【#1】Giới Thiệu Khái Quát Huyện Nga Sơn

Mỗi lần đọc Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, lòng tôi lại chộn rộn bao cảm xúc khi nghĩ về quê hương, đất nước mình. Thấy yêu quý, thấy tự hào về đất Việt biết bao. Mỗi bài viết trong Thương nhớ mười hai là một chuyến hành trình đưa ta về với những miền đất đẹp giàu, với những sản vật nổi tiếng theo từng tháng ở miền quê bắc bộ. Và đúng như giáo sư Hoàng Như Mai trong lời mở đầu của tác phẩm đã nhận xét ” những sản vật ấy gợi lên tình cảm đất nước quê hương đằm thắm…..”. Về với mảnh đất Nga Sơn, một vùng quê mang nhiều màu sắc huyền thoại, lòng tôi cũng không khỏi xốn xang khi được nghiên cứu, tìm hểu về văn hóa sống của người dân nơi đây, trong đó có văn hóa ẩm thực. Qua đó mới thấy, trên dải đất cong cong hình chữ S, bất cứ nơi đâu, cũng có một nét đặc trưng riêng biệt, một món ăn đậm đà tính quê hương. Nếu như người ta vẫn nhắc đến Phở Hà Nội, nhắc đến Bưởi Thanh Trà, đến nhãn lồng Hưng Yên, bánh Cu Đơ Hà Tĩnh,… Thì khi nhắc đến Nga Sơn ta sẽ phải nghĩ tới: gỏi Nhệch Nga Liên, Dê núi Nga An, rượu Chính Đại Nga Điền, rượu Nga Bạch, Nga Liên,…… những đặc sản thấm đậm tình người, tình quê xứ Thanh.

Đi và ăn rồi mới thấy cách ăn, cách chơi, thú ẩm thực của Xứ Thanh cũng đầy thanh tao, cầu kỳ, sành sỏi và khoa học. Cũng bằng thứ nguyên liệu giống nhau, nhưng cách chế biến và thưởng thức của người dân Nga Sơn thì hoàn toàn đặc biệt và khác lạ. Nó tạo nên cho các món ăn nơi đây hương vị độc đáo đầy ấn tượng, chỉ thưởng thức một lần, cũng nhớ mãi không quên.

Đến với Nga Sơn, mà không thưởng thức dê núi Nga An thì thật là thiếu sót. Dê núi Nga Sơn không nức tiếng, không ồ ạt, ồn ã như Dê núi Ninh Bình, nhưng chắc chắn chỉ 1 lần được thưởng thức Dê núi Nga An – Nga Sơn thì bạn đã có thể hiểu được sự đặc biệt của những món ăn được chế biến từ Dê. Tại sao nên ăn thịt Dê núi? Vì thịt Dê lành, loài Dê ít ốm đau bệnh tật, Dê lại ăn lộc, lá cây trên núi, đó là những lạo thảo dược chứa nhiều vitamin, và khoáng chất tốt cho sức khỏe. Nhất là đối với nam giới, thịt Dê thực là một loại chất bổ. Nếu như Dê núi Nga An cũng được chế biến như Dê núi Ninh Bình thì chắc hẳn nó đã không thể để lại được ấn tượng sâu sắc đến thế! Vậy, điều khác biệt của những món ăn này nằm ở đâu, cách chế biến có bí quyết gì mà gây được nhiều thiện cảm đến vậy?

TIỀM NĂNG DU LỊCH NGA SƠN

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này. Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích

Nga Sơn nằm trên quốc lộ 10, cách thành phố Thanh Hoá hơn 40km, thị xã Sầm Sơn chừng 60km, (nếu đi theo đường biển từ cửa Lạch Sung đến đảo Nẹ đến Sầm Sơn khoảng chừng 30km). huyện Nga Sơn nối với các điểm du lịch phía Bắc, cách nhà thờ đá Phát Diệm chừng 15km, từ Nga Sơn dọc theo quốc lộ 10 đến Quảng Ninh, Hải Phòng chỉ nửa ngày đường.

Do giáp với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, có nhà thờ đá Phát Diệm – một điểm du lịch khá phát triển và cách chùa Bái Đính khoảng 60km là điểm thu hút được rất nhiều khách du lịch nhất là khách du lịch quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện Nga Sơn thu hụt được nguồn khách du lịch từ Ninh Bình đến thăm.

Phía nam giáp với huyện Hậu Lộc, phía tây giáp với huyện Hà Trung – hai huyện có nhiều điểm du lịch nổi tiếng. Vì vậy, huyện Nga Sơn có thể kết hợp với hai huyện để xây dựng một số tuyến du lịch nhằm khai thác có hiệu quả những tài nguyên du lịch của địa phương.

Là một vùng do đất phù sa bồi tụ nên địa hình Nga Sơn nói chung được kiến tạo theo dạng lượn sóng, tạo thành ba vùng: Vùng chiem trũng, vùng đồng màu và vùng ven biển. Độ cao giữa các vùng chênh lệch 0,3-0,5m. Với địa hình như vậy rất thuận lợi cho việc đi lại, thăm quan của khách du lịch. Các điểm du lịch của Nga Sơn phân bố ở những nơi có địa hình không quá khó khăn nên tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch và xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch.

Vị trí địa lí mang lại cho Nga Sơn loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nền nhiệt cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tương đối nóng, lượng mưa trung bình. Nhiệt độ trung bình năm là 23-24 0 C. Lượng mưa trung bình là 1700-1900mm. Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến thàng 10). Có hai thời kỳ khô ngắn là tháng 5,6 và tháng 10,11.

Khí hậu của Nga Sơn không quá khắc nghiệt tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch diễn ra quanh năm và có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch.

Nga Sơn có khu vực biển nông chạy dài từ Nga Tân đến Nga Bạch khoảng 10km, vùng bãi triều có thể trồng được: sú, vẹt, nuôi ngao…ngoài khơi có nguồn lợi hải sản phong phú.

Với tài nguyên như vậy, Nga Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, ở vùng bãi triều đã trồng rừng sú, vẹt (ở xã Nga Tân) rộng tới gần 100ha, đây là điểm du lịch thuận lợi để thu hút khách du lịch tới tham quan. Vùng biển Nga Sơn có nguồn hải sản phong phú, đây là nguồn cung cấp thực phẩm cho các nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống của khách du lịch về thăm Nga Sơn.

Nga Sơn nằm giữa các con sông Hoạt và sông Lèn. Sông Lèn thuộc hệ thống sông Mã đoạn chảy qua huyện dài 11km, sông Hoạt là nhánh của sông Lèn đoạn chảy qua huyện khoảng 15km. Tổng lưu lượng nước mùa mưa của các con sông lên tới 1.720m 3/s. Trong các cuộc kháng chiến giữ nước trước đây, sông Hoạt và sông Lèn là đường giao thông thuỷ rất quan trọng. Không những thế, đôi bờ sông Hoạt là dãy núi Tam Điệp còn có những cảnh quan kỳ thú “sơn thuỷ hữu tình”.

III. Tài nguyên du lịch tự nhiên.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm

Nga Sơn “Vùng quê huyền thoại”, Nga Sơn “có đường lên Tiên” hãy “Về miền quê Cổ tích”..đó là những mỹ từ, mà từ xa xưa đến nay những thi nhân mặc khách ca ngợi vùng quê “Cẩm tú” này.

Vùng quê cổ tích này hội tụ rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng như: Động Từ Thức, cảnh đẹp Chùa Tiên, Hồ Đồng vua, đền thờ Mai Anh Tiêm trên núi Quả Dưa, Chùa Thạch Tuyền, chùa Bạch Tượng…dọc đôi bờ sông Hoạt theo dãy núi Tam Điệp còn có biết bao cảnh quan kỳ thú như động Lục Vân, Động Trúc Sơn, cửa Thần Phù, Núi Bia Thần, Núi Lã Vọng, Núi “Rồng Hổ tranh ngọc”, “Giếng thần”, Động Bạch Á … Mật độ di tích “dày đặc” lại rất tự nhiên nằm tập trung ở vùng phía bắc tại dãy núi Tam Điệp và đôi bờ sông Hoạt nên rất thuận lợi cho hoạt động du lịch. Và cũng chính nơi đây từ xưa đã có rất nhiều nhà sử học, bác học như: Phan Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, …các nhà vua, chúa như: Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông, chúa Trịnh Sâm, và cả thái tử nước Lào…vãn cảnh thăm thú tức cảnh, đề thơ trên núi. Đồng thời vùng quê cổ tích này còn hội tụ những di tích lịch sử như: Chiến khu Ba Đình, đền thờ Trần Hưng Đạo, đền thờ Triệu Quang Phục, đền thờ nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh, đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn…

Nga Sơn từ lâu đã nổi tiếng với danh thắng Động Từ Thức, là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng độc nhất vô nhị ở trời Nam. Bởi chỉ có động Từ Thức mới có huyền thoại “Từ Thức gặp Tiên” – một câu chuyện tình đầy lãng mạn, đầy tính nhân văn mà không ở nơi nào có được, một điểm có giá trị rất lớn đối với sự phát triển du lịch của huyện Nga Sơn nói riêng và Thanh Hoá nói chung.

Động Từ Thức còn có tên gọi khác là Động Bích Đào, vì ở ngay cửa động có một quả đào to (tất nhiên bằng đá). Nhưng vì gẵn với câu chuyện Từ Thức gặp Tiên nên dân gian thường gọi là Động Từ Thức.

Động Từ Thức thuộc xã Nga Thiện huyện Nga Sơn, nằm trong dãy núi đá vôi Tam Điệp ở phía đông bắc tỉnh Thanh Hoá. Dưới chân núi trước cửa động có hàng cây cổ thụ xum xuê tán lá, tiếp đến là con kênh dẫn nước, cánh đồng lúa bằng phẳng, xóm thôn xanh ngắt một mầu.

Thắng cảnh Động Từ Thức gắn liền với câu chuyện truyền thuyết Từ Thức gặp Tiên – nàng Giáng Hương.

Tương truyền Từ Thức vốn là người Hoá Châu (Thanh Hoá) thuộc xã Cẩm La huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), làm quan tri huyện ở Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Năm Quang Thái thứ 9 nhà Trần (1396).

Cạnh huyện có ngôi chùa cổ, vườn chùa có cây Mẫu đơn, đến mùa hoa nở người người, lớp lớp chen chân vào xem hoa, gọi là Hội xem hoa.

Tháng 2 năm Bính Tí có ngươi con gái nhan sắc tuyệt trần, vào xem hoa có vịn cành hoa không may bị gãy, vì là Tiên không có tiền chuộc nên người trông giữ hoa bắt lại. Quan huyện tể Từ Thức đến xem hội thấy người con gái xinh đẹp, lại bị trói vào cành hoa, chàng liền cởi áo da cừu trắng đến tăng phòng nộp cho nhà chùa, chuộc người con gái ấy.

Nhân dân ca tụng ông là người nhân từ. Từ Thức là người phóng khoáng đi chơi thường mang theo bầu rượu, cây đàn, túi thơ du ngoạn các nơi có phong cảnh đẹp. Một số quan trên của ông thường hay quở mắng: Cha là Quan cao chấp chính, con không làm được chức quan Huyện tể hay sao ?

Từ Thức than rằng: Ta không vì 3 đấu đậu đỏ (lương tháng) mà gởi thân vào trường danh lợi, lúc nào đó ta sẽ tìm đến non xanh, nước biếc du chơi, chắc là nơi ấy không nỡ phụ ta. Nói đoạn treo ấn từ quan rồi bỏ đi.

Đến Tống Sơn là nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều hang động, bói quẻ thấy đây là vùng đất lành, chim đậu, nên thường lui tới rong chơi, mang theo cây đàn, bầu rượu, túi thơ đến những khe suối nhỏ ngâm vịnh, không đâu thiếu thơ đề.

Một buổi sáng thức dậy nhìn lên cửa bể Thần phù thấy năm sắc mây kết tụ như đoá hoa sen , chèo thuyền đến nơi thấy đó là ngọn núi đẹp. Buộc thuyền, trèo lên thấy ngọn núi đá nhọn cao trên 100 trượng, người như có cánh bay lên. Trước cảnh sinh tình đề thơ rằng:

Thiên thoải bích thu quải trều diên

Hoa thảo nghênh nhân nhập động môn

Bàng giãn dĩ vô tăng thái dược

Diên lu thăng hửu khách tâm nguyên

Lữ du tư vị cầm tam lộng

Điếu đỉnh sinh nhai tửu nhất tôn

Nghĩ hướng vũ lăng ngư phủ vấn

Tiền lai viễn cận thực đào thôn.

Bạt ngàn cây biếc đón hương trời

Hoa quả mời ta đến động chơi

Sườn núi đã không sư hái thuốc

Bờ khe lại có khách tìm chơi

Lữ hành hứng thú đàn ba phiếm

Ngư phủ say sa rượu một hơi

Định đến vũ lăng tìm bạn hỏi

Thôn đào đâu phải quá xa vời.

Đề thơ xong bồi hồi xúc động ngắm nhìn, bỗng thấy vách đá nứt một lỗ hình tròn nhỏ nhưng có thể chui vào được. Từ Thức chui vào bước được mấy bước thì vách đá khép lại. Hoang mang bối rối, lấy tay xoa vách đá thấy một khe nhỏ cong queo như ruột dê, đi vào mấy dặm chợt thấy ngọn đèn treo trên vách đá, theo đường đi lên vòm bước lên đỉnh núi thấy bầu trời sáng sủa, nhìn quanh đến lâu đài cung các. Mây hồng tuyết trắng bám trên các lan can, hoa đẹp cỏ tươi quấn quýt gần xa, thật là một thâm cung nấu mình trong rừng thẳm.

Lòng Từ Thức lâng lâng trầm ngâm suy nghĩ miên man, bỗng thấy trước mắt hai tiên đồng mặc áo xanh đến thưa rằng: Phu nhân thấy chàng chui vào động nên sai chúng tôi ra đón. Qua đường ngầm nến đỏ có một cửa son đối diện cung ngân trên có bảng đề “Kinh hư điện Gác giao quang”. Trên gác có giường Bát Bảo, chăn trắng, bên cạnh đặt một bình hương nhỏ.

Một người mời Từ Thức ngồi và nói rằng: Chàng là người tốt, đã cưu người ở Hội hoa Mẫu Đơn Tiên Du, hạnh ngộ gặp nhau ở đây chả nhẽ lại quên ư. Từ Thức đáp: Tôi là dật sĩ ở Tống Sơn vui cảnh giang hồ làm sao biết được nơi đây Tử Phủ Thanh đô không hiểu sao tôi như tự sinh cánh mới lên được đây song lòng trần còn man mác, chưa hiểu tiền đồ ra sao. Người tiếp chuyện cười và nói rằng: Đây là động thứ sáu trong ba mươi sáu động. Tôi là Nam nhạc địa tiên Nga phu nhân, thấy chàng có nghĩa lớn hay cứu người bị gian nguy nên mời chàng đến đây, rồi đưa mắt bảo các cô gái gọi Nàng A lại.

Từ Thức lét nhìn mặt mũi thì ra là người ngày trước làm gãy cành hoa mẫu đơn ở huyện Tiên Du.

Tiên Nga chỉ vào Giáng Hương và nói: Đây là con gái của ta tên gọi Giáng Hương. Ngày trước nhờ chàng cứu nạn trong hội xem hoa, ơn nghĩa ấy không bao giờ quên, ngỏ ý muốn kết duyên để báo đáp công ơn chàng ngày trước.

Đêm hôm ấy tại Tiên động lấy mỡ Phượng đốt đèn hành lễ giao duyên, hai người báo đáp lễ thành hôn.

Hôm sau, các Nàng Tiên, người cưỡi Rồng, người ngồi võng Hạc, quần áo lộng lẫy đến nơi tụ tập mở yến tiệc trên Gác giao quang, bước lên gác trang trí nội thất toàn bằng lưu ly hổ phách chưa có ai ngồi. Tiên Nga gọi Kim Tiên quần nữ đến bái rước lên gác tiên, ca nhạc liên hoan. Có một người mạc xiêm y màu lam đến nói: Ta đến đây đã tám vạn năm, nay chàng du hành đến không ngại dương trần cách trở, thoả ước nguyện ba sinh, tưởng không phụ lòng nhau, đừng lấy thần tiên là chuyện hoang đường vậy.

Tiếp sau các tiên đồng chia nhau ca vũ, phu nhân ngồi làm chủ toạ, Giáng Hương chuốc rượi mừng vui. Bỗng có một tiên nữ mặc áo lam đến nói: Cần có một kế ước làm tin, vì sợ sau này lạc nhau trên tiên giới khó mà tìm gặp được nhau. Vì trên đời còn lắm quần nho.

Từ Thức có bộ áy náy trong lòng. Phu nhân nói tiếp: Tìm có thể gặp nhưng khó tìm, đạo không phải tu mà tự đến. Rồi đây đình lớn nhà cao bên sóng vỗ, sự đời diễn biến ra sao chưa thể biết trước. Chàng không nhớ chuyện Lộng Nga với Tiên Sử, Thái Loan gặp Văn Tiên, Lan Đã gặp Trương Thạc. Nhiều chuyện đã ghi chép rõ ràng, đó không phải là tấm gương soi hay sao. Nếu lấy việc hôn nhân làm chuyện đùa thì trước đến nay đều là vui đùa diễu cợt cả.

Chuyện vui đang tiếp diễn thì ánh tà dương xuyên qua cửa sổ, hoàng hôn buông xuống mọi người phân tán đi nơi khác.

Từ Thức vui đùa nói với Giáng Hương: Này duyên Tiên Trần phù hợp tại sao có chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, Tăng Nho – Chu Thái, tại sao lại có thơ Xuân Ngọc – Hoàng Lăng. Tuy cảnh có khác nhau nhưng tình là một. Bây giờ quần tiên đã đi xa, ở đây vắng vẻ mà lòng ta không hứng khởi, muốn hoà hợp với nhau mà tình chẳng động. Giáng Hương đáp lại: Đa số các chàng lấy khí huyền nguyên là một chân tình không thể phung phí cho nên đã lên nơi kim đàn mà thân nơi cửa khuyết, ở phủ Thanh đàn dạo chơi nơi xung hán không cần đèn mà lòng trong sáng, không vất vả mà chẳng động tình. Riêng phận thiếp thất tình chưa rửa sạch cho nên trăm loại tình đâu dễ phát sinh. Theo Châu Tử Mị Thiên Phủ mà lại mang nợ dưới cõi trần, thân trên chốn cung tiên mà lòng vẩn đục dưới trần thế. Mong chàng đừng lấy tự tình của thiếp mà so sánh với quần tiên.

Từ Thức đáp: Nếu đã như vậy thì ta không thể xa nàng được. Cả hai người cùng vỗ tay cười.

Phòng của Giáng Hương có bức bình phong, Từ Thức thường đề thơ. Nghĩ lại người xa nhà đã một năm nên nhiều lúc buồn rầu, đi đứng vội vã bất thường có lúc lại chậm chạp, yếu ớt. Nhiều đêm khí lùa vào cửa sổ, gối rơi khí lạnh cảnh vật chập chờn như ai gọi.

Một hôm nhìn xuống trần gian thấy thuyền bè qua lại đông vui bèn gọi Giáng Hương lại trông và nói rằng: Nhà ta ở đó, hiềm vì trời xa sóng cả nên không rõ đâu là quê hương. Có lúc lại nói với Giáng Hương: Ta là người vui thú với cỏ cây, hoa lá, lòng đa sầu đa cảm, dễ động tình nhớ đến quê hương xin nàng cho ta trở về thăm thú quê nhà, rồi sẽ lên đây cùng nàng sống bên nhau đến trọn đời.

Giáng Hương khóc và trả lời: Thiếp không buồn vì chàng trở lại dương trần, nhưng chỉ lo vì đường đi cách trở khó khăn, vả lại chàng ra đi đã lâu đến nay xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa khó mà nhận ra quê hương làng mạc cũ.

Từ Thức lại nói: Đây là ý nguyện khẩn thiết của ta, nàng hãy giúp ta. Giáng Hương can không được bèn tặng một cỗ xe mây chở chàng đi và trao cho chàng một phong thư, dặn chàng: Mai sau nếu không quên tình cũ, thì hãy xem thư này…nói đoạn rơi lệ tiễn biệt.

Về đến quê hương thì vật đổi, sao rời, xóm làng thay đổi, cây cảnh khác xưa, mọi vật đều khác trước, người thân thích họ hàng không còn.

Từ Thức tìm đến các cụ già nói rõ họ tên và tìm hiểu thân thích xa gần, tất cả đều ngơ ngác. Duy chỉ một ông cụ nói: Khi còn nhỏ tôi có nghe ông cụ tổ ba đời của tôi cùng họ tên với ông lạc vào rừng cách đây đã tám mươi năm. Từ triều Trần nay đã chuyển sang Triều Lê. Năm Diên Ninh thứ năm.

Từ Thức vô cùng hối hận muốn trở lên tiên thì cỗ xe mây đã biến thành đám mây bay đi mất. Buồn rầu mở thư xem chỉ thấy Giáng hương ghi “Duyên xưa đã hết”. Nhìn trời biển bao la, Tiên trần cách biệt, hơn nữa dù có gặp lại Giáng Hương thì tình duyên đã hết. Từ chán ngán, mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, đi đến núi Hoàng Sơn (Nông Cống) rồi mất tích.

Truyền thuyết dân gian Từ Thức – Giáng Hương là nét đặc sắc độc đáo của thắng cảnh Từ Thức và cũng là nguồn hấp dẫn, thu hút nhiều khách từ xưa đến nay tới đây để vãn cảnh, đề thơ.

Chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương, một thiên tình sử lãng mạn đầy tính nhân văn sâu sắc.

Tạo hoá, như có một bàn tay siêu thần, có phép màu nhiệm tạo nên bao nhiêu cảnh đẹp như thực, như mơ, lung linh rực rỡ sắc màu vẻ huyền bí, bảng lảng vừa gần, vừa xa ở Bồng lai tiên cảnh, gần gũi đến lạ kỳ như giữa đời thường lúc nào cũng gặp bên ta. Cứ tưởng như khi ta chạm bàn tay vào các cảnh vật là Đá như có sự lay động, như có lời thầm thì của đá.

Trong động, trên vách đá, nóc động, nền động nhiều cảnh thơ mộng bởi thạch nhũ. Các bức “phù điêu”, “tượng” rất thực với đời sống thường ngày của con người, của hạnh phúc lứa đôi, mà cảnh là một tác phẩm kỳ ảo của thiên nhiên lưu lại những kỷ niệm trùng hợp của đôi trai tài, gái sắc.

Khi ta bước vào trong động đến khi thăm hết động, cảnh vật trong động được tạo hoá sắp xếp tuần tự, chỉnh chu như một “bài văn mẫu” kể về chuyện tình Từ Thức – Giáng Hương.

Động Từ Thức được chia làm 3 động nhỏ: Động ngoài, động giữa và động trong. Hay thường gọi là ba cung.

Động ngoài rộng, trần động hình vòng cung như chiếc bát úp khổng lồ. Phía dưới vòng cung ở giữa động một nhũ đá trông như trái Đào Tiên, nhiều bông hoa Mẫu Đơn, một chiếc áo treo bên cạnh của chàng Từ Thức, một cây bút thần. Trung tâm của động ngoài này là cảnh “Quần Tiên hội ẩm” giữa quần tiên ca múa nhân ngày Từ Thức kết duyên với Giáng Hương là hình ảnh Từ Thức đội mũ cánh chuồn đứng sau nàng Giáng Hương xinh đẹp, đôi lứa đang tràn đầy hạnh phúc.

Bước vào phần động giữa là một thế giới kỳ ảo của nhiều cảnh trí mà chỉ có tạo hoá mới tạo ra được. Đầu tiên chúng ta sẽ thấy những kho Tiền, kho Muối, kho Vàng lấp lánh, thật ngạc nhiên khi ta bắt gặp “Rồng chầu ấp trứng” một con Rồng như phù điêu tuyệt đẹp mà có lẽ “chỉ có trời ” mới tạo ra được đẹp như thế. Rồng uốn lượn đang “co” lại “ấp” trứng, những quả trứng rồng mới đẹp làm sao. Quả tròn, to nhỏ nhiều cỡ, vở quả trứng bên ngoài như quả na vừa vàng, vừa thẫm đen trông thật kỳ thú. Rồi những phiến đá nhũ đá mỏng, màu trắng ngà rủ từ trần xuống-những nhũ đá đó gọi là dàn “đàn đá”, “trống đá”. Bởi vì chỉ cần gõ nhẹ vào những thanh nhũ đá, sẽ nghe âm thanh vang lên với những cung bậc khác nhau. Tiếng trầm hùng như từ ngà xưa vọng lại. Tiếng “kim ” như cao vút tận trời xanh.

Càng vào sâu lòng động càng rộng ra, chúng ta sẽ thấy ngỡ ngàng khi gặp bàn cỗ tam sinh có đủ lợn, trâu, dê…một mâm xôi trên có miếng thịt lợn giống như thật. Rồi những dấu tích về tình yêu của Từ Thức và Giáng Hương như: “Buồng tắm” của Giáng Hương và “thư phòng” của Từ Thức, những Bông hoa, những quả Đào tiên, Vầng trăng và có cả những Đôi chim thạch nhũ, một “Bức triện” được khắc tinh xảo như dấu ấn từ quan của Từ Thức. Đối diện là cảnh Ao bèo, Bụi tre, Quả mít, cây Táo, những con Voi, con Dê… gợi hình tượng quê hương trong sự tưởng nhớ của chàng thư sinh Từ Thức. Ngước lên trần là cảnh Từ Thức cùng Giáng Hương đang “cưỡi Xe mây” du ngoạn Bồng lai Tiên cảnh. Cảnh Từ Thức – Giáng Hương cùng che “lộng Vàng” đọc sách, ngâm thơ. Cảnh những con chim Đại bàng sải cánh rộng bay chao đảo giưa bầu trời rộng mênh mông…Đi tiếp là một ngã rẽ, một ngả theo tương truyền là đường lên cõi Tiên của Từ Thức. Tại đây có quán nghỉ chân bằng đá mà chàng nghỉ suốt dọc hành trình và còn có những mắc treo áo, treo mũ bằng đá. Bên cạnh đường lên Tiên là một ngả rẽ hẻm sâu theo đường xoáy ốc vẫn bí ẩn bao đời nay, nhân dân quen gọi là đường xuống Âm phủ tối đen. (dân ở đó kể rằng khắc dấu vào quả bưởi thả xuống, quả bưởi sẽ trôi ra mãi cửa Thần Phù)

Động Trong: Cảnh Từ Thức từ giã Giáng Hương về thăm quê, một đôi dày của Từ Thức thô sơ như bao đôi dày dân giã, một dãy núi có 5 ngọn núi nhỏ “tựa như Ngũ hành sơn”. Nơi Từ Thức đến những bông hoa mẫu đơn, có một bông thật to rủ xuống bên cạnh ngôi mộ của chàng Từ. (Bông hoa Mẫu đơn, mà nàng Giáng Hương vô ý đã làm gãy cành-Duyên cớ đó cho đôi lứa nên duyên vợ chồng). Phía cuối động có vòm thấp, phải cúi đầu mới vào được đó là “lầu cô lầu cậu” rất linh thiêng, những cặp vợ chồng thường vào đó để cầu tự sinh trai tài, gái sắc.

Ở những thế kỷ trước nhiều thi nhân tới động Bich Đào , tức cảnh sinh tình, những vần thơ “thiên cổ kỳ bút” đã sinh ra từ đây để lại cho hậu thế. Hai câu thơ của cụ Huỳnh Thúc Kháng vịnh về động Bích Đào còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ và trong thi đàn Việt Nam:

“Thơ ngọc vội đưa người viễn khách

Động Bích Đào còn để lại tiếng danh sơn”

Nhà thơ, nhà bác học Lê Quý Đôn, trạng nguyên Nguyễn Thượng Hiền, chua Trịnh Sâm đều sáng tác những vần thơ đẹp ngợi ca động Bích Đào.

Sách “Truyền kỳ mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ dành cả một chương viết về kỳ quan thiên nhiên động Bích Đào và câu chuyện Từ Thức. Tập truyện nôm khuyết danh “Từ Thức tân truyện”, rồi “Từ Thức Tiên hôn” của tác giả Lê Khắc Khuyết viết vào đầu thế kỷ XX và những thế kỷ trước, các sách “Thanh Hoá kỳ thắng”, “Thanh Hoá danh thắng”…đều hết sức ca ngợi động Từ Thức.

Bài thơ của bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726-1784):

Trên đảo bầy Tiên chuyện lạ thường

Bích Đào cửa động quá hoang lương !

Đất trời manh áo đày Từ Thức

Mây nước đôi mày đoạ Giáng Hương !

Trống đá tiếng lay vầng nhật sớm

Muối non vị nhạt đẫm thu sương

Người đời khổ bởi mơ tiên cảnh

Ai biết thiên thai cũng hí trường.

Mờ mịt thần tiên ngất dặm dương

Bích Đào động khẩu dấu thê lương

Áo gai phiêu bạt thân Từ Thức

Mây nước già dăm mặt Giáng Hương

Trống đá nghe khuya lay động sớm

Sương thu chăng đượm cát sa trường

Thiên thai bao kẻ từng xây mộng

Nào biết thiên thai cũng hí trường.

Bài thơ của chúa Trịnh Sâm:

Rời thuyền thừa hứng viếng Từ công

Cửa động y nguyên khoá ánh hồng

Xiêm ráng vách treo rờn gấm vóc

Phượng reo đá gõ vọng cung thương

Duyên tiên từ thủơ ba sinh hẹn

Bể khổ nay đà mấy độ dâng.

Chớ bảo giao trì ngày thấm thoát

Chơi đây nào khác dạo Bồng Lang.

(Nguyễn Hữu Vĩ viết – Hồng Phi phiên âm và dịch)

Bài thơ của Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niên (1886-1955) Tổng đốc Thanh Hoá:

Lâng lâng nhẹ gót viếng Đào Nguyên

Mới rõ trần gian chửa dứt nguyên

Vinh lộc đã cam từ huyện ấn

Ái tình còn nặng lụy duyên tiên

Nghê thường mờ mịt chòm mây sớm

Thạch nhũ đầm đìa bóng nguyệt đêm

Hoạn lộ cười mình về quá muộn

Gặp nhau cửa động mới không nên

Nguồn đào thanh thản bước chân

Tiếc thay lòng vẫn duyên trần đa mang

Đã hay treo ấn từ quan

Ái tình còn lụy mơ màng chốn tiên

Nghê thường óng ả mây xiêm

Trăng soi thạch nhũ hồn đêm ngậm ngùi

Ta chưa về cũng đáng cười

Gặp nhau cửa động khôn lời nói năng.

Lâng lâng nhẹ bước tới Đào Nguyên

Trần thế lòng còn vướng nợ duyên

Danh lợi xem khinh treo ấn tín

Ái tình mang nặng luỵ non tiên

Nghê thường nhuộm vĩ mây chiều xám

Thạch nhũ vương hồn bóng nguyệt đêm.

Về muộn ai cười ta đó tá

Gặp nhau cửa động chẳng hàn huyên.

Động Từ Thức là “Bồng lai, Tiên cảnh”. Thiên nhiên ban tặng cho Nga Sơn.

Câu chuyện tình duyên, thắm nồng và dang dở giữa chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương chỉ là một huyền thoại, nhưng được gắn với cảnh động Từ Thức đã tôn thêm tính hiện thực. Tiên cảnh và trần thế, hư và thực đan xen trong câu chuyện, chứng tỏ chất lãng mạn, lạc quan, yêu cuộc sống là bản tính của dân tộc Việt Nam. Danh thắng động Từ Thức mãi mãi xứng danh với “Danh sơn đệ nhất động” ở trời Nam.

Một thắng cảnh nổi tiếng của Nga Thiện đó là núi Bia Thần, nơi thuở xưa có một mỏm đá nhô ra sông thuyền bè có thể đi luồn dưới gầm núi, trên núi có khắc một chữ “Thần” bằng chữ Hán rất lớn, nét chữ khoẻ mạnh, phóng khoáng, ngạo nghễ và oai nghiêm. Sách “Đại nam nhất thống chí” chép rằng: Tương truyền Lê Thánh Tông là tác giả của đại tự trên. Mới đây nhờ khảo sát kỹ của Hồng Phi và Hương Nao các chữ nhỏ khắc hai bên (đã bị ai đó đục phá), mới phát hiện người đề chữ này là “Nhật Nam Nguyên chủ”, tức là chúa Trịnh Sâm. Chữ “Thần” được khắc ở vị trí núi non hiểm trở này, muốn chứng tỏ rằng nước Nam có thần linh canh giữ, không để những kẻ ngoại xâm vào xâm chiếm.

Điều đặc biệt ở vùng “huyền thoại” và “cổ tích” này nhiều địa danh được gắn với chữ Thần (Thần Phù, Bia Thần, Giếng Thần). Chữ Thần ở núi Bia Thần chỉ độc một to lớn ở xã Nga Thiện và cũng ở Động Bạch Á xã Nga Thiện có tấm bia cổ lớn có độc một chữ “Phật” . Các danh thắng như Động Từ Thức, Núi Bia Thần, Động Bạch Á, Núi Lã Vọng, Giếng Thần, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, Đại tướng Trịnh Minh…các di tích “dày đặc” ở cùng một xã, mà động Từ Thức là “trung tâm”

3. Động Bạch Á xã Nga Thiện

Động Bạch Á là một thắng cảnh nổi tiếng từ xưa, hay còn được gọi là Động Bạch Ác, Bạch Nha. Động Bạch Á thuộc địa phận làng Tri Thiện xã Nga Thiện. Bạch Á (hay Bạch Nha) nghĩa chữ Hán là “quạ trắng”. Người xưa đặt tên là “quạ trắng” có lẽ bởi vì từ xa nhìn về cửa động trước thấy giống như một con quạ khổng lồ đang dang rộng cánh giữa một khoảng trời rộng lớn màu bạc, đất trong động màu ngà, sông nước bao bọc xung quanh nên moi vật dường như màu trắng.

Ngoài các tên gọi trên Động Bạch Á còn là nơi có rất nhiều dơi cư trú. Vì vậy, từ xưa tới nay, nhân dân địa phương còn gọi động theo tên khác nữa là động Dơi.

Động Bạch Á nằm trong lòng một núi đá đứng độc lập thuộc phía đông bắc huyện Nga Sơn. Núi này thường được gọi là núi Bạch Á (hay Bạch Ác, Bạch Nha).

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây đã được các bậc vua chúa và các danh nhân thưởng ngoạn, đề thơ. Đây là một trong những nơi có cảnh đẹp thiên nhiên ban tặng cho vùng quê này.

Ngoài vẻ đẹp thiên nhiên, động Bạch Á còn có chùa thờ Phật. Đây là một trong những ngôi chùa có niên đại từ rất sớm. Trải qua thời gian tồn tại, nơi đây đã trở thành nơi vãn cảnh, thưởng ngoạn và sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh, khách thập phương.

Hiện tại Động Bạch Á còn lưu giữ rất nhiều hiện vật có giá trị về nhiều mặt như hệ thống tượng đá, tượng gỗ, các điêu khắc hình rồng hai bên bậc lên xuống…Điều đó minh chứng cho sự tồn tại của ngôi chùa cũng như sự phát triển của phật giáo khi du nhập vào nước ta, cũng như về vẻ đẹp của động Bạch Á.

Động Bạch Á là một thắng cảnh đã có từ rất lâu. Xưa kia nơi đây là vùng cửa biển. Sau thời gian được phù sa bồi đắp, vùng đất này đã trở nên bằng phẳng và đông dân cư như ngày nay.

“Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú khi chép về động Bạch Á đã viết: “Động Bạch Nha ở bãi biển huyện Nga Sơn, ngọn núi cao đứng sững lên, giữa núi có động sâu, gắn với động Từ Thức”.

Động Bạch Á nằm trong ngọn núi có độ cao khoảng gần 50m so với mực nước biển. Từ trên ngọn núi này chúng ta có thể quan sát cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của vùng đông bắc huyện Nga Sơn một cách rõ ràng.

Để vào động Bạch Á có bốn lối theo bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Các lối vào phía đông và phía nam nằm cao trên lưng chừng động nên ít được sử dụng ra vào, chủ yếu chỉ sử dụng hai lối phía tây và phía bắc, phía tây là cửa ra vào chính phía bắc là lối đi phụ.

Từ phía tây vào , chúng ta phải đi tử dưới lên trên cao khoảng 7m để vào động bằng các bậc lên xuống. Hai bên lối lên xuống là 6 con rồng bằng đá nguyên khối (4 con lớn, 2 con nhỏ).

Tiếp đến là cổng tam quan được xây dựng bằng gạch vữa. Phía trong là sân rộng lớn. Giữa sân đặt tượng Quan Âm Bồ tát.

Tiếp giáp với sân là cửa động rộng, cao thoáng mát. Phía trên của động có khắc 3 tấm bia Ma Nhai.

Qua cửa động vào bên trong được chia thành 3 cung với kích thước khác nhau đều rộng rãi và cao ráo.

Từ cung trong cùng được mở rộng ra hai phía bắc và phía nam khoảng không rộng rãi thông ra ngoài bằng hai cửa nhỏ, cửa phía bắc và cửa phía nam. Tại các vị trí này đều có dấu vết của nền móng xây dựng cũ (có thể đây là nhà chính tẩm cũ). Phía sau được thông ra ngoài bởi một lối nhỏ, phía trên cao hơn so với nền khoảng 4m.

Nhờ có 4 cửa thông nhau nên trong động quanh năm luôn thoáng đãng, khô ráo và mát mẻ. Trên vách động không có nhiều nhũ đá như những động khác, ở phía đông động có một hình “được vẽ” và “tô đắp” như hình Giáng Hương dang đôi cánh bay xuống du ngoạn động này.

Động Bạch Á còn là nơi lưu giữ rất nhiều tượng điêu khắc bằng đá, bia như: Tượng Vũ Sĩ, tượng Phật, tượng Rồng được chạm khắc công phu trên những phiến đá tảng lớn, các bia…

Sách xưa cho biết, trước cửa động có một tấm bia rất lớn từ thế kỷ XII thời Lý đặt trên lưng rùa, nhưng sau này bị mất. May mắn, mới đây đã tìm lại được tấm bia này, đó là bia chữ “Phật”. Bia hình chữ nhật, kích thước cao 1.83m (trán bia hình bán nguyệt, cao 0.26m, đế cao 0.2m). Trên trán bia có khắc tám chữ triện, được giáo sư Hà Văn Tấn dịch là: “Trùng tu Diên Linh chân giáo tự bi” (Bia trùng tu chùa Diên Linh chân giáo). Phải chăng “Diên Linh chân giáo” là tên chữ của ngôi chùa ?. Xung quanh cả 4 mặt đều chạm khắc hoa văn, cành lá, hình rồng thời Lý rất tinh xảo. Nhưng một số chữ đã bị bào mòn, trong đó có niên đại của tấm bia.

Đặc biệt ở động này còn có các tấm bia ma nhai, là nơi lưu giữ được các bút tích của các bậc vua chúa đề thơ ở đây. Trong đó có các bài thơ chữ Hán của các vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Chúa Trịnh Sâm.

Năm 1467, vua Lê Thánh Tông đã dùng thuyền thăm thắng cảnh Bạch Á, sáng tác thơ khắc trước cửa động:

” Ngàn non xanh biếc tựa tầng không

Chùa cổ hang mây quá mịt mùng

Trời nhẹ khí lành xuân bóng toả

Tiết đầy sắc thắm gió không rung

Sau buổi hồng hoang trời đất mở

Trong khuôn tạo hoá quỷ thần thông

Ơn chị Oa Hoàng dành chỗ đẹp

Để ta ghi lại thái bình công”

44 năm sau, Lê Tương Dực cũng tới đây vãn cảnh, cảm hứng sáng tác hai bài thơ khắc trong động có những câu thơ sau ca ngợi vẻ đẹp của thắng cảnh Bạch Á.

” Nghìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mâu qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió êm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Nữ Oa dành lại đó mà

Để ghi công đức triều ta thái bình”

“Nguy nga núi đá điệp trùng trùng

Dấn bước lên cao cảm hứng nồng

Muôn vạn sóng xanh vờn ánh nhật

Một bầu cỏ biếc giỡn xuân phong

Khói mây mờ mịt xa vời ngắm

Hoa cỏ âm thầm thấp thoáng trông

Cảnh trí bút nào mô tả nổi

Lung linh trước mắt đẹp vô cùng”

“Chon von núi cổ điệp trùng trùng

Lên tới non cao thi tứ nồng

Cờ phướn phất phơ vờn ánh nhật

Xiêm đai rực rỡ giỡn xuân phong

Sấm rền vang dội kình vài tiếng

Hoa rực sáng bừng đuốc mấy bông

Cảnh vật bầu trời đầy trước mắt

Cõi Nam cảnh trí đẹp vô cùng”

(Hồng Phi phiên âm, dịch theo bản khắc trên vách động)

Phía trên hai bút tích này là bài thơ Đường luật của Nhật Nam nguyên chủ tức Chúa Trịnh Sâm:

“Động bày riêng chiếm một càn khôn

Chót vót vòm cao núi độc tôn

Vách đá trong ngoài xây lớp lớp

Cửa mây đôi mặt hướng tây đông

Bia hàn khói toả chùa sâu thẳm

Khánh cổ gió lùa xa xóm thôn

Đai ngọc vòng quanh ta thưởng ngoạn

Càn chi ra đó viếng Đào nguyên”

(Hồng Phi phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ)

“Cảnh bày riêng một cõi kiền khôn

Cao chọc vòm trời thế độc tôn

Đá biếc bao từng xây động núi

Cửa mây bốn mặt dựng sườn non

Móc phong bia lạnh nơi chùa thẳm

Gió thổi phương xa tiếng khánh dồn

Đai ngọc vòng quanh trông ngoạn mục

Đào nguyên ngoài đó chẳng đâu còn”

(Tố Nguyên – Nguyễn Thọ Dực dịch)

Ở chính giữa động còn hai bài thơ Đường luật của vua Lê Hiếu Tông.

