng bám bên ngoài chỉ lấy thứ trắng. Tán mịn. Phèn phi tan ít và chậm tan trong nước.

Bảo quản:

Cần tránh ẩm. Đựng kín trong lọ.

8. HOÀNG NÀNG (Mã tiền):( STRYCHNOS WALLICHIANA )

Mô tả : Dây leo, thân gỗ, có móc hoặc tua cuốn đơn hay kép. Lá mọc đối, có 3 gân. Cụm hoa hình chùy dạng ngù, mọc ở đầu những cành nhỏ. Hoa màu vàng nhạt. Quả thịt hình cầu, đường kính 4 – 7cm, có nhiều hạt dẹt. Hạt có lông mượt màu vàng ánh bạc. Tránh nhầm lẫn với nhiều loài Strychnos khác, cũng dạng dây leo. Phân bố : Cây mọc hoang ở miền núi.

Bộ phận dùng : Vỏ thân và vỏ cành, quả. Thu hái quanh năm. Phơi hoặc sấy khô. Thành phần hóa học : Vỏ thân chứa alcaloid toàn phần 5,23%, strychnin 2,37 – 2,43%, brucin 2,8%.

Công dụng : Chữa thấp khớp, đau nhức xương, chân tay co quắp tê cứng, đau lưng, đau hông, đau bụng, ỉa chảy. Còn làm cường dương. Uống tối đa 1 lần : 0,1g; 24 giờ : 0,40g dạng bột. Dùng ngoài chữa ghẻ, hủi và một số bệnh ngoài da khó chữa. Thuốc độc, không có kinh nghiệm không dùng.

10. Rượu: Chất hòa tan và dẫn thuốc

Như vậy bài thuốc om gà trên chủ trị trật đả, hành khí hoạt huyết và giảm đau (cơ cũng như xương) là khá hiệu quả. Cũng chính vì tác dụng hoạt huyết cao nên dùng om hàng ngày giúp gà khỏe là có cơ sở. Một sô vị thuốc có tính nóng, ấm nên giúp gà tiêu bớt mỡ dư và săn chắc, nhưng ngược lại để lâu (không xả thuốc) dễ dẫn đến nguy hại.

Mặc dù bài thuốc om này rất tốt cho gà chọi, đã được nhiều sư kê lão làng sử dụng và mang lại hiệu quả cao nhưng đối với nhiều anh em thì tìm đủ nguyên liệu kể trên cũng thật khó. Anh em đừng lo, hiện nay trên thị trường đã có một loại thuốc om mình đã dùng thử và thấy vô cùng hiệu quả đó là thuốc om trúc linh. Thuốc được đóng vào chai vô cùng tiện lợi, anh em chỉ cần mua về rồi quét lên gà theo đúng hướng dẫn là được.

Với thành phần 100% được làm từ thảo dược, không hóa chất, không gây tác dụng phụ, không ảnh hưởng đến gân gối.

– Giúp da gà đỏ khỏe, dày da

– Giúp gà điều hòa khí huyết, khỏe mạnh và nhanh hồi phục sau đá.

– Giúp trị mốc, lăng ben cho gà hiệu quả.

– Khử trùng, diệt độc và các kí sinh có hại trên ra gà.

– Rút mỡ và tăng nội lực cho gà.

– Hỗ trợ tan đòn, sát khuẩn vết thương sau khi đá.

– Giúp gà hồi phục nhanh sau khi bị ốm hay khi đá về.

Cách dùng hết sức đơn giản

Top 5 Cách Chọn Gà Chọi Tơ Và Chăm Sóc Gà Chọi Tơ Tốt Nhất / 2023

Trước khi muốn có được một chú chiến kê đánh đâu thắng đó, bên cạnh việc biết cách tập luyện và chế độ dinh dưỡng hợp lý, thì giống nòi gà có thể xem như yếu tố quyết định. Tham khảo những cách chọn gà chọi tơ chuẩn của người trong nghề sẽ giúp bạn tìm được một chiến kê dũng mãnh!

Chọn gà chọi tơ theo giống bố mẹ

Chọn theo giống bố mẹ bởi gà cũng có gen di truyền, giống bố mẹ tốt ắt hẳn sẽ có phần tốt cho con. Người ta cho rằng “Chó giống cha, gà giống mẹ” Nếu gà mẹ có nhiều đặc điểm ưu tú gà con do nó sinh ra sẽ được đánh giá cao hơn.

Giống con được nhân giống từ những cặp bố mẹ có gen tương hỗ về các đặc tính tốt của một chú gà chọi thì đấy chính là chú gà chọi tơ đáng được chọn để đào tạo và chăm sóc.