I. “Thuyền rồng đưa khách thuận buồm dong

Đến viếng Bỗu tiên cảnh thắm hồng

Ngao gắng sức nâng Thiên Phủ quốc

Thu triều xa đỡ Thuỷ Tinh cung

Song cao khoá kín vân hà lặng

Cửa phật treo cao tục lợi không

Những sợ sơn hà không thắng cảnh

Quân vương thi tứ bỗng thêm nồng.”

II. “Hoa non như gấm, cỏ như chăn

Thượng giới chuông rền, đôi phía vang

Cửa động hương xuân bày bướm lượn

Bờ sông nắng ấm áng mây vần

Há không thành kính gìn tâm Phật

Nên xét lò than chống diễn văn

Muôn dặm Tây kinh cờ trở lại

Tạm dừng dưới núi trú ba quân ”

(Hồng Phi – Hương Nao dịch)

Động Bạch Á là một thắng cảnh có giá trị rất lớn về nhiều mặt mỹ thuật, lịch sử, văn hoá và du lịch. Động Bạch Á đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Động Bạch Á là nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, năm trong khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh. Đồng thời là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương và các vùng xung quanh.

Động còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ có giá trị rất lớn như: Tượng cổ bằng gỗ, các tượng phật, tượng quan hầu, tượng rồng bằng đá…thể hiện phong cách nghệ thuật điêu khắc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.

Nơi đây cũng đã lưu giữ nhiều những tác phẩm thi ca đã được nhiều thi nhân thưởng thức và thán phục.

Núi Lã Vọng người dân nơi đây thường quen gọi là núi Lão Vọng (Ông lão ngồi câu cá). Từ bên này Động Từ Thức leo qua Eo “Đầu Lợn” sang bên kia, đi dọc cánh đồng của làng Hoàng Cương chừng gần 200m, ngoảnh mặt nhìn hướng đông có một hòn núi mà trên đỉnh núi có một ông già đang ngồi mặt nhìn hướng đông, nét mặt “đăm chiêu” như đang chứng kiến bao cảnh thăng trầm, bao sự biến thiên của lịch sử. (Cũng nhìn chếch về hướng đông bên kia sông Hoạt Giang là núi Bia Thần). Tương truyền núi Lã Vọng được gắn với câu chuyện đạo sĩ họ La tên Viện. Chuyện kể rằng: Theo truyền thuyết và sử cũ thì năm 1044, vua Lý Thánh Tông đi đánh quân Chiêm Thành, khi đến cửa Thần Phù gặp mưa to, gió lớn thuyền không qua được Bỗng trên núi có một người tự xưng họ La tên Viện tâu với Vua rằng: “Thần sẽ giúp nhà Vua thoát qua cửa biển Thần Phù”. Nhà Vua cho mời đạo sĩ xuống thuyền. Quả nhiên khi đạo sĩ ngồi ở mũi thuyền thì sóng yên, biển lặng. Khi thắng trận trở về, vị đạo sĩ họ La đã mất, nhà vua biết ơn cho lập đền thờ ở chân núi Đường Trèo ( xã Nga An) và phong “áp lãng chân nhân tôn thần” (Người có công đè sóng giúp vua được tôn thành thần)

Non nước Thần Phù vừa linh thiêng, u minh vừa nên thơ.

“Núi vút ngàn trùng non dựng đứng

Rắn bò một giải nước quanh đi”

Đây là một địa danh lịch sử xa xưa gắn với nhiều truyền thuyết, thực chất là một vùng đất nằm ở hai bên cửa biển cũ, nay đã lùi xa trong đất liền hơn 10km. Cửa biển Thần Phù hiện thuộc ranh giới giữa hai xã Yên Lâm huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình và xã Nga Điền,Nga Sơn, Thanh Hoá.

Cửa biển Thần Phù ngày xưa là một cửa biển sóng to, nước giữ nên ca dao Việt Nam đã có câu:

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Thần Phù và vùng cửa biển Thần Phù cũng là một địa danh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam về các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Năm 40 SCN, Lê Thị Hoa – nữ tướng của Hai Bà Trưng đã tổ chức quân đội, phất cao ngọn cờ độc lập chống lại sự tấn công của lão tường Mã Viện.

Vào cuối thế kỷ X, khi vua Đinh Tiên Hoàn vừa mới mất (năm 979), Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn là nhiếp chính. Phò mã Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm tiến ra Hoa Lư đánh nhà Đinh. Nhưng vừa tới cửa Tiểu Khang (cửa Thần Phù) thì bị gió bão đánh chìm. Ngô Nhật Khánh chết đuối, chúa Chiêm may mắn thoát nạn.

Dưới thời Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 (năm 1285), thượng tướng thái sư Trần Quang Khải đã lập một phòng tuyến ở đây để chặn đánh 10 vạn quân Toa Đô từ phía nam (Chăm Pa) đánh ra, đập tan kế hoạch trong đánh ra, ngoài đánh vào của viên tướng tổng chỉ huy Thoát Hoan.

Năm thứ 7 đời Xương Phù(1388), triều vua Trần Hiệu Đế (1377-1388), tướng Nguyền Đa Phương và Hồ Quý Ly đã đánh cho quân Chăm một trận thất bại nặng nề, buộc chúng phải tháo chạy về nước.

Với những giá trị trên, cửa biển Thần Phù cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của huyện Nga Sơn. Đến với cửa biển Thần Phù, chúng ta không chỉ được hiểu biết thêm về lịch sử đấu tranh anh dũng của ông cha ta, mà còn được ngắm phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp mà tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất Nga Sơn.

Cửa biển Thần Phù không chỉ ghi dấu nhiều chiến công của ông cha ta mà còn có những cảnh đẹp đó là động Lục Vân- theo nghĩa là động có sáu tầng mây – động bên Sông Hoạt từ bờ sông leo lên cửa động chừng 20m đường thoai thoải dễ đi. Nhìn bên ngoài động hình vòng tròn như miệng con rồng lớn. Vào trong động, ngay cửa động ở trên vách đá có hình một bên hình con rồng màu vàng đang cuốn mình nhô ra cửa động. Một bên hình con Hổ màu vàng đen cũng đang nhìn ra cửa động. Ngoài cái tên động Lục Vân dân ở đây còn gọi là động “Rồng Hổ tranh quang” vào sâu trong động phải men theo các tầng mây để tìm hiểu thăm thú. Càng vào trong động càng rộng, du khách có cảm giác như đi trên các “tầng mây” có tầng mây rộng thoáng đủ cho cả 5-7 chục người đứng ngắm cảnh.

Năm 1771 chúa Trịnh Sâm đã dừng chân thưởng ngoạn đêm trăng và cảm hứng đề thơ lên vách núi, đến nay vẫn còn:

“Gió đưa, thuyền dâng trăng sáng trôi

Lênh đênh chiếc lá thuận dòng chơi

Làn sông ngấm biếc bèo đôi phía

Rặng núi hang xanh bóng giữa vời

Thấp thoáng mây xanh am cổ hiện

Thập thình chày ngọc giọt thu rơi…”.

Xưa kia trước động có chùa và những điêu khắc chạm trổ trực tiếp lên đá núi. Nhưng hiện nay không còn, chỉ còn thấy một số bút tích chữ Hán của người xưa đến vãn cảnh để lại trong và ngoài động. Trong số đó, có thơ của vua Lê Thánh Tông, Lê Hiếu Tông, Lê Tương Dực, Hoàng giáp Ngô Thị Sĩ (1726-1780), đứng trước cửa động, ngắm nhìn núi non, sông nước hữu tình, và các bài thơ của các thi nhân khắc trên vách đá thì trong lòng cảm thấy xốn sang man mát:

” Khe núi bóng tà hoa lấp lánh

Hàng dương xuân đến điểm râm ran

Suối trong rửa lòng tê tái

Nhà tối đèn treo mộng rảnh rang…”

” Mặt đất chung cùng đôi nhật nguyệt

Bầu tiên riêng chiếm một càn khôn

Chén trôi bóng ngọc theo dòng nước

Đá hoá bầy dê rải động mòn

Cửa chống trời dành riêng có ý

Để trời đêm gắm ánh chiều tuôn”

“Thìên quang bát ngát ngọc xuyên sơn

Ngạo nghễ tầng non giữa thủ yên

Muôn dặm quan hà xa dã ngoại

Một bầu trời hoa có rực quang tiền

Mây già thấp thoáng vui chiêm ngưỡng

Chiếm cả bầu tiên xuân vũ trụ

Thi nhân thêm đẹp thái bình niên”

(Hồng Phi dịch theo bản khắc trên đá)

Động Lục Vân có sức hấp dẫn đối với những nam thanh, nữ tú. Họ thường rủ nhau “leo lên” các tầng mây, những ngọn nến lung linh, ánh sáng huyền ảo càng làm cho cảnh đẹp động Lục Vân thêm thơ mộng, thần tiên.

Đây là một ngọn núi được xem như chiếc cọc tiêu định hướng cho thuyền bè đi lại trên cửa biển Thần Phù xưa kia. Ngọn núi này thuộc thôn Văn Đức xã Nga Phú. Núi Chích Trợ hay thường gọi là núi Chiếc Đũa, núi được tạo nên bởi các phiến đá phẳng cạnh, vuông góc xếp chồng lên nhau, cao khoảng 300-400m, nằm trơ trọi giữa cánh đồng lúa . Xưa kia vùng này còn là biển cả mênh mông, nhiều vua chúa, danh nho Việt Nam đã qua đây, dừng thuyền lên núi thưởng ngoạn và sáng tác thơ văn ca ngợi. Hiện ở vách núi phía bắc còn thấy bài thơ chữ Hán của vua Lê Hiếu Tông vào mùa xuân năm Cảnh Thống thứ tư (1501) và bài thơ của chúa Trịnh Sâm sáng tác vào tháng 2 năm Tân Mão (1771). Những bài thơ của các tác giả đã thể hiện cảm hứng của mình trước cảnh đẹp hùng vĩ của thắng cảnh “Chích Trợ sơn”:

“Vin mây ngồi ngóng sóng triều tuôn

Sừng sững giữa dòng dễ mấy non

Đâu Suất trời tây trên mặt nước

Bồng Lai phía trái tại nhân gian

Sáu ngao đứng vững bền khuôn đất

Muôn ngọn xô vào biển rộng hơn

Vây dựng sóng kình nay đã bặt

Anh hùng như thấy tiểu trần hoàn.”

(Thơ của vua Lê Hiếu Tông – Hồng Phi dịch)

“Bát ngát trông vời biển sắc thâu

Trời đen Chích Trợ chắn dòng sâu

Một mình sừng sững nâng ngao cực

Ai dán nghênh ngang ép thẩn lâu ?

Hơn chục biển bờ nêu trụ đá

Ba ngàn cõi thế dáng tiên châu

Ôm non vượt biển anh hùng chí

Thủa trước nào ta có nghĩ đâu.”

(Thơ của chúa Trịnh Sâm – Hồng Phi dịch)

Núi Chích Trợ có một hang nhỏ xuyên từ bên này sang bên kia chân núi, có thể dễ dàng chui qua mà không cần phải đi vòng. Nếu trèo lên đỉnh núi phóng tầm mắt ra bốn phía ruộng đồng, sông biển sẽ thấy hết được những cảnh đẹp, những điều thú vị và sẽ thây thoải mái , thấy yêu quê hương mình.

Đi từ xa ngắm nhìn Chích Trợ sơn thì thấy ngọn núi này không giống như chiếc đũa chút nào, mà hình giáng như một toà sen nơi cửa Phật. Bởi thế, từ thế kỷ thứ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn đã có những câu thơ nhận xét:

“Viễn chiêm chinh tự liên hoa toạ

Hà dự danh vi Chích Trợ sơn “…

( Xa xem như thể toà sen biếc

“Chiếc đũa” tên này bởi tại sao?…)

Dọc theo sông Hoạt, từ cửa “Thần Phù” xuôi về phía tây chừng hơn 1km chúng ta sẽ gặp núi “Rồng Hổ tranh ngọc” và bên trong ngọn núi là thung lũng rộng chừng cả vài ha, phía cuối thung lũng là chùa Trúc Lâm.

Người xưa kể lại rằng: Non nước Thần Phù, cảnh vật “Sơn thuỷ hữu tình” lại vô cùng thiêng liêng. Trên núi có Hổ là chúa tể sơn lâm, dưới sông nước có Rồng là chúa tể muôn loài. Ngọc Hoàng nhiều lần xuống hạ giới để thăm thú cảnh Thần Phù, Người muốn ban tặng cho Thần Phù một báu vật là “Viên ngọc quý” và rất linh nghiệm. Vừa là “quà tặng” cho một nơi “Sơn thuỷ hữu tình” vừa để “Viên ngọc quý” có phép thuật linh nghiệm giúp dân qua cửa Thần Phù.

Rồng và Hổ cả hai “chúa tể” đều muốn nhận vật quý của Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng phân vân chưa biết giao “viên ngọc quý” cho chúa tể nào vì cả hai đều tài giỏi, kẻ trên núi cao, kẻ dưới sông nước. Một vị thần tâu với Ngọc Hoàng rằng: Bẩm Ngọc Hoàng – Người hãy tung Viên ngọc quý ấy xuống trần gian, chúa tể nào lấy được thì giao cho chúa tể đó. Ngọc Hoàng cho là phải bèn “tung” Viên Ngọc quý đó xuống trần gian. Cả hai “chúa tể” tranh nhau, trổ hết tài nghệ để giành lấy vật báu. Cuộc tranh giành diễn ra nhiều ngày. Rồi đến một hôm Viên Ngọc rơi đến “thung” chùa Trúc Lâm. Bên cạnh thung gần sông Thần Phù, Viên Ngọc rơi xuống sông, cả Hổ và Rồng đều lao xuống nước để “mò” Viên Ngọc quý. Cuối cùng Rồng đã dành được.

Thần Phù là nơi núi non hiểm trở, nhưng cũng là nơi biển rộng, sông sâu, sóng to gió lớn, dân trong nam ra bắc và bắc vào nam từ xa xưa đều đi thuyền qua nơi này vì vậy “ý trời” là muốn giao Viên Ngọc quý cho chúa tể Rồng để giúp dân, giúp nước.

Núi “Rồng Hổ tranh ngọc” hiện còn ở xã Nga Điền – phía tây ngọn núi là hình vị chúa tể Hổ. Phía đông ngọn núi là hình vị chúa tể Rồng. Trong miệng Rồng đang ngậm “Viên Ngọc quý”. Hình núi tạo ra hai vị chúa tể nhìn giống như thật, ở giữa quả núi nơi hai vị chúa tể đang nhìn nhau “một bên tỏ ra tức giận, tiếc nuối, một bên tỏ ra vui vẻ, mãn nguyện”. Dưới cái khoảng không của núi đó là một “thung lũng” khá rộng và bằng phẳng – có nhiều hòn đá nằm rải rác, trong thung có hòn giống con Rùa, có hình giống con Hổ, con Rồng, con Dê, con Cá,…trước cửa thung lũng là hai ngọn núi “chạm đầu” vào nhau tạo ra một cửa nhỏ chỉ đủ cho một người đi qua, ai đi qua cũng phải “cúi đầu” mới vào được bên trong. (Một khách của Tây Ban Nha – tìm hiểu vùng “Thần Phù” rất ngạc nhiên, tò mò và thích thú phát hiện ra cái “kỳ lạ” của hai hòn “đá núi” ở đây). Không giống nhiều đá ở nơi khác, đá núi ở đây giống như “xi măng bỏ quên” của mấy ông thợ xây: Các viên đá nhỏ nhưng liên kết với nhau rất vững chắc.

Trong cùng của thung lũng là ngôi chùa cổ. Dưới chân ngôi chùa cổ rất nhiều hòn đá cả to, cả nhỏ đều giống hình con rùa. Giáo sư – Phó tiến sĩ Hà Đình Đức người được coi là “nhà nghiên cứu Rùa” khi đến thăm nơi đây đã thốt lên: “Ở vùng Thần Phù này sao nhiều Rùa thế”.

Chùa nơi đây có cái tên là Chùa Trúc Lâm (có lẽ xưa ở thung lũng này có nhiều tre, trúc ?). Chùa toạ ở dưới một cái hang khá rộng. Trong chùa có nhiều tượng phật (dân địa phương nói: Sau chùa có một con đường nhỏ có thể đi qua để sang bên Ninh Bình).

Cảnh đẹp, chùa thiêng nên thường có nhiều khách đến tham quan vào những ngày rằm tháng giêng cả mấy trăm người từ Ninh Bình đem theo lều trại, thức ăn, nước uống các tư trang cần thiết vào “cắm trại” ở khu “thung lũng” của ngôi chùa này vừa để vui chơi thưởng ngoạn, vừa để thắp hương cầu nguỵên cho một năm mới mọi điều an lành.

6. Chùa Vân Lỗi xã Nga Lĩnh

Người dân Nga Sơn có câu ca:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm Tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

Chùa Sỏi tức là chùa Vân Lỗi, chùa Sùng Nguyêm hay chùa Vân Hoàn (Vân là mây, hoàn là tụ lại. Vì có nhiều mây màu sắc rực rỡ tụ lại, nên cảnh chùa càng đẹp càng lung linh bởi thế mà có nhiều nàng Tiên giáng xuống để du ngoạn). Chùa Sỏi bởi trước đây nằm ở làng Sỏi, có cả hồ Đồng Sỏi. Về sau làng Sỏi đổi tên thành làng Vân Hoàn nên chùa Sỏi cũng đổi tên là chùa Vân Hoàn.

Chùa Vân Lỗi được toạ lạc trên núi Vân Nham, chùa nằm ở lưng chừng núi, cách mặt đất chừng 20m, trên nóc mái chùa là hang động cao, những thạch nhũ “thả xuống” treo lơ lửng làm cho cảnh chùa càng huyền ảo nên thơ:

“Đông có xóm làng cửa nhà đông đúc, có thể làm nơi phú quý giàu sang.

Nam gần sông dài chảy ra cửa biển khơi có thể làm chốn mênh mông cho thế giới.

Tây có kinh mạch lạc len lỏi đến hương Đại Lỵ, núi Ma Ni có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện.

Bắc kề đường lớn, ăn thông với cửa biển Thần Đầu có thể làm nơi nghỉ đáng tin cho kẻ qua người lại” (Sách đd trang 137)

Xưa kia có một tảng đá lớn nhô ra, như mái hiên nhà che cho chùa. Đứng ở chùa gió nam thổi lồng lộng, hương hoa lá cỏ cây thơm ngào ngạt, cảm giác thật sảng khoái, thanh tao.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” thế kỷ XIX miêu tả “Lên núi trông ra ngoài cửa biển Bạch Câu thì thấy chim biển, thuyền buồm hiện ra trước mắt”.

Ninh Tốn (1743-1790) là tiến sĩ làm quan dưới triều Lê-Trịnh nổi tiếng thơ văn khi đến vãn cảnh chùa có bài ký:

” Kìa núi xanh rậm mà vút lên thẳng đứng như bức bình phong ngọc, lại như trướng gấm thế kia…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của núi Vân Lỗi ư? Phía trước núi là dòng sông lớn, triều dâng sóng cuộn, lồng lộng vòng eo, thuỷ triều lên xuống sớm chiều nhiều vẻ…Đó chẳng phải là cái hùng tráng, dũng mãnh của dòng sông bên sườn Vân Lỗi kia ư? Giữa eo núi hương thơm sắc toả, mịt mùng như móc như mây, lại như lầu gác cô đơn mà cao vút lên, thấp thoáng trong mây, lúc ẩn lúc hiện…Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của chùa Vân Lỗi này ư?

Sao cảnh trí nơi đây xưa kia u ám mà ngày nay lại vui tươi nhộn nhịp thế này. Phải chăng cảnh vật cũng có thời bĩ thái?

Ôi! từ khi có vũ trụ, liền có giang san. Núi cao vút thế này và dòng sông cuồn cuộn thế kia, đâu phải chỉ ngày nay mà không biết chúng đã trải qua bao lần hoa khai lá rụng mới có lần này dương mi ngước mắt, để được nhìn, được nói, há lại chịu nhường phần cho những giai thắng như Lục Vân Bạch Á, mà chẳng xếp chúng vào cùng loạilãm xảo của tạo hoá có từ hàng trăm ngàn năm về trước ư?

(Những bút tích Hán-Nôm hiện còn ở các hang động, vách núi đá xứ Thanh – NXB Giáo dục Võ Hồng Phi, Hương Nao năm 2007)

Trước chùa có Phật Quan Thế Âm bồ tát, bên cạnh chùa một chân dung toàn thân vị sư khắc trên vách núi đường nét thần tình, màu sắc rực rỡ tươi sáng, khiến ai nhì cũng tưởng người thật. Vị sư khắc trên vách núi chính là chân dung vị sư trụ trì ở chùa Vân Lỗi này có tên là Thích Từ Di Nguyễn Phúc Công, tự Hụê Xúc, đạo hiệu Vĩnh Toàn Thiền Sư.

Chùa Vân Lỗi có nhiều tấm bia ký (trước đây có tới hơn chục bia) nay còn lại 5 bia. Trong đó đặc biệt có tấm bia ký của danh nho nổi tiếng Phạm Sư Mạnh, đời Trần thế kỷ thứ XIV và tấm bia ký của Tĩnh Vương Trịnh Sâm.

Bài của Phạm Sư Mạnh:

“Đây núi Vân Lỗi

Am sát ven sông

Ai người tạo dựng

Hoàn hảo vô cùng

Giúp kẻ sống chết

Ngàn năm phúc chung

Đức lớn rũ lòng

Chúng sinh cứu vớt

Trên dẫn bến mê

Dưới đưa cõi sống

Người người phấn chấn

Chốn chốn nghe danh

Đạo huyền sâu sắc

Biết đâu là cùng

Tìm về cõi thực

Thoát chốn trần tục

Thần hồn mung lung

Nét vàng thêm sắc

Hiển hiện sáng trưng

Thần non phù trợ

Tín đồ cúng dâng

Ngày đêm không ngót

Khắp chốn giàu sang

Lời này minh ấy

Rạng trang sử vàng”

Bài thơ của Tĩnh Vương Trịnh Sâm:

“Danh thắng nêu cao đệ nhất châu

Dáng non như mực nước như dầu

Am mây nửa khép mong huyền hạc

Bãi cát dường ngăn cợt bạch âu

Nẻo tuyết tiều men chân đá cứng

Đường sao khách vượt bước nghềnh sâu

Cao trông sóng cuộn theo tầm mắt

Trời đất mênh mang một sắc thâu”

Bài thơ của Ninh Tốn:

“Châu Ái lắm kỳ quan

Trong số có Vân Nham

Núi xanh ngôi chùa ẩn

Vách đá chữ vua ban

Non cao xa hướng lại

Nước bạc lượn quanh ngang

Cỏ cây xưa nay đủ

Sông núi tự bận nhàn

Trèo lên phóng tầm mắt

Trong mình mây ngàn”

Chùa Vân Lỗi – Chùa Vân Hoàn là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng, chùa Vân Lỗi cũng rất linh thiêng, nơi đây cũng ghi lại dấu tích của mặt trận quyết chiến thời Trần. Khi quân Nguyễn chia làm ba hướng tấn công vào Thăng Long, một hướng từ phía bắc kéo đến, một hướng từ phía biển kéo vào, một hướng từ phía nam do tướng Toa Đô kéo ra. Trận quyết chiến giữa quân Toa Đô và quân Trần do Thái sư Trần Quang Khải chỉ huy đã diễn ra ở khu vực sông Lèn. Bên kia sông Lèn là xã Quang Lộc (Hậu Lộc ngày nay), bên này là xã Nga Lĩnh, Nga Thạch bây giờ. Xác giặc chết ngổn ngang, máu chảy đỏ cả dòng sông (vì vậy đoạn sông xã Nga Thạch còn gọi là sông Thắm). Sau khi chiến thắng quân Nguyên lần thứ III Hoàng thái hậu nhà Trần về chùa Vân Lỗi làm lễ cầu siêu cho các vong hồn của cả quân Nguyên và quân Trần được siêu thoát. Dân làng Vân Hoàn cũng kéo đến rất đông và “sáng tác” trò diễn “Bát man” (Giết chết 8 tên tướng giặc) để mua vui cho Hoàng thái hậu.

Tương truyền có một vị quan ở Tàu, vì tuổi cao mà vợ vẫn không sinh được con để nối dõi tông đường, vị quan đó đã đến chùa Vân Lỗi (là một trong 6 ngôi chùa thiêng ở nươc Nam) để cầu tự. Sau đó ông sinh được con sống ở đó cho đến khi chết.Trên đỉnh núi Vân Hoàn có một cái hang, không rộng lắm nhưng rất sâu người dân nối nhiều sợi dây thưng buộc hòn đá vào đầu dây thả mãi, thả mãi hòn đá xuống nhưng không chạm đất bao giờ. Người dân Vân Hoàn kể lại cứ hàng năm vào dịp đầu năm hoặc một con bò, hoặc một con dê lăn xuống đó để tế thần núi.

Chùa Vân Lỗi rất linh thiêng, những ngày mừng một, rằm, ngày tết, lễ hội rất đông dân ở khắp vùng đến thờ cúng mong mọi điều tốt lành. Đặc biệt vào ngày lễ hội nhân dân làng Vân Hoàn lại tổ chức lễ hội, khách thập phương nhiều tỉnh thành kéo về rất đông.

7. Các di tích lịch sử văn hoá

Đây là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng của huyện Nga Sơn, có rất nhiều người đã biết đến địa danh Ba Đình này. Chiến khu Ba Đình nằm ở xã Ba Đình, cách thị trấn Nga Sơn khoảng 4km về phía tây bắc. Trước đây, chiến khu này là một khu thành luỹ nằm trong vùng ngập nước, bùn lầy của ba làng: Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê. Vào mùa mưa, căn cứ này như một hòn đảo nổi lên giữa cánh đồng nước mênh mông cách biệt giữa các làng khác. Chiến khu này có tên là Ba Đình và mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia. Tại đây đã diễn ra cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cuộc khởi nghĩa này do Đinh Công Tráng, Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt lãnh đạo. Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là luỹ tre vững chắc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Ở trong là một lớp đất cao 3m, chân rộng 8-10m. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai sẵn sang chiến đấu. Thành rộng 400m, dài 1200m. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc, ở hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ “chi”, nhằm hạn chế thương vong. Ở mỗi làng, tại vị trí ngôi đình được xây dựng một đồn đóng quân. ở Thượng Thọ có đồn Thượng, ở Mậu Thịnh có đồn Trung, ở Mỹ Khê có đồn Hạ. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến với nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độc lập. Có thể nói rằng ăn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình đã diễn ra rất ác liệt, thực dân Pháp lúc đó đã phải huy động rất nhiều binh linh để đánh phá căn cứ này.

Cuộc khởi nghĩ Ba Đình và lãnh tụ Đinh Công Tráng được lịch sử đánh giá rất cao. Chính người Pháp cũng phải công nhận rằng: “1886-1887, cuộc công hãn Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất”.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh sau này đã chọn cái tên Ba Đình để đặt tên cho quảng trương Ba Đình, nơi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Chiến khu này đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Đến thăm chiến khu Ba Đình, chúng ta không chỉ hiểu thêm được lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta mà chúng ta còn tự hào về ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam ta. Di tích lịch sử chiến khu Ba Đình đang được đầu tư để tôn tạo xây dựng để xứng đáng là một di tích lịch sử quốc gia. Hằng năm, cứ vào dịp 26 tháng 11 nhân dân Nga Sơn nói chung, nhân dân Ba Đình nói riêng lại tổ chức “lễ hội” Ba Đình. Nhiều năm lễ hội Ba Đình được tổ chức với quy mô cấp tỉnh hoành tráng thu hút hàng vạn khách đến tham dự.

Di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia chùa Thạch Tuyền thuộc thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn.

Bản thần phả được lưu giữ tại đền Trung (Nga Thạch), do quan Hàn lâm viện đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1672 ghi rõ về hai sự kiện quan trọng trên đất Nga Thạch. Đó là vào năm Nguyên Phong thứ nhất(1251) đê sông Lèn bị vỡ, lượng nước mưa rất lớn, mùa màng mất hết, nhân dân lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, bệnh dịch phát sinh, vua Trần Thái Tông đã về đất Nga Thạch chỉ huy quân dân hàn đê cứu dân(Thần Phả đền Trung). Ngày nay, quanh khu vực đồng bằng thuộc khu vực sông Lèn còn nhiều ao hồ, là vết tích của những trận lũ lụt trong các thế kỷ trước. Sau trận lũ lụt, vua Trần Thánh Tông cho xây dựng chùa, đền ở Nga Thạch, để tạ ơn phật thánh đã phù hộ cho việc cứa dân.

Sau trận lũ lụt, vua Trần đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh phương Nam, trên đường hành quân :”…nhà vua Trần đi đến đất khu Đạc Châu, Vạn Bảo, Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, thì thấy trong không trung gió mây bay từ Đông về Tây, vua Trần cho là trước kia đã có linh thiêng( trận lụt năm 1251), phù hộ, bèn bí mật cầu nguyện”(thần phả- tài liệu đã dẫn).

Tiếp đến các sự kiện vào năm 1382-1389, quân chiêm Thành đánh vào Thanh Hoá, quân đội nhà Trần đóng ở Hàm Rồng. Hải quân đóng ở cửa biển Thàn Đầu, Nga Thạch nằm trong tuýen phòng thủ chống giặc.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược, triều đình nhà Trần đã rút lui theo đường biển qua hải phận Nga Thạch- Nga Sơn (1285).

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc giệt giặc Thanh (1877), đóng quân tại phòng tuyến dãy Tam Điệp và đảo Biện Sơn thuộc địa phận và hải phận huyện Nga Sơn và Tĩnh Gia. Nga Thạch nằm ở vị trí tiếp giáp gữa miền Bắc và miền Trung, kề cận giữa hai tuyyén giao thông thuỷ bộ từ Bắc vào Nam đó là con đường bộ thiên lý qua đèo Ba Dội (Bỉm Sơn) và đường biển. Do vị trí địa lý đặc biệt như vậy, nên những biến cố lịch sử của đất nước trong nhiều thế kỷ qua tác động sâu sắc đến vùng quê này, trước hết là con người nơi đây, được tôi luyện ý chí để sống và phát triển.

Nhiều dòng họ đã có mặt rất sớm ở Nga Thạch , cùng đoàn kết để xây dưng quê hương, đã đạt được những thành quả đáng tự hào như dong họ Nguyễn, họ Mai, họ Phạm, họ Lê, họ Trần, họ Hoàng, họ Ngô, họ Phan, họ Vũ có tới 22 người trong các dòng họ đỗ đạt khoa cử và binh nghiệp (văn bia Nga Thạch) qua các triều đại: Triều Lý có 9 vị, triều Trần có 3 vị, triều Lê có 4 vị, triều Nguyễn có 6 vị. Văn có Thám hoa Mai Anh Tuấn, làm thị độc giản tại Hàn lâm viện và nhiều người khác được phong làm Đại học sĩ. Võ có người giữ chức thượng tướng được phong đến chức Hầu. Trong văn học dân gian có câu ca dao, ca ngợi đất Thạch Tuyền có nhiều người học giỏi, thành đạt:

Đồn rằng chùa Sỏi lắm tiên

Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan.

(Chùa Sỏi ở xã Nga Lĩnh, chùa Bạch Câu ở xã Nga Bạch, chùa Thạch Tuyền).

Sáu mươi đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam dành cho ngôi đền tại Nga Thạch (hiện chỉ còn 12 đạo) là bằng chứng hùng hồn về sự tôn vinh của lịch sử đối với các vị anh hùng của nơi này.

Chùa Thạch Tuyền được xây dựng trong khoảng không gian văn hoá thấm đẫm tính nhân văn như vậy khiến ý nghĩa của ngôi chùa vượt ra ngoài nhận thức trực quan về giá trị văn hoá vật chất của công trình (gồm kiến trúc, các biểu tượng về Phật).

Chùa được xây dựng vào thời Trần (thế kỷ XIII), sau những biến cố lớn xảy ra ở đây (lũ lụt, chiến tranh với Chiêm Thành). Buổi đầu chùa còn đơn sơ làm bằng tre lợp lá cọ, đến triều Cảnh Hưng (1740-1786) được xây dựng kiên cố hơn. Năm 1936 chùa được trùng tu tôn tạo một lần nữa.

Đặt tên chùa thể hiện niềm mơ ước của nhân dân nơi đây về làng quê mình. Thạch có nghĩa là biểu tượng của sự bền vững, rắn chắc. Tuyền có nghĩa là dòng suối, suối thì phải có nước, là nguồn gốc đầu tiên của sự sống muôn loài.

Chùa Thạch Tuyền được đặt ở nơi có vị trí linh thiêng. Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính nhận xét về thế đất Thạch Tuyền:

” Hình Quy (Rùa) toạ ở phía tây, hướng đông, chính Cục Càn Tốn là đất cấm anh linh.

Toạ bắc hướng nam, chính cục Quý Đinh, trước Giang Châu trì (ao) bãi là đất cát địa”. (đất có hình con Rùa-Rùa là con vật linh thiêng trong tứ linh:Long, Ly, Quy, Phượng). “Toạ ở phía tây, quay về hướng đông, tinh thần thuận đạo đất trời, đó là đất rất linh thiêng. Toạ ở phía bắc, quay về hướng nam, phía trước có sông Quý, có ao hồ, đồng bãi là đất lành, rất tốt”(Thần phả hệ lưu trữ tại đền Trung, xã Nga Thạch).

Chùa Thạch Tuyền quay về hướng chính nam, bên trái (phía đông) có sông chảy qua. Một không gian rộng mở về phía nam, có ao hồ quanh năm đầy nước, có cánh đồng lúa, bãi bằng phẳng. Hướng tây và hướng bắc chùa có làng xóm quần tụ trong cảnh màu xanh của cây trái. Chùa Thạch Tuyền toạ lạc trên thửa đất với diện tích 4068m 2. Trong khuôn viên chùa có nhiều loại cây che phủ bóng mát như cây đa – còn gọi là cây Dung Thụ, ví như mái nhà. Cây Gạo nở hoa đỏ rực sân chùa vào mùa hạ như bầu trời đầy tinh tú. Cây Đại mỗi năm thay lá thay hoa một lần, là cây thiêng chùa nao cũng có.

Cổng chùa Thạch Tuyền được kiến trúc với quy mô khá đồ sộ, bố trí trên mặt bằng hình thang cân, cổng gồm hai tầng. Hai cầu thang được xây dựng vững chắc ở hai cạnh bên, dẫn lên tầng 2 được sử dụng làm gác chuông. Tầng 2 có 5 cửa cuốn vòm, hai bên cửa thấp dẫn xuống theo chiều mái cổng chồng diêm, với 8 vòm uốn cong, tổng cộng có 16 đầu đao cũng theo thứ tự từ thấp lên cao dần, tăng vẻ bề thế cho công trình. Hai cột nam hình khối vuông xây ốp sát vào hai bên hông cổng.

Đến thăm chùa Thạch Tuyền-một di sản văn hoá cấp quốc gia, cùng phong cảnh nơi đây chúng ta không khỏi bồi hồi, xúc động tưởng nhớ về những thế hệ đã đi qua trong nhiều thế kỷ, bằng sức lao động kiên trì và sáng tạo để tạo lập nên một miền quê trù phú, với một truyền thống văn hoá tốt đẹp góp phần vào lịch sử hào hùng của dân tộc.

7.2.2 Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn

Đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch. Ngôi đền được xây dựng lại năm 2008, đến năm 2010 UBND tỉnh Thanh Hoá đã quyết định xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Ngôi đền được xay dựng ngay bên cạnh chùa Thạch Tuyền. Ngôi đền nhỏ dáng thanh thoát, như tâm hồn con người Thám hoa Mai Anh Tuấn “một danh nhân văn hoá, một vị quan trung quân ái quốc…một vị quan cương trực đầy khí phách giàu tinh thần tự tôn dân tộc” (Giáo sư Đinh Xuân Lâm – Viện trưởng Viện sử học Việt Nam).

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tên thật là Mai Thế Tuấn sinh năm Ất hợi (1815) tại làng Lang Miếu phường Thịnh Hào, Hà Nội.

Chuyện xưa kể lại rằng: Bà mẹ đêm nằm mơ đi thăm động Từ Thức, khi ra đến cửa động bà nhin thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, tay cầm cây bút. Cụ già đến gần và nói: Ta cho ngươi một cây bút thần về ngươi sẽ sinh hạ được một cậu con trai tài giỏi, tuấn tú hơn người. Bà đem chuyện đó kể lại với chồng. Ông chồng cho là điềm tốt lành, bèn đem lễ vật về động Từ Thức để lễ tạ. Quả nhiên sau đó bà sinh hạ được một cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, ông bà đặt tệ là Mai Thế Tuấn.

Mai Thế Tuấn sinh ra trong một gia tộc cả 8 đời đều làm quan phục vụ triều Lê, được người đương thời quý trọng khen là:” Hiển hoạn cao khoa, lệnh danh hoàn tiết”,( tiếng tốt, nghĩa trọn).

Cụ thân sinh ra Mai Thế Tuấn là Mai Thế Trinh,hiệu là Đoan Thận , có tiếng hay chữ, nhưng vì tổ tiên đã làm tôi nhà Lê lâu đời, nhà Lê không còn nên không thi cử, không làm quan. Đến khi nhà nguỹen lên, trong nước đã đại định, vua Gia Long xuống chiếu cầu hiền, tìm các danh nho, trung quân Đô thống Thành Quận công Nguyễn Văn Thành Tổng trấn Bắc thành chọn cụ Mai Thế Trinh làm tr huyện Thanh Trì, Thanh Lâm, Tứ Kỳ, được thăng chức Hàn lân viện thị giảng Học sỹ. Cụ có tập thơ” Mông Trai” lưu hành. Cụ bà chánh thất họ Uông, cụ bà thứ thất họ Dương là mẫu sinh của cụ Mai Anh Tuấn. Hai cụ đích mẫu và sinh mẫu đều được phong Tùng ngũ phẩm nghi nhân.

Thuở nhỏ Mai Thế Tuấn đã nổi tiếng học giỏi, năm 1837 đi thi Hương đỗ giải Nguyên, năm ấy ông 22 tuổi. Năm 1843 thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu Bình Nguyên (khi đó luật triều đình nhà Nguyễn bỏ tước Hoàng hậu, Tể tướng và Trạng nguyên, nếu không có luật bỏ ba tước đó thì Mai Thế Tuấn đỗ đầu là Trạng nguyên). Vua Thiệu Trị rất ái mộ bài văn của Mai Thế Tuấn, để tỏ lòng mến tài của Mai Thế Tuấn, nhà vua đã đổi tên Thế Tuấn thành Anh Tuấn, đối với bậc anh tài của đất nước.

Sau khi đỗ Thám hoa, ông được bổ chức Hành Tẩu ở Bí thư sở Toà nội các, và chức Thị độc Viện hàn lâm. Tiếp sau đó ông được bổ nhiệm Án sát Lạng Sơn. Trong trận đánh chống giặc bảo vệ biên cương, ông đã hi sinh anh dũng ở Thất Khê ngày mùng 6 tháng 8 năm Tân Hợi (1881). Nghe tin này, nhà vua ân hận thương tiếc bèn cho triều thần đưa thi hài ông về sinh quán chôn cất long trọng tại làng Hoàng Cầu phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.

Ghi nhớ công lao của một vị Thám hoa cương trực, dũng cảm vì dân vì nước, nhiều nơi trên đất Hà Nội, Thanh Hoá, những con đường được mang tên Mai Anh Tuấn, trường học Mai Anh Tuấn. Dòng họ và nhân dân xã Nga Thạch đã xây dựng lại đền thờ ông để tưởng nhớ tới một con người trung hiếu của quê hương.

Đền thờ ông luôn được dòng họ bà con nhân dân Nga Thạch, nhân dân Nga Sơn, nhất là các sĩ tử thường đến thắp hương cầu nguyện đỗ đạt thành tài. Cầu mong mọi điều tốt đẹp.

7.2.3 Đền thờ Bà Chiêu Nghi Mai Thị Ngọc Tiến Tôn thần

Chuyện xưa kể rằng: Trong tiết xuân ấm áp, trăm hoa đua nở, nhà vua đời Lê đi du xuân ở xứ Thanh, đến vùng đất Thạch Tuyền thấy cảnh sắc đẹp, thuyền vua đi chậm lại, nhà Vua thấy người con gái xinh đẹp đang cầm liềm cắt cỏ ven sông, nhà Vua liền đọc vế đối đại ý rằng: “Người con gái đẹp cắt cỏ ven sông”. Người con gái đẹp kia nghe vậy liền ứng khẩu đáp lại rằng: “Nữ tướng cầm gươm diệt ngàn giặc cỏ”. Nhà vua thấy người con gái nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nên Người vời về cung giúp nhà Vua dạy dỗ con cháu trong hoàng tộc. Bà Mai Thị Ngọc Tiến là con gái đầu của Mậu Quân công, làm quan trong triều Lê. Bà được Chúa Trịnh Tạc (1657-1682) sùng ái đứng đầu trong hậu cung. Bà được phong là Chiêu nghi là bảo mẫu của chúa Khang hương Trịnh Cán (1682-1709). Bà là người có công với dân với nước, khi bà mất nhà Vua rất thương tiếc và gửi câu đối đến viếng đại ý rằng: Khi sống bà là Mẹ của nước, khi chết bà là Thần của nước. Đền thờ bà hiện ở làng Hậu Trạch xã Nga Thạch.

7.3.1 Chùa Tiên (Chùa Mậu Nam) – Di tích quốc gia.

Chùa tiên thuộc địa phận xã Nga An, toạ lạc trên một khu đất rộng đên 8ha. Phía trước là một cánh đồng cát khô khá rộng. Phía sau và hai bên chùa được bao bọc bởi những ngon núi cao và một hồ Đồng Vụa rộng tới 20ha. Chùa Tiên được toạ lạc ở nơi cảnh trí nên thơ, sơn thuỷ hữu tình. Vì vậy mà những vần thơ vịnh cảnh của nhà vua – tao đàn nguyên suý thời Lê (thế kỷ XV) – vẫn còn nguyên một sức sống bất tử để rung ngân ở nơi đất chùa xưa này:

“Nhìn non xanh biếc tầng không

Vách cao chùa cũ trập trùng mây qua

Cảnh xuân trời dịu chan hoà

Gió ôm cây cối đến là biếc xanh

Đất trời dựng thuở hồng mông

Quỷ thần đẽo gọt vô cùng nên thơ

Đây là cảnh tiên, đất Phật và là nơi ra đời của thiên tình sử Từ Thức-Giáng Hương một truyền thuyết sống mãi với thời gian và in sâu trong tâm thức của người xứ Thanh, đất Việt.

Đến với chùa Tiên ai cũng cảm thấy xốn xao và dạt dào rung cảm, bởi không gian văn hoá-lịch sử, thiên nhiên ở đây đã thấm đượm vào nhau một cách thật đặc biệt. Bất kể cảnh trí nào cũng trở thành di tích của lịch sử, di tích của huyền thoại, di tích của tình yêu và nỗi nhớ… trên mỗi cột chùa có câu đối chữ Hán, tổng cộng đến 12 đôi, trong đó có câu:

“Mẫu lĩnh từ vân cao nhất điểm huyền tâm vân tác lữ

Namthiên hồng nhật lệ thiên thu đạo pháp nhật tàng quan”.

(Núi mẹ có một đám mây cao màu huyền tựa người con gái

Trời nam mặt trời đỏ có ngàn điểm sáng ẩn bóng kẻ tu hành).

Trong chùa có treo một chuông đồng nặng khoảng 30kg và ngoài sân có dựng một tấm biađá, là những di vật từ thời phong kiến.

Cứ đến ngày rằm tháng 3 âm lịch là hội chùa. Khách thập phương và phật tử đến bái lễ, vãn cảnh, Chiêm ngưỡng và chiêm nhiệm những giáo lí của đạo Phật. Không ở đâu chúng ta lại có một cảm giác cụ thể hơn về một thuở nguyên sơ của một thiên nhiên tĩnh lặng đến nao lòng, dù cho nền xưa, chùa cũ và cảnh vật có thay đổi ít nhiều. Dân gian đã có thơ ca ngợi cảnh đẹp chùa Tiên như sau:

“Trăng trong gió mát thảnh thơi

Thuyền trà mượn chén hồng mai thay trà

Có cây trăm thước bốn mùa nở hoa…”

Chùa Tiên ở ngày sát hồ Đồng Vụa và dựa lưng vào núi Nhà Bà. Đến chùa, du khách nào cũng muốn trèo lên đỉnh núi Nhà Bà để xem bàn cờ Tiên-một bàn cờ đá thiên tạo rất rộng có rất nhiều hình thù giống quân cờ. Nếu đứng ở đây phóng tầm mắt ra xa sẽ thấy cảnh chùa, núi, hồ, đảo, cây cối, làng mạc một cách thật ngoạn mục.

Nếu như chùa Tiên là cảnh tiên, cõi Phật thì liền kề với nó về phía tây là hồ Đồng Vụa (tên là Đồng Vua – hồ đẹp nên nhiều Vua Chúa đến vãn cảnh, người dân tên “Huý” của Vua nên gọi lái đi là “Vụa”) – một hình ảnh thiên nhiên như được tô điểm thêm cho nó. Hồ được cấu tạo trong đá phiến và đá vôi rộng trên 20ha, ôm bọc lấy ba mặt của hồ (đông-bắc-tây) là núi Vạn Sơn thuộc hệ thống núi Tam Điệp. Nước trong hồ được dồn về từ các thung lũng núi xung quanh. Nước trong xanh đến lạ lùng, nước hồ sâu đủ để du khách du thuyền vãn cảnh. Giữa hồ nhô lên một ngọn núi nhỏ ttrông như hình một “ông rùa”, một hòn non bộ. Đã nhiều thế kỷ đi qua, với biết bao mùa xuân, hạ, thu, đông hồ vẫn trong xanh như thế và không bao giờ cạn. Sắc núi quanh hồ lú thì xanh, lúc thì tím, lúc thì trắng tuỳ theo sự thay đổi của thời tiết. Đến hồ Đồng Vụa vào lúc ban mai, lúc chiều tà và mành đêm buông xuống hoặc những buổi sương mù bao phủ hay những ngày nắng rực rỡ có những đám mây lãng đãng trên trời và quanh đâu đó những đàn dê gặm cỏ chúng tôi mắt và trái tim của ta không chỉ dừng lại ở đường biên lòng hồ mà tất cả những hình ảnh đó đều gợi cảm như ở trong một thế giới của huyền ảo, lung linh lay động tâm hồn mỗi du khách khi đến thăm nơi này.

Từ hồ Đồng Vụa về phía tây nam, nơi cuối hồ có một lèn đá thấp như một cái đĩa. Chỉ cần vượt qua lèn đá này 200m đường núi là chúng ta đến với phủ thông, phủ nằm trong lòng động Phủ Thông. Động này là một động thiên tạo nằm trên vách núi Thông, sát con đường quốc lộ 10, ở trong khu vực của vườn đào xưa. Động này có vòm cửa rộng khoảng 9-10m và cao khoảng 8-9m. Trong lòng động rộng bằng mấy gian nhà, có vách ngăn cửa đi vào phía trong. Đỉnh động có một cửa thông lên trời, làm cho lòng động sáng và thoáng mát. Nhũ đá trong động có nhiều hình thù kỳ thú. Người dân nơi đây đã xây dựng đền Mộu, nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn từ xưa đến nay. Đó chính là Phủ Thông.

Cụm di tích xã Nga An là những di tích đẹp có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh tiên và cõi Phật với khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ, thơ mộng.

7.3.4 Phủ Trèo Nga An – nơi có dấu chân Người Khổng lồ và Mộ Ông Rùa.

7.3.4.1 Dấu chân Người Khổng lồ

Phủ Trèo nằm ở cạnh đường Trèo – nơi có “dấu chân người khổng lồ” dấu chân in sâu lõm vào đá, có tất cả chục bàn chân in lõm sâu vào đá (giống như người ta đi giẫm bước chân vào bãi cát). Người dân nơi đây kể lại rằng: Người Khổng lồ gánh đá để xếp thành những ngọn núi khi đến vùng đất này gần biển lớn để ngăn những đợt sóng lớn Người Khổng lồ đã xếp thành ba dãy núi liền kề nhau gọi là dãy núi Tam Điệp để ngăn sóng to, gió lớn. Vì phải vội vàng để hoàn thành việc gánh đá, ông Khổng lồ đã gánh hai hòn đá lớn, chân ông dẫm xuống đá, đá “lõm sâu” vì qua nặng nên cái đòn gánh bị gãy, hai hòn đá văng ra cách núi chừng 10m. Hiện nay ở đường Trèo, phủ Trèo vẫn còn hai hòn núi đá to. Một hòn giống cái mũ “quan văn”, một hòn giống cái mũ “quan võ”. Người dân nơi đây thường gọi là núi Văn, núi Võ.

Trên đường trèo có “mộ Ông Rùa” tương truyền rằng: ngày xưa ở hồ Đồng Vụa (chùa Tiên) Rùa tu đã chính quả, từ hồ Đồng Vụa rùa leo lên núi theo đường Trèo. Vì phải leo lên núi cao, sức lại yếu nên Rùa phải ăn lá cây “Sống đời” để tiếp tục leo núi. Đến đỉnh đường Trèo thì tịch ở đó. Người dân đi qua thấy có điều lạ Rùa to lại tịch ngay ở bên đường, bên cạnh có cây “Sống đời”. Thấy điều lạ dân chúng chôn cất Rùa chu đáo và cứ người đi qua, người đi lại mỗi người một hòn đá, người nắp đất, người bẻ cây sống đời đắp lên lâu ngày thành mộ to.

Kỳ lạ sau khi hôm ông Rùa mất tối hôm đó gió to, mưa lớn và sáng hôm sau một cây gỗ thật lớn và nhiều gỗ, cây tre trôi dạt vào chân núi, gần mộ ông Rùa, dân cho là điềm lành liền dựng lên đền thờ, sau đó xâycả Chùa, cả Phủ đến mùa Lễ hội dân thập phương kéo về rất đông để chiêm bái cầu mong cho mọi việc tốt lành.

Đây là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng cấp tỉnh của huyện Nga Sơn. Ngôi đền này được gắn liền với huyền thoại được lưu truyền bao đời nay đó là truyền thuyết về Mai An Tiêm và quả dưa hấu đỏ.

Theo truyền thuyết, Mai An Tiêm là con rể của vua hùng thứ 18 vốn tư chất thông minh, lại chăm chỉ nên vua yêu quý giao cho nhiều trọng trách vị vậy mà An Tiêm ngày càng trở nên giàu có. Nhiều quan lại đem lòng ghen tỵ. Một lần trong bữa tiệc, một tên quan nịnh thần nói: Của cải An Tiêm là do Vua ban mà có. An Tiêm nói: Của cải là do tiền nhân để lại, do bàn tay ta làm nên. Nhân cơ hội này bọn nịnh thần đã tâu lại với vua. Vua nổi cơn giận dữ: Đã thế ta đầy đi đảo hoang để xem có phải do bàn tay nó làm ra không. Nói rồi lệnh cho quân lính đầy An Tiêm ra đảo hoang chỉ cho một ít lương ăn và một thanh kiếm cùn. Nơi đảo hoang bốn bề là biển cả mênh mông, chỉ có núi và đá. Vợ chồng An Tiêm phải mò cua, bắt ốc, tối ngủ hang qua ngày.

Rồi một hôm có đàn chim lạ bay đến, chúng ăn một trái lạ: vỏ đen, ruột đỏ. An Tiêm mừng lắm và nói: Trời không nỡ bỏ ta, trời cứu ta rồi, chim ăn được chắc là người cũng ăn được. Nói rồi An Tiêm đem hạt dưa trồng. Ngày qua tháng lại quả dưa lớn dần An Tiêm bổ dưa cả nhà cùng ăn. Dưa vừa ngọt lại mát lành, ăn vào thấy người khoẻ hẳn. Những năm sau dưa trồng càng nhiều, nhớ về quê cha đất tổ An Tiêm khắc tên mình vào quả dưa rồi thả xuống biển. Những quả dưa có tên An Tiêm trôi vào đất liền, những lái buôn đi qua đảo An Tiêm đã đem theo lương thực và các vật dụng để vào xin đổi dưa An Tiêm. Nhờ vậy mà gia đình An Tiêm ngày càng trở nên sung túc, giàu có trong nhà chẳng thiếu thứ gì.

Lúc bấy giờ vua Hùng ốm đau, nhiều bậc thần y đến chữa, thuốc thang những loại tốt nhất đều được sắc uống nhưng bệnh tình không những không thuyên giảm mà còn nặng thêm. Triều đình bấy giờ vô cùng lo ngại cho long thể của người. Chợt có người đi qua hoàng cung rao bán dưa nói rằng: “Ăn dưa vào bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ, bệnh nặng đến đâu cũng khỏi hết”. Vua vội cho gọi người bán dưa vào. Thần dân dâng cho vua quả dưa có khắc chữ “An Tiêm”. Vua sai cận thầm bổ dưa ra cho vua ăn. Quả nhiên khi ăn một lát dưa vừa ngọt lại vừa mát lạnh, vua thấy trong mình khoẻ mạnh, rồi ngồi dậy. Ăn vài lát nữa thần sắc vua thay đổi hẳn. Vua vui vẻ, tươi cười đứng lên đi lại, lòng khoan khoái. Trầm ngâm dây lát rồi vua nói: Nghe kẻ nịnh thần ta đã đầy An Tiêm ra đảo hoang. An Tiêm không chết mà còn cho ta vị thuốc thần diệu và đem lại cho muôn dân trái ngọt. Nói rồi Vua lệnh cho các quần thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về ban thưởng chức tước, bổng lộc và lệnh đem giống Dưa An Tiêm để trồng trong cả nước.

Ngôi đền Mai An Tiêm nằm dưới chân một ngọn núi, có hình như một quả dưa nên mọi người ở đây gọi là núi quả Dưa. Khung cảnh thiên nhiên ở đây gần như còn nguyên sơ, hoang vắng. Trải qua bao biến thiên của thời gian, sóng biển xô vào vách núi, tạo ra những “Vòm hang động”. Biển đã lùi xa nhưng nơi đây nước vẫn còn bao bọc quanh núi An Tiêm. Một khoảng nước rộng trước cửa đền, bên núi “Quả dưa” dân chúng tổ chức thi bơi thuyền nhỏ, nấu cơm thi. Có nhiều vòm rộng thuyền có thể “chui qua” gầm núi. Bên kia đền leo qua cái eo cao khoảng 50m là bãi Dưa Mai An Tiêm. Bãi Dưa rộng đền gần cả 2ha, một thung lũng được bao bọc bốn bên là núi đá. Đứng trên ngọn núi nhìn xuống một phong cảnh đẹp vô cùng. Xa xa phía đông là biển, những hôm trời trong sáng, nhìn thấy những cánh buồm thấp thoáng. Dưới chân núi phía nam, phía bắc là làng quê trù phú đồng xanh, lúa tốt. Những ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo thấp thoáng xen trong những ngôi nhà dân ngói đỏ tường rêu. Phong cảnh làng quê thật ngọt ngào, thanh bình nên thơ.

Quần thể di tích nữ tướng Lê Thị Hoa và danh tướng Trịnh Minh thuộc thôn Ngũ Kiên xã Nga Thiện, là một di tích lịch sử – văn hoá được xếp hạng câp tỉnh vào ngày 20 tháng 9 năm 1993. Quần thể di tích này thờ bà Lê Thị Hoa – một nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thờ danh tướng Trịnh Minh – thời Trần có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông (1258).

Bà Lê Thị Hoa quê ở thôn Thượng Linh, xã Cảo Linh, huỵên Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Nam Sơn (nay là tỉnh Ninh Bình). Năm 18 tuổi, bà kết hôn cùng Mai Tiến, người cùng huyện văn võ song toàn. Nhưng sau đó, chồng bà bị Tô Định hãm hại bắt giết vào năm Bính Tuất. Bà cùng các con đã đi đến vùng đất Yên Nội (nay thuộc Nga Thiện) để khởi nghiệp trả thù cho chồng và đánh đuổi quân xâm lược. Bà đã có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược, không những thế bà còn là người có công khai phá vùng đất Nga Thiện ngày nay. Tấm lòng trung trinh với dân, với nước của bà Lê Thị Hoa ngay từ thuở ấy, nhân dân Nga Sơn đã lập đền thờ bà ngay tại xã Nga Thiện. Ngày nay, ngôi đền này vẫn còn tồn tại. Tại đền thờ bà Lê Thị Hoa có đôi câu đối bất hủ:

“Thệ báo Tô cừu, thanh Bắc Khấu

Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang”

Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc.

Giữ nghĩa phò Trưng Vương, khôi phục nước.

Tại đền thờ của Bà có một tấm bia lớn ghi về công trạng của Bà.

Ông Lê Thái và vợ họ Dương, khi có mang mơ thấy bắt được con rắn bạch hoa xà năm sắc mà sinh một con gái vào rằm tháng 11 năm Mậu Ngọ ở thôn Thượng Linh Cảo Linh huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (Hà Nam Ninh ngày nay). Ông bà nay đặt tên con là Lê Thị Hoa môi hồng, má phấn. Khi Lê Thị Hoa 18 tuổi có nhà Mai Thông xã Phúc Cốc cùng huyện quen thân ông Lê Thái, đã hỏi Lê Thị Hoa cho con trai mình là Mai Tiến vừa 19 tuổi.

Lấy chồng được hai năm cha mẹ đều mất, Lê Thị Hoa hết lòng hiếu thuận thờ cha mẹ. Lúc này Thái thú Tô Định nghe tiếng tài năng của Mai Tiến, vời về làm quan huyện Gia Lâm, từ chối mãi không được vợ chồng, con cái phải dắt nhau đến Gia Lâm làm quan huyện được 3 năm thi thố ơn huệ với nhân dân. Tô Định thấy Lê Thị Hoa đẹp, bèn giết Mai Tiến để cướp bà làm tỳ thiếp. Lê Thị Hoa ăn ở với chồng được 11 năm sinh được bốn người con trai: Mai Đạt 9 tuổi, Mai Thoả 7 tuổi, Mai An 5 tuổi và Mai Tri 2 tuổi đều khôi ngô, thông minh, tuấn tú. Lê Thị Hoa đưa các con về quê hương, nhiều người lại đến cầu hôn bà. Lê Thị Hoa than rằng “Thôi thà làm quy trinh phụ chứ không làm người phụ bạc”. Lê Thị Hoa bèn bán hết gia tài cứu giúp bà con quanh vùng Phú Cốc, thượng linh được hơn hai ngàn người ra đánh nhau với Tô Định bị thua chạy về thôn Yên Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà.

Khi về Trang Nội, con trai cả vừa 12 tuổi, thực sự đã biết chữ, mẹ con bàn bạc thấy đầu trang Yên Nội khoảng 100 mẫu đất, sầm uất có khu đất cao, rộng một sào, bằng phẳng, dân cư thưa thớt, bèn dựng ngôi nhà tranh và thuê người khai khẩn hơn một năm được mấy chục mẫu ruộng. Lê Thị Hoa bèn gọi những nhà họ Mai cùng lân cận ở Phú Cốc, họ Lê ở Thượng Đình vào ở hương Yên Nội được hơn chục nhà, bà con điaj phương cũng theo bà vào ở, mới vài năm đã lên tới mấy chục gia đình. Lê Thị Hoa vẫn nuôi mối thù không đội trời chung với Tô Định, bà đã nuoi dưỡng bốn người con trưởng thành: Mai Đạt đã 22 tuổi, Mai Thoả 20 tuổi, Mai An 18 tuổi, Mai Trí 15 tuổi các cậu thông minh xuất chúng vượt mọi người. Lúc này mẹ con bà Lê Thị Hoa nghe tin hai Bà Trưng khởi binh ơ của sông Hát Giang, huyện Phú Lạc, phủ Quốc Oai, đạo Hà Tây, đang muốn đi theo thì có tướng của hai Bà Trưng đến dụ bảo. Bà Lê Thị Hoa được cai quản đội nữ, bốn con trai bà Hoa xung làm tả, hữu tiền phong truyền hịch kêu gọi các phủ huyện được hơn 6 vạn người theo, kéo binh thẳng tới đô thành đánh quân Tô Định, Tô Định thua to chạy về nước Bắc. Hai Bà Trưng lên ngôi phong thưởng các quân tướng. Mẹ con bà Lê Thị Hoa không nhận phong thưởng chức tước, chỉ xin được trở về Trang An Nội Nga Sơn tiếp tục khai khẩn đất hoang, được phép miễn thuế và phục dịch. Hai Bà Trưng cho phép hơn bốn chục nhà trang An Nội đều nhường họ Mai làm cả. Đó là thực ấp của của mẹ con bà Lê Thị Hoa. Ngày 25 tháng 8 năm 41, bà Lê Thị Hoa ốm rồi mất. Hai Bà Trưng nghe tin than rằng: “Bà Lê Thị Hoa tính hiền từ lại làm việc thiện, giỏi dạy con nên ban hiệu là Từ Thiện tặng phu nhân”, sai sứ thần về chọn chỗ đất tốt để an táng ở xứ bãi sở, dựng miếu thờ trên nền nhà ở An Nội, nay thuộc Ngũ Kiên xã Nga Thiện, Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.

7.5.2 Đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh

Gần với đền thờ bà Lê Thị Hoa là đền thờ danh tướng Trịnh Minh, một danh tướng thời Trần đã có công lớn trong cuộc kháng chíên chống quân Nguyên lần thứ nhất (năm 1258). Thần phả Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh ghi lại rằng: Đêm ông nội Trịnh Minh nằm ngủ ông bàng hoàng bỗng nghe tiếng ở bên ngoài nói rằng: “Mau dậy mở cửa, mau dậy mở cửa trong kiếm lại được thưởng đoạn nhà Khanh Tướng”. Ông dậy mở cửa không thấy ai. Ông vào nhà thấy thai nương đang đau bụng, sinh được một cậu con trai, mặt mày sáng sủa, khôi ngô, thân thể cao lớn, ông cho đó là phúc trời ban cho vậy. Sớm mai lúc đi ra giếng thấy thanh gươm nổi trên giếng. Ông vớt lấy gươm đem về đặt riêng một chỗ. Từ đó khiến việc nuôi con ngày một cao lớn lạ thường, vẻ mặt hiền hoà, tính bẩm trung hậu, thiên tư đĩnh ngộ, vì thế ông đặt tên là Trung Phụ.

Đến năm 13 tuổi Trung Phụ đi học được mấy năm , văn tài quán triệt, võ nghệ tinh thông, ngàn sử của trăm nhà không có gì là không hiểu. Lúc đó không may bố mẹ cùng mất , ông Trung Phụ một mình làm tang lễ. Mấy năm học đã thành tài, năm 19 tuổi ông dùng tài ra đời đi chu du thiên hạ, các nhân tài thấy đều kính sợ, tôn nhường ông. Rồi ngày qua tháng lại ông đi tơi địa sở trang An Nội huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá thấy dân phong thuần hậu ông xin cư thân ở đó.

Năm ông 23 tuổi, khoảng triều Lí Thái Tông, nhà Vua bèn hạ chiếu tuyển nhân tài, ông đến ứng tuyển. Nhà Vua thấy ông có tài yêu mến lắm và giao phó chức, phong tước. Ông nhận chức tước trở về địa sở ở cũ trang An Nội huyện Nga Sơn hạ lệnh cho bản trang khu đất lập cung dồn sở lấy làm tuần trú ở vậy. Nhân dân ở trong khu đó hết thảy đều xưng thần quy phục và yêu mến ông. Phần những nơi ông đi tuần qua người người phục tùng làm thần tử, trong trấn hạt đều khen là yên ổn nên ông được nhận chức tới quyền kiêm Đô Thống Đại Tướng Quân, đã lâu năm.

Đến cuối triều nhà Lý, thế nước sắp hết ông vì cớ ốm cáo trở về đồn sở khu thượng trang An Nội, ở đó 3 tháng làm lễ mừng, ban thưởng cho nhân dân. Xong việc ông thẳng tiến về quê quán, đi qua nhánh sông Tô không biết sao trời tự nhiên nổi gió mưa lớn, ông đi đến đó thì mất (ngày mùng 6 tháng 3) nhân dân nghe tin mà cảm thương ơn trạch của ông để lại, tự tiến hành lễ điếu viếng ở bản khu cung sở, phụng thờ hương khỏi vậy.

Từ đó về sau nhân dân thường mơ thấy ông trở về cung sở. Nhân dân làm lễ vọng thường linh nghiệm phó thác vào đồng bảo rằng: “Đô tống thần quan, nhân dân tả nghênh đón tế thờ được hưởng phúc thái bình”.

Lại nói về sau: Bỗng đến triều nhà Trần khởi tạo đăng cực thực ấp lên ngôi Hoàng Đế (tức triều thần Thái Tông). Đến năm Thiên Ứng bỗng có giặc Nguyên Minh nổi lớn tích trữ binh lương xâm chiếm đất đai quấy nhiễu dân cư, nhà vua cho là hoạn nạn. Vua thân xuất bản binh đi tuần thiên hạ để chinh phạt giặc. Đánh một trận mưu phân thắng bại. Nhà vua bèn lui quân dồn trú tại một nơi để đặt mưu lập kế. Bỗng từ khi lui quân về qua các nơi đến địa sở khu thượng trang An Nội nhà vua thấy địa sở khu vực này rộng rãi, nhân dân đông bèn trú ở đó. Một đêm nhà Vua mơ thấy một quân nhân mũ áo chỉnh tề đứng trước nhà vua tâu rằng: “Thần là danh tướng triều Lý sắc mệnh Hoàng Thiên trấn trị ở đất linh thiêng này, là phúc thần của dân. Nay nghe Hoàng đế thân chinh muốn dẹp tướng giặc để yên dân”. Tâu xong bỗng biến mất nhà Vua sực tỉnh biết là mơ bèn lệnh cho nhân dân khu ấp làm lễ bái yết rồi triệu tập nhân bản khu hỏi rõ các nhân tài. Nhân dân bèn tâu hết với nhà Vua các con trai nhà họ Trịnh tài tinh thông võ nghệ, sức địch nổi trăm người, hùng cường oai dũng, diện mạo trang nghiêm thế gian hiếm có người như thế ( tức sinh ngày 24 tháng 4 năm Giáp Thìn) tên của ông, tên kiêng huý là Khanh, mẹ là Đỗ Thị Sùng còn ông kiêng tên huý là Minh. Lúc đó ông Minh ra yết kiến trước nhà vua. Nhà vua thấy ông có tài nghệ hơn người, hình giáng xuất chúng bèn thử tài ông, không ai đich nổi ông. Nhà vua bèn ban làm Quyền kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân. Ông Minh nhận chức đó xong bèn cùng các xứ sở cùng các họ nhân dân khu bản, làm gia thần thủ tục, cho gia dựng đồn sở, vì nhà Trần mưu trận lập các cơ ngũ. Ông bái yết nhà vua xin thay nhọc thân mình tiền phong lên trước, chia thành thuỷ, bộ hai đạo cùng tiến đến đồn sở giặc dựng làm 5 đồn gọi là Ngũ Kiên đồn. Trận lập xong giáp chiến một trận, thuỷ bộ đều đánh. Tướng giặc thấy uy lực của ông hết thảy đều khiếp sợ, tranh nhau chạy trốn, tan vỡ chết vô số. Dẹp yên giặc ông bèn lui binh dôn đồn ở đất núi Tam Điệp, dồn binh trú ở đó 3 tháng. Nhà vua nghe tiếng ban cấp ruộng công6 mẫu 7 sào để làm lộc thưởng cho ông. Sau đó ngày 10 tháng 4 ông bỗng nhiên bị ốm rồi mất, nhân dân nghe tin đồn về dáng ở xứ Đường hào bản địa tự tâu với vua. Vua nghe cho đó là công thần có công lao huấn nghiệp với việc mất, ban mệnh Đinh thần đến bản khu (tức nhân danh hiệu khu Ngũ Kiên) làm lễ yết tạ bản đền thờ thiêng, về sau làm lễ tạ vọng điếu ông Minh. Ban thưởng thêm tiền công 100 quan cho nhân dân bản khu, thưởng 100 cân bạc để làm tiền công làm đền thờ, lăng miếu để phụ thờ hương khói, lại phong thưởng 4 vị mỹ tự thượng đẳng phép phúc thần cho phép miễn nhân dân bản khu binh lương các việc tạp dịch trong 5 năm, xếp hạng cùng đất nước lớn lao mãi mãi là hình thức:

– Phong dương cảnh Thành Hoàng dực thánh khuôn quốc, hiền trung cư sỹ, Đô thống thượng đẳng phúc thần Đại Vương.

– Phong bản cảnh Thành Hoàng phụ thắng uỷ trợ kiêm thuỷ bộ Đại tướng quân huý Trịnh Minh thượng đẳng thần đại vương.

– Cho phép khu Ngũ Kiên (hiện cũ thượng khu) xã An Nội huyện Nga Sơn phủ Hà Trung trấn Thanh Hoá là bảo hộ phụng thờ hương hoả đền thờ.

Ngày lành xuân nam đào hồng phúc 1672.

Đông các Đại học sĩ viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn thiếu khanh ngày lành mùa đông năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737). Quản giam bách thần tri điện hùng lĩnh Nguyễn Hiền theo bản chính vâng sao.

Sau khi ông mất, vua Trần đã cho xây dựng đền thờ ông và tặng phong: Thượng đẳng phúc thần.

Tại đền thờ ông còn lưu các câu đối ca ngợi ông:

“Đâm xô năng danh tụ cổ dã dĩ

Thần chi vi đức kỳ thị hĩ hồ”

“Quan chức trấn Thanh Hoa, danh cao thập bát

Tướng tài thiên thuỷ kiêm thuỷ bộ tích Đông A”.

Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh hiện đang được nhân dân làng Ngũ Kiên, Nga Thiện thờ cùng một điểm (khu vực tây làng), trong đền thờ còn giữ được nhiều sắc phong, nhiều đồ thờ rất có giá trị nhân dân làng Ngũ Kiên nay và An Nội trước đây rất tự hào vì ở một làng nhỏ được thờ cả hai vị tướng. Dân làng thường gọi là “đền thờ tướng bà, tướng ông” các ngày rằm, ngày giỗ, ngày lễ hội. Con cháu dòng họ Mai Đức (dòng họ của chồng bà Lê Thị Hoa – ông Mai Tiến) nhân dân các xã Nga Trường, Nga Thiện, Nga Vịnh và nhiều nơi trong huyện, ngoài huyện về thắp hương ghi nhớ công ơn của hai vị tướng. Đền thờ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa và đền thờ Đại tướng, Đại vương Trịnh Minh đã được UBND tỉnh cấp phép xây dựng, tôn tạo để trở thành một điểm đến du lịch tìm hiểu lịch sử, cùng với các di tích danh thắng: Động Từ Thức, Động Bạch Á, Bia Thần, núi Lã vọng,…tạo nên khu du lịch hấ dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Chùa Thung Sơn hay Thung Sơn Tự, nghĩa là chùa trong núi, còn có tên gọi là chùa Thông, còn gọi là chùa Báo Văn; theo tên làng của xã Nga Lĩnh. Chùa được xây dựng từ thời Nguyễn, khởi sáng trụ trì đầu tiên là hòa thượng Thích Vĩnh Phát.

Trong phong trào Cần Vương chống Pháp thế kỷ XIX để bảo vệ căn cứ chống giặc, núi Thông và chùa Thông đã trở thành vọng gác quan trọng của nghĩa quân Ba Đình – Đinh Công Tráng, Phạm Bành.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, núi Thông và chùa Thông là nơi nuôi giấu cán bộ. Trước và trong khi xây dựng căn cứ cách mạng ở làng Thượng, làng Sến (Nga Thắng), Tứ thôn (Nga Vịnh), Nga Thành…Các ông Tố Hữu, Trịnh Ngọc Điệt, Lê Tất Đắc, Hoàng Xung Phong và nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa khác lấy chùa Thông làm nơi trú chân, liên lạc và hoạt động. Chùa Thông được cấp bằng di tích lịch sử – văn hoá và cách mạng cấp tỉnh ngày 30 tháng 12 năm 1999.

Chùa gồm nhà thờ chính, cung thờ mẫu, nhà thờ tổ bốn vị tổ sư đã trụ trì tại ngôi chùa, các công trình phụ, vườn cây ăn quả, giếng nước…Chùa thông không những là nơi thờ Phật, nơi các tín đồ Phật giáo đến tu hành, mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của bà con trong làng, ngoài xã và trong vùng từ nhiều đời nay. Hiện chùa còn giữ được các bức đại tự, chuông đồng và các pho tượng cổ như tượng Hộ Pháp, tượng Đức Ông, tượng Bà và nhiều pho tượng Phật cùng với các bức chạm khắc có giá trị cao và được bảo quản khá tốt. Chùa Thông còn thờ vua Hùng, lễ hội vào mùng 10 tháng 3 Âm lịch (ngày giỗ tổ Hùng Vương). Ngoài ra còn các ngày lễ mùng 8 tháng Chạp (ngày đức Phật Thích Ca thành đạo), ngày Nguyên tiêu, rằm tháng Giêng, lễ Thượng nguyên, ngày 15 tháng 4 (ngày Phật đản), ngày 15 tháng 7 Âm lịch (ngày Vu Lan báo hiếu), lễ cuối năm…

Chùa Thông nằm trong khung cảnh thiên nhiên đẹp, gần gũi, gần sông, gần đường quốc lộ, tỉnh lộ. Ngoài nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân ngôi chùa còn có giá trị lịch sử và văn hoá.

Kim Quy cổ tự (tức là chùa Kim Quy) hay còn gọi là chùa Yên Hạnh, thuộc làng Yên Hạnh, nay thuộc Thị Trấn Nga Sơn là ngôi chùa thờ Phật, có công trình kiến trúc độc đáo và danh lam thắng cảnh từ bao đời.

Truyền thuyết kể lại rằng: Vùng đất của chùa Kim Quy bây giờ xưa kia là biển cả, ở đây có một con rùa vàng thường xuyên xuất hiện dẫn người dân đi đánh cá, cứu vớt người dân bị nạn khi gặp bão giông, giúp các nhà Vua vào nam ra bắc đánh giặc. Những việc làm đạo nghĩa của Rùa Vàng đã được nhân dân trong vùng biết đến và được tôn là thần Kim Quy. Nghĩa cử cao đẹp của Rùa vàng cũng đã thấu tới Phật Bà Quan Âm, một lần Phật Bà vi hành hạ giới để thử thách Rùa vàng lần cuối trước khi quy nạp về nơi Phật Tổ. Phật bà hoá thành chim Hồng hạc gãy cánh rơi xuống biển, thấy Hồng Hạc bị nạn, rùa vàng dìu chim Hồng hạc bị nạn trả về đàn. Nơi Hồng hạc đậu được nhân dân trong vùng gọi là Thiên Nga Lộ (bây giờ là làng Nga Lộ). Còn nhân dân các làng An Hạnh, An Trang, An Ninh, An Khoái, An Khang, An Lộc, An Đậu lân cận được Phật bà Quan Âm ứng hiện làm chùa thờ Phật, tên gọi là chùa Kim Quy ngay trên cồn cát có hình rùa vàng đang bơi ra biển.

Trước cách mạng tháng 8, chùa Kim Quy không chỉ là nơi thờ Phật, mà còn là nơi liên lạc bí mật của quân tự vệ cứu quốc. Sau cách mạng tháng 8 chùa vẫn là cơ sở cách mạng và là nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ Việt Minh. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa vẫn duy trì nhưng không mở lễ hội nhiều để tránh oanh tạc của pháo và máy bay giặc.

Từ ngày non sông thu về một mối, đất nước thống nhất, nhân dân địa phương trong vùng có điều kiện tôn tạo ngôi chùa để giữ gìn nét đẹp truyền thống, văn hoá tâm linh. Tháng 6 năm 1996 UBND tỉnh có quyết định tu bổ và tôn tạo chùa Kim Quy theo yêu cầu của nhân dân địa phương. Ngày 10 tháng 12 năm 1997 chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hoá. Năm 2009 chùa được xây dựng lại khá kiên cố, vững chắc, có cả nhà Mẫu, nhà Tổ tạo thành quần thể bề thế. Chùa toạ lạc ở trung tâm huyện nên ngày rằm, mùng một và dịp lễ hội du khách kéo về rất đông để cầu nguyện mong mọi việc tốt lành.

Cách động Từ Thức khoảng 1km về phía trái có một động khác, còn được ít du khách biết đến gọi là động Mắt Voi. Động này khá rộng, chứa được cả ngàn người, nằm cách chân núi khoảng 70m. Trước cửa động hiện có một ngôi chùa cổ, có tên là “Bạch Tượng tự” (đền Voi Trắng). Cửa chùa có một cây đại hàng mấy trăm tuổi, nằm bò ra phía trước, uốn lượn như một con rồng chầu. Trong chùa còn có một số đồ thờ rất cổ như: Mũ, kiếm, giầy của vua, cặp đèn đồng khổng lồ, con dấu bằng đồng có khắc năm chữ “Linh lang Đại Hành hoàng đế”. Đây là ngôi chùa cổ rất linh thiêng, gần đây mới phát hiện ra một cái động khá rộng, đẹp nằm ở ngay sau chùa. Dân khắp nơi kéo đến về thăm động rất đông. Động đang được bảo vệ để đưa vào khai thác đón du khách. Đây cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của Nga Sơn.

Ngôi chùa này nằm ở thôn Chính Đại xã Nga Điền. Toàn khu chùa có ba toà nhỏ nằm ngang nhau. Chùa nằm bên sông Chính Đại, bên hông chùa có bia Thần Phù để người qua đường có thể thắp hương cầu may.

Những di tích lịch sử – văn hoá ở huyện Nga Sơn không chỉ cho chúng ta thấy được lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn kết hợp với cảnh thiên nhiên đẹp, nguyên sơ càng làm tăng sức hấp dẫn với du khách và có giá trị phát triển du lịch rất lớn.

Trong đền có tượng đá Đại Vương được sơn vôi lại chất sơn đặc biệt, theo các nhà sử học đây là pho tượng đá quý hiếm hiện còn ở Thanh Hoá.

Đền Xuân Đài thuộc xã Nga Thuỷ (tên Xuân Đài là tên làng cổ xưa). Người dân kể rằng: Cách đây khoảng 600 năm, nơi đây là vùng bãi bồi, nhân dân theo các con lạch ra biển bắt tôm cá. Một hôm từ sáng sớm nhân dân đi biển thấy một khối đá lớn trôi dạt trên một mảng bè , dân làng thấy lạ, lấy nước rửa sạch xem thì thấy có chữ: “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”. Thấy vậy bà con dân làng coi đó là điều thiêng bèn rước về để thờ sau này được các thợ đặc tài khắc tác thành tượng Người. Đền Xuân Đài thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, đền rất linh thiêng, du khách thập phương tới thăm quan và thắp hương cầu nguyện rất đông.

Nghè Hậu thuộc xã Nga Bạch. Nghè được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, Nghè Hậu thờ vị Thánh Nương và ” Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Nghè Hậu được xây dựng ngay gần cửa biển Lạch Sung. Nghè Hậu đang còn giữ được vẻ cổ kính. Cổng nghè là hai cột trụ biển bằng đá, to cao, nhưng được chạm khắc hoa văn khá tinh xảo. Hai trụ bên có bốn câu đối với nội dung:nói về nơi thờ tự tứ vị Thánh Nương và năm tháng làm trụ biển, trong đền còn nhiều đồ thờ cúng cổ rất có giá trị , nhiều sắc phong của các đời vua chúa.

Nghe Hậu thờ: tứ vị Thánh Nương và “Nguyệt Nga Hoàng phi thần”.

Thần là Hoàng hậu Triều Nam Tống. Khi vua Đoan Tông nhà Tống bị giặc nguyên bức bách phải nhảy xuống sông tự vẫn. Thần cùng với 3 công chúa cũng phải nhảy xuống sông tự vẫn. Xác của 3 người trôi dạt đến Diễn Châu ( Nghệ An) chỗ cửa biển Cần Hải. Nhân vớt xác đem chôn có nhiều hiểu ứng linh dị lớn, nhân dân lập đền thờ rất linh ứng. Các triều vua Lê đem quân đi đánh giặc đều được tán trợ cho thnàh công. Vua Lê phong tặng thần là” Nam Hải” ,”Phúc Thần” các triều đại sau này đều có phong tặng.

Nhiều nơi ở các cửa biển, các cửa Lạch đều lập đền thờ Hoàng hậu và 3 công chúa để cầu mong đi ra khơi sóng yên, biển lặng, tôm cá đầy thuyền.

Thần họ Hoả tên Nguyệt Nga ở xã Bạch Câu(Nga Bạch), thời vua Nhân Tông nhà Lê(1443- 1459) có giặc Chiê Thành vào quấy phá. Vua thân chinh đi đánh, khi qua châu thị huyện Nga Sơn trông thấy vua bằng lòng và lấy làm vợ. Thần bèn hiến kế là cho lập quấn bên đường cho giặc thấy vào quán ăn mà không đề phòng rồi thừa cơ dánh úp. Hôm đó trời nắng to, nhà vua tiến đánh rồi lại lui binh, cho đến trưa rồi vờ thua bỏ chạy. Quân giặc đuổi theo, không thấy quân lính nhà vua, thấy hai bên đương núi nhiều lều quán ăn, trời nóng, bụng đói, trưa lại đến nên quân giặc lao vao quán, ăn uống lo say thừa cơ quân nhà vua tiến vào đánh úp. Quân giặc bị trúng kế, vua bắt sống được vua Chiêm Thành đem về triều và phong cho thần là Hoàng Phi.

Sau thần về thăm quê, đi đến cửa Bạch Câu gặp gió to sóng lớn thì thuyền bị chìmvà hoá. Hay tin vua vô cùng thương tiếc và ban cho dân ở đây tiền và ruộng để lập đền thờ.(Đền thờ Hoàng Phi ở làng TrungĐức xã Nga Trung, nhưng do chiến tranh đền không còn, dòng họ Hoả, nhân dân xã Nga Bạch đã rước vong bà về thờ ở Nghè Hậu. Nơi bà sinh ra ở đó).

8. Những lễ hội truyền thống.

Mùa lễ hội từ đầu tháng Giêng đến tháng tư (âm lịch), Nga Sơn có rất nhiều lễ hội thu hút cả hàng nghìn khách đến thăm quan, dự lễ hội như: Lễ hội chùa Tiên, Mai An Tiêm, Từ Thức, lễ hội Ba Đình và hàng trăm hội làng diễn ra liên tục, hấp dẫn. Trong số đó có một số lễ hội tiêu biểu như:

Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Nga Phú. Đây là lễ hội dân gian gắn liền với truyền thuyết “Quả dưa đỏ” phổ biến rộng rãi trên đất nước ta. Lễ hội Mai An Tiêm ca ngợi thành quả lao động và mang đậm ý nghĩa phồn thực của người dân vào thời kỳ khai hoang lập ấp.

Cũng như các lễ hội khác, lễ hội Mai An Tiêm cũng được tiến hành theo hai phần là phần lễ và phần hội.