Chọn gà chọi tơ theo vảy gà

Khi gà chọi đã hình thành nên vảy là khi đó gà đã được khoảng vài tháng chúng ta chọn giữ những chú gà có vảy quý, gà có vảy quý là gà có tính chọi rất cao là con nhà nòi của môn nghệ thuật chọi gà. Chọn theo vảy gà cũng là một cách hay mà người người mách bảo nhau.

Nếu chú gà có vảy vấn cán nằm ngang cựa đây là vị trí tốt, chú gà này đấu chọi chỉ có thắng. Bộ 3 vảy giáp vy đao thì gà chọi chỉ có cho đối phương nhận thua. Ngoài ra còn có những loại vảy khác như: nội hoa đăng, song phủ đao, kích giáp và thất đao thiên, giáp thới phòng đao, vảy gà xếp thành 3 hàng thẳng thắp, linh giáp tử,…

Chọn gà chọi tơ theo thế đá

Chọn gà theo thế đá là cách chọn gà gần như đã đạt đến những bước cuối cùng. Gà lúc này đã khá lớn tuy cựa vảy vẫn chưa có nhưng có thể thả cho gà đá trong khoảng thời gian ngắn là được rồi. Chú gà nào phô dáng đẹp, thế đá tốt thì sẽ được chọn và đưa vào đợt tuyển tiếp theo.

Chọn theo thế đá và loại trực tiếp

Chọn gà theo thế đá và loại trực tiếp là bước cuối cùng để chọn chú gà chọi tốt. Khi chọn thế đá của gà chọi lần đầu có thể chúng ta sẽ giữ lại những chú gà có thế đá không được đẹp bởi chúng sẽ còn những lần đá sát hạch tiếp theo để phô thế và khả năng của mình.

Gà chọi ở giai đoạn này thường sẽ để chúng chọi với gà khác bầy và cùng tháng tuổi để chúng thể hiện rõ khả năng của mình và loại trực tiếp. Giai đoạn này chúng ta không giữ lại những chú gà có thế chọi kém vì đây là bước chọn tinh hoa và nuôi dưỡng gà chọi để chiến.

Chọn gà chọi tơ theo sức khỏe

Các bạn xem mấy tháng qua xem chú gà cả mình có bệnh tật gì không. Nếu có thì liệu có ảnh hưởng về lâu về dài không để chúng ta có cách loại trừ chúng ngay từ đầu. Các phần về ngoại hình nên chọn thật kỹ, chẳng hạn nếu cổ cong lườn vẹo…thì cũng loại bỏ không nên tiếc rẻ vì những con gà đó để lại cũng không có ích gì về về sau này. Gà nào thật sự hoàn hảo về ngoại hình mới được giữ lại mà thôi.

Trong giai đoạn này, gà chọi tơ đang thay lông trưởng thành nên cần cung cấp đủ chế độ dinh dưỡng để gà phát triển nhanh chóng, đồng đều. Bạn có thể tham khảo thời gian biểu sau:

Cách 1:

8h sáng: Chuẩn bị 1 lượng thóc vừa đủ cho gà ăn

12h trưa: Sử dụng rau hoặc mồi cho gà ăn (lưu ý nên cho ăn 3 bữa rau, 3 bữa mồi xen kẽ nhau)

4h chiều: Cho gà ăn thóc

8h tối: Tiếp tục sử dụng thóc cho gà ăn

Cách 2: Sử dụng công thức phối trộn thức ăn cho gà chọi bao gồm: Lúa, ngô (bắp) nghiền vỡ mảnh, gạo lứt, cám viên hỗn hợp, rau xanh thái nhỏ. Cho gà ăn 3 bữa trong ngày: 4-5h sáng, 12h trưa và 4h chiều. Tùy thể trạng của gà để gia giảm tỉ lệ thành phần thức ăn.

Cùng với việc cho ăn, bạn cũng nên thay nước cho gà hàng ngày để tránh việc nguồn nước bị ô nhiễm, gà dễ bị tiêu chảy.

Ở tháng thứ 8, bạn có thể mở mỏ gà với 1 con cùng trạng, cùng non tơ như nhau. Sau đó, tiến hành cắt tai tích cho gà. Việc cắt tích tai sẽ giúp gà trở nên gọn gàng, có thể chiến tốt mà không vướng phải mào và tai.

Bạn có thể cắt tai tích cho gà bằng kéo và dao lam. Lưu ý các loại dụng cụ này cần được tẩy trùng và vệ sinh sạch sẽ.