Phần lễ bao gồm các công việc:

1. Lễ rước sắc phong đức Thánh Mai An Tiêm từ làng văn hoá Văn Đức đến đền thờ Mai An Tiêm. Lễ rước được tổ chức với quy mô trọng thể và hoành tráng. Thứ tự các đoàn rước gồm:

Dẫn đầu là đội rồng lân (1 rồng, 2 sư tử, 2 kỳ lân)

1.1 Đội cờ dẫn gồm:

– 1 lá cờ tiết.

– 5 cờ ngũ hành: trắng, xanh, đen, vàng, đỏ.

– 4 cờ tứ linh: long, ly, quy, phượng.

– 8 cờ bát quái.

1.2 Ban chinh cổ

– 1 trống cái to đặt trên xe

– 1 chiêng đồng.

1.3 Đội Bát biểu chấp kích:

– 16 người vác bát biểu.

– 16 người vác chấp kích.

– 1 người vác biển gỗ có chữ Thượng đẳng và lịch triều.

1.4 Kiệu hương án.Trên kiệu có:

– Một quả dưa hấu to.

– Hộp sắc phong có hai lộng đi hai bên để che kiệu.

1.5 Phường đồng văn.

– 1 trống cái.

– 8 trống ban.

– 8 trống bản, hai não bạt.

1.6 Phường bát âm.

– 2 đàn nguyệt, 2 sáo, 1 nhị, 1 mõ, 1 sanh tiền, 1 tiu cảnh.

1.7 Kiệu bát cống.Trên kiệu đặt:

– 1 khám thờ có bài vị Mai An Tiêm.

– 2 mâm ngũ quả, có hai lộng đi hai bên che kiệu.

1.8 Kiệu long đình. Trên kiệu đặt: Mũ, áo, hài của thần Mai An Tiêm có hai lộng che hai bên kiệu.

1.9 Kiệu võng

(Kiệu rước Công chúa).

1.10 Đoàn rước rễ (đi hàng đôi)

– Quan viên bô lão.

– Các bản hội của các xã trong toàn huyện gần 3000 người. Ăn mặc trong trang phục lễ hội.

– Đoàn khách (tỉnh, huyện, xã)

– Dân làng văn hoá Văn Đức.

– Dân quanh vùng và khách thập phương

2. Nội dung tế lễ

2.1 Đội tế gồm có:

– 2 đông xướng và tây xướng.

– Gần 3000 người trong các bản hội chấp sự.

3.2 Nội dung cuộc tế.

– Tích cổ tam thống (đánh 3 hồi trống).

– Hai vị đông xướng, tây xướng trong nghi trang tế lễ ra đứng ở vị trí có bày hương án hô to: “Khởi chinh cổ” (nổi chiêng trống).

– Hai người chấp sự đi đến bên giá chiêng, giá trống một người đánh 3 hồi chiêng, một người đánh 3 hồi trống, rồi mỗi người đánh thêm 3 tiếng nữa sau đó vào vái 1 vái rồi lui ra.

– Nhạc sanh tượng vị (ban nhạc về chỗ ngồi).

– Nhạc tác (khởi nhạc).

– Sau đó đánh 3 hồi trống.

3.3 Chúc văn: Ca ngợi công đức Mai An Tiêm.

Kính cáo Anh Linh

Thánh thuỷ tổ khảo

Lạc hầu hàng duệ vương triều

Dực bảo trung hưng linh phù chi thần

Gia phong đoan túc tôn thàn

Mai công huý vển, tự An Tiêm.

Huý nhật: Tam nguyệt, thập nhị nhật

Vĩnh thế chân linh thần chú

Kính các anh linh thượng hạ, tả hữu thờ theo thánh tổ

Mừng hôm nay;

Trống đồng vang dậy núi sông

Trời đất Nga Sơn ngút ngàn linh khí

Rộn rã trống chiêng

Tưng bừng cờ đỏ

Dâng hương ân bái ân đức tiên nhân

Châm nến phụng thờ công lao thánh tổ

Nhớ ngày xưa…

Nước có nguồn, cây có gốc.

Uống nước trong nhớ nguồn chảy từ đâu?

Ăn quả ngọt biết công ai khó nhọc?

Đó chính là truyền thống nhân văn.

Đó cũng chính là tự hào dân tộc.

Nhớ ngài xưa.

Dòng giõ các vua Hùng.

Tư chất thông minh ngay từ thưở nhỏ.

Tin sức mình nuôi chí tự cường.

Chống quân tham, ghét quân bợ đợ.

Câu nói xưa còn vang:

“Của biếu là của lo”

Lời tâu nay còn nhớ:

“Của cho là của nợ”

Phật ý vua cha.

Lệnh đầy biệt xứ

Đây đảo hoang nước biển mênh mông.

Kìa rừng rậm hãi hùng tiếng hổ.

Tất cả trông vào: ba tháng lương ăn.

Một thanh gươm cùn, một hòn đá lửa.

Tin đôi tay ắt sẽ vượt qua.

Sẵn ý chí đâu nào có sợ.

Lượm trái cây lót dạ qua ngày,

Bẫy thú rừng lần hồi qua bữa.

Bỗng một hôm, thấy lũ chim trời,

Đang tranh ăn một loài quả lạ,

Vỏ xanh thẫm,

Ruột đỏ tươi.

Đuổi chim đi, lấy hạt gieo trồng.

Kỳ trái chín ăn vào mát rượi.

Ngày ngày sức lực tăng cường.

Tháng, năm khó khăn đã vợi.

Khắc tên vào quả,

Thả xuống biển khơi.

Tấp nập thuyền buồn ghé vào mua, đổi.

Qủa ngon, trái ngọt,

Dâng tiến vua Hùng.

Thấu hiểu ngọn ngành vua cha liền vội,

Cho thuyền vượt cửa Thần Phù.

Nhắm hướng đảo hoang thẳng tới.

Đón An Tiêm về đất Phong Châu.

Quân xiểm nịnh thảy đều chịu tội.

Vua truyền: Dưa đỏ trồng khắp nơi nơi.

Nức tiếng ngọt, ngon ngàn đời ca ngợi…

4:+Khai mạc lễ hội.

+ Dâng hương tưởng niệm

+ Đánh trống khai hội

+ Múa rồng, lân

+ Biểu diễn nghệ thuật của các đoàn nghệ thuật trong tỉnh gồm: 200 diễn viên chuyên nghiệp, 500 diễn viên quần chúng, tái hiện lại cảnh: cảnh An Tiêm bị đi đầy- cảnh vợ chồng An Tiêm ngoài đảo hoang- cảnh nhà vua cho cận thần ra đảo đón vợ chồng An Tiêm về triều đình. Nhà vua ban tước , lộc cho vợ chồng An Tiêm và lệnh cho dân cả nước trồng dưa hấu An Tiêm.

Phần hội:Tổ chức ngày 12-13 tháng 3(âmlịch)

Tổ chức Hội tại các làng văn hoá tiêu biểu toàn huyện: Thi các tiết mục văn nghệ, múa rồng , múa lân. Tổ chức các trò chơi đân gian: thi kéo co, đua thuyền, hái dưa, phóng lao, nấu cơm thi…

Mức độ ảnh hưởng của lễ hội lan rộng khắp huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung và một số huyện ở các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Nam Định…

Lễ hội Bơi Chải truyền thống này diễn ra ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch. Lễ hội truyền thống này ra đời sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938), nhằm vận động con cháu ra tòng quân cứu nước. Lễ hội đã trở thành một ngày hội vui khoẻ của dân làng nơi này. Lễ hội Bơi Chải là hình thức cầu ngư, cầu cho năm mới mưa thuận gió hoà, ngư dân ra khơi tôm cá đầy ghe. Lễ hội còn thể hiện tinh thần thượng võ, nối tiếp giá trị truyền thống của ông cha.

Trước năm 1975 lễ hội này vẫn được tổ chức đều đặn ở thôn Bạch Hải, nhưng khi đất nước thống nhất vì nhiều lí do khác nhau nên lễ hội không được tổ chức nữa. Vừa qua lãnh đạo và UBND xã Nga Bạch và phòng VHTT huyện Nga Sơn đã gửi đơn Sở VH-TT-DL tỉnh xin khôi phục lễ hội này và được đồng ý. Trong dịp tết nguyên đán 2010-2011, vào ngày 3và 4 tết lễ hội bơi chải truyền thống ở thôn Bạch Hải xã Nga Bạch đã được tổ chức lại. Lễ hội thu hút được rất nhiều người tham gia.

9. Một số chợ tiêu biểu ở Nga Sơn

Nga Sơn không chỉ có nhiều lễ hội đặc sắc mà còn có nhiều những sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tiêu biểu là: Chợ chiếu Hói Đào, chợ Hôm sung xã Nga Bạch, chợ Hoàng xã Nga Văn,…

Trước đây Nga Sơn còn có cả chợ Hôm Giún tại thôn Bái Nại xã Nga Hải. Nhưng chương trình lấn biển vào những năm 1980-1990 đã làm cho biển rời xa , con sông Hưng Long trước đây thông từ cửa biển tới chợ Hôm Giún đã bị chặn bởi cống Mộng Giường. Hết sông, hết biển, hết cả làng chài Bái Nại, chợ cũng không còn nữa.

Hiện nay chỉ còn có chợ Hôm Sung ở xã Nga Bạch, là chợ mang đậm văn hoá ở vùng biển Nga Sơn. Chợ vẫn giữ được vẻ sầm uất xưa. Chợ Hôm Sung chỉ họp vào buổi chiều khi tan việc đồng áng cũng là lúc thuyền chài cập bến. Lúc đó, phụ nữ thì tất tưởi gồng gánh cua bể, tôm, cá, mực…còn các bác thuyền chài với những gọng xiếc và chiếc giỏ khổng lồ lớn cũng hối hả rảo bước cho kịp chợ Hôm. Việc mua bán các sản vật địa phương như cá, tôm, gạo, ngô, khoai…chỉ diễn ra chóng vánh trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Chạng vạng tối chợ đã không một bóng người

Chợ chiếu Hói Đào thuộc xã Nga Thanh giáp danh với làng Ngọc Liên xã Nga Liên, nơi đây có nhiều gia đình với các gian hàng chiếu cói đủ các chủng loại màu sắc rực rỡ. Chợ chiếu được họp từ 7 giờ sáng đến khoảng gần 10 giờ là tan. Tấp nập đông vui nhất là khoảng 8 đến 9 giờ. Các sản phẩm của quê chiếu: Chiếu cải, chiếu đậu, chiếu in hoa đủ các kích cỡ. Các loại thảm trải sàn, làn đựng đồ, túi sách, lẵng hoa…và thật dễ thương là chiếc mũ cói ngộ nghĩnh vẫn còn thơm mùi cói khi đội lên đầu. Sản phẩm ở muôn nơi đem đến, rồi các sảp phẩm này từ chợ chiếu lại toả đi muôn nơi đến các thị trường, trong tỉnh trong nước và cả nước bạn. Người bán kẻ mua tấp nập, các phương tiện đem chiếu đến chợ bán, rồi các phương tiện đem chiếu đi ngược xuôi tấp nập. Chợ chiếu chỉ họp tron buổi sáng nhưng ngày nào cũng đều đặn, mưa gió rét buốt chợ vẫn họp bình thường. Sau khi chợ chiếu tan bấy giờ các bà nội trợ quê chiếu tranh thủ ghé sang chợ thực phẩm cạnh đó để mua thức ăn bồi dưỡng cho gia đình sau một ngày lao động vất vả. Các ông chồng cũng tranh thủ tự thưởng cho mình một tô phở nóng, vài cốc bia hơi.

Sau một ngày đi thăm quan các điểm du lịch, du khách có thể tham gia vào những phiên họp chợ tấp nập cùng những người dân vùng biển Nga Sơn để hiểu thêm về văn hoá và con người nơi đây.

10. Nghề chiếu cói truyền thống

Nga Sơn không chỉ có động Từ Thức, núi Mai An Tiêm, di tích lịch sử Ba Đình… Nga Sơn có nhiều làng nghề truyền thống như nghề chiếu cói, nghề mộc, mỹ nghệ, mây tre đan xuất khẩu… Trong đó tiêu biểu là nghề chiếu cói – một làng nghề truyền thống đã nổi tiếng từ rất lâu, nói đến Nga Sơn là chúng ta nhớ tới chiếu cói với câu ca dao nổi tiếng:

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông

Huyện Nga Sơn được trời phú cho dòng phù sa từ sông Đáy, sông Hồng, sông Hoạt bồi đắp mà thành ruộng, thành làng. Tại những vùng đất phù sa mới bồi bị nhiễm mặn rất phù hợp với cây cói, được sử dụng rộng rãi để lợp nhà, dệt chiếu và làm các vật dụng khác. Cây cói, cây đay đã có từ xa xưa, đến nay cũng chưa ai biết cụ thể, chỉ được nghe các cụ kể lại sự tích cây cói, cây đay:

Chuyện xưa kể rằng: Có cô con gái nhà nghèo nhưng xinh đẹp nết na, da trắng như tuyết. Nàng lại có mái tóc dài, đen óng ả. Nàng đem lòng yêu mến chàng trai làng chân quê vùng biển khoẻ mạnh, giỏi nghề chài lưới. Những đêm trăng sao họ hẹn hò nhau ra cửa Lạch, cùng chờ trăng lên, ngắm biển cầu mong cho duyên số viên thành. Ánh trăng sáng như dát ngọc xuống biển, khuôn mặt của nàng đang độ tuổi trăng tròn đã xinh càng thêm đẹp rực rỡ. Tóc nàng vờn bay ve vuốt tấm lưng vạm vỡ của chàng, hương bồ kết thoang thoảng thơm càng làm cho đôi tình nhân thêm nồng thắm. Họ yêu nhau ngọt ngào, đẫm đượm hương phù sa của biển.

Trước ngày về làm dâu nhà người, nàng hẹn chàng trai đến cửa Lạch. Đêm đó trăng mờ nhạt, những đám mây vần vũ, bỗng trôi nổi cơn giông. Nàng chờ mãi, chờ mãi mà chẳng thấy chàng đến. Những giọt lệ của nàng rơi xuống, càng xót thương cho duyên số chẳng thành. Nàng quay đầu nhìn về làng, những tưởng sẽ nhìn thấy bóng chàng đang tới nhưng vô vọng. Nàng nói thầm trong sự tuyệt vọng: Em xin chàng hãy tha lỗi cho em, hẹn chàng ở kiếp sau. Nói đoạn, nàng cầm con dao cắt mái tóc của mình thả vào trong gió, trong đêm.

Những sợi tóc của nàng theo gió bay khắp cả vùng rồi nàng gieo mình xuống biển.

Chàng trai chạy vội vã đến gặp nàng, nhưng chẳng thấy người yêu của mình chỉ có mùi thoang thoảng hương bồ kết và những sợi tóc dài còn vương lại. Chàng vô cùng đau khổ đã giận bản thân mình không bảo vệ được nàng. Chàng biết, để giữ lời thề ước thuỷ chung, nàng đã gieo mình xuống biển. Mắt chàng đăm đắm nhìn ra biển cả mênh mông, vô vọng, thương nhớ, rồi chàng cũng gieo mình xuống biển. Biển cả mênh mông đã ôm trọn đôi tình nhân vào lòng.

Tình yêu thuỷ chung của đôi trai gái đã làm động lòng các vị thần linh. Thần linh đã cho người con gái hoá thành cây Cói còn người con trai hoá thành cây Đay. Sáng hôm sau, thật kỳ lạ cả một vùng rộng lớn những cây Cói xanh mướt, dài óng ả, mọc lên, bên cạnh lại có những cây Đay cứng cáp xanh rờn. Người dân cho đó là điều lành, bèn cắt cây Cói, nhổ cây Đay về, rồi dùng sợi Đay, sợi Cói dệt thành chiếu. Họ mong muốn cho cây Cói, cây Đay mãi mãi gắn bó với nhau. Để nhớ về một mối tình chung thuỷ, son sắc. Sau này ở Nga Sơn và lan rộng ra cả nước có tục lệ “trải chiếu cho cô dâu, chú rể trước đêm động phòng để mong cho sự thuỷ chung hạnh phúc và sinh con đàn cháu đống”.

Nghề chiếu cói Nga Sơn có hầu hết ở các xã trong huyện, nhưng tập trung ở 8 xã ven biển là Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ, Nga Tiến, Nga Tấn. Trong đó các xã Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ được coi là nghề dệt chiếu toàn tòng. Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng mượt. Điều đặc biệt ít có nơi nào trồng được cói dài như nơi này, loại cói chuyên dùng để dệt nên những tấm chiếu vừa đẹp lại vừa bền.

Theo lời các cụ xưa kể rằng chiếu cói Nga Sơn cùng với chiếu Kim Sơn (Ninh Bình) là một trong những vật cống tiến triều đình, được các bậc vua chúa, quý tộc ưa dùng. Trải qua hơn 150 năm tồn tại với không biết bao là thăng trầm, chiếu cói Nga Sơn đã làm nên thương hiệu cho địa phương, góp phần tạo việc làm, đem lại thu nhập cao cho người dân.

Có nhiều loại chiếu khác nhau như: chiếu đậu, chiếu hoa, chiếu kẻ hình, …Mỗi loại chiếu có những ưu điểm riêng. Trong đó chiếu đậu là loại chiếu đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và giá cũng đắt nhất. Chiếu đậu còn gọi là chiếu trơn, mắt tròn, sợi ken phưng phức, nặng, đổ nước không thấm qua. Chiếu có tốt, có đẹp, có thực là chiếu Nga Sơn phải nhìn vào biên chiếu. Chiếu Nga Sơn là món quà quý và nặng tay, nhưng nặng hơn cả là tình của đất, của người làm nên nó.

Hiện nay, người dân Nga Sơn không chỉ đơn thuần dệt chiếu cói mà còn làm ra nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ với những hoạ tiết hoa văn đẹp như làn, mũ dép, hộp, tấm thảm, đồ dùng trang trí khác…bằng cói rất được ưa chuộng.

Mọi người biết đến Nga Sơn với những đặc sản nổi tiếng chỉ có riêng ở vùng đất này đó là: gỏi cá nhệch, rượu Chính Đại, dê núi ủ trấu…đó không chỉ là những món ăn ngon mà mang cá những nét văn hoá của người dân Nga Sơn.

Cá nhệch là loại cá chỉ có ở vùng biển nước lợ, thường to bằng cỡ ngón chân cái, hình dáng gống con lươn đồng,nhưng dài hơn phần đầu có cái mang phòng to hơn. ở các vùng đầm lầy ngập mặn như Nga Sơn, Kim Sơn – Ninh Bình, Giao Chỉ – Nam Định thường rất sẵn, nhưng chỉ có ở Nga Sơn mới có cách chế biến đặc biệt hơn cả thành đặc sản ” gỏi cá nhệch” và đã trở thành món” đặc sản”của nhiều du khách trong,ngoài tỉnh và cả du khách nước ngoài ưa thích. Người ta nói: đến Nga Sơn ngoài việc thăm thú” Sơn thuỷ hữu tình”nếu chưa thưởng thức” Gỏi cá nhệch” thì coi như chưa đến Nga Sơn.( nhiều người ở nơi xa, chuyện vui là chưa đến Nga Sơn, nhưng biết Nga Sơn qua chuyện Động Từ Thức, Mai An Tiêm, Chiếu Nga Sơn và đặc biệt “Đặc sản gỏi cá nhệch”).

Gỏi cá Nhệch được làm qua rất nhiều công đoạn: Cá sống được bắt về bỏ trong chậu, cho một ít nước vôi trong vào để cá nhả hết nhớt rồi vớt ra rửa sạch. Mổ bỏ nội tạng, lột da và lọc riêng phần nạc rồi đem thái thành từng miếng nhỏ cỡ to hơn sợi mỳ tôm. Cá sau khi thái được ngâm chừng 5 phút trong nước dừa tươi có pha một chút muối, rồi vớt ra vắt thật khô, cho vào một chiếc bát tô sứ to rồi vắt vào đó nước riềng để thấm cá, trộn đều cho đến khi cá ngấm nước riềng chuyển sang màu vàng ngà thì lại vắt cho thật khô rồi bầy lên đĩa xong trộn với thính. Thính để trộn gỏi cũng phải được chế biến rất cẩn thận, hai phần gạo trộn với một phần ngô, ngâm chừng 15 phút rồi vớt ra đem rang nhỏ lửa cho chín vàng, đem xay mịn là được. Nước ăn gỏi thì chẻo là quan trọng nhất nó là chất kết dính của gỏi và các loại gia vị. “Chẻo” được chế biên rất công phu, bao gồm da và xương cá rán giòn, xay nhuyễn, thịt nạc rán giòn xay nhuyễn mẻ ngấu lọc kỹ cùng với hành tỏi, mắm muối, mì chính…được chế biến thành cùng một loại nước đặc biệt với rất nhiều hương vị. Rau sống ăn gỏi gồm: lá Sung, lá Vọng cách, lá Lộc vừng, lá húng…và không thể thiếu đĩa ớt, riềng thái nhỏ để ăn kèm.

Lấy một chiếc lá sung to quấn lại thành hình chiếc phễu, cho gỏi cá cùng các loại rau thơm, gia vị vào trong, cuối cùng là một thìa chẻo đặc sánh rồi gói lại…chén rượu nỏ đưa cay, vài miếng bánh đa vừng, ngồi trên thuyền mà lòng man mát, ngất ngây niềm vui cùng bạn bè tâm đắc, thực khách cứ vừa nhân nhi, vừa vui chuyện về vùng đất Nga Sơn cho đến tàn canh lúc nào không biết

Sau khi thăm quan, leo núi thấm mệt du khách thưởng thức món gỏi cá Nhệch với rượu Chính Đại thì sẽ thấy rất ngon miệng và sức khoẻ dường như được phục hồi. Vì cá Nhệch là loại cá rất khoẻ, bởi thế người ta tin rằng ăn cá Nhệch là một món ăn bổ, có tác dụng tăng gân cốt, khí huyết và sức khoẻ của con người.

Ở Thanh Hoá, các loại rượu ngon nổi tiếng như nếp Cẩm Cẩm Thuỷ, rượu Nếp cái hoa vàng, rượu Tăng làng Quảng, rượu Cần Bá Thước…nhưng có lẽ làm say lòng khách du lịch nhất chính là rượu nếp Nga Sơn. Kinh nghiệm dân gian cho thấy rằng để có được mẻ rượu ngon phải hội tụ đủ các yếu tố đó là: “thiên thời – địa lợi – nhân hoà”. Thì đây, Nga Sơn vốn sẵn có nguồn nước đã từng tạo ra giống dưa Mai An Tiêm ngon, mát, giống nếp cái hoa vàng ngát hương, cộng với loại men bí truyền và kinh nghệm ngàn đời của người nông dân cần cù chịu khó và các yếu tố hài hoà kết hợp với nhau để tạo ra một sản phẩm đặc biệt là rượu nếp Nga Sơn.

Gạo nếp được nấu gọi là nếp lật, tức là gạo nếp chỉ được xay bỏ lớp vỏ trấu, hạt gạo đang còn nguyên lớp vỏ lụa bao phủ bên ngoài. Cơm rượu được đồ chín tới rồi tãi ra nong cho nguội, trộn với men và ủ kỹ trong chum sành, độ vài ba ngày khi chum rượu toả mùi thơm quyến rũ là được. Quy trình chưng cất rượu cũng bằng phương pháp thủ công truyền thống, nồi nấu rượu bằng kim loại nhưng bình ngưng (nơi hơi rượu ngưng lại thành dòng rồi chảy vào chai) lại được làm bằng gỗ mít và lò rượu nhất thiết chỉ được đun bằng củi, như vậy là để cho rượu được đằm không bị sốc và quan trọng là không bao giờ bị khê rượu. Phương pháp truyền thống này cho năng xuất không cao nhưng bù lại cho chất lượng rượu không thể chê vào đâu dược.

Nhấm một chút rượu đã có cảm giác thơm đầu lưỡi của mùi nếp mới, cay cay của men say nơi cuống họng, còn khi chép miệng một cái thì cái cay đã hoá thành cái ấm nóng dần lan toả tới mọi huyết mạch cơ thể…và đó chính là cái duyên của rượu nếp Nga Sơn.

Thịt dê vốn là một loài thực phẩm bổ dưỡng được nhiều người ưa thích, với những người sành điệu thì tiết canh dê hay các món ăn chế biến từ thịt dê thực sự là món khoái khẩu. Trong thực đơn thịt dê có thể chế biến được thành rất nhiều món như lẩu dê, dê sào lăn, dê tái chanh, cháo dê…nhưng món dê thui cả con có lẽ chỉ có ở vùng núi đá Nga An- Nga Sơn mới có. Thực đơn của món dê thui thật đơn giản chỉ có ba món chính là tiết canh dê, dê tùng xẻo và cháo dê nhưng cách chế biến thì quả thật công phu tốn nhiều công sức.

Tiết dê được hãm đóng vào chai dành để đánh tiết canh, dê được cạo lông sạch sẽ rồi khéo léo mổ moi hết nội tạng ra ngoài( đặc biệt phái lấy được hai hạch hoi của dê nằm ở đoạn gáy dê nơi tiếp giáp với bả vai để thịt dê được thơm ngon). Dùng các loại lá thơm nhồi vào bụng dê như lá ổi, lá sả, lá bưởi…. Khâu kín lại, bọc bên ngoài bằng một lớp lá chuối tươi rồi để luôn lên nền đất ẩm. Vật liệu để thui (đốt) dê chủ yếu là rơm nếp trộn với trấu, cho phủ kín con dê rồi mới quạt lửa,trở đi trở lại con dê độ bốn năm lần, mỗi lần độ năm sáu mươi phút thì mới đạt yêu cầu. Sức nóng của lửa rơm từ bên trên cộng với hơi ẩm từ lòng dất hoà quyện làm cho thịt dê chí mền và có một hương vị đặc biệt quyến rũ thực khách, dê ủ trấu chín đều không bị mất mùi và thịt rất ngon.

Bát tiết canh đỏ tươi để khai vị, tiếp đó là đĩa thịt dê đốt nóng hổi ăn kèm với các loại rau thơm chấm với tương gừng, lâng lâng men rượu nếp Nga Sơn…thì chỉ cần thêm bát nhỏ cháo xương dê nấu với đậu xanh nữa là để du khách thêm một lần lưu luyến với Nga Sơn.

Đây cũng là một đặc sản của Nga Sơn. Thông thường thịt dê được chế biến thành các món như: dê tái, dê xào…Nhưng ở Nga Sơn thịt dê được chế biến theo một cách rất đặc biệt. Sau khi thịt dê được làm sạch, người ta để nguyên cả con, ướp da vị vào bên trong bụng của con dê. Sau đó người ta làm chín con dê bằng cách vùi vào trấu, sức nóng của trấu sẽ làm chín được thịt dê. Vì thế mà thịt dê vẫn giữ nguyên được hương vị thơm ngon và màu của con dê không bị thay đổi. Chính những điều này đã làm nên đặc trưng riêng cho món ăn mà chỉ có ở Nga Sơn.

Mức độ đa dạng: Nga Sơn có giá trị nổi bật về tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên có sức hấp dẫn mạnh, đặc biệt là động Từ Thức và đền thờ Mai An Tiêm, chùa Tiên là những điểm đến thu hút nhiều khách du lịch.

Khả năng tiếp cận tài nguyên cũng rất thuận lợi do địa hình của huyện khá bằng phẳng, đặc biệt là mạng lưới giao thông đi lại tại các điểm du lịch khá tốt. Trong những năm gần đây, các điểm du lịch như động Từ Thức, đền thờ Mai An Tiêm di tích lịch sử Ba Đình…các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hoá khác vẫn đang được tiếp tục đầu tư, trùng tu tôn tạo lại tổ chức nhiều lễ hội với quy mô cấp tỉnh để nhằm phục vụ, thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan nhiều hơn.

Những tài nguyên du lịch ở Nga Sơn đang được sử dụng, khai thác hợp lí hơn, nghành du lịch cũng đang được Đảng bộ và nhân dân huyện quan tâm phát triển nhiều hơn.

Ở Nga Sơn có một số cơ sở dịch vụ phục vụ cho nhu cầu ăn nghỉ của du khách như: Khách sạn 2 sao thương mại Nga Sơn (Thị Trấn), Hồng Chương (Thị Trấn), Hảo Phụng (Nga Thanh), nhà hàng ẩm thực gỏi Thịnh Lịch (Nga Liên), nhà hàng dê ủ trấu Ngọc Toản, Hoàng Việt (Nga An), Quy mô các cơ sở đang được mở rộng và nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Số lượng khách du lịch đến tham quan các điểm du lịch ở Nga Sơn liên tục tăng từ năm 1990 đến 2006, trong đó chủ yếu là khách du lịch nội địa. Năm 1990 có 2500 khách nội địa, 3 khách quốc tế, 13 khách doanh nghiệp đến thăm quan du lịch ở Nga Sơn. Đến năm 2021 đã tăng lên 5 khu du lịch đó là:

+ Khu du lịch Động Từ Thức (xã Nga Thiện): Động Từ Thức, Động Bạch Á, Đền thờ Nữ tướng Lê Thị Hoa, tướng Trịnh Minh.

+ Khu du lịch Mai An Tiêm: Khu di tích Mai An Tiêm (Nga Phú), Chùa Tiên, Hồ Đồng Vụa (Nga An). Đặc biệt Lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức hàng năm vào ngày 12, 13/3 âm lịch với quy mô cấp huyện, hoặc tỉnh thu hút hàng vạn nhân dân và khách thập phương.

+ Khu du lịch chiến khu Ba Đình (Xã Ba Đình)

+ Khu di lịch sinh thái dọc sông hoạt: Của Thần phù, Chùa Hàn Sơn, Núi “Rồng hổ tranh ngọc” và chùa Trúc Lâm, Động Lục Vân (Nga Điền), Lã Vọng, Bia Thần (Nga Thiện).

+ Khu du lịch sinh thái biển.

Việc tổ chức quản lý ở các điểm du lịch cũng đang được quan tâm nhiều hơn. Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang được bảo vệ và tôn tạo để nhằm mục đích phát triển du lịch Nga Sơn.

Ngày 10/7/2009 UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 2166/QĐ-UBND về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch động Từ Thức và các di tích, danh thắng huyện Nga Sơn đến năm 2021 và định hướng đến năm 2021.

Ngày 05/8/2011 UBND huyện Nga Sơn ban hành Quyết định số 1389 /QĐ-UBND về việc phát triển du lịch đến năm 2021 và tầm nhìn 2021. Đề án đã đánh giá thực trạng, tiềm năng du lịch Nga Sơn, những hạn chế tồn tại đặc biệt đề án đã đề ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả để đẩy mạnh phát triển du lịch của Nga Sơn. Trong những năm tiếp theo và tầm nhìn đến năm 2021 để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa phương, quy hoạch xây dựng nông thôn mới Nga Sơn giàu, đẹp, văn minh.

【#2】Khám Phá Quán Gà Ác Tiềm Thuốc Bắc Ở Sài Gòn

Nép mình trên một con đường không mấy sầm uất ở quận 11, quán ăn gốc Hoa này do ông bà nội của anh Dương Thông Thành mở cách đây mấy chục năm. Anh Thành (38 tuổi), chủ quán hiện tại cho biết, những năm 89 – 90 là lúc ông bà của anh dời quán về vị trí hiện tại. “Còn trước đó ông bà tôi chỉ buôn bán bằng gánh ở vỉa hè. Một sự trùng hợp là ông và chú tôi, hai đời chủ trước đều tên Thành”, anh nói.

Quán nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc. Anh Thành cho hay, gà được chọn là những con non, lớn hơn nắm tay một chút, tiềm cùng các vị thuốc bắc trong khoảng 1,5 đến 2 tiếng trong nồi to rồi mang ra xếp trong thố đợi phục vụ cho khách.

Các công đoạn được thực hiện từ khuya. Gà phải làm sạch bằng rượu gừng rồi tẩm ướp các gia vị và không thể thiếu một ít mật ong chúa. Thuốc bắc thì ngâm cho nở trong nước ấm rồi rửa sạch, để ráo.

Để đảm bảo vị chuẩn của món ăn, sau khi tiềm lần đầu, đầu bếp sẽ chia nước thuốc bắc và gà vào hai nổi riêng để tiềm một lần nữa. “Gà chín vừa tới thì vớt ra thố nhỏ. Khi có khách gọi món, những thố đất này sẽ được hấp lại cho nóng”, anh Thành nói.

Cả gian bếp chỉ khoảng 20 mét vuông nhưng có đến 5, 6 cái bếp để nhanh chóng phục vụ khách. Anh Thành kể: “Gian bếp đã vài lần thay đổi vị trí đồ vật, gia cố thêm dụng cụ nhưng đã gắn bó với gia đình suốt gần 40 năm nay”.

Phần bếp chế biến các món như mì, cơm được đặt gọn ở một gian bếp khác, phía trước quán. Khách vào có thể thấy một số công đoạn chế biến.

Một phần gà ác hầm thuốc bắc có giá 50.000 đồng. Bên trong thố là một con gà, vài miếng thuốc bắc cùng nước dùng. Nếu không quen với mùi vị của thuốc bắc, bạn sẽ gặp khó khăn khi thưởng thức món ăn. Món gà ác tiềm thường ăn kèm với cơm trắng.

Quán sử dụng 8 loại thuốc bắc để tiềm gà. Một số vị quen thuộc như: bạch quả, táo đỏ, nhãn nhục, đẳng sâm… Anh Dương Hải Thành (34 tuổi) là em trai của anh Thông Thành nói thêm, muốn các vị thuốc bắc không bị đắng, dễ ăn thì lúc tiềm phải canh lửa thật “chuẩn”. “Lửa mà liu riu lâu thì các vị thuốc bắc sẽ bị đắng. Còn nếu để quá lớn sẽ khiến nước tiềm bị chua”.

Nếu đã chán món gà ác tiềm thuốc bắc, bạn có thể đổi qua gà ác vi cá giá 230.000 đồng một suất hoặc canh vi cá giá 280.000 đồng.

Bím bò tiềm cũng là món được nhiều thực khách ưa thích, đặc biệt là các đấng mày râu.

Mống dê hầm cũng hút khách không kém.

Thực đơn của quán có gần trăm món ăn, từ cơm chiên Dương Châu, cơm chiên cá mặn cho đến hủ tiếu, mì xào giòn, mì vịt tiềm… Giá trung bình mỗi món ăn khoảng 50.000 đồng. Quán mở cửa từ 11h đến nửa đêm.

【#3】Hình Ảnh Con Gà Trong Lịch Sử Mỹ Thuật

Hình ảnh con gà có một vị trí đáng kể trong lịch sử mỹ thuật thế giới. Chú gà trống hùng dũng, oai vệ trong bộ lông sặc sỡ nhiều màu hiện diện dày đặc trong tranh của các họa sĩ nhiều thời đại từ phương Tây sang phương Đông, tương tự là hình ảnh đàn gà với chị gà mái che chở hoặc dẫn dắt đàn gà con xinh xắn kiếm ăn.

Ngoài yếu tố tâm linh (gà trống là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng đối với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo), loài gia cầm gần gũi với con người này có dáng vẻ đẹp, lại dễ tạo hình nên trở thành đối tượng ưa thích của các họa sĩ. Chẳng thế mà năm Đinh Dậu 2021, chỉ riêng làng hội họa Việt Nam cũng có biết bao tranh vẽ gà.

Hình ảnh gà xuất hiện sớm nhất là trên một chiếc đĩa đất nung được làm ở thành Corinthe của xứ Hy Lạp thời cổ đại, khoảng những năm 575 – 550 trước Công nguyên, nhưng xa xưa hơn nữa là một con tò he bằng đất sét, được tạo hình gà mái, tìm thấy ở di chỉ khảo cổ Mohenjo Daro ở Pakistan, có niên đại 2.700 năm trước Công nguyên (hiện được trưng bày tại Bảo tàng Brooklyn ở New York).

Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy hình ảnh gà ở một bức tranh tường trong hầm mộ Thánh Callixtus – một trong những hầm mộ lớn nhất và quan trọng nhất ở Roma. Tranh được vẽ trên trần hầm mộ từ giữa thế kỷ thứ III, thể hiện một người chăn cừu vác trên vai một chú cừu, tay xách bình nước, bên phải là một chú cừu khác, bên trái là một chú gà trống.

Một tranh gà khảm mosaic có tuổi thọ khoảng từ năm 200 đến 400 cũng được tìm thấy ở Roma.

Vẽ gà nhiều nhất

Gà có mặt trong tranh các họa sĩ châu Âu từ thời Trung cổ đến đương đại, đặc biệt là với những tác giả hầu như chỉ vẽ các loài vật, chim chóc, gia súc, gia cầm như Melchior de Hondecoeter (Hà Lan, 1636-1695), Jakob Bogdani (Anh gốc Hungary, 1658-1724), Albertus Verhoesen (Hà Lan, 1806-1881), Eugène Joseph Verboeckhoven (Bỉ, 1798-1881)…

Họa sĩ vẽ tranh gà nhiều nhất có lẽ là Edgar Hunt (1876-1953). Ông và anh trai Walter Hunt (1861-1941) sinh trưởng ở Birmingham (Anh), là thế hệ thứ ba trong một gia đình theo nghiệp hội họa. Ông nội của Edgar là Charles Hunt (1803-1877) vốn nổi tiếng với các bức tranh với đề tài về cuộc sống, sinh hoạt nhuốm màu hài hước ở vùng nông thôn Birmingham, từng được triển lãm tại Viện hàn lâm hoàng gia Anh và các phòng tranh có uy tín ở London. Cha Edgar là Charles Hunt Jr. (1829-1900) cũng vẽ tranh và là thầy giáo dạy vẽ bán thời gian. Không theo học trường lớp chính quy nhưng Edgar và Walter được cha dạy vẽ từ nhỏ.

Dù có cùng nguồn cảm hứng sáng tác với ông nội và cha là đời sống thôn dã, song Edgar tập trung vẽ các loại gia cầm, gia súc trong các trang trại ở Birmingham do ảnh hưởng của người anh – một họa sĩ chuyên vẽ các loài vật rất chắc tay.

Ngay từ những năm tuổi thơ, Edgar đã luôn ký họa các loài gia cầm, gia súc; đến tuổi thanh niên thì ông gần như dành trọn vẹn thời gian trong ngày để mô tả cuộc sống sinh động của chúng ở trang trại. Edgar từng có ý định trở thành một chủ trang trại và đã làm việc một thời gian ngắn trong một trang trại ở vùng Sussex. Nên cũng dễ hiểu vì sao Edgar Hunt đã vẽ biết bao bức tranh về các loài vật gần gũi với con người ở nông thôn, đặc biệt là vẽ gà.

Những con gà, trống cũng như mái và bầy gà con được ông tả thực đến mức tỉ mỉ trong những tranh sơn dầu khổ nhỏ. Khó có thể biết được Edgar Hunt đã vẽ bao nhiêu bức tranh gà trong tổng số hàng ngàn tác phẩm ông đã vẽ suốt cuộc đời dài, bởi sinh thời họa sĩ đã bán được rất nhiều tranh.

Birmingham là thành phố lớn nhất vùng Midlands của nước Anh – một trọng điểm của cuộc Cách mạng công nghiệp ở xứ sương mù vào thế kỷ XVIII, XIX. Một hệ quả của cuộc cách mạng này là tầng lớp trung lưu ở Anh đã trở nên giàu có nhanh chóng. Những người giàu, có tiền nhiều sống ở thành thị lúc bấy giờ hoài nhớ cuộc sống nông thôn trước đây của họ nên yêu thích những bức tranh thắm đượm tình yêu thôn dã của Edgar Hunt. Tranh của ông được họ mua rất nhiều trưng bày trong nhà và gửi ra nước ngoài làm quà tặng, để rồi cũng được khách hàng nước ngoài ưa chuộng.

Sinh thời, Edgar Hunt đã thành công lớn về mặt thị trường và cho đến nay tranh vẽ gà của ông vẫn được ưa chuộng. Tháng 12/2008, tại nhà Christie’s ở London, một cặp tranh gà ông vẽ năm 1933, khổ nhỏ (28×40,6cm) đã được bán với giá 29.800 USD.

Trong số các tên tuổi lớn của hội họa hiện đại, Marc Chagall là người đặc biệt yêu thích hình ảnh gà trống. Rất nhiều bức tranh trong thế giới hội họa mơ mộng và huyền ảo của Chagall có chú gà trống: những đôi tình nhân bay lượn cùng gà trống, cưỡi gà trống, lắng nghe gà trống gáy… Có lẽ khung cảnh làng quê nghèo thời thơ ấu ở làng Liozna (gần thành phố Vitebsk, nay thuộc Belarus) in đậm trong ký ức ông nên tranh Chagall thường xuyên có hình ảnh gà, bò, dê, cừu…

Và phải chăng, sống ở Paris vào thời hoàng kim của mỹ thuật hiện đại nên biểu tượng gà trống Gô-loa của nước Pháp cũng dự phần vào hội họa của Chagall? Gà trống dũng mãnh, đầy uy lực cũng được Picasso thể hiện trong tranh và điêu khắc của ông.

Tranh gà phương Đông

Trong tranh thủy mặc Trung Hoa và tranh khắc gỗ “phù hoa” Nhật Bản (ukiyo-e) đầy rẫy những hình tượng gà đủ loại. Gà là biểu tượng của uy dũng trong tranh Trung Hoa thời cổ vì nó ăn được ngũ độc vật: rắn, rết, bò cạp, cóc và nhện cũng như trừ khử được dịch bệnh và xua đuổi tà ma.

Tranh vẽ gà nằm trong thể loại tranh hoa điểu rất phổ biến của hội họa Trung Hoa. Hình ảnh đàn gà trống – mái – gà con tượng trưng cho gia đình sung đúc và đầm ấm, nên thường được các họa sĩ Trung Quốc đưa vào tranh.