Cách giúp gà chọi tơ mọc lông nhanh

Tỉa lông đầu cổ: Bạn cần tỉa từ đốt xương cổ đầu tiên trở xuống cho đến vị trí lông cườm cuối cùng

Tỉa lông ở nách và hông: Do khi thi đấu, gà sẽ ra mồ hôi. Lúc này, nhiệt tăng lên sẽ dễ bị bết dình lông, khó di chuyển. Bạn cần tỉa lông cho gà chạy dài từ nách non.

Tỉa lông đùi: Để cách chiến kê có thể vận động linh hoạt, ra đòn chắc chắn, bạn nên tỉa phần lông bên trong đùi non.

Tỉa lông bụng: Trong quá trình chiến đấu, phần nhiệt sẽ tăng lên từ đùi đến phao câu. Vì vậy, bạn cần tỉa hết phần lông tại đó cho gà.

Cách Om Bóp Cho Gà Chọi / 2023

Chào bạn! Để có được con gà chọi hay, nghĩa là khi lâm trận, thắng nhiều hơn thua hoặc chưa từng nếm mùi thất bại thì đó không phải là chuyện dễ dàng. Một tay chuyên cá độ gà cho biết: Một “chiến binh” khỏe ( chỉ con gà chọi ) phải hội đủ vài yếu tố sơ đẳng: Mỏ diều hâu, đầu chim công, đuôi úp nơm, cánh óp hình vỏ trai, trụ vững trãi… Ngoài ra phải tiềm tàng một sức sống mãnh liệt, có cốt cách của gà chọi như phản xạ tốt, ra đòn hiểm, ác, tiếng gáy to vang…Bạn cần thực hiện một số kỹ thuật om, vần, nuôi dưỡng thật cẩn thận, kỹ lưỡng.Om bóp vào nghệ:

1 . Nguyên liệu om bóp:700 grams nghệ ta lấy củ nghệ già xay hoặc giã mịn, Xuyên khung thái nhỏ + long lão 20.000 VND (Mua tại hiệu thuốc bắc), 2lít rượu trắng 40 – 45 độ, 1 cục phèn chua to bằng đầu ngón tay cái. Tất cả cho ngâm chung vào với nhau. Sau 1 tháng mang ra dùng. (Muốn cho gà được đỏ đẹp bóng bẩy như cách dùng nghệ miền Nam thì nên cho thêm một chút huyết giác)2. áp dụng:Khi gà đã được thử nghiệm kiểm tra và sau khi cắt tai tích và tỉa lông thì ta bắt đầu cho gà vào om bóp vần vỗ theo chế độ.– Buổi tối sau khi cho gà ăn uống đấy đủ xong thì thả gà ra cho gà đi lại vỗ cánh tự do, dùng 1 cái ly thủy tinh để chứa hỗn hợp thuốc dùng cho việc om bóp. Dùng chổi sơn nhỏ 1 cm hoặc chổi vẽ nhỏ quét hỗn hợp nghệ vào những phần da đã được cắt tỉa lông cho đều một lượt, thả gà ra cho gà đi lại vỗ cánh tự do và để cho khô da rồi nhốt gà lại cho gà đi ngủ.– Sáng sớm ngày hôm sau ta bắt gà thả ra cho gà đi lại vỗ cánh tự do một chút sau đó lấy 1 cái khăn mặt bông thấm nước nóng vắt khô khoảng 50% nước, lau qua cho gà một lượt vào những chỗ mà ta đã quét nghệ. Thả gà ra cho gà đi lại vỗ cánh một lúc rồi nhốt gà lại.– Cách vào nghệ này ta làm liên tục 3 ngày do vậy mà nó mới có tên là vào 3.3. Lưu ý:– Sau khi gà đánh đấm vần vỗ về 3 ngày sau ta mới vào nghệ cho gà bởi đây là thời gian cho gà nghỉ ngơi dưỡng sức chữa thương.– Gà thiếu thịt không nên vào nghệ (nếu có vào nghệ thì thật sự phải có kinh nghiệm, bằng không thì coi như là khó nói).4. Xả nghệ:– Lá ngải cứu mua về rửa sạch sau đó ta cho vào nồi nhỏ nấu chín.– Để nước trong nồi sôi lưu diu, ta lấy 1 cái khăn mặt bông khoảng 30 – 45 Cm gấp 2, gấp 4 lại rồi nhúng vào trong nồi nước lá ngải, vắt khô nước khoảng 80 – 90% và nhớ là không được để khăn nóng quá vì khăn nóng quá sẽ làm cháy da gà (Tay cầm khăn quệt qua ta không cầm khăn để kiểm tra độ nóng của khăn) sau đó ủ khăn vào những vị trí mà ta đã cắt tỉa lông rồi xoa bóp nhẹ nhàng. Nhúng lại khăn vào nồi nước rồi vắt khô như đã nói sau đó lau vào những vị trí vừa mới làm và làm lần lượt như vậy cho đến khi hoàn thiện chu trình.– Cách xả nghệ này ta làm liên tục 4 ngày do vậy mà nó mới có tên là ra 4.Chế độ vần gà: 1. Kỳ đòn 1:Ta tìm con gà bằng trạng bằng cân, quấn kỹ chân cho đánh đòn khoảng 1 hồ, xong thì vỗ đờm và lau sạch sẽ. Cho gà nghỉ khoảng 4 – 5 ngày vì là gà non.Tranh thủ thời gian ta cắt tai tích cho gà hoặc cắt trước sau gì đó là do sở thích và quan điểm của từng người. Còn Khánh tui cứ gà gáy rõ tiếng là cắt tai tích.2. Kỳ hơi 1:Ta tìm con gà bằng trạng bằng cân hoặc hơn trạng một chút, quấn kỹ chân sau đó bịt mỏ để gà quần nhau khoảng 3 hồ (Mỗi hồ từ 20 – 25 – 30 phút), trước khi kết thúc vần hơi ta lên cho gà đánh đòn thả mỏ khoảng 7 – 10 phút xong thì vỗ đờm và lau sạch sẽ. Cho gà nghỉ khoảng 9 ngày.3. Kỳ đòn 2:Ta tìm con gà bằng trạng bằng cân hoặc hơn một chút, quấn kỹ chân cho đánh đòn khoảng 2 hồ, xong thì vỗ đờm và lau sạch sẽ. Cho gà nghỉ khoảng 6 – 8 ngày tùy theo thương tích.4. Kỳ hơi 2:Ta tìm con gà bằng trạng bằng cân hoặc hơn trạng một chút, quấn kỹ chân sau đó bịt mỏ để gà quần nhau khoảng 4 hồ (Mỗi hồ từ 20 – 25 – 30 – 35 phút), trước khi kết thúc vần hơi ta lên cho gà đánh đòn thả mỏ khoảng 7 – 10 phút xong thì vỗ đờm và lau sạch sẽ. Cho gà nghỉ khoảng 12 – 14 ngày.5. Kỳ đòn 3:Ta tìm con gà bằng chạng bằng cân hoặc hơn một chút, quấn kỹ chân cho đánh đòn khoảng 4 hồ, xong thì vỗ đờm và lau sạch sẽ. Cho gà nghỉ khoảng 14 – 16 ngày tùy theo thương tích.6. Kỳ hơi 3:Ta tìm con gà bằng trạng bằng cân hoặc hơn trạng một chút, quấn kỹ chân sau đó bịt mỏ để gà quần nhau khoảng 4 hồ (Mỗi hồ từ 30 – 40 – 50 – 60 phút), trước khi kết thúc vần hơi ta lên cho gà đánh thả mỏ khoảng 7 – 10 phút xong thì vỗ đờm và lau sạch sẽ. Cho gà nghỉ khoảng 20 – 22 ngày.7. Kỳ đòn 4:Ta tìm con gà bằng trạng bằng cân hoặc hơn một chút, quấn kỹ chân cho đá đòn khoảng 6 hồ, xong thì vỗ đờm và lau sạch sẽ. Cho gà nghỉ khoảng 20 – 24 ngày tùy theo thương tích.