Tranh gà của họa sĩ Cao Kiếm Phụ (1879-1951) – người sáng lập họa phái Lĩnh Nam trong tranh thủy mặc Trung Hoa

Trong huyền thoại Nhật Bản, tiếng gà gáy kết hợp với giọng nói của các vị thần đã đánh thức Thần Thái Dương Amaterasu – vị nữ thần có hậu duệ là các đời hoàng đế của xứ Mặt trời mọc. Gà trống cũng là biểu tượng của uy dũng trong khi gà trống choai lông trắng báo hiệu điềm lành theo Thần đạo.

Tranh gà phát triển mạnh dưới thời Edo (1603-1868), nhất là thể loại tranh khắc gỗ ukiyo-e ra đời từ cuối thế kỷ XVII với các tên tuổi lớn như Kiyonaga, Utamaro, Hokusai và Hiroshige cùng hàng loạt họa sĩ tài năng khác.

Ở Việt Nam, những tranh gà dân gian của làng tranh Đông Hồ được biết đến rộng rãi và không thể thiếu trong các gia đình dịp tết cổ truyền, đó là các bức Đại cát nghinh xuân, Gà trống gáy sáng, Gà chọi, Gà đàn (Gà mẹ – gà con), Vinh hoa (Em bé ôm gà)…

Tranh gà Đông Hồ còn đi vào thơ ca với những vần thơ: Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột/ Loạt lòe trên vách bức tranh gà (Tú Xương), Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp (Hoàng Cầm), Ôi người nghệ sĩ/ Tên là dân gian/ Góp cùng trời đất/ Con gà Việt Nam / Gà từ trong tranh / Gà ra cuộc đời/ Gáy lên, gà ơi! (Hoài Anh)…

Gà trên chiếc đĩa đất nung được làm tại Hy Lạp thời cổ đại, khoảng những năm 575-550 trước Công nguyên

Thành Chương vẽ gà làm thiệp chúc Tết Đinh Dậu

Những ngày cận Tết Đinh Dậu, họa sĩ Thành Chương đã tổ chức một triển lãm độc đáo với 60 bức tranh vẽ gà để kỷ niệm tròn 60 ngày ông vẽ bức tranh gà đầu tiên khi mới lên bảy: bức Đôi gà tồ đã đoạt giải vàng một cuộc thi tranh quốc tế thiếu nhi ở Anh năm đó, từng được in trong một tạp chí, tiếc rằng đã thất lạc.

Tại cuộc triển lãm – đấu giá tranh online do Không gian nghệ thuật Việt (Việt Nam Art Space – VAS) tổ chức cũng có rất nhiều tranh vẽ gà rất đẹp…

【#4】Travelling From Hanoi To Da Nang By Train

Make yourself comfortable in your berth, chat with Vietnamese families, share travel stories with fellow backpackers and admire green hills rushing by the window. Getting from Hanoi to Da Nang by train is an experience for anyone wanting to travel like a local.

Hidden made the trip from Hanoi to Da Nang and tells you first hand what to expect during the ride. In this article we give you all the information and tips to make the best of this experience. We guide you through planning your trip, where to buy your ticket and avoiding scams. Let us inspire you to explore Vietnam by train.

Departures: Ten per day. Two-morning trains at 6 a.m and 9 a.m. Eight evening trains from 7:30 p.m. Last train: 10:20 p.m.

Travel Time: The ride takes between 15h and 16h 30min depending on the line.

Prices: The tickets cost between 912,000VND (38 USD) and 2,040,000VND (89 USD) depending on booking agency, line, date and seating option. Children under three years travel for free. Children between three and nine years (and shorter than 1.3 metres) are charged 75 percent of the adult price.

History of the North-South Line

The train line from Hanoi to Da Nang has a very interesting history behind it. One that mirrors how Vietnam itself evolved during the 19 th Century. Running 1,726 km between Hanoi and Ho Chi Minh City, it is the longest and most important of the country,

Construction works started in 1899. The line was completed in 1936 under the French colonial period. Back then, the trip between Hanoi and Saigon took about 40 hours at an average speed of 43km/h. The Japanese army used it when they occupied the country during WWII. Thus making it the target of US bombings and sabotage.

After the war ended in 1975, the new government put great efforts into restoring the North-South railway line. The destruction the railroad suffered during these two decades was colossal. Repairing it was a huge challenge. More than 1300 bridges, 27 tunnels and 158 stations were fixed in less than two years. The work ended on New Year’s Day of 1978.

After that it became a symbol of the new unified Vietnam, known as Vietnam’s “Reunification Line”. Reconnecting the north and south by train was a way of stitching the country back together after being pided for such a long time.

Nowadays the trains run almost at the same average speed (55km/h) as they did back in the 30s. Although there are some modern trains (SE), travelling by train in Vietnam still seems like being in another era.

Buying Train Tickets – Hanoi to Da Nang

When planning your trip, keep in mind that there are different price options and different ways to purchase a ticket:

There are four different seating options. The most common options for short journeys like from Hue to Da Nang are soft and hard seats. For longer journeys though, like from Hanoi to Da Nang, the train provides beds for passengers.

There are two bed options on the Hanoi to Da Nang trains:

An inpidual berth in a four-berth compartment. The ticket includes a sheet, duvet, pillow and reading light. The compartment is lockable and you can store your luggage beneath the bottom bunks and in the space above the door. There are power sockets for charging your devices in each compartment.

You get the same equipment as in the soft-sleeper cars. The difference being that there are six berths per compartment instead of four. The mattresses are thinner and harder.

The ride between Hanoi and Da Nang takes around 15 to 16 and a half hours. Trains are delayed sometimes. Therefore expect a 17 hour trip. Before your destination of Da Nang, the train makes brief stops at Nam Dinh, Thanh Hoa, Vinh, Dong Hoi, Dong Ha and .

Vietnam Railways Train Map

Hanoi to Da Nang Train Schedule and Prices

Before buying your train ticket, note that prices vary depending on train, berth, booking agency and even time of year. Costs and timetables for each journey are roughly the same in the reverse direction. These are the Vietnam Railways’ official prices as of January 2021.

Buying Train Tickets Online from Hanoi to Da Nang

You can purchase train tickets (including same-day tickets) online from . They offer the option of choosing your travel class and train seat from a real-time graphic. 12Go charge the official Vietnam Railways price for tickets plus a small service fee for booking.

When booking online, you receive your tickets via email. Don’t worry if you don’t get an immediate response – it may take a few hours to get your ticket via email. You don’t need to print out the e-ticket. Just show the QR code on your smartphone to the attendant at the station.

Buying Tickets at the Station

Hidden Hint: Make sure to bring enough Vietnamese Dong with you to purchase your ticket as Vietnamese train stations don’t accept credit cards. There are nearby ATMs, too.

Scam Alert: Make sure you get the right tickets. Sometimes, even official workers will try to sell you more expensive, tourist tickets. Double check the provider (Vietnam Railways), date, time and destination. Even better, get your tickets online and avoid wasting time and energy at the train station.

Hidden Hint: Want to offload the hassle of booking online or at the station? Most travel agents and hotels will buy you a train ticket for a small commission.

Bringing your Motorbike on the Train from Hanoi to Da Nang

Do you want to travel from Hanoi to Da Nang but don’t want to deal with Vietnamese highways? Good news, you can do the trip by train and bring your motorbike with you. Keep in mind that you can’t buy these types of tickets online and your bike will likely go on a separate freight train.

Take your bike to the station’s luggage office, pay the fee, and collect your receipt. The attendant will put a luggage tag on your vehicle. Double check that everything is in order. The bike will probably arrive a day or two after you do. Ask the attendant when you can expect your bike, and pick it up at the luggage office at your destination.

The price should be around 530,000 VND (23 USD) to send your motorbike to Da Nang from Hanoi.

You find Hanoi’s train station 1,5 km west of Hoan Kiem Lake and the old quarter. It’s located at 120 Duong Le Duan at the west end of Tran Hung Dao Street.

The main building is easy to spot. The original building was constructed in 1902, destroyed during the American war air strikes and rebuilt in 1976. Locals call this side of the railway station “A Station”. All trains going south depart from here. If you are going from Hanoi to Da Nang by train, your train will leave from A Station.

How to Get to Hanoi Station (Ga Hanoi)

Taxi or Grab are very convenient and should not be too expensive if you are staying near Hanoi’s old quarter. In our case we payed 25,000 VND (1.10 USD) from Hoan Kiem Lake

Public buses 01, 11, 32, 38, 40, 43 and 49 all stop at Ga Hanoi (Hanoi Station).

Walking – if you are staying in the old quarter, the station is within walking distance (15-20 minutes).

Hanoi Station in Detail

This station is small. There’s a door leading to the platforms in the main hall. The restrooms are on the right hand side of the building. Tickets are available for purchase at the windows on the left. There is a waiting area near the ticket office where you can rest.

Hidden Hint: Buy some snacks and drinks here for the journey ahead. There’s a fast food restaurant (Fresh Garden) and a VinMart on the left of the main hall.

You can access the platforms 40 minutes before the train’s departure time. Once inside, cross a bridge over the railways to get to your train.

For northern destinations like Sapa, trains depart from the B Station, a yellow building behind the Main Station. You can buy tickets to any city from both offices, but you can only access the train from the proper side. To avoid problems, arrive half an hour before your departure.

The most common scams in the station are easy to avoid:

  • Beware of locals around the station offering tickets or upgrades with special discounts for you.
  • On the platforms, some people might offer you an upgrade on your ticket. You shouldn’t give your ticket to anybody and directly board your train.
  • On the platforms and on the train, some locals might offer to help you with your bags only to demand a tip later.

The Journey from Hanoi to Hoi An by Train

We travelled in a hard sleeper car. The beds were soft enough to let us sleep comfortably. The bedsheets, pillows and blankets provided looked clean. We took the night train and, for us, that was the best option. We saved one hotel night, and also spent a big part of the 16.5-hour trip asleep.

During this trip, we had the compartment to ourselves for a few hours. We met some friendly Vietnamese girls who travelled in a different room. They seemed happy to practice some English with foreigners. After that, a round three hours into the ride ,our first roommates arrived. They were a Dutch couple travelling to Hue. We chatted a little before going to sleep. However when we woke up, our fellow backpackers were already gone.

Hidden Hint: Bring good quality headphones and a couple of playlists to help you fall asleep.

At the next stop, a chatty Vietnamese woman joined us and we shared snacks and some great travel stories. We gave her some chocolates and she introduced us to some new Vietnamese fruits. It was a great way to start the day.

Best Photo Opportunities (Hue to Da Nang and Hai Van Pass)

Most noteworthy is that this is the most scenic part of the trip. So by taking the night train we got to enjoy it first thing in the morning.

Between Hue and Da Nang you see the coastline on the left hand side and beautiful green mountains on the right. Consequently great views greet you over some beautiful fishing villages – a perfect way to start the day.

The best spots to take photos are the spaces between cars and the windows in the restaurant. Sometimes staff members open the windows on the sleeping cars (you can try to charm a train employee and ask him to open one for you).

Hidden Hint: Wait until a curve and take the perfect photo of the front part of the train meandering the jungle near the coast.

Survival Kit for Train Travel in Vietnam

  • Bring your own toilet paper. Normally there is none, and if there is, it won’t last for long.
  • You might want to bring hand sanitiser or soap, too.
  • Buy some drinks and snacks at the station before departure. Although warm food is served on the train, we read some mixed reviews online.
  • For light sleepers, ear plugs and a sleeping mask are a must. Trains are old and the railway is even older, so it is noisy the whole time. In addition, passengers and staff walk around the train opening doors and switching lights on and off.
  • Entertainment. Bring something to read, music or podcasts to listen to and download a couple of movies on Netflix before departing. The train ride is long and if you can’t sleep you will need some distractions.

There is no train station in Hoi An. The closest city with a station is Da Nang. Once you arrive at Da Nang you need to find alternative transport to make the last section of the trip.

Da Nang train station is close to the city centre with lots of bus and taxi options. U pon arrival the first thing you notice is that the train station of Da Nang is smaller than the one in Hanoi. Consequently passengers have to jump down the train and cross other railways to reach the main hall. The exit is through a side door where a big group of taxi drivers “welcome” you and offer to take you to your destination. Find more information in our in depth guide of Da Nang Train Station .

Getting from Da Nang to Hoi An

It is very easy to travel between Da Nang and Hoi An. It takes on average 45 minutes. There are several ways to get from Da Nang to Hoi An. This article covers that topic in detail.

Pros and Cons of Train Travel from Hanoi to Da Nang

  • Travelling in Vietnam by train gives you the most stunning views of mountains and oceans alike.
  • Taking the train is one of the cheapest possibilities to move inside the country. If you take the sleeper train, you additionally save the money for a hostel or hotel.
  • It’s more comfortable than a bus or a plane since you can move around and wander to other carriages.
  • A train emits significantly less greenhouse gases than a plane. Going from Hanoi to Da Nang by train might not be the fastest way of travelling but it’s the most ecological one.
  • Above all, it is a great way to meet fellow backpackers and make friends with locals.
  • First of all, expect less comfort than you’re probably used to from train rides in western countries. Toilets and sinks can be quite dirty and smelly. Similarly, cockroaches and other bugs may whizz over the floor. In addition chatty fellow travellers and the loud bumpy train might pvent you from sleeping.
  • If you want to work, publish some photos on Instagram or chat with family members and friends back home, you should purchase a SIM card with data beforehand. Unfortunately there is no reliable Wi-Fi connection on board.
  • The ride takes way more time than a flight. So if you’re in a hurry, the train might not be the best option for you.

【#5】Năm Gà Nói Chuyện… Con Kê (Đỗ Chiêu Đức)

NĂM GÀ NÓI CHUYỆN … CON KÊ !

KÊ 鷄 là từ Hán Việt chỉ Con Gà, Gà là Kê, Kê là Gà, là… Gà Kê Dê Ngỗng. Bà con ta thường nói thành “Cà Kê Dê Ngỗng.” Năm Gà nói chuyện… con Kê là nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, chuyện bao đồng về con gà để nghe chơi khi trà dư tửu hậu.

GÀ là KÊ 鷄, KÊ là chữ Tượng Hình trong Lục Thư, là cách đầu tiên trong 6 cách tạo hình của Chữ Nho… dễ học, theo diễn tiến của chữ viết như sau:

Giáp Cốt Văn là hình tượng của con gà trống hiên ngang với cái mỏ hướng về bên trái và cái vương miện vươn cao ở trên đầu, hai cánh bên dưới xòe ra như đang đập cánh chuẩn bị cất cao tiếng gáy vào buổi sáng. Nhưng qua Đại Triện và Tiểu Triện do sự biến thiên của chữ viết qua các thời đại, chữ KÊ 鷄 được hình thành bởi Hình Thanh (Cách tạo chữ thứ 4 của Chữ NHO… dễ học) với chữ HỀ 奚 bên trái chỉ Âm và chữ ĐIỂU 鳥 bên phải chỉ Ý, nên chữ KÊ hiện tại được viết như thế nầy 鷄, chữ Điểu bên phải có thể thay bằng bộ CHUY 隹 là Loài chim đuôi ngắn, nên chữ KÊ cũng được viết như sau 雞. Ta có 4 hình thức của chữ KÊ :

Giản thể Phồn thể

鸡 鳮 雞 鷄

7 nét 13 nét 18 nét 21 nét

Vì đến 2 hình thức chữ Phồn Thể, mà chữ phức tạp nhất có đến những 21 nét, nên KÊ thuộc dạng chữ khó nhớ ngày xưa khi học chữ Nho, cho nên mới có câu chuyện vui “Tam Đại của Con Gà” sau đây về ông Thầy Đồ… dốt. Truyện kể:

Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời “Xấu hay làm tốt, dốt hay… xổ Nho”, đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.

Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.

Một hôm, đang dạy sách Tam Thiên Tự 三千字, sau chữ “Tước 雀” là chim sẻ, đến chữ “KÊ 鷄” là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy quýnh qúa, nói đại nói càn: “Dủ dỉ là con dù dì.” Thầy cũng khôn, sợ lỡ sai người nào biết thì mắc cở, mới bảo học trò đọc nhỏ thôi, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn lo âu thấp thỏm.

Nhân trong nhà có bàn thờ Thổ Địa Thần Tài, thầy mới đến khấn thầm xin ba keo âm dương để xem chữ đó có phải thật là “dù dì” không. Thổ công cho ba keo đều được cả ba.

Thấy vậy, thầy lấy làm đắc ý lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:

– Dủ dỉ là con dù dì ! Dủ dỉ là con dù dì…

Ông cha của sấp nhỏ đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng con học, ngạc nhiên mới bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, rồi hỏi thầy :

– Thầy ơi! Chữ “KÊ 鷄” là gà, sao thầy lại dạy thành “dủ dỉ” là con “dù dì”?

Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm: “Mình đã dốt, Thổ Địa Thần Tài nhà nó còn dốt hơn mình nữa,” nhưng Thầy cũng lanh trí, nên vội nói đỡ là:

– Tôi cũng biết chữ đó là chữ “kê 鷄”, mà “kê” nghĩa là “gà”, nhưng tôi dạy cháu như thế là dạy cho chúng nó biết tận Tam Đại 三代 của con gà kia!

Chủ nhà càng không hiểu ất giáp gì cả, hỏi:

– Tam Đại 三代 của con gà là nghĩa ra làm sao?

DẬU đứng hàng thứ Mười trong Địa Chi, nhưng lại là Tháng Tám Âm lịch. Ngày Dậu là ngày được xếp sau ngày Thân và trước ngày Tuất. Giờ Dậu là từ 5 đến 7 giờ chiều tối, nên ông bà ta ngày xưa có để lại mấy câu nói sau đây:

Mạc ẩm Mão thời tửu, 莫飲卯時酒,

Hôn hôn túy đáo Dậu. 昏昏醉到酉.

Mạc mạ Dậu thời thê, 莫罵酉時妻,

Nhất dạ thụ cô thê. 一夜受孤凄.

Có nghĩa:

* Đừng uống rượu vào giờ Mão (từ 5 đến 7 giờ sáng) vì sẽ bị…

Say sưa mơ màng cho đến giờ Dậu (từ 5 đến 7 giờ tối). Vậy là suốt ngày sẽ không làm ăn gì được cả!

* Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì chiều tối mà vợ chồng giận nhau thì suốt đêm sẽ chịu lạnh lẽo cô đơn có một mình, cũng sẽ không “làm ăn” gì được cả!

Tâm lý qúa cở “thợ mộc”! Ai bảo là ông bà ngày xưa không biết tâm lý tình cảm và bảo vệ hạnh phúc gia đình đâu!?

DẬU kết hợp với TỴ và SỬU thành Tam Hạp. Trâu Bò hợp với Gà thì còn được, chớ Trăn Rắn làm sao mà hợp với gà cho được, thấy gà là chúng quấn cho nát xương rồi nuốt trửng nguyên con như chơi. Không biết mấy thầy Tử Vi tướng số ngày xưa căn cứ vào cái gì mà xếp cho con Gà và con Rắn hợp nhau? Rắn thì chắc OK rồi, nhưng gà mà gặp rắn là chạy “tét ghèn” luôn, làm sao mà hợp cho được!

DẬU lại cùng với TÝ, NGỌ và MÃO, ta gọi là Tý Ngọ Mẹo Dậu thành một bộ Tứ Hành Xung. Ba lần bốn mười hai, cho nên hễ vợ chồng cách nhau 3, 6 hoặc 9 tuổi là lọt vào Tứ Hành Xung ngay! Nên ngày xưa đi cưới vợ phải coi tuổi là vì thế! Tuyệt đối kỵ 3, 6, 9, nhất là cách nhau 6 tuổi sẽ lọt vào số Chánh Xung, như: Dần và Thân, Tỵ và Hợi, Tý và Ngọ, Mẹo và Dậu, Thìn và Tuất, Sửu và Mùi đều cách nhau 6 tuổi, bảo đãm không xung không lấy tiền!

Trong thần thoại, GÀ là MÃO NHẬT KÊ 昴日雞, là ngôi thứ tư trong Bạch Hổ Thất Tinh, thuộc 7 vì sao nằm ở phương Tây của Nhị Thập Bát Tú 二十八宿, hướng Tây thuộc mùa Thu, cũng là mùa thu hoạch nông phẩm xong, cửa nhà đã đóng, nên Mão Nhật Tinh thuộc nhóm Hung Tinh (Sao dữ), thường mang đến tai ương bất lợi, hung đa kiết thiểu (cho những người chưa thu hoạch hay bị mất mùa thất thu: Chắc chắn sẽ bị đói!)

Mão Nhật Kê được tạo hình trong phim Tây Du Ký

GÀ là một trong lục súc sống cùng với con người qua mấy ngàn năm lịch sử. Dựa theo các giả định Cổ Khí Hậu Học, có làm một nghiên cứu vào năm 1988 cho rằng gà được thuần hóa ở vùng Hoa Nam vào năm 6000 trước Công nguyên. Nhưng, một nghiên cứu khác vào năm 2007 cho rằng Gà xuất xứ từ Văn minh lưu vực sông Ấn (2500-2100 trước Công nguyên), nơi mà ngày nay thuộc lãnh thổ của Pakistan, có thể là nguồn chính cho sự lan truyền của các giống gà trên toàn thế giới.

Trong Lục Súc Tranh Công, một tác phẩm văn học dân gian của ta, trước đây được xếp trong chương trình Cổ Văn của lớp Đệ Thất, đã cho con Gà nói về mình như sau:

…………………………..

Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:

Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.

Trên đầu đội văn quan một mũ;

Dưới chân đeo hai cựa thần thương.

Đã ghe phen đến chốn chiến trường.

Lập công trận vang tai, lói óc,

Thủa Tây Lũng tam canh trống thúc;

Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,

Một tiếng rằng: thiên nhật tác thì;

Hai tiếng rằng: quốc tộ tác xương,

Ba tiếng rằng: nhân gian tác lạc,

Đã cứu nạn Mạnh Thường đặng thoát;

Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

Hễ ai toan cải dữ về lành,

Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.

Coi giò gà xét biết thịnh suy.

Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,

Cất tiếng gáy, toại lòng người đãi đán,

………………………………………..

Ta thấy bài kể công trên, Gà có nhắc đến “…cứu nạn Mạnh Thường…” Mạnh Thường đó là Mạnh Thường Quân của nước Tề, một trong Chiến Quốc TỨ CÔNG TỬ 戰國四公子, là bốn Vương Tôn hào hiệp, chiêu hiền đãi sĩ thời Chiến Quốc, đó là:

Mạnh Thường Quân ĐIỀN VĂN của nước Tề.

Xuân Thân Quân HOÀNG YẾT của nước Sở.

Không phải đương không mà Tứ Công Tử nầy bỏ tiền của ra để nuôi ba ngàn thực khách trong nhà, mục đích chiêu hiền đãi sĩ của những vị nầy là để chiêu mộ tất cả nhân tài trong thiên hạ để chống lại nước Tần lớn mạnh đang lăm le thôn tính Thất Hùng…

Trở lại với MẠNH THƯỜNG QUÂN, người nổi tiếng nhất trong Tứ Công Tử và… con Gà đã cứu ông ta:

Tần Chiêu Tương Vương nghe nói Mạnh Thường Quân tài giỏi, nên mời đến nước Tần, định phong làm Tể Tướng, nhưng lại lo ông ta là người nước Tề chỉ lo cho quyền lợi của nước Tề, không dùng, lại định giết đi. Mạnh Thường Quân biết tin lo sợ, mới tìm người sủng thiếp của Tần Vương mà cầu cứu. Người thiếp nầy thấy trước đây Mạnh Thường Quân có tặng cho Tần Vương một chiếc áo hồ cừu rất đẹp nên cũng muốn có một chiếc mới chịu giúp. Bí lối, vì chỉ có một chiếc duy nhất. Cũng may trong đám môn khách đi theo có một người chuyên đào tường khoét vách, đã lẻn vào cung vua Tần trộm chiếc áo hồ cừu đó ra để ông đem tặng cho người sủng thiếp. Nghe lời ỏn ẻn của người thiếp khi đầu gối tay ấp, Tần Vương thả Mạnh Thường Quân về nước. Không kịp đợi trời sáng, cả đoàn người ngựa kéo nhau lên đường. Tần Vương thả người xong thì hối hận, bèn cho binh lính đuổi theo bắt lại. Khi đoàn người của Mạnh Thường Quân chạy đến cửa thành thì trời chưa sáng, cửa thành chưa mở. Lại một môn khách đi theo có người giỏi nhái tiếng gà gáy, khi ông ta cất tiếng gáy lên thì tất cả gà trong thành đều cất tiếng gáy theo. Lính canh thành tưởng trời đã sáng bèn mở toang cửa thành ra. Thế là cả đoàn người của Mạnh Thường Quân ra thành… chạy tuốt! Khi quân Tần đuổi tới thì đoàn người đã đi xa lắc xa lơ rồi!

Con Gà cứu Mạnh Thường Quân là con Gà… trong ba ngàn thực khách của ông ta, còn bầy Gà chỉ hùa theo tiếng gáy mà thôi! Con Gà trong Lục Súc Tranh Công không biết thấu đáo mà cho là công lao của mình. Nhưng xét cho cùng, không có bầy gà cùng gáy thì chưa chắc lính canh đã chịu mở cửa thành! Và… cũng vì tích nầy mà ta có được thành ngữ:

KÊ MINH CẨU ĐẠO 雞鳴狗盜: là Gà gáy Chó trộm. Ý chỉ hai thực khách của Mạnh Thường Quân, một người chui lổ chó vào cung trộm áo; một người giả làm gà gáy sáng. Ý muốn nói những người tầm thường du thủ du thực nhiều khi cũng đắc dụng, cũng làm nên việc có ích hoặc cứu giúp lúc lâm nguy, chớ không phải hoàn toàn vô dụng. Nhưng thành ngữ nầy hiện nay thường dùng để chỉ hạng đầu trộm đuôi cướp, ba que xỏ lá, trộm gà bắt chó… mà đã mất đi ý nghĩa tốt đẹp của lúc ban đầu!

Con Gà của Lục Súc Tranh Công còn kể lể:

Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

TẤN SĨ 晉士 : là Kẻ sĩ của nước Tấn; ở đây chỉ TỔ ĐỊCH 祖逖 (266-321) và LƯU CÔN 劉 琨 (271- 318) của thời Đông Tấn và Tây Tấn theo tích sau đây:

Tổ Địch tự là Sĩ Nhã, người đất Yên Sơn. Ông là một Đại Tướng đầu đời Đông Tấn, có chí muốn khôi phục Trung Nguyên nên ra sức bắc phạt, từng lập được nhiều chiến công. Ông cùng với người bạn trẻ là Lưu Côn, tự là Việt Thạch, người đất Hà Bắc, là danh tướng đời Tây Tấn, là hậu duệ của Hán Trung Sơn Tịnh Vương. Lúc nhỏ cùng với Tổ Địch kết giao. Hai người thường bàn luận về chính sự, quốc sự đều tỏ ra rất tâm đắc, tuổi trẻ lòng đầy nhiệt huyết đều muốn cống hiến sức lực của mình cho Tổ quốc, nên mỗi đêm về sáng khi nghe được tiếng gà gáy là cùng nhau thức dậy để múa gươm luyện võ, trao dồi thể lực để mong có cơ hội ra giúp nước. Đêm đêm như thế, chẳng hề chểnh mảng đơn sai.

Vì thế mà hình thành được thành ngữ VĂN KÊ KHỞI VŨ 聞雞起舞: là Nghe tiếng Gà gáy thì dậy mà múa. Múa ở đây là Múa Gươm, vừa rèn luyện thân thể, vừa ôn tập võ nghệ. Thành ngữ nầy còn dùng để chỉ những người có chí muốn phục vụ cho quốc gia dân tộc, sẵn sàng cống hiến sức lực và tài năng của mình kịp thời và đúng lúc để đáp lời sông núi. VĂN KÊ sẽ KHỞI VŨ ngay!

Tiếng gà gáy sáng khi màn trời còn phủ sương đêm, làm ta chợt nhớ đến cô Kiều ” Đêm khuya thân gái dặm trường, Phần e đường xá phần thương dãi dầu!” khi trốn khỏi Quan Âm Các của Hoạn Thư một thân một mình với cảnh:

Mịt mù dặm cát đồi cây,

Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương” là lấy ý và thoát dịch một cách tuyệt vời 2 câu thơ trong bài THƯƠNG SƠN TẢO HÀNH 商山早行 của Ôn Đình Quân 溫庭筠 đời Đường là:

Kê thanh mao điếm nguyệt, 雞聲茅店月,

Nhân tích bản kiều sương. 人跡板橋霜.

Có nghĩa:

Tiếng gà xao xác gáy ở quán lá ven đường khi trăng còn chênh chếch bên trời, và…

Trên chiếc cầu ván nhỏ bắt ngang qua lạch nước còn đẫm sương đêm đã có một vài dấu chân người đi qua.

Cảnh vắng vẻ lạnh lùng của buổi sớm mai càng làm tăng thêm nỗi cô đơn thấp thỏm của người đang tìm đường tị nạn!…

Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

Con GÀ của Lục Súc Tranh Công còn tự hào về hình dáng của mình :

Trên đầu đội văn quan một mũ;

Dưới chân đeo hai cựa thần thương.

Qủa là Văn Võ Song Toàn với ” văn quan một mũ” “hai cựa thần thương.” Hình dáng của con gà trống thì qủa thật không chê vào đâu được. Mỏ vàng mồng đỏ, lông cánh lông đuôi màu sậm, lông mình sặc sở đỏ vàng xanh, bước đi bệ vệ, vỗ cánh phần phật làm cát bụi tung bay đầy trời trước khi cất cao tiếng gáy: “Ò Ó O Ò O…” đó là Gà Việt Nam; còn Gà Tàu thì gáy: “wu wu ti 喔喔啼…” Hồi xưa khi mới đậu Đệ Thất, tới giờ học Pháp Văn mới lần đầu tiên nghe tiếng gà Tây gáy: “Cocorici, co-co-ri-co…” Bây giờ định cư ở Mỹ, nghe mấy đứa cháu nội cháu ngoại cho gà gáy bằng tiếng Anh: “Cock-a-doodle-doo, cock-a-doodle-doo… !” Thật cảm khái vô cùng!!!

Gà oai phong là thế, đẹp rực rỡ là thế, nhưng khi có một con Hạc lạc vào thì lại trở nên tầm thường nhỏ bé, nên ta lại có thành ngữ: HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 có nghĩa là “Hạc đứng giữa bầy gà” đương nhiên Hạc trông cao ráo thanh thoát hơn hẵn bầy gà thấp lè tè bên dưới. Tiếng Việt ta còn nâng lên một cấp nữa, ta nói là “PHỤNG LỘN VỚI GÀ” Phụng chẳng những cao lớn hơn mà còn đẹp rực rỡ hơn gà nhiều! Câu “Hạc lập Kê Quần” có xuất xứ từ điển tích “Trúc Lâm Thất Hiền luận” của Đái Mục đời Tấn như sau:

KÊ THIỆU làm quan Thị Trung cho Tấn Huệ Đế, người khôi ngô cao lớn thông minh anh tuấn, văn võ song toàn. Lúc bấy giờ hoàng tộc nhà Tấn đang tranh quyền đoạt vị, giết hại lẫn nhau, mạnh ai nấy xưng vương, sử gọi là “Bát Vương Chi Loạn.” Kê Thiệu vẫn một mực trung thành với Tấn Huệ Đế. Lúc kinh thành có loạn Kê Thiệu đứng chặn trước cửa cung, loạn quân thấy vẻ hiên ngang hùng dũng của Kê Thiệu khiếp đãm đến không dám xạ tiễn. Khi Tấn Huệ Đế thua chạy ở Thang Dương, tướng sĩ chết vô số, Kê Thiệu vẫn theo sát để bảo vệ Huệ Đế đến nổi thân mình trúng mấy mũi tên, máu nhỏ cả lên long bào của Huệ Đế và ông đã hy sinh trong trận chiến nầy. Sau đó, những người tùy tùng định tẩy giặt những vết máu trên long bào, Huệ Đế đã ngăn lại bảo đó là máu của Thị Trung Kê Thiệu không được giặt đi. Khi Kê Thiệu lần đầu đến Lạc Dương, đi trong đám đông người, thân hình cao lớn, khí vũ hiên ngang, như là con Hạc đứng giữa bầy Gà vậy, từ đó mà hình thành thành ngữ HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 để chỉ những người vượt trội hơn người khác chẳng những về sức vóc mà cả về tài năng nữa!

KÊ THIỆU là con của KÊ KHANG, một trong TRÚC LÂM THẤT HIỀN:Gồm có Nguyễn Tịch 、Kê Khang 、Sơn Đào 、 Lưu Linh、 Nguyễn Hàm、 Hướng Tú、 Vương Nhung; Họ sống và ở ẩn giữa đời Ngụy và đời Tấn. KÊ KHANG chẳng những là Nhà Tư Tưởng, nhà Văn Học mà còn là Nhà Âm Nhạc nổi tiếng lúc bấy giờ với bản đàn Quảng Lăng Tán 廣陵散, mà cụ Nguyễn Du đã mượn NÓ để khen tài đờn của Thuý Kiều, khi cô đờn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên là:

Kê Khang nầy khúc Quảng Lăng,

Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.

Hạc Lập Kê Quần Trúc Lâm Thất Hiền

YAO MING 姚明: là Diêu Minh (người mặc áo đỏ trong hình trên), cầu thủ bóng rổ của Trung Quốc được Hội Bóng Rổ nhà nghề Rocket của thành phố Houston ký hợp đồng từ năm 2003 đến 2008 để tranh Giải Bóng Rổ Toàn Quốc Hoa Kỳ NBA. Yao Ming có thân hình cao 7’6″ (226cm)= 2 mét 26, nên khi đứng giữa các cầu thủ khác thì như là HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 vậy!

Con GÀ trống oai vệ mạnh mẽ là thế, nên có những con người yếu đuối không thể khống chế nỗi con gà, ngay khi cả con gà đã bị kềm chế… thúc thủ chịu trói rồi mà còn trói không chặc, để đến đỗi mang tiếng là THỦ VÔ PHƯỢC KÊ CHI LỰC 手無縛雞之力 là Tay không đủ sức để trói gà. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những chàng thư sinh ngày xưa, tối ngày chỉ biết ôm lấy quyển sách, miệng luôn đọc câu THI VÂN 詩云…TỬ VIẾT 子曰… (Kinh Thi nói rằng… Khổng Tử dạy rằng…) mà không chịu rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh để đến nỗi không có sức trói nỗi con gà, ta nói là “Thứ cái đồ thư sinh trói gà không chặc!”

Nhưng dù “Trói gà không chặc” nhưng các bà các cô ngày xưa cũng vẫn cứ… xáp vào! Và còn biện bạch là:

Chẳng tham ruộng cả ao liền,

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ!

Khéo mà nói xạo! Chẳng là vì “Cái bút cái nghiên” của anh đồ, một khi “ảnh” Kim Bảng Đề Danh thì sẽ có được “Ruộng cả Ao liền” như chơi mà thôi! Nên khi còn hàn vi thì đành bóp bụng mà GIÁ KÊ TÙY KÊ, GIÁ CẨU TÙY CẨU 嫁雞隨雞,嫁狗隨狗 Là Gả cho Gà thì theo Gà, Gả cho Chó thì theo Chó, mười hai bến nước, trong thì nhờ, đục thì… chịu khó “lóng phèn” mà thôi!

Con Gà rất gần gũi với người nông dân Việt Nam, là gia cầm quen thuộc và gắn bó mật thiết với đời sống hàng ngày của dân nước nông nghiệp, nó còn xuất hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ để khuyên nhủ, nhắc nhở hay chê trách một điều gì đó trong cuộc sống, đôi khi lại cảm thông tưởng thưởng, như những người góa vợ mà chịu khó “Gà trống nuôi con”; những người biết nhẫn nhịn, không như “Con gà tức nhau vì tiếng gáy.” Khi chê trách thì không thiên vị người nào, kể cả các bậc vua chúa như Lê Chiêu Thống cũng bị quở là “Cõng rắn cắn gà nhà!” Anh em trong nhà thì luôn được nhắc nhở là “Anh em như thể tay chân”, nên:

Khôn ngoan đá đáp người ngoài,

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau!

Khuyên thì khuyên vậy, chớ đôi khi vì quyền lợi, tài sản, thậm chí chỉ vì miếng cơm manh áo vẫn có thể “Gà nhà bôi mặt đá nhau như thường!” Có được đứa “Con gái rượu” lấy chồng giàu sang quyền quý, thậm chí được làm Thiếp làm Phi của vua, như Dương Qúy Phi ngày xưa, hoặc như cô Giả Nghinh Xuân trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần thì cả nhà đều được vinh hoa phú qúy như có được “Con Gà đẻ trứng vàng” vậy! Trước mắt, các cô lấy chồng ngoại quốc, hay Việt Kiều Mỹ, Úc, Canada… thường xuyên gởi “đồ tiên” (là Tiền Đô) về cho gia đình chi dụng, cũng gọi được là có “Con Gà đẻ trứng vàng”, hay mỉa mai hơn thì nói là “Gia đình đó có được miếng đất xéo ở bên Mỹ đó!”

Mấy đời mẹ ghẻ thương yêu con chồng!

Nhắc đến Mẹ Gà Con Vịt ” lại nhớ đến bốn chữ “Đầu Gà Đít Vịt” của dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu… để chỉ các cô gái người Hoa lai… Miên. Các cô em nầy có nước da ngâm ngâm… bánh ít, với đôi mắt to đen lay láy, đặc biệt là hai hàng lông nheo dài cong vút thường hay chớp chớp như để hớp hồn người đối diện, nhất là các cô người Tiều Châu. Trong truyện ngắn “Đầu Gà Đít Vịt” của nhà văn Bình Nguyên Lộc, ông đã viết như thế nầy:

…Người đàn bà cha Tàu mẹ Miên vừa có sắc đẹp, lại vừa ngây thơ, chân thật, dễ yêu lắm!

Trứng gà, thịt gà với đủ các món như Ốp la, Ốp lết, Xé phay, Luộc, Nướng, Quay, Chiên, nấu Cà-Ri… luôn hiện diện hằng ngày trong các bửa ăn gia đình. Định cư ở Mỹ rồi thì lại càng “gần gũi” với thịt gà hơn, vì đây là món thịt rẻ nhất nước Mỹ, với 10 pounds (khoảng 4 ký Rưởi) Leg quarters (Phần tư gà có luôn đùi) lắm khi hạ gía chỉ còn có một đồng 99 xu mà thôi. Bửa ăn tiện lợi và nhanh nhất cho những ngày bận rộn là Fry chicken (Gà lăn bột chiên). Bảo đãm rất ngon miệng, rất no nê và sẽ… rất mau lên cân, rất mau lên máu! Và cũng sẽ rất mau… “quáng gà”, “Trông gà hóa cuốc”, đưa đến cảnh Ông nói gà bà nói vịt”: Đi chưa tới chợ mà mua tương cái nổi gì!

Bà con miền Bắc nói: “Con gà cục tác lá chanh”, tôi không biết là họ đang làm món gì, chắc họ đang ăn gà luộc?! Tôi là dân Nam Kỳ lục Tỉnh chỉ biết “Rau răm nó hại con gà chết tươi!” Thịt gà “xé phay” thì không thể nào thiếu rau răm cho được. Thịt gà ngoài việc xào gừng, xào xã ớt, còn một món xào thật đặc sắc mà không dân nhậu nào không thích cả, đó chính là “Gà xào bún nấm củ hành!”, nhậu cũng “bắt” mà ăn cơm cũng “hết xẩy” luôn! Rất thực tế chân thật, không mĩa mai như miền ngoài:

Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi.

Nói đến đây, lại nhớ đến một câu chuyện dân gian về “ăn chia” thịt gà trong gia đình; để thay đổi không khí, xin được kể theo kiểu phóng tác của ông Ly Cu Tê ở CANADA, vừa có phong thái cổ điển lại vừa có hơi hám thời sự của hiện tình đất nước… Trích:

Xưa bên nước Vệ có ông nọ làm quan đến chức Tể Tướng. Hơn thập niên nắm quyền sinh sát trong triều đình, của cải ngân lượng ở bá tánh thuộc về ông không biết cơ man nào mà kể. Ngày kia, biết mình đã sắp đến lúc bị cho về vườn giăng câu đặt trúm, chích thuốc dạo, Tể Tướng bèn sai gia nhân làm thịt một con gà mái dầu luộc chín bày lên dĩa, sau đó ông gọi các con lại mà rằng:

– Các con nghe đây, tuổi cha nay đã cao, sức nhai sắp hết mà sức bú cũng chẳng còn, thời khắc giã từ mũ mão áo gấm không còn xa nữa. Hôm nay ta có con gà luộc, các con hãy tới chọn một bộ phận trên mình gà, rồi làm câu thơ ứng với thứ mình chọn để ta biết chí hướng của từng đứa mà lo đường công danh sự nghiệp mai sau cho!

Bốn người con đồng thanh dạ ran. Chàng trưởng nam giơ tay xin ứng khẩu trước, anh bước tới đĩa ngắt lấy cái đầu gà bỏ vào chén mình, rồi dõng dạc ngâm:

– Trai thời trung hiếu làm ĐẦU !

Ông quan nghe vậy khoái chí phán:

– Chọn đầu gà chứng tỏ con là người thao lược, lắm mưu nhiều kế. Để ta cho con làm quan ở bộ Xây, mỗi năm xây chừng mười cái tượng đài và tháp tàng hình thì mặc sức mà đếm ngân lượng!

Đến phiên người chị cả bước lại bàn bẻ cặp đùi, hai cánh và chiếc phao câu, rồi thong thả ứng khẩu:

– Gái thời tiết hạnh PHAO CÂU, CÁNH, ĐÙI!

Tể tướng nghe xong vuốt tóc con gái tấm tắc khen:

– Giỏi lắm con gái rượu của ta, chọn đùi cánh là số phải đi xa, chọn phao câu là người đảm đang có hậu. Được, ta cho con qua xứ Cờ Hoa du học, rồi kiếm thằng “Vệ kiều liu vong” nào bên ấy mà kết tình phu phụ đặng yên bề gia thất nghe chưa!