(Kỳ này ta có thể cáp độ đá bao trong khoảng 6 hồ thắng thua gì thì hết 6 hồ là bê lên cốt là để lấy kỳ vần. Nhưng vẫn có những con gà tài không đơi tuổi do vậy mà không cần phải vần đủ thời gian giống như công thức, chỉ cần được 4 hồ đòn và 100 phút hơi là cho gà xuất chinh đi chiế đấu được rồi).8. Lưu ý:– Gà vụ lông 1: Gà vụ lông 1 sau khi đã kiểm tra đòn lối thấy ok rồi, ta cho gà vào chế độ đến một thời gian nhất định khi gà đã đảm bảo được đầy đủ yếu tố để ra trường thì cứ yên tâm cho ra ( Gà lông 1 rất dễ trong việc vần vỗ).– Gà vụ lông 2: Gà vụ lông 2 vần vỗ rất mất thời gian và cẩn thận vì chỉ cần nóng vội sơ xuất là có thể hỏng con gà. Do vậy mà khi vần hơi hoặc vần đòn ta đều phải tăng từ từ không được tăng quá nhanh vì nó không giống gà vụ lông 1 bởi nó bị gián đoạn trong thời gian nghỉ thay lông. (Nhưng là gà vụ lông lỡ thì không có vấn đề gì cả, ta vần như gà vụ lông 1).Gà vụ lông 2 trước khi cho gà vào chế độ, trong thời kỳ gà còn chưa khô lông thì ta nên tập tay cho gà có gân gối vững vàng cứng cáp trước khi đưa vào chế độ.– Trước khi ra trường ta xả nghệ 5 ngày và không om ngày cuối. mà thả ra chuồng rộng, thoáng mát và tránh mưa nắng để cho gà đi lại thoải mái cho xung gà.– Sau trận chiến hay kỳ vần ta phải cho gà ngâm chân từ 5 – 20 phút trong nước lạnh, ngâm ngập đến đầu gối để làm mát chân gà và tránh gà bị xưng cụm bàn.– Khoảng 2 giờ sau thì dùng thuốc nhỏ mắt V-Rohto loại chai màu nâu nhỏ vào mắt gà làm cho sạch cát bụi và trị đau mắt, dùng thuốc bóp lau quét vào cho gà để làm tan đòn mỗi ngày 2 lần sáng chiều.– Vần xong khoảng 3 – 4 giờ sau cho ăn cơm trộm với thóc ngâm 1 ngày, nếu cẩn thận thì ta cho ăn 2 – 3 ngày (Tùy theo từng trận chiến và sức khỏe của gà).– Sau các trận đánh đấm 3 – 4 ngay ta cho gà chạy lồng để rèn luyện thể lực. gà chạy lồng xong thước khi nhốt gà ta nên massager cho gà (Chú ý tùy vào thể trạng con gà và mỗi trận đấu để có thể cho gà tập sớm hoặc muộn).– Do đặc thù của thời tiết miền Bắc mà trong cách thức om bóp theo từng mùa cũng phải linh động cho phù hợp tránh gà bị nhiễm lạnh. Mùa Đông khi om xong tốt nhất là lấy máy sấy tóc sấy khô cho gà rồ sau đó thà ra cho gà vỗ cánh.– Hàng ngày trước khi gà đi ngủ ta lấy hỗn hợp rượu om gà rồi lấy chổi sơm hoặc chổi vẽ quét vào chân quản gà để cho chân quản gà được khô cứng rắn chắc.– Về mùa đông lạnh giá ta cho gà nghỉ dưỡng thương 5 ngày/1 hồ đòn vì mùa đông gà hồi phục thể trạng chậm hơn các mùa khác trong năm.Nuôi dưỡng: 1. Thức ăn cho gà:Gà bắt đầu vào chế độ chiến phải tuyệt đối cẩn thận và lưu ý đến thức ăn cho gà. Thóc (Lúa) hạt đãi sạch vỏ chấu sau đó ngân với nước từ 8 – 12 giời rồi xả nước để ráo, trộn thóc với men tiêu hóa và các loại viatamin khoáng chất mua tại hiệu thuốc thú y theo liều lượng chỉ dẫn cho gà ăn. Nước uống ngày cho gà uống 2 lần vào buổi sáng và buổi tối trước khi gà đi ngủ, mùa đông không cho uống nước vì trong thóc ngâm đã có lượng một nước nhất định. Khi đã cho gà vào chế độ chiến rồi là tối kỵ có mỡ thừa và trong cơ thể nhiều nước. Sáng sớm cho gà ăn thóc đến chiều cho ăn rau xanh hoặc giá đỗ, tối trước khi đi ngủ cho gà ăn thóc xong thì cho gà uống nước để sáng ra tiêu hóa hết thóc trong bầu diều. Một tuần cho gà uống 2 – 3 viên thuốc bổ nhóm B như là viên nén tổng hợp, thêm ít thịt cá nấu chín (Chú ý tránh cho ăn nhiều quá làm gà tăng cân) và một vài nhánh tỏi tươi giúp cho gà tiêu hóa tốt cũng như tránh được gió má.2. Nuôi nhốt gà:Trong thời gian cho gà chọi vào chế độ om vần ta lên nhốt gà vào chuồng có diện tích tối thiểu 2 m2 nền đất hoặc cát mền, có cầu tre để cho gà nhảy nhót vui chơi. Tối cho gà đi ngủ phải cho vào bồ hoặc chụp nhưng nhớ là phải mắc màn và che đậy cẩn thận tránh muỗi đốt và gió má là ảnh hưởng tới sức khỏe của gà.