Người thứ ba là cô con dâu, nàng rón rén bước lại đĩa gà bê nguyên bộ lòng e thẹn ngâm nga:

– Phần con một DẠ một LÒNG!

Thấy con dâu xinh đẹp mặt hoa da phấn chọn bộ lòng gà, Tể tướng gật gù:

– Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, con đã chứng minh lòng hiếu thảo với gia đình ta, sau này con sẽ là đệ nhất phu nhân xứ Vệ!

Người cuối cùng là chàng út có dung mạo giống cha mình hồi trẻ như đúc, anh nhanh nhảu bước lại đĩa rinh hết cái mình gà, rồi hí hửng đọc:

– Công cha nghĩa mẹ hết MÌNH vì con!

Ông quan vỗ đùi đánh đét một phát, rồi đưa tay vuốt vuốt chiếc cằm nhẵn thín, mặt ngửa lên trời cười ha hả ý chừng vô cùng khoái lạc:

– Kha khá khá. Đúng là hổ phụ sanh hổ tử, chọn mình gà chứng tỏ biết bao quát nhìn xa trông rộng giống ta, nay ta cho con về cai quản vùng đất Trung phần, ở đấy rất thuận lợi cho việc thăng quan tiến chức của con sau này!

Bốn người con cúi đầu vâng mệnh ai về chỗ nấy. Bắt đầu từ hôm đó cô chị cả được ông cho qua xứ Cờ Hoa du học, rồi yên bề gia thất với một chàng Vệ kiều lưu vong. Người con trai thứ được ông cho về bộ Xây, nghe đâu mới được thăng lên quan đầu tỉnh thuộc miền Tây giang thuỷ. Chàng út cùng cô dâu xinh đẹp giờ đang cai quản miền Trung nắng gió đầy sản vật, chuyện đến đây không có gì đáng nói.

Nhiều năm sau, câu chuyện chia gà của ông quan Tể Tướng bị lũ dân đen bần nông vàng vẩu đất Vệ đồn đãi khắp hang cùng ngõ hẻm nên người trong thiên hạ mới có thơ rằng:

Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định xóa sổ 2 sòng bạc lớn nhất Sài Gòn Chợ Lớn là Kim Chung và Đại Thế Giới, thì đề 36 không còn nữa. Nhưng nhóm quân đội người Nùng giúp Tổng Thống dẹp loạn Bình Xuyên vẫn còn xổ đề ở vùng Cây Da Xà Phú Lâm Chợ Lớn, và họ đã thêm vào 4 con nữa cho đủ 40. Bốn con thêm vào là 37 Thiên Công (Ông Trời), 38 Địa Chủ (Đất Đai), 39 Thần Tài và 40 là Táo Quân (Ông Táo . Theo đề 36, thì CON GÀ tên chữ là NHỰT SƠN, đứng đầu trong nhóm TỨ HÒA THƯỢNG mang số 28, nếu đánh theo Xổ số Kiến Thiết từ 00 đến 99, thì phải thêm một con 68 nữa là Con Gà Lớn, theo như…

Sáng ra 28 cứ đà ghi ngay.

Ai dè nó xổ…con Nai… hết tiền!

Nạn đánh đề càng trầm trọng khi xã hội càng phân biệt giàu nghèo. Dân càng nghèo càng phải chạy theo cuộc sống và càng mê số đề hơn, và… càng thua nhiều hơn nữa, rồi càng phát sinh nhiều tệ nạn xã hội hơn và cuối cùng là xã hội càng băng hoại hơn đến nỗi phát sinh thêm một loại gà mới: “Gà Móng Đỏ!” Nghe mà đau lòng, vì đây không phải là Gà thật, mà là tiếng lóng dùng để gọi các cô gái ăn sương, bán trôn nuôi miệng, sống lang thang vất vưởng mà người đời miệt thị là hạng “Mèo mả Gà đồng”, như Hoạn Bà, mẹ của Hoạn Thư đã hạ nhục Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân,

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào!

Buồn thay số đề! Con Gà là NHỰT SƠN 日山, là Trời đã về chiều, mặt trời sắp lặn xuống núi. Theo số đề hoài thì đời sẽ sớm… về chiều và sẽ… lặn xuống núi luôn! Thua đề hết tiền thì đi vay nguội, vay nóng, vay xã hội đen ” ký giấy nợ với mức lời cắt cổ “Xanh xít đít đui (cinq six dix douze: Mượn 500 thì cuối tháng trả 600; mượn 1000 thì cuối tháng phải trả 1200 ).” Bút đã lỡ sa, thì Gà cũng chết ngắt!” Ông bà ta dạy:

Nhất tự nhập công môn, 一字入公門,

Cửu ngưu đà bất xuất. 九牛拖不出。

Một chữ đã “lỡ” vào đến công đường rồi, thì…

Sức mạnh của chín con trâu cũng kéo ra không nổi!

“Bút đã lỡ sa, thì Gà phải chết” mà thôi! Như nhắc đến câu “Cỏng rắn cắn gà nhà, Rước voi giày mả Tổ” là bàng dân thiên hạ sẽ nghĩ ngay đến ông vua cuối cùng của triều Hậu Lê:

Gà chết vì là món ăn khoái khẩu của người đời, nên hễ có dịp là mỗ gà, là giết gà, là làm thịt gà để đãi nhau khi gặp bạn, để ăn nhậu lúc hội hè. Thề thốt nghiêm trang thì vặn cổ gà, Tế thần tế thánh cũng cắt cổ gà, cúng quải ông bà cũng luộc con gà… Hễ có dịp là sẽ mượn cớ để giết gà, giết gà để dọa khỉ, mất đồ mất đạc thì vái cúng con gà… Con gà được dùng để trả lễ cho thần thánh, dùng để trả ơn, như ở Mỹ hiện nay, mỗi năm trong ngày Lễ TẠ ƠN (Thanksgiving) hơn 50 triệu con Gà Tây được đưa lên bàn ăn để làm lễ “Tạ Ơn”…

Lễ Tạ Ơn ở xứ Mỹ nầy được cho là bắt nguồn từ lễ kỷ niệm tại Plymouth, Massachusetts, nơi những người hành hương tị nạn tôn giáo Anh đã mời người da đỏ bản địa đến dự một bữa tiệc thu hoạch sau một vụ mùa bội thu để tỏ lòng biết ơn.

Vụ thu hoạch của năm trước bị thất bát là vào mùa đông năm 1620, một nửa số người hành hương bị chết đói. Những người sống sót may mắn được các thành viên của bộ lạc Wampanoag địa phương dạy cách trồng ngô, đậu, bí đỏ và đánh bắt cá hải sản, săn gà rừng…

Bữa tiệc được tổ chức kéo dài trong 3 ngày, gồm các món như gà Tây, ngỗng, tôm hùm, cá tuyết và nai.

Đặc biệt là mỗi năm, ít nhất có một con gà tây sẽ được Tổng thống Hoa Kỳ “ân xá”. Ân xá cho gà tây chính thức trở thành nghi lễ của Nhà Trắng dưới thời Tổng thống George H.W. Bush (Bush cha) vào năm 1989 khi ông “miễn tội” cho một con gà tây tại Vườn hoa hồng trong Nhà Trắng.

Năm rồi, Tổng thống Obama đã ân xá cho một trong hai con gà tây tại Nhà Trắng vào ngày 23/11.

Năm nay, Tổng thống tân cử Donald Trump sẽ quyết định có tiếp tục nghi lễ này không, hoặc ông sẽ chọn một hình thức khác? Chúng ta hãy chống mắt chờ xem!

Tiệc Gà Tây Tổng Thống Mỹ ân xá Gà Tây

Sang qua Pháp thì con Gà Trống trở thành thần vật, là biểu tượng của nước Pháp với danh xưng “Con Gà Trống Gô-loa.” Thực ra đây chỉ là một cách chơi chữ, rồi lộng giả thành chơn. Vì Tổ Tiên của Pháp là người Gô-loa (Gaulois ,tiếng La-tinh viết là Gallus, mà Gallus còn có nghĩa là “gà trống”.

Nhận thấy con Gà Trống có nhiều ưu điểm hơn người, từ hình dáng cho đến đi đứng tính cách đều có điểm ưu việt, như “Nó” sở hữu một ngoại hình đẹp đẽ: oai vệ với mào đỏ rực, đuôi dài màu xám xanh cong lên như những đoản kiếm. Mỗi buổi sáng đều gáy vang báo thức đúng giờ, rồi hiên ngang đi vòng quanh trang trại để bảo vệ bầy đàn. Sự cảnh giác và lòng dũng cảm của những chú gà trống đã trở thành lý do khiến nó trở thành biểu tượng của người Pháp.

Thời trung cổ, gà trống Gô-loa được người Pháp sử dụng như một biểu tượng tôn giáo, thể hiện niềm hy vọng và đức tin. Hình ảnh những con gà trống thường xuất hiện trên các tháp chuông nhà thờ, tháp canh.

Vào thời kỳ Văn Hóa Phục Hưng, hình ảnh những con gà trống được gắn liền với sự hình thành của nước Pháp. Dưới các vương triều ở thời kỳ này, các bản chạm khắc và đồng tiền đều mang hình ảnh gà trống. Nó cũng xuất hiện trên lá cờ trong cuộc Cách mạng Pháp 1789 và tượng trưng cho sự kiên cường, lòng dũng cảm của người dân nước này trong Thế Chiến Thứ Hai. Ngoài ra, phần lớn người Pháp đến bây giờ vẫn coi gà trống Gô-loa là biểu tượng của sự chân thành và tươi sáng.

Khi các đội tuyển Thể Thao của quốc gia Pháp đi giao đấu, mọi người trên thế giới đều gọi họ với biệt danh “Những chú gà trống Gô-loa” là vì thế!

Trở lại với phong trào THƠ MỚI của ta thời Tiền Chiến, ngoài những thơ tình ướt át làm rung động lòng người, như những bài thơ tình của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Đông Hồ, Tương Phố, TTKH… Ta còn nghe được tiếng Gà Gáy của miền quê thôn dã vang vang cả sáng trưa chiều tối vọng mãi trong tâm hồn người dân Việt, nhất là những người dân Việt sống lưu vong nơi xứ lạ quê người như chúng ta hiện nay. Nào hãy nghe…

Gà gáy đầu thôn, gáy giữa thôn,

Mưa tinh sương mát tận tâm hồn.

Đó là tiếng gà gáy trong buổi ban mai vang lên từ đầu bếp đến đầu thôn, giữa thôn của Huy Cận, Ông còn cho gà gáy hòa âm trên biển sóng:

Và tiếng Gà gáy trong mưa khi được mùa:

…Và không riêng gì Huy Cận, ta còn nghe thấy tiếng gà gáy trong ký ức tuổi thơ của Chế Lan Viên:

Nhắc đến gà gáy trưa thì không thể nào thiếu được tiếng gà gáy trong Nắng Mới của Lưu Trọng Lư:

Vào thời Tây Sơn, tương truyền Nguyễn Lữ là người đã sáng tạo ra môn võ Hùng Kê Quyền (quyền gà chọi) hay Hồng Kê Quyền, là bài quyền mô phỏng các kỹ thuật của gà chọi, một trong 10 bài danh võ được Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam lựa chọn qua các kỳ hội nghị chuyên môn toàn quốc (sau 1975). Đặc trưng của bài quyền là những động tác dũng mãnh của con gà chọi nhỏ bé mà nhanh nhạy trước đối thủ, bài Hùng Kê Quyền sử dụng ngón tay trỏ để đâm mô phỏng hình mỏ gà, và các ngón còn lại co vào như chiếc cựa gà. Thủ pháp độc đáo như vậy lại nhằm vào những mục tiêu hiểm của đối thủ, như các huyệt đạo, ngực, hầu v.v. Bộ pháp của bài quyền hết sức linh hoạt, thần tốc, xoay chuyển một cách biến ảo đã hỗ trợ cho việc thi triển thủ pháp một cách kiến hiệu, khiến đối thủ luôn phải hứng chịu những đòn thế có tính sát thương.

Còn ai mê đọc tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung thì không thể nào không biết đến chiêu thức KIM KÊ ĐỘC LẬP 金雞獨立, một chiêu thức võ công độc đáo, đứng thẳng một chân với nhiều tư thế, hai tay cung ra hai bên với nhiều điệu bộ khác nhau. Đây cũng là một chiêu thức của môn Thái Cực Quyền, đồng thời cũng là một phương pháp dưỡng sinh độc đáo có một không hai để phòng ngừa các bệnh như Tiểu đường, Cao huyết áp, Mất trí nhớ…

Các tư thế của chiêu thức Kim Kê Độc Lập

Ta thấy, CON GÀ gần gũi thân thiết với con người là thế. NÓ hiện diện trong sinh hoạt, thực phẩm, giải trí và cả phương pháp dưỡng sinh nữa, lại mang những đức tính tốt đẹp như duy trì kỷ luật, đúng giờ, có tinh thần trách nhiệm, “ga-lăng” với phái yếu và bảo vệ bầy đàn… nên các Thầy Đồ Nho xưa thường hay khuyên học trò là:

” NINH VI KÊ THỦ, BẤT VI NGƯU HẬU “

寧 為 雞 首, 不 為 牛 後。

Thà làm đầu gà, (chớ) hổng thèm làm đít trâu!

Đầu gà tuy NHỎ nhưng mồng mỏ đẹp đẽ hiên ngang, còn đít trâu tuy LỚN mà là nơi thải ra những thứ… thối không chịu được!

Trở lại với sấm Trạng Trình của 500 năm trước: “Mã đề Dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai kiến thái bình!” Thêm một “anh hùng hay anh khùng” Fidel Castro vừa mới “tận” cuối năm 2021 đây, chú khỉ THÂN thì đã đi qua rồi, liệu con gà DẬU có mang đến Thái Bình được hay không? Dân Chợ Lớn nói “DẬU 有 là CÓ” . Trong khi tổng thống đắc cử của nước Mỹ là tỉ phú ĐỖ NAM TRUNG (Donald Trump: Báo chí trong nước dịch âm là Đỗ Nam Trung!) chỉ muốn rút vào cái vỏ sò MỸ xinh đẹp của mình mà không màng đến thế giới nữa. Điệu nầy chắc phải cầu cứu với CHỊ DẬU người mẫu mặc rất ít đồ là Melania Trump thúc vào hông của ông ta xem sao!?

Mong rằng trong năm ĐINH DẬU 2021 nầy, thế giới sẽ KIẾN THÁI BÌNH trong phép lạ!!!

Thứ mười chi Dậu thuộc con Kê,

Gặp phải thiên Đinh trở lộn về.

Đinh Dậu gà nòi đang tạo dáng,

Bính Thân khỉ đột đã về quê.

“Văn kê khởi vũ” tua cần mẫn,

“Độc lập kim kê” thỏa mọi bề.

“Cỏng rắn cắn gà” gương lịch sử,

“Bút sa gà chết” tội vua Lê!

Đỗ Chiêu Đức

Câu đối cho năm Đinh Dậu 2021:

Bính Thân khỉ đã về non, Thân hữu bốn phương cùng đón Tết.

Đinh Dậu gà đang tạo dáng, Đồng hương khắp chốn thảy mừng xuân!

【#6】Đội Bóng Đá Ý: Guardiola Gạch Tên Bốn Cầu Thủ Khỏi Man City Cùng Một Ngày

Thiem đã phải trả giá cho những sai đội bóng đá ý lầm ở đúng thời điểm quan trọng.

Họ nói về pha ghi bàn đã giúp cho Gremio vô địch giải đấu mới đây. Trong mùa giải đầu tiên, Morata ghi được 15 bàn, bao gồm 11 lần lập công tại Ngoại hạng Anh. Ông Hải cho biết trên chuyến bay tăng cường của Hãng hàng không quốc gia có khoảng 150 cổ động viên mặc đồng phục màu đỏ. “Lâu rồi chúng ta mới lại có ngày hội bóng đá thế này, vào vòng trong Asiad các đội đều mạnh, song tôi vẫn tin tưởng đội tuyển đạt thành tích cao”, ông Hải nói.

Bởi mùa giải bị hủy bỏ đồng nghĩa với việc họ vẫn giữ được danh hiệu vô địch. Anh là người mở tỉ số trong trận bán kết với Hàn Quốc, sau một pha di chuyển thông minh.

Trong trận đá lại vòng ba FA Cup mới đây, cựu vua phá lưới La Liga thậm chí không có tên trong danh sách đăng ký. Tuy nhiên, bất chấp kết quả của trận chung kết, Hoàng Nam nhiều khả năng sẽ chen chân vào top 500 thế giới khi bảng điểm ATP được cập nhật vào đầu tuần tới.

Chúng tôi có đầy những vấn đề và đội bóng đá ý bất lợi, nhưng sẽ chẳng đi đến đâu nếu chỉ nghĩ về những cái đó. Giữa các bên chưa đề cập đến phí chuyển nhượng.

Tuy nhiên, vận may sau đó lại quay lưng lại với lão tướng người Phần Lan. Bên cạnh Betis, những đội xếp trên thầy trò HLV Zinedine Zidane gồm Barca (18 điểm), Atletico (14), Sevilla (13) và Valencia (12). Khả năng Joshua so găng với Parker là rất sáng sủa.

Cầu thủ trẻ của Bayern Munich quá ham tấn công trước Mexico và cánh của anh liên tục bị đối phương khoét vào. Lovren thân thiết với Salah và không thích Ramos.

Aguero sẽ vắng mặt trong giai đoạn quan trọng sắp tới của Man City.

Việt Nam (13 trận), Indonesia (12 trận), Singapore (11 trận) và Malaysia (9 trận) là những đội bóng đá ý đội tuyển có số trận thắng trên sân nhà nhiều kế tiếp. Ảnh: AFP.

鐩稿叧閾炬帴锛� kết quả mu: Di Maria: ‘Tôi chưa từng muốn rời Real Madrid’sâm liêng: Ngày giông bão của Lewis Hamilton ở chặng đua nước Đứcblackjack club: Ozil cán mốc 50 đường kiến tạo ở Ngoại hạng Anh nhanh nhất lịch sửbùa cờ bạc số đề: Chelsea thiệt hại ít nhất 150 triệu đôla nếu sa thải Mourinhobaccarat mille nuits: Steven Gerrard và ước vọng không thành ở Cup FAChơi baccarat trực tuyến là bất hợp pháp: Sergio Ramos lại đổi kiểu tóc trước chung kết Champions LeagueNhà cái cá cược chung kết cúp châu Âu: Wenger xem nhẹ cuộc biểu tình của CĐV Arsenalgoogle danh bai: Vettel: ‘Quá sớm khi nói Rosberg sẽ vô địch’sòng bài thomo: Anish Giri: ‘Tại Hà Lan, cờ vua sắp phổ biến như giấy vệ sinh’ứng dụng ứng dụng: Saigon Heat lần đầu vô địch VBAlô đề kiên giang: HLV UAE: ‘Thẻ đỏ khiến chúng tôi thua Việt Nam’Tin tức thể thao mới nhất: Tiger Woods gặp McIlroy ở vòng 1/8 Dell Match Playroulette châu âu l: Gerrard vén màn bí mật về ba lần từ chối Mourinhochoi co tuong tren mang: HLV Triều Tiên: ‘Việt Nam mắc nhiều lỗi’william hill sports: Mata ghi tuyệt phẩm, Man Utd bằng điểm top 4game ma: Bale giúp Real Madrid thoát hiểm trong ngày vắng Ronaldonhà cái qq288: Mayweather tự nhận cửa dưới so với McGregorNhững loại trò chơi bóng đá trực tuyến: Chelsea cứng rắn với Lampardphần mềm lô đề excel: Cựu trọng tài FIFA: ‘Trọng tài sai khi Viettel đá phạt đền’xì dách facebook: 32 trường học dự giải futsal học sinh lớn nhất TP.HCMgame choi doi thuong: Arsenal sa thải Unai Emerytai tro choi danh bai tien len: VFF sẽ bán online vé xem chung kết Việt Nam – Malaysiabắn cá ifish: Bản tin Thể thao tối 23/6download game danh bai online: Trọng Hoàng và Minh Châu bị loại khỏi AFF Cup 2014casino hold’em calculator: HLV Salzburg: ‘Thà thua còn hơn để Barca vờn’Trò chơi cá cược trực tuyến: HAGL xin lỗi Duy Mạnh, cấm Tăng Tiến đến hết giai đoạn một V-League 2021bóng đá zocker: Tân binh của Arsenal choáng với Liverpooldownload tien len mien nam: Giroud được khuyên rời Arsenal để dự World Cupgame bóng đá android: Conte thừa nhận tương lai mông lung ở Chelseachoi game tien len online: Số máy chiếu cho lễ khai mạc SEA Games 28 nhiều hơn cả Olympic Bắc Kinhgame online nhap vai hay nhat hien nay: Wenger muốn tránh Atletico ở bán kết Europa Leaguesòng bạc bên campuchia: Federer thiết lập kỷ lục mới ở Wimbledontai game hay nhat the gioi mien phi: Thua Rockets, Spurs bật khỏi top tám miền Tâygame bai doi thuong the cao tren may tinh: Mourinho: ‘Chelsea chưa chơi trận nào tệ cả’game bai bigwin: Real bơm cầu thủ cho đối thủ cùng thành phố với Barcatrò chơi joker: Mourinho tự hào nhất với những danh hiệu ở Portothuốc gà đá falcon: Hoàng Xuân Vinh được đề cử giải VĐV xuất sắc năm 2021Phong cách Baccarat: Juventus áp sát chức vô địch Serie A lần thứ bảy liên tiếpcách chơi baccarat an toàn nhất: Huyền thoại Croatia rơi lệ khi được Modric tri ân trong lễ trao The Bestsicbo casino: Wozniacky hạ Sharapova sau ba set kịch tínhsố đề gà con: Atletico mua tuyển thủ Croatiacờ thế online: Rooney hân hoan nâng chiếc Cup đầu tiên dưới thời Van Gaalblackjack enduro: Cafu: ‘Chỉ Neymar mới biết điều gì tốt nhất cho cậu ấy’Đánh bạc Baccarat: Michael Phelps phấn khích khi Tiger Woods vô địch Tour Championshiprồng hổ ji: Trọng tài ghi đội thua thành thắng ở giải bóng bàn toàn quốcfun88 link khuyến mãi: Maradona bị lộ ảnh bôi đen mặt Aguerobóng đá việt nam và indonesia hôm nay: HLV Hữu Thắng: ‘CĐV chê trách tôi và đội tuyển là điều mừng’baccarat cookware: Djokovic: ‘Federer được ưu ái là điều bình thường’nổ hũ cup: Hai tuyển thủ U23 Việt Nam lập công, SLNA chiến thắng tại AFC Cupvwin english speaking: Ngày bội thu HC vàng của điền kinh Việt Nam ở SEA Games 30cá độ bóng đá quảng nam: Phelps thề không uống rượu để giành vé dự Olympictro choi hoi: Man Utd đấu Tottenham ở bán kết Cup FACách đặt cược trực tuyến tại cúp châu Âu: Vượt ải West Brom, Man City đặt một chân trong top 4game bắn cá đổi thưởng thật: Những ước vọng hồi sinh cho Serie A 2021-2020cách vẽ đường trong Baccarat: Chạy bộ kết hợp du lịch cho cả gia đìnhgiải vô địch bóng đá châu âu olympia việt nam: Nice thống trị ngôi đầu Ligue I dù Balotelli đá hỏng phạt đềntrận bóng đá việt nam-indo: Man City chạm trán Man Utd ở vòng bốn Cup Liên đoànđội tuyển việt nam dream league soccer 2021: Thạch Kim Tuấn giành HC vàng đầu tiên cho Việt Nam ở AIMAG 2021roulette wheel: Messi ghi bàn giúp Argentina hạ Brazilgame da banh: Ramos vượt Ronaldo, đoạt giải Cầu thủ hay nhất FIFA Club World Cupxổ số minh ngọc: AFC đồng ý cho CLB Hà Nội đá sớm để tránh Tếtgame danh bai hot nhat hien nay: Lampard không đảm bảo Kepa bắt chínhgame nhập vai online cho pc: VĐV Việt Nam liên tiếp gặp sự cố ở Đại hội thể thao mùa đông châu ÁCa Tom Cua: Nadal vô địch Madrid Mở rộng, soán vị trí Federer trong top 4cá độ bóng đá trực tuyến uy tín là ai: Costa cầu cứu ‘thần y’ Marijanagame danh: Leicester áp đảo đề cử Cầu thủ hay nhất năm của bóng đá Anhchơi cơ tương: Man City công bố tân binh trị giá 73 triệu USDbk8 live tv apk: Wenger hưởng lương cao chỉ sau Guardiola và Mourinho nếu ở lại ArsenalRockabilly Wolves: Chiến địa độc đáo ở Zozo Championshipđá gà 12 giờ: Joshua: ‘Hãy mang Wilder đến đây và tôi sẽ knock-out anh ta’Honey Honey Honey: Mourinho cùng con gái xem trận Anh – Bồ Đào Nhacá độ trực tuyến youtube: Nhà vô địch WBC Trần Văn Thảo tái xuất ở Việt Namhoc co tuong: HLV Tuchel nhờ các chủ hộp đêm ở Paris giám sát cầu thủ PSGxì dách trong tiếng anh: Neymar và Dani Alves làm loạn phòng thay đồ PSGmini valise a roulette: Trọng tài chính không nhìn được lỗi khiến Ronaldo bị thẻ đỏcasino thái lan: Ferdinand: ‘Ronaldo luôn để ý người khác nói gì’danh bai doi thuong moi nhat: Hiddink bị chỉ trích vì ở Hà Lan nhiều hơn Trung Quốcđội tuyển việt nam loại 2 cầu thủ: Quang Liêm tiếp tục thăng hoa khi sang Mỹwebtrò chơi cờ vua tiền thật tốt hơn: HLV Man City suýt lỡ chuyến bay vì sự cố hộ chiếuchơi baccarat trực tuyến như thế nào: Luis Figo: ‘Ronaldo có thể vượt Messi, đoạt Quả bóng Vàng 2021’game danh bai nhieu nguoi choi nhat hien nay: Mạc Hồng Quân ghi bàn phút 90, Quảng Ninh hạ Hải Phòngkeno hacks: Juventus quyết chiêu mộ tiền vệ trụ cột của Leicestertrang web baccarat nào rút tiền nhanh nhất: Chelsea lập kế nẫng Pep ngay trước mũi Man City và Man Utdnhà cái uy tín tại việt nam: Ibra: ‘Nếu tôi muốn đá vào đầu ai đó, đối thủ hẳn sẽ hôn mê’đá gà giải: Man City sẽ chèo kéo Guardiola nếu chia tay Pellegrinitrận bóng đá siêu kinh điển hôm nay: Mourinho hạ thấp chiến công của Di Matteo ở Champions Leaguebaccarat tặng kinh nghiệm vàng: Jordan Spieth cô đơn khi xa gia đình thi đấucông ty xổ số điện toán việt nam (vietlott): HLV Troussier: ‘Tôi muốn đưa Việt Nam đến Olympic, World Cup’imdb black jack: Kiatisak ca ngợi Malaysia sau trận thắng Việt Namsicbo dadu: Real trút cơn mưa bàn trong ngày tái hiện trận chung kết Cup C1 đầu tiêngame game mobile: Tay vợt Ấn Độ vô địch Vietnam Open 2021cá cược bóng đá trực tuyến: Man Utd hoàn tất hợp đồng với MkhitaryanTiền hoa hồng giới thiệu bóng đá: Real rút ngắn cách biệt với Barcatài xỉu có bao nhiêu cầu: Philipp Lahm giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tếpk10 ggl: Gary Neville: ‘De Bruyne rất giống Beckham’Chơi baccarat trực tuyến có bất hợp pháp không: Tom Watson đánh bại bóng đêm, chia tay The Openjack casino hold em tournaments: Zidane đưa con trai vào danh sách chuẩn bị cho trận chung kết Champions Leagueblack jack fish: Scholes: ‘Không còn Welbeck, Man Utd tấn công như đi bộ’chơi cơ tương trưc tuyên: U22 Việt Nam loại thêm năm cầu thủxổ số thái bình ngày 23 tháng 6: Việt Nam chưa từng thua Campuchia trước giải U18 Đông Nam Á

【#7】Minh Tiến Sắp Mở Trại. Mong Anh Em Ủng Hộ

Tác giả

Xếp hạng:

Đã bấy lâu nay bạn tới nhà

Trẻ thì đi vắng , chợ thời xa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Đầu trò tiếp khách, trà không có

Bác đến chơi đây ta với ta.

chúc bác MT THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP, GẶP nhiều may mắn, giúp cho ae chơi gà trên cả nước có được nhửng con gà ưng ý nhất……

Trong 1 thời gian ngắn nữa, MT chăm gà đủ pin sẻ chuyển 1 con cho BQL diễn đàn 1 con để kiểm chứng CHẤT LƯỢNG gà của trại. Ngày đó, Kính mong anh em vào ngắm con gà làm quà cho BQL.

Thành thật cám ơn đến tất cả anh em diễn đàn đã tạo cho MT điểm tự. Cám ơn

khuonglomrom

Thiếu niên

Gia nhập: 15/09/2010

Khu vực: Ha noi

Tình trạng: Offline

Điểm: 2578

Ngày đăng: 13/06/2013 lúc 11:12am

kimcuongplt viết:

Trong 1 thời gian ngắn nữa, MT chăm gà đủ pin sẻ chuyển 1 con cho BQL diễn đàn 1 con để kiểm chứng CHẤT LƯỢNG gà của trại. Ngày đó, Kính mong anh em vào ngắm con gà làm quà cho BQL.

Thành thật cám ơn đến tất cả anh em diễn đàn đã tạo cho MT điểm tự. Cám ơn

khuonglomrom viết:

[QUOTE=kimcuongplt]

– Cám ơn anh !

Chuyện uy tín thì buộc phải có vì không ai lại tự đá đổ chén cơm của mình. Việc chất lượng thì….xin anh kiểm chứng những tiêu đề sau:

http://www.gadonvietnam.com/forum_posts.asp?TID=31058&title=g-bt-t-tri-minh-tin-xoay-li-nh-anh-em-chm

http://www.gadonvietnam.com/forum_posts.asp?TID=31264&title=g-hi-phng-gc-tri-minh-tin

http://www.gadonvietnam.com/forum_posts.asp?TID=31239&PN=1&title=g-tri-minh-tin-5-ngy-sau-khi-ra-bc

hanhduy224 viết:

Sự nhiệt tình cộng với uy tín sẽ làm lên thương hiệu lớn.

Cố lên anh! ae luôn theo sát anh trên diễn đàn!

Chúc trại MT Thành Công ạh!!

BG0289 viết:

Chúc trại MT Thành Công ạh!!

– thanks

Mở trại trên diễn đàn này hay là mở trại nuôi ở nhà vậy bác?

Uy tín chúc bác có được điều đó.

không có điểm gì để chê nữa, từ đầu mỏ đến móng chân . đẹp thật . Chúc thầy trò dành nhiều chiến thắng!

yingjun71

Thiếu niên

Gia nhập: 16/07/2012

Khu vực: Saigon

Tình trạng: Offline

Điểm: 1581

Ngày đăng: 13/06/2013 lúc 3:18pm

Một con gà quá đẹp

Phải chi nó là của mình để đúc với em xám chân xanh lông voi thì nhất.

hoaithu viết:

Mở trại trên diễn đàn này hay là mở trại nuôi ở nhà vậy bác?

– Hi anh !

* Trại thì có rồi và muốn xin 1 thư mục riêng để đăng gà (khoe, bán, trao đổi kinh nghiệm). Việc xin mở trại là việc mình xin, còn có sự đồng ý của BQL diễn đàn lại là 1 chuyện khác.

Cám ơn anh đã quan tâm.

nvt88_vtc viết:

không có điểm gì để chê nữa, từ đầu mỏ đến móng chân . đẹp thật . Chúc thầy trò dành nhiều chiến thắng!

– Cám ơn anh đã khen.

Do trại nhiều gà quá, con này bỏ lơ nên nó lên kg quá, trạng gà cở 3,2-3,3kg thôi nhưng nó vượt kg so với khung nên phải ép kg cho nó. Đó là điểm không tốt !

BG0289 viết:

Chúc trại MT Thành Công ạh!!

– Mong chờ kết luận về cặp gà nhạn TC. Thân mến !

CHÚC CHO MT SẼ CÓ TRẠI RIÊNG TRONG DĐ .

CON GÀ CHIẾN KHỦNG QUÁ @@

gà đẹp lắm bạn.có vẻ hơi lùn.chúc trại thành công trong tương lai

kimcuongplt viết:

– Đối với những con vượt kg so với khung thì anh cho chạy bội, chạy quần vào lúc trưa nắng từ 10-12h, chiều chạy từ 14h-15h. Sáng chạy 60phut, chiếu chạy 60phút, chạy đến khi nào nó không chạy nỗi nữa thì ngưng.

– Gà vẫn cho ăn uống bình thường (có thể bớt 1 lượng nhỏ thôi), tới cử sổ thì vô 1/2 cử mồi hay vô 1 cử mồi nhẹ thôi. Vì cho mồi như củ nó sẻ vượt kg nữa.

– Anh nướng 1 củ nghệ nhỏ, cạo lớp vỏ đen, và đập mềm mềm ra cho gà nuốt với lượng 1củ/tuần.

Lưu ý:

Vẫn cho gà ăn uống bình thường nhe pro

nếu nó ko chạy lồg thì chúng tôi mìk thì cho ăn ngệ kũp đc nhưg nếu mìk vào ngệ phơi nắg.hoặc vần sâu.

【#8】Năm Con Gà Nói Chuyện… Con Kê!

KÊ 鷄 là từ Hán Việt chỉ Con Gà, Gà là Kê, Kê là Gà, là … Gà Kê Dê Ngỗng. Bà con ta thường nói thành ” Cà Kê Dê Ngỗng “. Năm Gà nói chuyện…con Kê là nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, chuyện bao đồng về con gà để nghe chơi khi trà dư tửu hậu.

GÀ là KÊ 鷄, KÊ là chữ Tượng Hình trong Lục Thư, là cách đầu tiên trong 6 cách tạo hình của Chữ Nho … dễ học, theo diễn tiến của chữ viết như sau:

Giáp Cốt Văn Đại Triện Tiểu Triện Lệ Thư

Giáp Cốt Văn là hình tượng của con gà trống hiên ngang với cái mỏ hướng về bên trái và cái vương miện vươn cao ở trên đầu, hai cánh bên dưới xòe ra như đang đập cánh chuẩn bị cất cao tiếng gáy vào buổi sáng. Nhưng qua Đại Triện và Tiểu Triện do sự biến thiên của chữ viết qua các thời đại, chữ KÊ 鷄 được hình thành bởi Hình Thanh ( Cách tạo chữ thứ 4 của Chữ NHO … dễ học ) với chữ HỀ 奚 bên trái chỉ Âm và chữ ĐIỂU 鳥 bên phải chỉ Ý, nên chữ KÊ hiện tại được viết như thế nầy 鷄, chữ Điểu bên phải có thể thay bằng bộ CHUY 隹 là Loài chim đuôi ngắn, nên chữ KÊ cũng được viết như sau 雞. Ta có 4 hình thức của chữ KÊ:

Vì đến 2 hình thức chữ Phồn Thể, mà chữ phức tạp nhất có đến những 21 nét, nên KÊ thuộc dạng chữ khó nhớ ngày xưa khi học chữ Nho, cho nên mới có câu chuyện vui ” Tam Đại của Con Gà ” sau đây về ông Thầy Đồ…dốt. Truyện kể :

Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời ” Xấu hay làm tốt, dốt hay … xổ Nho “, đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.

Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.

Một hôm, đang dạy sách Tam Thiên Tự 三千字, sau chữ ” Tước 雀 ” là chim sẻ, đến chữ ” KÊ 鷄 ” là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy quýnh qúa, nói đại nói càn : ” Dủ dỉ là con dù dì “. Thầy cũng khôn, sợ lỡ sai người nào biết thì mắc cở, mới bảo học trò đọc nhỏ thôi, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn lo âu thấp thỏm.

Nhân trong nhà có bàn thờ Thổ Địa Thần Tài, thầy mới đến khấn thầm xin ba keo âm dương để xem chữ đó có phải thật là ” dù dì ” không. Thổ công cho ba keo đều được cả ba.

Thấy vậy, thầy lấy làm đắc ý lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:

– Dủ dỉ là con dù dì ! Dủ dỉ là con dù dì…

Ông cha của sấp nhỏ đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng con học, ngạc nhiên mới bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, rồi hỏi thầy :

– Thầy ơi ! Chữ ” KÊ 鷄 ” là gà, sao thầy lại dạy thành ” dủ dỉ ” là con ” dù dì ” ?

Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm : ” Mình đã dốt, Thổ Địa Thần Tài nhà nó còn dốt hơn mình nữa “, nhưng Thầy cũng lanh trí, nên vội nói đỡ là :

– Tôi cũng biết chữ đó là chữ ” kê 鷄 “, mà ” kê ” nghĩa là ” gà “, nhưng tôi dạy cháu như thế là dạy cho chúng nó biết tận Tam Đại 三代 của con gà kia !

Chủ nhà càng không hiểu ất giáp gì cả, hỏi :

– Tam Đại 三代 của con gà là nghĩa ra làm sao?

DẬU đứng hàng thứ Mười trong Địa Chi, nhưng lại là Tháng Tám Âm lịch. Ngày Dậu là ngày được xếp sau ngày Thân và trước ngày Tuất. Giờ Dậu là từ 5 đến 7 giờ chiều tối, nên ông bà ta ngày xưa có để lại mấy câu nói sau đây:

Mạc ẩm Mão thời tửu, 莫飲卯時酒,

Hôn hôn túy đáo Dậu. 昏昏醉到酉.

Mạc mạ Dậu thời thê, 莫罵酉時妻,

Nhất dạ thụ cô thê. 一夜受孤凄.

* Đừng uống rượu vào giờ Mão ( từ 5 đến 7 giờ sáng ). Vì sẽ bị…

Say sưa mơ màng cho đến giờ Dậu ( từ 5 đến 7 giờ tối ). Vậy là

suốt ngày sẽ không làm ăn gì được cả!

* Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì chiều tối mà vợ chồng giận nhau

thì suốt đêm sẽ chịu lạnh lẽo cô đơn có một mình, cũng sẽ

không ” làm ăn ” gì được cả !

Tâm lý qúa cở ” thợ mộc”! Ai bảo là ông bà ngày xưa không biết tâm lý tình cảm và bảo vệ hạnh phúc gia đình đâu!?

DẬU kết hợp với TỴ và SỬU thành Tam Hạp. Trâu Bò hợp với Gà thì còn được, chớ Trăn Rắn làm sao mà hợp với gà cho được, thấy gà là chúng quấn cho nát xương rồi nuốt trửng nguyên con như chơi. Không biết mấy thầy Tử Vi tướng số ngày xưa căn cứ vào cái gì mà xếp cho con Gà và con Rắn hợp nhau ? Rắn thì chắc OK rồi, nhưng gà mà gặp rắn là chạy ” tét ghèn ” luôn, làm sao mà hợp cho được !

DẬU lại cùng với TÝ, NGỌ và MÃO, ta gọi là Tý Ngọ Mẹo Dậu thành một bộ Tứ Hành Xung. Ba lần bốn mười hai, cho nên hễ vợ chồng cách nhau 3, 6 hoặc 9 tuổi là lọt vào Tứ Hành Xung ngay ! Nên ngày xưa đi cưới vợ phải coi tuổi là vì thế ! Tuyệt đối kỵ 3, 6, 9, nhất là cách nhau 6 tuổi sẽ lọt vào số Chánh Xung, như : Dần và Thân, Tỵ và Hợi, Tý và Ngọ, Mẹo và Dậu, Thìn và Tuất, Sửu và Mùi đều cách nhau 6 tuổi, bảo đãm không xung không lấy tiền!

Trong thần thoại, GÀ là MÃO NHẬT KÊ 昴日雞, là ngôi thứ tư trong Bạch Hổ Thất Tinh, thuộc 7 vì sao nằm ở phương Tây của Nhị Thập Bát Tú 二十八宿, hướng Tây thuộc mùa Thu, cũng là mùa thu hoạch nông phẩm xong, cửa nhà đã đóng. Nên Mão Nhật Tinh thuộc nhóm Hung Tinh ( Sao dữ ), thường mang đến tai ương bất lợi, hung đa kiết thiểu ( cho những người chưa thu hoạch hay bị mất mùa thất thu: Chắc chắn sẽ bị đói !).

Mão Nhật Kê được tạo hình trong phim Tây Du Ký

GÀ là một trong lục súc sống cùng với con người qua mấy ngàn năm lịch sử. Dựa theo các giả định Cổ Khí Hậu Học, có làm một nghiên cứu vào năm 1988 cho rằng gà được thuần hóa ở vùng Hoa Nam vào năm 6000 trước Công nguyên. Nhưng, một nghiên cứu khác vào năm 2007 cho rằng Gà xuất xứ từ Văn minh lưu vực sông Ấn (2500-2100 trước Công nguyên), nơi mà ngày nay thuộc lãnh thổ của Pakistan, có thể là nguồn chính cho sự lan truyền của các giống gà trên toàn thế giới.

Trong Lục Súc Tranh Công, một tác phẩm văn học dân gian của ta, trước đây được xếp trong chương trình Cổ Văn của lớp Đệ Thất, đã cho con Gà nói về mình như sau:

…………………………..

Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:

Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.

Trên đầu đội văn quan một mũ;

Dưới chân đeo hai cựa thần thương.

Đã ghe phen đến chốn chiến trường.

Lập công trận vang tai, lói óc,

Thủa Tây Lũng tam canh trống thúc;

Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,

Một tiếng rằng: thiên nhật tác thì;

Hai tiếng rằng: quốc tộ tác xương,

Ba tiếng rằng: nhân gian tác lạc,

Đã cứu nạn Mạnh Thường đặng thoát;

Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

Hễ ai toan cải dữ về lành,

Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.

Coi giò gà xét biết thịnh suy.

Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,

Cất tiếng gáy, toại lòng người đãi đán,

………………………………………..

Ta thấy bài kể công trên, Gà có nhắc đến “…cứu nạn Mạnh Thường …”. Mạnh Thường đó là Mạnh Thường Quân của nước Tề, một trong Chiến Quốc TỨ CÔNG TỬ 戰國四公子, là bốn Vương Tôn hào hiệp, chiêu hiền đãi sĩ thời Chiến Quốc, đó là :

齐国孟尝君田文 Mạnh Thường Quân ĐIỀN VĂN của nước Tề.

赵国平原君赵胜 Bình Nguyên Quân TRIỆU THẮNG của nước Triệu. 魏国信陵君魏无忌 Tín Lăng Quân NGỤY VÔ KỴ của nước Ngụy.

楚国春申君黄歇 Xuân Thân Quân HOÀNG YẾT của nước Sở.

Không phải đương không mà Tứ Công Tử nầy bỏ tiền của ra để nuôi ba ngàn thực khách trong nhà, mục đích chiêu hiền đãi sĩ của những vị nầy là để chiêu mộ tất cả nhân tài trong thiên hạ để chống lại nước Tần lớn mạnh đang lăm le thôn tính Thất Hùng….

Trở lại với MẠNH THƯỜNG QUÂN, người nổi tiếng nhất trong Tứ Công Tử và … con Gà đã cứu ông ta:

Tần Chiêu Tương Vương nghe nói Mạnh Thường Quân tài giỏi, nên mời đến nước Tần, định phong làm Tể Tướng, nhưng lại lo ông ta là người nước Tề chỉ lo cho quyền lợi của nước Tề. Không dùng, lại định giết đi. Mạnh Thường Quân biết tin lo sợ, mới tìm người sủng thiếp của Tần Vương mà cầu cứu. Người thiếp nầy thấy trước đây Mạnh Thường Quân có tặng cho Tần Vương một chiếc áo hồ cừu rất đẹp nên cũng muốn có một chiếc mới chịu giúp. Bí lối, vì chỉ có một chiếc duy nhất. Cũng may trong đám môn khách đi theo có một người chuyên đào tường khoét vách, đã lẻn vào cung vua Tần trộm chiếc áo hồ cừu đó ra để ông đem tặng cho người sủng thiếp. Nghe lời ỏn ẻn của người thiếp khi đầu gối tay ấp, Tần Vương thả Mạnh Thường Quân về nước. Không kịp đợi trời sáng, cả đoàn người ngựa kéo nhau lên đường. Tần Vương thả người xong thì hối hận, bèn cho binh lính đuổi theo bắt lại. Khi đoàn người của Mạnh Thường Quân chạy đến cửa thành thì trời chưa sáng, cửa thành chưa mở. Lại một

môn khách đi theo có người giỏi nhái tiếng gà gáy, khi ông ta cất tiếng gáy lên thì tất cả gà trong thành đều cất tiếng gáy theo. Lính canh thành tưởng trời đã sáng bèn mở toang cửa thành ra. Thế là cả đoàn người của Mạnh Thường Quân ra thành… chạy tuốt ! Khi quân Tần đuổi tới thì đoàn người đã đi xa lắc xa lơ rồi!

Con Gà cứu Mạnh Thường Quân là con Gà…trong ba ngàn thực khách của ông ta, còn bầy Gà chỉ hùa theo tiếng gáy mà thôi ! Con Gà trong Lục Súc Tranh Công không biết thấu đáo mà cho là công lao của mình. Nhưng xét cho cùng, không có bầy gà cùng gáy thì chưa chắc lính canh đã chịu mở cửa thành ! Và … cũng vì tích nầy mà ta có được thành ngữ :

KÊ MINH CẨU ĐẠO 雞鳴狗盜 : là Gà gáy Chó trộm. Ý chỉ hai thực khách của Mạnh Thường Quân, một người chui lổ chó vào cung trộm áo; một người giả làm gà gáy sáng. Ý muốn nói những người tầm thường du thủ du thực nhiều khi cũng đắc dụng, cũng làm nên việc có ích hoặc cứu giúp lúc lâm nguy, chớ không phải hoàn toàn vô dụng. Nhưng thành ngữ nầy hiện nay thường dùng để chỉ hạng đầu trộm đuôi cướp, ba que xỏ lá, trộm gà bắt chó… mà đã mất đi ý nghĩa tốt đẹp của lúc ban đầu !

Con Gà của Lục Súc Tranh Công còn kể lể:

Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

TẤN SĨ 晉士 : là Kẻ sĩ của nước Tấn; ở đây chỉ TỔ ĐỊCH 祖逖 ( 266-321 ) và LƯU CÔN 劉 琨 ( 271-318 ) của thời Đông Tấn và Tây Tấn theo tích sau đây :

Tổ Địch tự là Sĩ Nhã, người đất Yên Sơn. Ông là một Đại Tướng đầu đời Đông Tấn, có chí muốn khôi phục Trung Nguyên nên ra sức bắc phạt, từng lập được nhiều chiến công. Ông cùng với người bạn trẻ là Lưu Côn, tự là Việt Thạch, người đất Hà Bắc, là danh tướng đời Tây Tấn, là hậu duệ của Hán Trung Sơn Tịnh Vương. Lúc nhỏ cùng với Tổ Địch kết giao. Hai người thường bàn luận về chính sự, quốc sự đều tỏ ra rất tâm đắc, tuổi trẻ lòng đầy nhiệt huyết đều muốn cống hiến sức lực của mình cho Tổ quốc, nên mỗi đêm về sáng khi nghe được tiếng gà gáy là cùng nhau thức dậy để múa gươm luyện võ, trao dồi thể lực để mong có cơ hội ra giúp nước. Đêm đêm như thế, chẳng hề chểnh mảng đơn sai.

Vì thế mà hình thành được thành ngữ VĂN KÊ KHỞI VŨ 聞雞起舞 : là Nghe tiếng Gà gáy thì dậy mà múa. Múa ở đây là Múa Gươm, vừa rèn luyện thân thể, vừa ôn tập võ nghệ. Thành ngữ nầy còn dùng để chỉ những người có chí muốn phục vụ cho quốc gia dân tộc, sẵn sàng cống hiến sức lực và tài năng của mình kịp thời và đúng lúc để đáp lời sông núi. VĂN KÊ sẽ KHỞI VŨ ngay !

Tiếng gà gáy sáng khi màn trời còn phủ sương đêm, làm ta chợt nhớ đến cô Kiều ” Đêm khuya thân gái dặm trường, Phần e đường xá phần thương dãi dầu !” khi trốn khỏi Quan Âm Các của Hoạn Thư một thân một mình với cảnh:

Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

” Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương ” là lấy ý và thoát dịch một cách tuyệt vời 2 câu thơ trong bài THƯƠNG SƠN TẢO HÀNH 商山早行 của Ôn Đình Quân 溫庭筠 đời Đường là :

Kê thanh mao điếm nguyệt, 雞聲茅店月,

Nhân tích bản kiều sương. 人跡板橋霜.

Tiếng gà xao xác gáy ở quán lá ven đường khi trăng còn chênh chếch bên trời, và…

Trên chiếc cầu ván nhỏ bắt ngang qua lạch nước còn đẫm sương đêm đã có một vài dấu chân người đi qua.

Cảnh vắng vẻ lạnh lùng của buổi sớm mai càng làm tăng thêm nỗi cô đơn thấp thỏm của người đang tìm đường tị nạn !…

Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

Con GÀ của Lục Súc Tranh Công còn tự hào về hình dáng của mình:

Trên đầu đội văn quan một mũ;

Dưới chân đeo hai cựa thần thương.

Qủa là Văn Võ Song Toàn với ” văn quan một mũ ” và ” hai cựa thần thương “. Hình dáng của con gà trống thì qủa thật không chê vào đâu được. Mỏ vàng mồng đỏ, lông cánh lông đuôi màu sậm, lông mình sặc sở đỏ vàng xanh, bước đi bệ vệ, vỗ cánh phần phật làm cát bụi tung bay đầy trời trước khi cất cao tiếng gáy : ” Ò Ó O Ò O … ” đó là Gà Việt Nam; còn Gà Tàu thì gáy : ” wu wu ti 喔喔啼 … “. Hồi xưa khi mới đậu Đệ Thất, tới giờ học Pháp Văn mới lần đầu tiên nghe tiếng gà Tây gáy : ” Cocorici, co-co-ri-co …”. Bây giờ định cư ở Mỹ, nghe mấy đứa cháu nội cháu ngoại cho gà gáy bằng tiếng Anh : ” Cock-a-doodle-doo, cock-a-doodle-doo … !”. Thật cảm khái vô cùng !!!

Gà oai phong là thế, đẹp rực rỡ là thế, nhưng khi có một con Hạc lạc vào thì lại trở nên tầm thường nhỏ bé, nên ta lại có thành ngữ : HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 có nghĩa là ” Hạc đứng giữa bầy gà “. Đương nhiên Hạc trông cao ráo thanh thoát hơn hẵn bầy gà thấp lè tè bên dưới. Tiếng Việt ta còn nâng lên một cấp nữa, ta nói là ” PHỤNG LỘN VỚI GÀ ” Phụng chẳng những cao lớn hơn mà còn đẹp rực rỡ hơn gà nhiều ! Câu ” Hạc lập Kê Quần ” có xuất xứ từ điển tích ” Trúc Lâm Thất Hiền luận ” của Đái Mục đời Tấn như sau:

KÊ THIỆU làm quan Thị Trung cho Tấn Huệ Đế, người khôi ngô cao lớn thông minh anh tuấn, văn võ song toàn. Lúc bấy giờ hoàng tộc nhà Tấn đang tranh quyền đoạt vị, giết hại lẫn nhau, mạnh ai nấy xưng vương, sử gọi là ” Bát Vương Chi Loạn “. Kê Thiệu vẫn một mực trung thành với Tấn Huệ Đế. Lúc kinh thành có loạn Kê Thiệu đứng chặn trước cửa cung, loạn quân thấy vẻ hiên ngang hùng dũng của Kê Thiệu khiếp đãm đến không dám xạ tiễn. Khi Tấn Huệ Đế thua chạy ở Thang Dương, tướng sĩ chết vô số, Kê Thiệu vẫn theo sát để bảo vệ Huệ Đế đến nỗi thân mình trúng mấy mũi tên, máu nhỏ cả lên long bào của Huệ Đế và ông đã hy sinh trong trận chiến nầy. Sau đó, những người tùy tùng định tẩy giặt những vết máu trên long bào, Huệ Đế đã ngăn lại bảo đó là máu của Thị Trung Kê Thiệu không được giặt đi. Khi Kê Thiệu lần đầu đến Lạc Dương, đi trong đám đông người, thân hình cao lớn, khí vũ hiên ngang, như là con Hạc đứng giữa bầy Gà vậy, từ đó mà hình thành thành ngữ HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 để chỉ những người vượt trội hơn người khác chẳng những về sức vóc mà cả về tài năng nữa!

KÊ THIỆU là con của KÊ KHANG, một trong TRÚC LÂM THẤT HIỀN:Gồm có Nguyễn Tịch 阮籍、Kê Khang 嵇康、Sơn Đào 山涛、刘伶 Lưu Linh、阮咸 Nguyễn Hàm、向秀 Hướng Tú、王戎 Vương Nhung; Họ sống và ở ẩn giữa đời Ngụy và đời Tấn. KÊ KHANG chẳng những là Nhà Tư Tưởng, nhà Văn Học mà còn là Nhà Âm Nhạc nổi tiếng lúc bấy giờ với bản đàn Quảng Lăng Tán 廣陵散, mà cụ Nguyễn Du đã mượn NÓ để khen tài đờn của Thuý Kiều, khi cô đờn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên là:

Kê Khang nầy khúc Quảng Lăng,

Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.

YAO MING 姚明 : là Diêu Minh (người mặc áo đỏ trong hình trên), cầu thủ bóng rổ của Trung Quốc được Hội Bóng Rổ nhà nghề Rocket của thành phố Houston ký hợp đồng từ năm 2003 đến 2008 để tranh Giải Bóng Rổ Toàn Quốc Hoa Kỳ NBA. Yao Ming có thân hình cao 7’6″ ( 226cm )= 2 mét 26, nên khi đứng giữa các cầu thủ khác thì như là HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 vậy !

Con GÀ trống oai vệ mạnh mẽ là thế, nên có những con người yếu đuối không thể khống chế nỗi con gà, ngay khi cả con gà đã bị kềm chế … thúc thủ chịu trói rồi mà còn trói không chặc, để đến đỗi mang tiếng là THỦ VÔ PHƯỢC KÊ CHI LỰC 手無縛雞之力 là Tay không đủ sức để trói gà. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những chàng thư sinh ngày xưa, tối ngày chỉ biết ôm lấy quyển sách, miệng luôn đọc câu THI VÂN 詩云 …TỬ VIẾT 子曰 … ( Kinh Thi nói rằng… Khổng Tử dạy rằng …) mà không chịu rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh để đến nỗi không có sức trói nỗi con gà, ta nói là ” Thứ cái đồ thư sinh trói gà không chặc !”.

Nhưng dù ” Trói gà không chặc ” nhưng các bà các cô ngày xưa cũng vẫn cứ … xáp vào ! Và còn biện bạch là:

Chẳng tham ruộng cả ao liền,

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ!

Khéo mà nói xạo ! Chẳng là vì ” Cái bút cái nghiên ” của anh đồ, một khi ” ảnh ” Kim Bảng Đề Danh thì sẽ có được ” Ruộng cả Ao liền ” như chơi mà thôi ! Nên khi còn hàn vi thì đành bóp bụng mà GIÁ KÊ TÙY KÊ, GIÁ CẨU TÙY CẨU 嫁雞隨雞,嫁狗隨狗 Là Gả cho Gà thì theo Gà, Gả cho Chó thì theo Chó, mười hai bến nước, trong thì nhờ, đục thì … chịu khó ” lóng phèn ” mà thôi!

Con Gà rất gần gũi với người nông dân Việt Nam, là gia cầm quen thuộc và gắn bó mật thiết với đời sống hàng ngày của dân nước nông nghiệp, nó còn xuất hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ để khuyên nhủ, nhắc nhở hay chê trách một điều gì đó trong cuộc sống, đôi khi lại cảm thông tưởng thưởng, như những người góa vợ mà chịu khó ” Gà trống nuôi con “; những người biết nhẫn nhịn, không như ” Con gà tức nhau vì tiếng gáy “. Khi chê trách thì không thiên vị người nào, kể cả các bậc vua chúa như Lê Chiêu Thống cũng bị quở là ” Cõng rắn cắn gà nhà “!. Anh em trong nhà thì luôn được nhắc nhở là ” Anh em như thể tay chân “, nê:

Khôn ngoan đá đáp người ngoài,

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau!

Khuyên thì khuyên vậy, chớ đôi khi vì quyền lợi, tài sản, thậm chí chỉ vì miếng cơm manh áo vẫn có thể ” Gà nhà bôi mặt đá nhau như thường !”. Có được đứa ” Con gái rượu ” lấy chồng giàu sang quyền quý, thậm chí được làm Thiếp làm Phi của vua, như Dương Qúy Phi ngày xưa, hoặc như cô Giả Nghinh Xuân trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần thì cả nhà đều được vinh hoa phú qúy như có được ” Con Gà đẻ trứng vàng ” vậy ! Trước mắt, các cô lấy chồng ngoại quốc, hay Việt Kiều Mỹ, Úc, Canada … thường xuyên gởi ” đồ tiên ” ( là Tiền Đô ) về cho gia đình chi dụng, cũng gọi được là có ” Con Gà đẻ trứng vàng “, hay mĩa mai hơn thì nói là ” Gia đình đó có được miếng đất xéo ở bên Mỹ đó!”.

Con GÀ đi liền với con người từ bé đến lớn, từ nhỏ đến già. Hình ảnh đàn gà con tíu tít bên gà mẹ, hay hình ảnh gà mẹ dang rộng đôi cánh ra để che chở cho con mình, luôn là hình ảnh đẹp trong hội họa, trong nhiếp ảnh … Không buồn như cảnh:

Mấy đời mẹ ghẻ thương yêu con chồng!

Nhắc đến ” Mẹ Gà Con Vịt ” lại nhớ đến bốn chữ ” Đầu Gà Đít Vịt ” của dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu … để chỉ các cô gái người Hoa lai … Miên. Các cô em nầy có nước da ngâm ngâm… bánh it, với đôi mắt to đen lay láy, đặc biệt là hai hàng lông nheo dài cong vút thường hay chớp chớp như để hớp hồn người đối diện. Nhất là các cô người Tiều Châu. Trong truyện ngắn ” Đầu Gà Đít Vịt ” của nhà văn Bình Nguyên Lộc, ông đã viết như thế nầy :….

… Người đàn bà cha Tàu mẹ Miên vừa có sắc đẹp, lại vừa ngây thơ, chân thật, dễ yêu lắm!

Trứng gà, thịt gà với đủ các món như Ốp la, Ốp lết, Xé phay, Luộc, Nướng, Quay, Chiên, nấu Cà-Ri … luôn hiện diện hằng ngày trong các bửa ăn gia đình. Định cư ở Mỹ rồi thì lại càng ” gần gũi ” với thịt gà hơn, vì đây là món thịt rẻ nhất nước Mỹ, với 10 pounds ( khoảng 4 ký Rưởi ) Leg quarters ( Phần tư gà có luôn đùi ) lắm khi hạ gía chỉ còn có một đồng 99 xu mà thôi. Bửa ăn tiện lợi và nhanh nhất cho những ngày bận rộn là Fry chicken ( Gà lăn bột chiên ). Bảo đãm rất ngon miệng, rất no nê và sẽ … rất mau lên cân, rất mau lên máu ! Và cũng sẽ rất mau … ” quáng gà “, ” Trông gà hóa cuốc “, đưa đến cảnh ” Ông nói gà bà nói vịt ” : Đi chưa tới chợ mà mua tương cái nổi gì!

Bà con miền Bắc nói : ” Con gà cục tác lá chanh “, tôi không biết là họ đang làm món gì, chắc họ đang ăn gà luộc ?! Tôi là dân Nam Kỳ lục Tỉnh chỉ biết ” Rau răm nó hại con gà chết tươi !” Thịt gà ” xé phay ” thì không thể nào thiếu rau răm cho được. Thịt gà ngoài việc xào gừng, xào xã ớt, còn một món xào thật đặc sắc mà không dân nhậu nào không thích cả, đó chính là ” Gà xào bún nấm củ hành !”, nhậu cũng ” bắt ” mà ăn cơm cũng ” hết xẩy ” luôn ! Rất thực tế chân thật, không mĩa mai như miền ngoài:

Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi.

Nói đến đây, lại nhớ đến một câu chuyện dân gian về ” ăn chia ” thịt gà trong gia đình; để thay đổi không khí, xin được kể theo kiểu phóng tác của ông Ly Cu Tê ở CANADA, vừa có phong thái cổ điển lại vừa có hơi hám thời sự của hiện tình đất nước …. Trích:

Xưa bên nước Vệ có ông nọ làm quan đến chức Tể Tướng. Hơn thập niên nắm quyền sinh sát trong triều đình, của cải ngân lượng ở bá tánh thuộc về ông không biết cơ man nào mà kể. Ngày kia, biết mình đã sắp đến lúc bị cho về vườn giăng câu đặt trúm, chích thuốc dạo, Tể Tướng bèn sai gia nhân làm thịt một con gà mái dầu luộc chín bày lên dĩa, sau đó ông gọi các con lại mà rằng:

– Các con nghe đây, tuổi cha nay đã cao, sức nhai sắp hết mà sức bú cũng chẳng còn, thời khắc giã từ mũ mão áo gấm không còn xa nữa. Hôm nay ta có con gà luộc, các con hãy tới chọn một bộ phận trên mình gà, rồi làm câu thơ ứng với thứ mình chọn. Để ta biết chí hướng của từng đứa mà lo đường công danh sự nghiệp mai sau cho!

Bốn người con đồng thanh dạ ran. Chàng trưởng nam giơ tay xin ứng khẩu trước, anh bước tới đĩa ngắt lấy cái đầu gà bỏ vào chén mình, rồi dõng dạc ngâm:

– Trai thời trung hiếu làm ĐẦU!

Ông quan nghe vậy khoái chí phán:

– Chọn đầu gà chứng tỏ con là người thao lược, lắm mưu nhiều kế. Để ta cho con làm quan ở bộ Xây, mỗi năm xây chừng mười cái tượng đài và tháp tàng hình thì mặc sức mà đếm ngân lượng !

Đến phiên người chị cả bước lại bàn bẻ cặp đùi, hai cánh và chiếc phao câu, rồi thong thả ứng khẩu:

– Gái thời tiết hạnh PHAO CÂU, CÁNH, ĐÙI!

Tể tướng nghe xong vuốt tóc con gái tấm tắc khen:

– Giỏi lắm con gái rượu của ta, chọn đùi cánh là số phải đi xa, chọn phao câu là người đảm đang có hậu. Được, ta cho con qua xứ Cờ Hoa du học, rồi kiếm thằng Vệ kiều liu vong nào bên ấy mà kết tình phu phụ đặng yên bề gia thất nghe chưa !

Người thứ ba là cô con dâu, nàng rón rén bước lại đĩa gà bê nguyên bộ lòng e thẹn ngâm nga:

– Phần con một DẠ một LÒNG!

Thấy con dâu xinh đẹp mặt hoa da phấn chọn bộ lòng gà, Tể tướng gật gù:

– Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, con đã chứng minh lòng hiếu thảo với gia đình ta, sau này con sẽ là đệ nhất phu nhân xứ Vệ !

Người cuối cùng là chàng út có dung mạo giống cha mình hồi trẻ như đúc, anh nhanh nhảu bước lại đĩa rinh hết cái mình gà, rồi hí hửng đọc:

– Công cha nghĩa mẹ hết MÌNH vì con !

Ông quan vỗ đùi đánh đét một phát, rồi đưa tay vuốt vuốt chiếc cằm nhẵn thín, mặt ngửa lên trời cười ha hả ý chừng vô cùng khoái lạc:

– Kha khá khá. Đúng là hổ phụ sanh hổ tử, chọn mình gà chứng tỏ biết bao quát nhìn xa trông rộng giống ta, nay ta cho con về cai quản vùng đất Trung phần, ở đấy rất thuận lợi cho việc thăng quan tiến chức của con sau này !

Bốn người con cúi đầu vâng mệnh ai về chỗ nấy. Bắt đầu từ hôm đó cô chị cả được ông cho qua xứ Cờ Hoa du học, rồi yên bề gia thất với một chàng Vệ kiều lưu vong. Người con trai thứ được ông cho về bộ Xây, nghe đâu mới được thăng lên quan đầu tỉnh thuộc miền Tây giang thuỷ. Chàng út cùng cô dâu xinh đẹp giờ đang cai quản miền Trung nắng gió đầy sản vật, chuyện đến đây không có gì đáng nói.

Nhiều năm sau, câu chuyện chia gà của ông quan Tể Tướng bị lũ dân đen bần nông vàng vẩu đất Vệ đồn đãi khắp hang cùng ngõ hẻm nên người trong thiên hạ mới có thơ rằng:

Con sãi ở chùa vẫn quét lá đa,

Còn lâu dân mới dám… nổi can qua,

Nên con vua cứ thế mà… làm cha dài dài !

Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định xóa số 2 sòng bạc lớn nhất Sài Gòn Chợ Lớn là Kim Chung và Đại Thế Giới, thì đề 36 không còn nữa . Nhưng nhóm quân đội người Nùng giúp Tổng Thống dẹp loạn Bình Xuyên vẫn còn xổ đề ở vùng Cây Da Xà Phú Lâm Chợ Lớn, và họ đã thêm vào 4 con nữa cho đủ 40. Bốn con thêm vào là 37 Thiên Công ( Ông Trời ), 38 Địa Chủ ( Đất Đai ), 39 Thần Tài và 40 là Táo Quân ( Ông Táo ). Theo đề 36, thì CON GÀ tên chữ là NHỰT SƠN, đứng đầu trong nhóm TỨ HÒA THƯỢNG mang số 28, nếu đánh theo Xổ số Kiến Thiết từ 00 đến 99, thì phải thêm một con 68 nữa là Con Gà Lớn, theo như …

Sáng ra 28 cứ đà ghi ngay.

Ai dè nó xổ chúng tôi Nai … hết tiền!

Nạn đánh đề càng trầm trọng khi xã hội càng phân biệt giàu nghèo. Dân càng nghèo càng phải chạy theo cuộc sống và càng mê số đề hơn, và… càng thua nhiều hơn nữa, rồi càng phát sinh nhiều tệ nạn xã hội hơn và cuối cùng là xã hội càng băng hoại hơn ! Đến nỗi phát sinh thêm một loại gà mới : ” Gà Móng Đỏ ” ! Nghe mà đau lòng, vì đây không phải là Gà thật, mà là tiếng lóng dùng để gọi các cô gái ăn sương, bán trôn nuôi miệng, sống lang thang vất vưởng mà người đời miệt thị là hạng ” Mèo mả Gà đồng “, như Hoạn Bà, mẹ của Hoạn Thư đã hạ nhục Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân,

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào !

Buồn thay số đề ! Con Gà là NHỰT SƠN 日山, là Trời đã về chiều, Mặt trời sắp lặn xuống núi. Theo số đề hoài thì đời sẽ sớm … về chiều và sẽ … lặn xuống núi luôn ! Thua đề hết tiền thì đi vay nguội, vay nóng, vay ” xã hội đen ” ký giấy nợ với mức lời cắt cổ ” Xanh xít đít đui ( cinq six dix douze : Mượn 500 thì cuối tháng trả 600; mượn 1000 thì cuối tháng phải trả 1200 ).” Bút đã lỡ sa, thì Gà cũng chết ngắt !”. Ông bà ta dạy :

Nhất tự nhập công môn, 一字入公門,

Cửu ngưu đà bất xuất. 九牛拖不出。

Một chữ đã ” lỡ ” vào đến công đường rồi, thì …

Sức mạnh của chín con trâu cũng kéo ra không nỗi !

” Bút đã lở sa, thì Gà phải chết ” mà thôi ! Như nhắc đến câu ” Cỏng rắn cắn gà nhà, Rước voi giày mả Tổ ” là bàng dân thiên hạ sẽ nghĩ ngay đến ông vua cuối cùng của triều Hậu Lê: Lê Chiêu Thống!

Gà chết vì là món ăn khoái khẩu của người đời, nên hễ có dịp là mỗ gà, là giết gà, là làm thịt gà để đãi nhau khi gặp bạn, để ăn nhậu lúc hội hè. Thề thốt nghiêm trang thì vặn cổ gà, Tế thần tế thánh cũng cắt cổ gà, cúng quải ông bà cũng luộc con gà … Hễ có dịp là sẽ mượn cớ để giết gà, giết gà để dọa khỉ, mất đồ mất đạc thì vái cúng con gà … Con gà được dùng để trả lễ cho thần thánh, dùng để trả ơn, như ở Mỹ hiện nay, mỗi năm trong ngày Lễ TẠ ƠN ( Thanksgiving ) hơn 50 triệu con Gà Tây được đưa lên bàn ăn để làm lễ ” Tạ Ơn “…

Lễ Tạ Ơn ở xứ Mỹ nầy được cho là bắt nguồn từ lễ kỷ niệm tại Plymouth, Massachusetts, nơi những người hành hương tị nạn tôn giáo Anh đã mời người da đỏ bản địa đến dự một bữa tiệc thu hoạch sau một vụ mùa bội thu để tỏ lòng biết ơn.

Vụ thu hoạch của năm trước bị thất bát là vào mùa đông năm 1620, một nửa số người hành hương bị chết đói. Những người sống sót may mắn được các thành viên của bộ lạc Wampanoag địa phương dạy cách trồng ngô, đậu, bí đỏ và đánh bắt cá hải sản, săn gà rừng….

Bữa tiệc được tổ chức kéo dài trong 3 ngày, gồm các món như gà Tây, ngỗng, tôm hùm, cá tuyết và nai.

Đặc biệt là mỗi năm, ít nhất có một con gà tây sẽ được Tổng thống Hoa Kỳ ” ân xá “. Ân xá cho gà tây chính thức trở thành nghi lễ của Nhà Trắng dưới thời Tổng thống George H.W. Bush ( Bush cha ) vào năm 1989 khi ông ” miễn tội ” cho một con gà tây tại Vườn hoa hồng trong Nhà Trắng.

Năm rồi, Tổng thống Obama đã ân xá cho một trong hai con gà tây tại Nhà Trắng vào ngày 23/11.

Năm nay, Tổng thống tân cử Donald Trump sẽ quyết định có tiếp tục nghi lễ này không, hoặc ông sẽ chọn một hình thức khác? Chúng ta hãy chống mắt chờ xem!

Tiệc Gà Tây Tổng Thống Mỹ ân xá Gà Tây

Sang qua Pháp thì con Gà Trống trở thành thần vật, là biểu tượng của nước Pháp với danh xưng ” Con Gà Trống Gô-loa “. Thực ra đây chỉ là một cách chơi chữ, rồi lộng giả thành chơn. Vì Tổ Tiên của Pháp là người Gô-loa ( Gaulois ),tiếng La-tinh viết là Gallus, mà Gallus còn có nghĩa là ” gà trống “.

Nhận thấy con Gà Trống có nhiều ưu điểm hơn người, từ hình dáng cho đến đi đứng tính cách đều có điểm ưu việt, như ” Nó ” sở hữu một ngoại hình đẹp đẽ : oai vệ với mào đỏ rực, đuôi dài màu xám xanh cong lên như những đoản kiếm. Mỗi buổi sáng đều gáy vang báo thức đúng giờ, rồi hiên ngang đi vòng quanh trang trại để bảo vệ bầy đàn. Sự cảnh giác và lòng dũng cảm của những chú gà trống đã trở thành lý do khiến nó trở thành biểu tượng của người Pháp.

Thời trung cổ, gà trống Gô-loa được người Pháp sử dụng như một biểu tượng tôn giáo, thể hiện niềm hy vọng và đức tin. Hình ảnh những con gà trống thường xuất hiện trên các tháp chuông nhà thờ, tháp canh.

Vào thời kỳ Văn Hóa Phục Hưng, hình ảnh những con gà trống được gắn liền với sự hình thành của nước Pháp. Dưới các vương triều ở thời kỳ này, các bản chạm khắc và đồng tiền đều mang hình ảnh gà trống. Nó cũng xuất hiện trên lá cờ trong cuộc Cách mạng Pháp 1789 và tượng trưng cho sự kiên cường, lòng dũng cảm của người dân nước này trong Thế Chiến Thứ Hai. Ngoài ra, phần lớn người Pháp đến bây giờ vẫn coi gà trống Gô-loa là biểu tượng của sự chân thành và tươi sáng.

Khi các đội tuyển Thể Thao của quốc gia Pháp đi giao đấu, mọi người trên thế giới đều gọi họ với biệt danh ” Những chú gà trống Gô-loa ” là vì thế !

Trở lại với phong trào THƠ MỚI của ta thời Tiền Chiến, ngoài những thơ tình ướt át làm rung động lòng người, như những bài thơ tình của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Đông Hồ, Tương Phố, TTKH…. Ta còn nghe được tiếng Gà Gáy của miền quê thôn dã vang vang cả sáng trưa chiều tối vọng mãi trong tâm hồn người dân Việt, nhất là những người dân Việt sống lưu vong nơi xứ lạ quê người như chúng ta hiện nay. Nào hãy nghe …

Tiếng gà gáy ơi! gà gáy ơi!

Nghe sao ấm áp tựa nghe đời.

Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp,

Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi.

……………………………………

Gà gáy đầu thôn, gáy giữa thôn,

Mưa tinh sương mát tận tâm hồn.

Đó là tiếng gà gáy trong buổi ban mai vang lên từ đầu bếp đến đầu thôn, giữa thôn của Huy Cận, Ông còn cho gà gáy hòa âm trên biển sóng:

Tiếng gà trên biển hạ cung trầm,

Tiếng sóng hòa theo chẳng tạp âm.

Tiếng sóng làm nền cho tiếng gáy,

Trầm bao nhiêu, lại bấy xa xăm !..

Gà gáy trong mưa khi được mùa:

Gà gáy trong mưa tiếng vẫn trong,

Giọng kim giọng thổ rộn vang đồng.

Được mùa giống mới, gà no bữa,

Tiếng gáy tròn như lúa nặng bông.

…. Và không riêng gì Huy Cận, ta còn nghe thấy tiếng gà gáy trong ký ức tuổi thơ của Chế Lan Viên :

Nhớ biển miền Trung tiếng sóng đùa

Nhớ nhà cha mẹ, cảnh trường xưa…

Nhớ chao ôi nhớ! Trời xanh thế!

Gà lại dồn thêm tiếng gáy trưa!

Nhắc đến gà gáy trưa thì không thể nào thiếu được tiếng gà gáy trong Nắng Mới của Lưu Trọng Lư :

Mỗi lần nắng mới hắt bên song,

Xao xác gà trưa gáy não nùng,

Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,

Chập chờn sống lại những ngày không.

Bỏ văn sang võ: Võ Gà, đương nhiên phải là Võ Gà Trống, là HÙNG KÊ QUYỀN 雄雞拳 !…

Vào thời Tây Sơn, tương truyền Nguyễn Lữ là người đã sáng tạo ra môn võ Hùng Kê Quyền (quyền gà chọi) hay Hồng Kê Quyền, là bài quyền mô phỏng các kỹ thuật của gà chọi, một trong 10 bài danh võ được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam lựa chọn qua các kỳ hội nghị chuyên môn toàn quốc ( sau 1975 ). Đặc trưng của bài quyền là những động tác dũng mãnh của con gà chọi nhỏ bé mà nhanh nhạy trước đối thủ, bài Hùng Kê Quyền sử dụng ngón tay trỏ để đâm mô phỏng hình mỏ gà, và các ngón còn lại co vào như chiếc cựa gà. Thủ pháp độc đáo như vậy lại nhằm vào những mục tiêu hiểm của đối thủ, như các huyệt đạo, ngực, hầu v.v. Bộ pháp của bài quyền hết sức linh hoạt, thần tốc, xoay chuyển một cách biến ảo đã hỗ trợ cho việc thi triển thủ pháp một cách kiến hiệu, khiến đối thủ luôn phải hứng chịu những đòn thế có tính sát thương.

Còn ai mê đọc tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung thì không thể nào không biết đến chiêu thức KIM KÊ ĐỘC LẬP 金雞獨立, một chiêu thức võ công độc đáo, đứng thẳng một chân với nhiều tư thế, hai tay cung ra hai bên với nhiều điệu bộ khác nhau. Đây cũng là một chiêu thức của môn Thái Cực Quyền, đồng thời cũng là một phương pháp dưỡng sinh độc đáo có một không hai để phòng ngừa các bệnh như Tiểu đường, Cao huyết áp, Mất trí nhớ …

Các tư thế của chiêu thức Kim Kê Độc Lập

Ta thấy, CON GÀ gần gũi thân thiết với con người là thế, NÓ hiện diện trong sinh hoạt, thực phẩm, giải trí và cả phương pháp dưỡng sinh nữa, lại mang những đức tính tốt đẹp như duy trì kỷ luật, đúng giờ, có tinh thần trách nhiệm, “ga-lăng” với phái yếu và bảo vệ bầy đàn … Nên các Thầy Đồ Nho xưa thường hay khuyên học trò là :

” NINH VI KÊ THỦ, BẤT VI NGƯU HẬU “

Thà làm đầu gà, ( chớ ) hổng thèm làm đít trâu !

Đầu gà tuy NHỎ nhưng mồng mỏ đẹp đẽ hiên ngang, còn đít trâu tuy LỚN mà là nơi thải ra những thứ … thối không chịu được !

Trở lại với sấm Trạng Trình của 500 năm trước : ” Mã đề Dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai kiến thái bình !” . Thêm một ” anh hùng hay anh khùng ” Fidel Castro vừa mới ” tận ” cuối năm 2021 đây, chú khỉ THÂN thì đã đi qua rồi, liệu con gà DẬU có mang đến Thái Bình được hay không ? Dân Chợ Lớn nói ” DẬU 有 là CÓ ” . Trong khi tổng thống đắc cử của nước Mỹ là tỉ phú ĐỖ NAM TRUNG ( Donald Trump : Báo chí trong nước dịch âm là Đỗ Nam Trung !) chỉ muốn rút vào cái vỏ sò MỸ xinh đẹp của mình mà không màng đến thế giới nữa. Điệu nầy chắc phải cầu cứu với CHỊ DẬU người mẫu mặc rất ít đồ là Melania Trump thúc vào hông của ông ta xem sao !?

Mong rằng trong năm ĐINH DẬU 2021 nầy, thế giới sẽ KIẾN THÁI BÌNH trong phép lạ !!!

【#9】Tranh Dong Ho: Dam Cuoi Chuot Tranh Dong Ho Doc

Tranh “Đám cưới chuột”

Nhân vật mèo tượng trưng cho bọn quan lại, cường hào ác bá, còn họ hàng nhà chuột thì thấp cổ bé miệng, mong sự yên lành. Chuột thừa hiểu muốn tổ chức an toàn đám cưới đầy đủ lễ nghi rước kiệu, có kèn có nhạc, có “võng anh đi trước, kiệu nàng theo sau” thì phải vui vẻ tự nguyện mà hối lộ cho mèo trên đường đi. Chữ Hán “hưng tác” viết t rên đầu con chuột trong tranh thể hiện thái độ vui vẻ “hối lộ” cho mèo hai món mà mèo ưa thích là cá và chim. Chuột biết sự yên ổn của mình cần kèm theo sự vừa lòng, no đủ của mèo. Đó là tình trạng tham nhũng hối lộ, thời nào cũng có trong xã hội. Điểm đặc sắc của tranh này là thái độ lịch sự của mèo, ngồi nhận quà trong tư thế ôn hòa, đuôi quặp về phía trước dưới mông, vui vẻ đưa tay nhận quà hối lộ từ chuột.

(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Đây là những bức tranh được biết đến rất nhiều trong tranh Đông Hồ. Nội dung của những bức tranh Lạc Việt này, ngoài việc thể hiện những giá trị đạo lí và mơ ước của con người, còn thể hiện sự hoà nhập giữa con người và thiê n nhiên qua hình ảnh những đứa trẻ bụ bẫm – thể hiện sự phú túc và tính thơ ngây thiên thần – với những sinh vật gần gũi trong cuộc sống.

– Tranh Lễ trí : là hình ảnh em bé ôm con rùa. Ý nghĩa của tranh được thể hiện ở chữ “Lễ trí” – cầu mong em bé có được cái “lễ” để ứng xử phải phép với mọi người và cái “trí” giỏi giang sau này. Tranh này còn được gọi bằng một cái tên dân dã khác là “Gái sắc bế rùa xanh” với ý cầu cho bé gái lớn lên được xinh đẹp, nhu mì, hiền dịu, chăm chỉ, đảm đang như con rùa).

Nhân nghĩa

(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Nhân n ghĩa (Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

Nhân nghĩa

(Tranh nhà họa sĩ Nguyễn Đăng Giáp, con cố nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm ở Hà Nội)

– Tranh Nhân nghĩ a vẽ hình em bé ôm cóc. Trong văn chương truyền miệng Việt Nam, chắc cũng chưa ai quên hình ảnh con cóc trong truyện ” Cóc kiện trời”, hoặc câu ca dao:

Con cóc là cậu ông trời

Ai mà đámh cóc thì trời đánh cho

Ông Trời – chúa tể của vũ trụ – linh thiêng là thế, uy vũ là thế, mỗi khi con người gặp chuyện gì không vừa ý lại kêu trời. Vậy mà cóc còn là cậu của ông trời mới oai chứ! Đúng là “oai như Cóc”. Tranh có chú thích chữ “nhân nghĩa” ấy chính là lời cầu chúc cho các cháu bé được tặng tranh có được cái Nh ân, cái Nghĩa như con cóc tía trong truyện cổ: mình mẩy tuy có thể xấu xí, bé nhỏ song dám lên kiện cả ông trời để đòi mưa cho dân làng. Chính vì vậy tranh vẽ hình em bé ôm con cóc một cách trìu mến. Không có sự giải thích nội dung tranh sẽ trở nên khó hiể u vì ai mà bồng bế một con cóc bao giờ.

Tranh Nhân nghĩa vì vậy còn được gọi là tranh Trai tài ôm cóc tía , đối xứng với tranh Gái sắc bế rùa xanh .

Vinh hoa

(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

– Tranh Vinh hoa là hình bé trai ôm gà trống. Gà trống chữ Hán là đại kê, có âm đồng với chữ đại cát/đại kiết. Đại cát cũng là tên một quẻ bói tốt nhất trong Bát quái (xem tranh Đại cát )

Phú quý

(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

– Tranh Phú quý là hình bé gái ôm con vịt.

Ý nghĩa chúc tụng của bốn bức tranh này đều được nghệ nhân thể hiện rõ ràng ở tên tra nh. Trong bộ tứ quí này lại được chia làm hai cặp bé trai – bé gái: Lễ trí – Nhân nghĩa và Vinh hoa – Phú quý với hàm ý chú cho có con cái thì phải có đủ cả trai lẫn gái, hay “có nếp có tẻ” như cách nói của các cụ xưa, như vậy mới là tròn đầy.

Qua những bức tranh dân gian khác của làng Đông Hồ (1), bạn đọc lại thấy hình ảnh đặc thù quen thuộc từ thời Hùng Vương. Đó là con Cóc, một biểu tượng cho nền văn minh chữ viết của Văn Lang; con Rùa biểu tượng cho phương tiện chuyển tải chữ viết ở thời kỳ đầu lập quố c ( “giống rùa lớn thường chỉ thấy ở sông Dương Tử” , như học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết trong tác phẩm “Sử Trung Quốc” của ông). Hình ảnh trong tranh chú bé ôm Rùa, ôm Cóc là những hình tượng rất đặc thù trong văn hoá Việt Nam . Có thể nói rằng: khó có thể c hứng minh được những hình ảnh này đã xuất hiện đâu đó từ một nền văn hoá khác; hoặc có thể chứng minh được rằng: những hình tượng này xuất hiện từ thời Việt Nam hưng quốc. Hay nói một cách khác: nội dung và những hình tượng này đã có từ một thời rất xa xưa : Thời Hùng Vương, cội nguồn của văn hoá Việt Nam . Bên cạnh những nét nghĩa gần gũi, dân dã đã phân tích bên trên, trong nội dung sâu xa của bộ tranh này, chúng ta còn nhận thấy một tư duy tiếp nối và là hệ quả của một thuyết vũ trụ quan cổ. Đó là thuyết  m dương Ngũ hành.

ĐỒ HÌNH HÀ ĐỒ

do vua Phục Hy phát hiện trên lưng Long Mã

Đồ hình này được công bố vào đời Tống. Trước Tống trong các bản văn chữ Hán chỉ nhắc tới Hà đồ một cách mơ hồ và chẳng ai biết tớ i đồ hình này. Nhưng chính đồ hình này lại là một biểu tượng hoàn hảo việc thể hiện sự vận động của bốn mùa trên trái đất. Do đó, việc đồ hình Hà đồ xuất hiện vào thời Tống và được coi là sự tiếp tục phát triển việc thể hiện ghép Ngũ hành với bốn mùa từ thời Hán thì lại là sự vô lý. Bởi vì, trong các bản văn chữ Hán trước Tần đã nhắc đến Hà đồ và thực tế ứng dụng trong Hoàng đế nội kinh tố vấn (4) đã chứng tỏ: Hà đồ đã tồn tại từ lâu trong văn hóa cổ Đông phương. Nhưng trước Tần trong các bản văn nếu nói đế n Âm Dương thì lại thiếu Ngũ Hành và thứ tự thời gian xuất hiện lại bị đảo ngược theo kiểu:

Sinh con rồi mới sinh cha

Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông(5)

Cho đến tận ngày nay, ngay trong giới học thuật cũng coi Hà đồ là một đồ hình đầy bí ẩn; trong vòn g 1000 năm – từ Hán đến Tống – họ cũng chưa hề nhìn thấy Hà đồ. Ngược lại, trong văn hóa dân gian Việt Nam , thì lại chứa đựng những yếu tố có khả năng hiệu chỉnh và làm thay đổi có tính rất căn để những vấn đề của thuyết Âm dương Ngũ hành còn lưu truyền tr ong cổ thư chữ Hán. Quan trọng hơn cả là những di sản văn hóa ít ỏi ấy lại có chức năng như cái chìa khóa mở cánh cửa huyền bí của nền văn hóa Đông phương. Trong đó, ngăn quan trọng nhất và chứa đựng sự bí ẩn lớn nhất chính là đồ hình Hà đồ. Trong bộ tranh dân dã của nền văn minh Lạc Việt trình bầy trong phần này, là sự tiếp nối và bổ sung hoàn hảo cho tranh thờ Ngũ hổ về sự vận động của bốn mùa. Sự giải mã bộ tranh này sẽ là một bằng chứng sắc sảo nữa chứng tỏ rằng: chính nền văn minh Lạc Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương.

Theo cái nhìn của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Bốn bức tranh này thể hiện “Tứ quý” ngay từ cái tên gọi của nó (phú quý, vinh hoa, nhân nghĩa, lễ trí), đồng âm với “Tứ quý” tức là 4 tháng nói trên của 4 mùa trong năm. Tất cả 4 tranh đều có hìnhh ảnh các con vật được cường điệu lớn hơn so với tỉ lệ, và những đứa bé cho thấy một hình tượng của sự hòa nhập giữa con người với thiên nhiên. Trong các sách khác cùng tác giả, người viết đã chứng minh với bạn đọc: Đồ hình Hà đồ chính là sự phản ánh mối tương tác và vận động của vũ trụ đối với sự tồn tại và phát triển đời sống trên trái đất, trong đó có con người. Tranh ” Bé ôm cóc” – ngoài hình tượng “cóc” chính là thầy của chú bé (vì chỉ có “cóc” mới có chữ để dạy cho đời) – thì “cóc” chính là tượng của quái Chấn. Trong kinh nghiệm dân gian Việt Nam đều biết rằng khi cóc nghiến răng thì trời mưa; mưa thì có sấm. Quái Chấn – trong Thuyết quái – tượng cho “sấm”; quái Chấn thuộc phương Đông. Nên bức tranh này nằm ở phía Đông của Hà đồ. Tranh “Bé ôm vịt” : Vịt là con vật ở dưới nước, nên bức tranh này nằm ở phía Bắc của Hà đồ. Phương Bắc thuộc quái Khảm – thủy. Tranh “Bé ôm gà” , gà gáy thì mặt trời mọc. Nên bức tranh này nằm ở phía Nam của Hà đồ. Phương Nam thuộc quái Li; thuyết Quái v iết: “Li vi Nhật, vi Hỏa..” . Tranh “Bé ôm rùa” còn lại ở phương Tây của Hà đồ. Con rùa là hình tượng của văn bản, nơi qui tập tàng trữ tri thức của con người, thuộc về phương Tây, mùa thu.

Như vậy, từ bức tranh Ngũ Hổ hướng dẫn giải mã sự bí ẩn của Hà đồ, cho đến những bức tranh dân dã còn lại của nền văn minh Lạc Việt, lại là sự thể hiện tiếp tục của nền minh triết Đông phương cổ; đã cho chúng ta nhận thấy rằng: Chính nền văn minh Lạc Việt là nơi cội nguồn của nền văn minh Đông phương. Cho nên tất cả nhữn g sản phẩm văn hóa của nền văn minh Lạc Việt: từ những sản phẩm cao cấp nhất (thể hiện tín ngưỡng như tranh thờ Ngũ hổ), cho đến những bức tranh dân dã cho trẻ em Lạc Việt lưu truyền trong dân gian (bộ tranh “Tứ quý” ), đều thể hiện những giá trị của nền vă n minh này.

Trong tranh “Lễ trí” , qua hình tượng con rùa – phương tiện chuyển tải tri thức dưới thời Hùng Vương vào thời kỳ đầu lập quốc – chính là biểu tượng của sách học. Phải chăng, ý tưởng “Tiên học lễ” bắt đầu từ nền văn minh Lạc Việt? Trong tranh “N hân nghĩa” , hình tượng con cóc chính là biểu tượng của người thày của chú bé ( “Thầy đồ Cóc” , vì chỉ có Cóc mới có chữ Khoa đẩu – nòng nọc – để dạy cho đời).Nhân nghĩa chính là hai đức tính đầu tiên trong đạo lý cổ Đông phương. Phải chăng những ý niệm về “T ôn sư trọng đạo”, “Tiên học lễ, hậu học văn” của Nho giáo, chính là những ý tưởng đã có từ lâu trong thời Hùng Vương? Bởi vì hình tượng con Cóc và con Rùa bắt đầu và thuộc về nền văn minh Văn Lang.

Chơi tranh ngày Tết đừng quên tranh dân gian Đông Hồ

24/01/2011 10:40

Dù ai buôn bán trăm nghề

Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh…

Tết đến xuân về, không thể bỏ qua thú chơi tranh. Bởi “Nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ mộc” đó là 4 thú chơi tao nhã của người Việt xưa. Tranh Tết, không phải chỉ người lớn mà cả trẻ em cũng thích chơi tranh. Tuy nhiê n, tranh cho người lớn có phần khác so với trẻ em.

Ngày nay, thú chơi thứ nhì này có phần không thực sự được chú trọng hoặc cách chơi tranh cũng khác. Khác về cả cách chơi và loại tranh chọn chơi. Có lẽ một phần do tác động của nền kinh tế thị trường, của thời kỳ công nghiệp? Hay do người ta (nhất là lớp trẻ) không được hướng dẫn cách chơi? Đã vậy, những dòng tranh dân gian truyền thống nổi tiếng Việt Nam như Đông Hồ, Hàng Trống… được du khách nước ngoài đặc biệt thích thú, nhưng đối với nhiều người Việt hiện nay lại… trở nên xa lạ.

Xin giới thiệu vài bức tranh Đông Hồ mà ngày xưa hầu như không thể thiếu trong mỗi gia đình, nhất là dịp Tết:

Bức tranh 1: Mục đồng

Nói về ý chí tiến thân của người xưa.

Trong xã hội phong kiến ta ngày xưa, có rất nhiều những cậu bé thông minh nhưng tài năng của họ không được trọng dụng. Có một cậu bé là thần đồng, cậu căm ghét chế độ đương thời và đã bày ra một trò chơi: Lấy lưng trâu làm kiệu, lấy lá sen làm lọng, tạo ra một cái kiệu sang trọng giống của bọn vua quan ngày xưa và chỉ bọn vua quan mới có. Cậu ta ngồi trên lưng con trâu với một tư thế ung dung và tự tại. Và với tiếng sáo véo von của mình khiến c hú trâu cũng vểnh tai lên nghe để hiểu được nỗi lòng của chủ nó muốn sau này phải đỗ đạt làm quan:

“Hà diệp cái thanh thanh”

(Lá sen màu xanh – màu của hy vọng)

Cậu bé hy vọng mình đỗ đạt làm quan.

Bức tranh 2: Dạ xướng ngũ canh hoà (Gà gáy năm canh)

Chữ Hán vế phải: Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín.

Ý nghĩa: Chú gà trống oai phong lẫm liệt, bất khuất không sợ kẻ thù, đồng thời nó cũng thể hiệ n một đức tính cao quý là chữ Tín:Hằng ngày nó gáy không bao giờ sai. Gà trống bạn của người dân quê, luôn dậy đánh thức mọi người đúng giờ. ý nghĩa của tranh Thể hiện một người luôn đúng giờ, đồng thời mang nhiều điều tốt lành sang năm mới.

Bức tranh 3: Vinh Hoa (Vinh hiển, hào hoa)

– Chỉ có người con trai mới có đức tính như vậy.

ý nghĩa: Cầu chúc cho gia đình mình có con trai mang đầy đủ năm đức tính: văn, vũ, dũng, nhân, tín.

– Văn: thể hiện ở mào con gà: như mã quan tức là học thức của con người.

– Vũ, dũng: thể hiện ở móng và cựa của con gà, thể hiện sức mạnh của con người.

– Nhân: Khi kiếm được mồi con gà thường gọi bầy đàn bằng tiếng cục cục.

– Tín: Báo hiệu cho con người làm việc đúng giờ.

– Bông hoa cúc thể hiện cho sự cao sĩ của người đàn ông.

Bức tranh 4: Phú Quý

– Cầu chúc cho gia đình mình có con gái.

– Xưa các cụ có câu: “Bách tử phú quí” ( Sinh trăm con trai giàu sang ).

– Con vịt: rất hiền dịu, nữ tính, đông con thể hiện những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ.

Bức tranh 5: Đám cưới chuột

– Đây là một bức tranh phê phán, nhưng nó cũng thể hiện sự gan dạ dũng cảm của họ hàng nhà chuột. Để đám cưới chuột diễn ra một cách long trọng, dỉnh d ang, thì họ nhà chuột đã xử trí một cách thông minh là cống lễ: mang chim , mang cá đến biếu họ nhà mèo.

– Phía bên trên tay phải là chữ Miêu ta không hiểu là “Mèo” (Vờm): đại diện cho thế lực tham quan phong kiến ngày xưa. Biết mình đi đến chỗ chết: một con bị sứt đầu, một con cụt đuôi và những con đi phía sau bao gồm : thân thủ (người có võ), lão thủ (già làng) , tắc nhạc (người thổi kèn) đưa tiễn hai con chuột này đến chỗ chết.

– Sau khi đã cống nạp xong rồi thì một đám cưới chuột diễn ra linh đình:

Đi đầu là chú tể (chú rể), và nghinh hôn (người rước dâu).

Bức tranh 6: Hứng dừa

– Chỉ hạnh phúc lứa đôi.

– Trong những ngày hội đầu xuân, những chàng trai cô gái đi hái lộc đầu xuân. Cây dừa cũng là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi. Còn hình tượng của quả dừa cùi trắng nước trong thể hiện cho một tình yêu trong trắng của đôi trai gái.

– Trên thân cây dừa có một chàng trai rất to khoẻ và vạm vỡ. Chàng trai đã hái liền hai trái dừa đưa xuống cho cô gái vén váy lên hứng dừa(đây cũng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong làng tranh).

– Có một câu hỏi đặt ra là: Tại sao chàng trai lại không hái từng quả một và đưa xuống cho cô gái dùng tay để đón. Lúc này chàng trai đã nghĩ ra một trò rất tinh nghịch và tinh quái. Chàng đã hái 2 trái dừa và đưa xuống, nếu cô gái dùng tay đón thì rất khó và sẽ bị rơi, 2 quả dừa sẽ bị tách ra làm đôi, hạnh phúc cũng từ đó mà ra đi. Bí quá, cô gái không còn cách nào khác vén váy lên hứng trọn lấy 2 trái dừa, tức là hứng trọn hạnh phúc của mình.

Thơ đọc từ phải qua trái:

Khen ai khéo dựng lên dừa

Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi”

Bức tranh 7: Gia đình (Lợn đàn)

Nói về sự no đủ, hạnh phúc của một gia đình. Khoáy âm dương thể hiện cho sự sinh sôi nảy nở.

Tranh Ðông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng hừng trên giấy điệp

Chỉ với mấy bức tranh dân gian này thôi, mà ngẫm nghĩ đã thấy các cụ ta ngày xưa sao mà sâu sắc đến thế. Tranh cũng rất đẹp, đẹp một cách giản dị nhưng vẫn cao sang, tao nhã và đặc biệt thấm đẫm hồnViệt. Chắc chắn nếu là người Việt Nam thuần chất ai cũng sẽ yêu thích dù trẻ hay già.

Làng tranh Đông Hồ tất bật…mùa hàng mã

(Dân trí) – Cách ngày Tết ông Công ông Táo (23 tháng Chạp) một tuần lễ, về làng tranh dân gian Đông Hồ (Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh), từ đầu làng đến cuối xóm, đâu đâu cũng chỉ thấy ngựa, voi, ô tô, xe máy, điện thoại… mã dành cho người cõi âm.

Theo nghệ nhân tranh dân gian Nguyễn Hữu Sam, nghề vẽ tranh có ở Đông Hồ hàng trăm năm trước, còn nghề làm vàng mã mới chỉ xuất hiện vài chục năm nay. Tuy nhiên, do tranh Đông Hồ ngày càng ít người chuộng, ván khắc, khuôn tranh bị gác lên chuồng gà, cất vào trong kho. Hiện nay, cả Đông Hồ chỉ còn 2 gia đình bán trụ với nghề tranh truyền thống, hàng trăm gia đình khác chuyển hẳn sang làm hàng mã.

Xe đèo, tay vác tất bật mang thuyền rồng đi bán

Cô Oanh con gái nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam cho biết, nghề làm hàng mã ở Đông Hồ diễn ra quanh năm nhưng bán hàng chỉ tập trung vào 2 ngày chính là rằm tháng Bảy (ngày xá tội vong nhân) và ngày ông Công, ông Táo. Vào những ngày này thanh niên, trai tráng trong làng tỏa đi khắp vùng trong cả nước giao hàng và tìm đầu mối bán buôn.

Theo ông Nguyễn Ngọc Thai, trước đây, người Đông Hồ chỉ làm những mặt hàng như quần, áo, mũ, dày, giép, khăn xếp, cá chép và ngựa cho ông Công, ông Táo. Khoảng chục năm trở lại đây, do nhu cầu của xã hội “trần sao âm vậy” nên nhiều gia đình làm luôn cả ô tô, xe máy, điện thoại, ti vi, máy bay… để bán. Và cũng từ đó hình thành việc mỗi hộ gia đình chuyên sản xuất một mặt hàng.

Gia đình ông Thai chuyên làm xe máy cho người đường âm. Từ ngoài sân đến trong nhà ông, xe máy chất thành từng chồng cao ngất, với đủ các loại xe như Dream, Wave, Future đến xe tay ga như SH 125, Air Blade… Chia nhau làm từng công đoạn, mỗi ngày gia đình ông hoàn thiện được 3 chiếc xe máy. Mỗi chiếc bán khoảng 150.000 đồng. Nhìn những công đoạn ông Thai làm ra một chiếc xe máy từ chẻ nan, dán giấy… cũng đủ thấy nghề làm vàng mã cũng đòi hỏi sự khéo léo không kém nghề tranh.

Hàng chục gia đình mà chúng tôi ghé qua, từ người già đến trẻ nhỏ đều tất bật bôi bôi, quết quết, cắt dán những tờ giấy vào bộ khung bằng tre để thành bộ đồ vàng mã hoàn chỉnh. Nằm ngay đầu làng, gia đình anh Mộc Thanh ngồn ngộn những đống vàng mã vây kín cửa ra vào. Anh Thanh cho biết, từ đầu tháng 12 dương lịch tới nay, bình quân mỗi ngày làng Đông Hồ xuất khoảng 40 chuyến ô tô vàng mã đủ loại, đem về tiền tỉ cho người dân. Chính vì vậy, cả làng tranh Đông Hồ nức tiếng xưa khia giờ được nhắc tới như một đại công trường chuyên sản xuất hàng mã.

Từ cụ già…

… đến trẻ nhỏ đều “vào cuộc” chạy đua với ngày ông Công, ông Táo sắp đến

Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Mái với anh thì về

Làng Mái có lịch có lề

Có sông tắm mát có nghề làm tranh.

Tranh chỉ có một bản đầu tiên, sau khi in thì tranh được tô màu lại bằng tay. Từ các bản khắc gốc, những bức tranh đã được in ra, bằng mài nguyên chất. Sau đó là công đoạn bồi . Tùy thuộc từng tranh cụ thể mà có tranh chỉ bồi một lớp, có tranh lại phải bồi đến 2 hay 3 lớp giấy. Khi hồ đã khô thì mới có thể vẽ mầu lại. Có khi phải mất đến 3, 4 ngày mới hoàn thành một bức tranh.

Nhà thơ Tú Xương – nhà thơ trào phúng nổi tiếng của nước ta – trong bài thơ “Xuân” đã viết: “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột/ Om sòm trên vách bức tranh gà”.

Riêng bức tranh gà mà tác giả nêu lên ở đây trông đến “om sòm”, vui mắt quá! Bởi vì nó rực rỡ giàu sắc màu; và cũng bởi vì nó đẹp- đẹp ở hình tượng sinh động có ý với đời; đẹp ở cách diễn tả, vừa thực vừa được cách điệu phong phú.

Hãy nhìn con gà trong bức tranh “Con gà trống gáy sáng”. Hình dáng của nó thật oai vệ, chân trái dựa nhẹ bên khóm trúc, chân phải đặt lên mỏm đá mấp mô, toàn thân như đang trườn lên phía trước, đầu ngẩng cao, mất mở to, ức ưỡn ra, đuôi rộng. Đó là lúc gà đang chuẩn bị cất tiếng gáy chào buổi bình minh đẹp nắng. Dáng điệu ấy cộng với màu sắc rực rõ của lông, của đuôi, của cánh, của bối cảnh thiên nhiên bao quanh… tạo nên một bản tấu hùng dũng, cho gà đang đóng một vai trò quan trọng trong đám gà đàn của mình, trong cái giây phút “báo thức” thiêng liêng mà chỉ có nó mới có được cái diễm phúc ấy trong đời sống của người Việt Nam.

Thiên nhiên thật là thiết yếu. Nó quyện chặt vào người như da với thịt, vì vậy trong hầu hết các tranh, người ta thường tô điểm cho “nhân vật chính” của bức tranh bằng mây, trăng, nước, bướm, chim, cỏ cây, lá, hoa… Nhiều khi cái thiên nhiên ấy chỉ mang tính chất trang trí nhưng cũng nói lên được sự gắn bó chặt chẽ giữa nó và người, vật như thế nào.

Đó là chưa kể một công thức nghệ thuật khác: khi vẽ gà thì vẽ kèm hoa cúc (còn vẽ vịt thì kèm hoa sen) – theo phương ngôn “cúc kê, liên áp” nghĩa là cúc gà, sen vịt. Có người bảo đó là từ cái ý mang nội dung thực tiễn: gà là giống vật thường kiếm mồi quanh bụi cúc trong vườn nhà; còn vịt thì bơi lội dưới hồ sen trước ngõ; lại có người bảo một cách thực dụng hơn: thịt gà ướp với cúc; thịt vịt nhồi hạt sen thì sẽ ngon, bổ tuyệt, do vậy mà có hình tượng trên. Dù sao đi nữa, thêm cúc và sen (hoặc hoa, hoặc lá) vào tranh gà chẳng những không làm giảm giá trị nghệ thuật mà còn tăng thêm ý nghĩa của bức tranh.

Bức tranh “Gà mẹ gà con” hay “Gà đàn”, với nhiều cách diễn tả khác nhau là một trong những loại tranh gà đẹp nhất còn giữ lại cho đến nay. Trên tranh, con gà mái lớn đang ngậm con ong, đang hiền từ, chăm chút các con. Mười chú gà đứng quanh gà mẹ: con đang rỉa lông, con đang đùa chạy, con nấp dưới bụng mẹ… Mỗi con mỗi vẻ khác nhau, như dường như tất cả đang hướng về một phía, phía miếng mồi của gà mẹ vừa kiếm được. Hai chân gà mẹ giang ra chịu đựng sức nặng của hai chú gà con đang đứng trên lưng, đồng thời cũng chuẩn bị giữ thế trước sự giành mồi của các con gà, sắp bổ nhào tới. Ngoài cái ý tượng trưng cho sự giàu có, no đủ, bức tranh còn toát ra một “mối tình mẫu tử” thiêng liêng, một sự đoàn tụ sum vầy của gia đình gà. Đặc biệt, bố cục tranh khá chặt chẽ, giàu nhịp điệu. Sự sắp xếp chỗ đứng của từng con gà rất được chú ý, khiến người xem thấy được ngay cái rộn ràng, vui vẻ của đàn gà. Cạnh đó, một số con được vẽ công phu, có sự nghiên cứu cẩn thận (như con ở góc trên cùng và ở góc cuối cùng bên phải bức tranh): cái lối đôi cánh, cái lối choãi chân, quay nghiêng đầu, uốn thân mình… trông vừa thực, vừa cách điệu, giàu nghệ thuật.

Có tranh “Gà đàn” thì cũng có tranh “Lợn đàn”, cũng như có tranh “Em bé ôm vịt” thì cũng có tranh “Em bé ôm gà”. Tranh dân gian luôn giữ cái thế đăng đối: đăng đối ý, đăng đối hình tượng và đăng đối cả khi treo tranh.

Với “Em bé ôm gà” (dân gian gọi là bức “Vinh hoa”), cái cái mạnh của em bé không chỉ được diễn tả ở da thịt nở nang, hồng hào mà còn ở cách ôm gà (hoặc ôm vịt) của em bé. Tay này, bé đè chặt con gà vai nổi cao, cánh tay đưa thẳng xuống, tay kia giữ cái ức con vật kéo lại. Mình bé hơi vặn theo chiều của con vật đang cố trườn lên phía trước, như đang cố tung cánh thoát thân. Đầu gà ngẩng cao, mắt sáng lên, hai chân dạng mạnh đạp xuống đất, đuôi chổng lên trời… song dường như gà hoàn toàn bất lực trước sức mạnh và sự điềm tĩnh chủ động của em bé. Sự vùng vẫy của gà đối lập với sự yên vui, hồ hởi tiềm tàng ở em bé tạo nên một nội dung ý nghĩa , có kịch tính.

Trong bức tranh “Đại cát”, gà được dân gian quan niệm vừa cấm quỷ, vừa cầu may. Hình ảnh chú gà trống oai vệ, hùng dũng biểu tượng cho sự thịnh vượng, cho 5 đức tính tốt của nam giới (người quân tử): tính văn (mào đỏ tựa như mũ cánh chuồn), tính vũ (cựa gà), tính dũng (không sợ địch thủ), tính nhân (kiếm ăn theo đàn, cùng với đồng loại), tính tín (gáy báo giờ chính xác). Do vậy, chú gà trống măng tơ được miêu tả vừa chạy, vừa kêu cục tác, trông no nê, tràn đầy sức sống. Đuôi chú ra như đám cỏ hoa trước gió; cánh chú nhẹ với hàng lông đẹp tựa lưỡi kiếm; đầu ức của chú một màu vàng mỡ màng dễ ưa. Chỉ một mình gà thôi nhưng không vắng lặng chút nào. Dáng chạy nhanh nhanh ấy, cách diễn tả lông đuôi lông cánh ấy lại thêm cái màu vàng rực ấy… tất cả đã tạo ra một sức xao xuyến ngập tràn, một biểu tượng cho sự thịnh vượng của đất nước, của con người. Từ lâu, con gà “Đại cát” đã đi vào lòng người Việt Nam như một lời chúc, mang ý nghĩa nghênh xuân, một ý cổ động và được lặp lặp lại trong nhiều tranh khác. Nhà thơ Hoàng Cầm đã viết: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” là vậy!

Ngày xuân, cảnh vật như được hồi sinh sau mùa đông rét giá, cây cối đâm chồi nảy lộc, mọi người tin rằng việc tốt hay xấu xảy ra ở ngày Tết sẽ có ảnh hưởng cả năm, cho nên, được một lời chúc hay có một hình ảnh tươi vui trong mấy ngày xuân, thì rất có giá trị. Do vậy, tranh gà cũng là một loại tranh chúc tụng của ghi nhận vào trong kho tàng tranh dân gian Việt Nam .

Từ cảm hứng đó, nhà thơ Hoài Anh đã có bài thơ về “Bức tranh Gà” như sau:

Khuôn tranh làng Hồ

Câu thơ Hoàng Cầm thật đằm thắm, dù làm trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp đang gay gắt, cụ thể là tháng 4 năm 1948. Đông Hồ, quê Hoàng Cầm, là tên làng ven sông Đuống, tỉnh Bắc Ninh, nay là Hà Bắc, nổi tiếng về loại tranh dân gian thường được chưng bày ngày Tết từ thế kỷ XVII. Hoàng Sĩ Khải, Tiến sĩ khoa 1544, trong bài thơ dài hơn 300 câu, Tứ thời khúc Vịnh, tả cảnh Tết vùng Thăng Long :

【#10】Vietjoy * Bep Va Vuon

Bếp và Vườn – Tự điển Việt Anh

Tiếng Việt trước, tiếng Anh sau cho dễ tìm nhe ACE

.

Ạt Ti Sô: Artichoke

Ba khía: Fiddler crab

Bạc hà: Taro Shoots

Bạch giới tử: White Mustard

Bạch tuộc: Octopus

Bánh bao hấp: Steamed buns

Bánh bao nướng: Baked buns

Bánh bèo nhân tôm: Steamed Rice cake served with dried shrimp & fish sauce

Bánh cà rốt: Carrot cake

Bánh Canh Gìo Heo: Rice Noodle Soup with Pork hock

Bánh Canh Tôm Cua: Rice Noodle Soup with Shrimp & Crabmeat

Bánh con sò: Madeleines

Bánh Củ Cải: Daikon cake

Bánh Cuốn: Steamed Rice Rolls

Bánh dâu tây: Strawberry short cake

Bánh Hẹ: Chive Dumpling

Bánh hỏi Nem nướng: Baked meat ball with vermicelli

Bánh khoai môn tàn ong: Taro turnover

Bánh Khoai môn: Taro cake

Bánh Mì Bò Kho: Beef Stew served with French Bread

Bánh Mì Bò Kho: Beef stew served with French bread

Bánh Mì Chiên Tôm: Toasted French bread with shrimp paste

Bánh mì chuối: Banana Bread

Bánh mì lát: Sliced Bread, Sandwich Bread

Bánh mì Pháp: French Bread, Baguette

Bánh mì trái cây: Panettone

Bánh ngọt: Cake

Bánh phồng tôm: Shrimp Cracker

Bánh Quế: Cinammon rolls

Bánh Su: Cream puff, Patê À Choux

Bánh táo tươi: Apple Tart, Apple pie

Bánh trái Bồ Đào: Pecan pie

Bánh Trái Cây: Fruit Cake

Bánh trái Việt Quất: Blueberry pie, blueberry muffin

Bánh tráng làm chả giò: Egg roll wrapper

Bánh tráng làm gỏi cuốn: Spring roll wrapper

Bánh Trung Thu: Moon cake

Bánh Ướt Thịt Nướng: Steamed rice rolls with charcoal broiled pork

Bánh Xèo, bánh khoái: Vietnamese Pizza

Bào Ngư: Abalone

Bao tử bò: Beef Tripe

Bao tử heo: Pork Stomach

Bắp chuối: Banana Blossom

Bắp rang: Popcorns

Bắp trái: Corn on the cob

Bê thui: Smoked veal

Bì cuốn: Shredded Pork rolls

Bí đao: Winter Melon, Hairy Melon, Fuzzy Gourd

Bí đỏ, bí ngô, Bí rợ: Pumpkin

Bì khô: Dried Shredded Pork Skin

Bí ngô, Bí đỏ, Bí rợ: Pumpkin

Bí rợ, Bí đỏ, bí ngô: Pumpkin

Bò 7 món: 7-course Beef

Bò cuốn lá lốt: Grilled Beef Wrapped in Betel Leaf

Bò cuốn măng tây: Grilled Beef and Asparagus

Bò kho: Beef Stew

Bò Lúc Lắc: Beef chunk steak

Bò Nướng Sả: Charcoal broiled beef with lemongrass

Bò tái chanh: Thin Sliced beef with lemon juice

Bò Viên: Beef balls

Bò xào măng tây: Sauteed Beef with asparagus

Bò xào Mông Cổ: Sauteed Beef Mongolian style

Bò xào nấm Đông Cô: Sauteed Beef with Shiitake mushroom

Bò xào xả tế: Sauteed Beef in satay sauce

Bơ: Butter

Bo-Bo: Pearl Barley

Bột bắp: Corn Flour

Bột cà ri: Curry Powder

Bột Gạo: Rice flour

Bột Lúa mạch: Oatmeal

Bột mì: Wheat flour, All-purpose flour

Bột năng: Tapioca starch

Bột nếp: Glutinous Rice Flour

Bột ngọt, Vị tinh, Mì chính: Monosodium Glutamate (MSG)

Bột nổi làm bánh mì: Yeast

Bột nổi: Baking powder

Bột Quế: Cinnamon powder

Bột Va-ni: Vanilla Powder

Bún bò Huế: Huế Style Rice Vermicelli Soup with Spicy Beef

Bún Bò Nướng: Rice Vermicelli with BBQ Beef

Bún Bò Xào Sả: Rice Vermicelli with Lemongrass Beef

Bún Chả Giò: Rice Vermicelli with Egg Rolls

Bún Ốc: Rice Vermicelli Soup with Snails and Tomatoes

Bún Riêu: Rice Vermicelli Soup with Tomatoes & Crab Flavor Broth

Bún tàu: Bean Thread Vermicelli

Bún thập cẩm: Combination Rice vermicelli

Bún Thịt Nướng Chả Gìo: Rice Vermicelli with BBQ Pork and Egg Rolls

Bún Tôm, Thịt Nướng: Vermicelli with charcoal broiled shrimp and BBQ pork

Bún Vịt Xáo Măng: Rice Vermicelli Soup with Duck and Bamboo Shoot

Bún: Rice Vermicelli

Cá (nói chung): Fish

Cá Bạc má: Blue Runner

Cá Bống kèo: Goby

Cá Chép: Carp

Cá Chiên giòn: Deep Fried Fish

Cá Chim chiên giòn: Deep fried Pompano/ Butterfish

Cá Chim: Butterfish, Pompano

Cà Chua: Tomato

Cá Chuồn: Flying-fish

Cá Cơm: Anchovy

Cá Đối: Mullet

Cá Đuối: Stingray

Cá Giếc: Crucian Carp

Cá Hồi: Salmon

Cá Hồng: Red Snapper

Cá Hương thịt vàng: Rainbow Trout

Cá Hương: Trout

Cá Kho Tộ: Fish simmered in clay pot

Cá lăn bột chiên: Fried breaded fish

Cá Lóc, Cá Qủa, Cá Tràu: Snakehead fish

Cá Lờn Bơn: Sole fish

Cá Lưỡi Trâu: Flounder

Cá Măng: Milkfish, Bango

Cá mập, Cá nhám: Shark

Cá Mòi: Sardine

Cá Mú: Glupper

Cá Ngừ: Tuna fish, Albacore, Bonito

Cá nhám, Cá mập: Shark

Cá Nục: Mackerel

Cá nướng: Grilled fish

Cà Pháo: Thai Eggplant

Cá phèn: Red Mullet

Cá Qủa ,Cá Lóc, Cá Tràu: Snakehead fish

Cà ri bò: Curry Beef

Cà ri Dê: Curry Goat meat

Cà ri gà: Curry Chicken

Cá rô phi: Tilapia

Cá Rô: Climbing Perch

Cà rốt: Carrot

Cá Sòng: Scad

Cá thia: Macropodus

Cá Thu chiên sốt cà: Pan-fried King Mackerel with tomato sauce

Cá Thu: King Mackerel

Cà tím: Eggplant

Cá tra: Asian Catfish

Cá Tràu, Cá Lóc, Cá Qủa: Snakehead fish

Cá Trê: Catfish

Cá Trích: Herring

Cafe Sữa Đá: Iced coffee with condensed milk

Cafe Sữa Nóng: Hot coffee with condensed milk

Cải bách thảo, cải làm Kim Chi: Chinese Cabbage, Napa cabbage

Cải bẹ trắng, Cải Thượng Hải: Bok Choy

Cải bẹ xanh: Mustard green

Cải bông trắng: Cauliflower

Cải bông xanh: Broccoli

Cải làm dưa muối: Chinese Mustard green, Cai Choy

Cải làm Kim Chi, cải ba’ch thảo: Chinese Cabbage, Napa cabbage

Cải Làn xào Dầu hào: Sauteed Chinese Broccoli with Oyster Sauce

Cải Làn, Cải rổ: Chinese Broccoli, Gai Lan

Cải ngọt: Chinese Flowering Cabbage

Cải Thượng Hải, Cải bẹ trắng: Bok Choy

Cam giấy: Thin-skinned orange

Cam thảo: Licorice

Cần nước: Water Parsley

Cần tàu: Chinese Celery

Cần Tây: Celery

Càng Cua bọc Tôm: Crab claw wrapped in shrimp paste

Canh chua cá bông lau: Vietnamese Catfish sour soup

Cà-ri Dê: Curry Goat meat

Cây Cửu Lý Hương: Rue

Cây Hương thảo: Rosemary

Cây Lô hội, nha đam, Cây Long tu: Alovera

Cây Long tu, Lô hội, nha đam: Alovera

Cây mía: Sugar cane

Cây ngải giấm: Tarragon

Cây Oải Hương: Lavender

Cây Rum, Hồng hoa thảo: Safflower

Cây tóc tiên: Black Moss

Chả cá sống: Seasoned Fish paste

Chả cua: Crab cakes

Chả Giò: Egg Rolls

Chả Lụa, Gìo Lụa: Vietnamese meatloaf

Chanh giấy: Key lime

Chanh vàng: Lemon

Chanh xanh: Lime

Cháo Bào Ngư: Congee with Abalone, Abalone Porridge

Cháo Bò: Congee with Beef, Beef Stew, Beef porridge

Cháo Cá: Congee with Fish, Fish porridge

Cháo Gà: Congee with Chicken, Chicken stew, Chicken Porridge

Cháo Hải Vị: Congee with Seafood, Seafood porridge

Cháo huyết: Pork blood porridge

Cháo Lòng: Congee with Pork Intestines, Pork internal porridge

Cháo thập cẩm: Combination porridge

Chạo Tôm: Shrimp Cake, Shrimp ball

Cháo vịt: Congee with Duck, Duck Stew, Duck Porridge

Chao: Salted Beancurd

Chè Ba Màu: Combination bean with jelly and coconut milk

Chè Đậu (Các loại): Sweetened Bean Pudding

Chè Đậu Đỏ nước cốt dừa: Red bean pudding & coconut milk

Chè Trái cây: Fruit Cocktail

Chem Chép nướng mỡ hành: Grilled mussels with green onion/scallion

Chem Chép Sốt me: Sauteed Mussels with tamarind sauce

Chim Cút chiên giòn: Deep Fried Quail

Chim Cút rôti: Roasted Quail

Chim cút: Quail

Chôm Chôm: Rambutan

Chuối ép khô: Dried Banana

Chuối sáp: Plantain

Chuối: Banana

Cỏ xạ hương: Thyme

Cơm Bò Lúc Lắc: Beef chunk steak served with rice

Cơm chiên Dương Châu: Yang Chow fried rice

Cơm chiên gà cá mặn: Salted fish, chicken fried rice

Cơm chiên xá xíu: B.B.Q pork fried rice

Cơm chiên: Fried rice

Cơm dừa: Coconut meat

Cơm nấu, cơm trắng: Steamed rice

Cơm Tấm Bì Chả Sườn Nướng: Steamed broken rice served with shredded pork, egg cake, and BBQ pork chop

Cơm Tấm Bì Sườn Tôm nướng: Steamed Broken Rice served with shredded pork, egg cake, BBQ pork chop & Grilled Shrimps

Con Chem Chép: Mussel

Con Cua: Crab

Con điệp: Scallop

Con hào: Oyster

Con Hến, con nghêu: Baby Clam

Con lươn: Eel

Con Sò: Cockle

Con Trai: Clam

Củ cải đỏ: Red Radish

Củ Cải đường: Beet

Củ cải trắng: Daikon

Củ cải tròn: Turnip

Củ đậu, Củ sắn: Jicama

Củ kiệu: Leek

Củ mì: Cassava root

Củ năng: Water Chesnut

Củ Nghệ: Turmeric

Củ riềng: Galangal

Củ sắn, củ đậu: Jicama

Củ Sen: Lotus Root

Cua đá: Stone crab

Cua đồng, Cua nước ngọt: Fresh-water crab

Cua Lột: Soft shell crab

Cua nước ngọt, Cua đồng: Fresh-water crab

Cua rang me: Pan-fried crab with tamarined sauce

Cua Rang muối: Salt Pan-Fried Crab

Cua xào gừng hành: Sauteed Crab with ginger and green onion (scallion)

Da heo: Pork Skin

Dầu ăn: Cooking oil

Dầu Bắp: Corn Oil

Đậu bắp: Okra

Dầu Chuối: Banana Extract

Đậu Cô-Ve: Snap bean, green bean

Dầu đậu nành: Soy bean oil

Dầu Đậu Phộng, Dầu Lạc: Peanut oil

Đậu đen: Black bean

Đậu đỏ: Red bean

Đậu đũa: String bean

Dầu hào: Oyster sauce

Đậu Hòa Lan: Snow Pea, Green Pea

Đậu Hũ Xào Sả Ớt: Tofu with chili and lemongrass

Dầu Lá Dứa: Pandan Extract

Dầu Lạc, Dầu Đậu Phộng: Peanut oil

Đậu nành: Soy bean

Dầu Ô-Liu: Olive oil

Đậu phộng rang, Lạc rang: Roasted Peanut

Đậu phộng, Lạc: Peanut

Đậu quyên: Lima bean

Dầu rau cải: Vegetable oil

Đậu Rồng: Wingbean

Dâu rừng, Trái Mâm xôi: Raspberry

Dâu Tây: Strawberry

Dầu Va-ni: Vanilla Extract

Đậu xanh: Mung bean

Dê xào lăn: Sauteed goat meat with curry powder & lemongrass

Đinh Hương: Cloves

Đọt đậu, lá đậu non: Pea shoots

Dưa hấu: Watermelon

Dưa leo muối chua: Pickles

Dưa leo nhỏ làm dưa muối: Pickling cucumber

Dưa leo: Cucumber

Dưa Tây vàng: Cantaloupe

Dưa Tây xanh: Honeydew

Đùi Ếch chiên bơ: Pan-fried Frog leg with butter

Đùi Ếch xào lăn: Sauteed frog leg with lemongrass

Đùi ếch: Frog legs

Đùi gà: Chicken drumstick

Đuôi Bò: Ox tail

Đường cát mịn: Powder sugar

Đường cát vàng, đường nâu: Brown Sugar

Đường Hóa học: Artificial Sweetener

Đường nguyên chất: Sugar in the raw

Đường phèn: Rock sugar

Đường: Sugar

Gà Ác tiềm thuốc bắc: Slow cooked black-skinned chicken with herb

Gà chiên giòn: Deep Fried chicken

Gà chua ngọt: Sweet & Sour Chicken

Gà hấp: Steamed Chicken

Gà quay: Roasted Chicken

Gà xào đậu Hòa Lan: Stir-fried Chicken with snow peas

Gà xào hột điều: Stir-fried chicken with cashew nuts

Gà xào lăn: Sauteed chicken with lemongrass

Gạch Cua: Crab Roe

Gạch Tôm: Shrimp Roe

Gan bò: Beef Liver

Gan gà: Chicken liver

Gan heo: Pork Liver

Gạo Lứt: Brown rice

Gạo Tấm: Broken rice

Gạo tẻ: Ordinary rice

Gia Vị Bò Kho: Spicy Stewed Beef Flavor Paste

Gia vị các loại: Spices

Gía: Bean Sprout

Giấm: Vinegar

Giò chả Quảy: Vietnamese Donut

Gìo heo: Pork hock

Gìo Lụa, Chả Lụa: Vietnamese meatloaf

Giò sống: Seasoned Pork paste

Gỏi cá sống: Raw fish salad, Shusi salad

Gỏi Chân gà rút xương: Boneless chicken feet salad

Gỏi cuốn: Pork & Shrimp Rolls, Spring Rolls

Gỏi Đu Đủ bò khô: Papaya salad with Shredded Beef Jerky

Gỏi đu đủ: Green papaya salad

Gỏi Gà: Steamed chicken salad

Gỏi Mít Tôm Thịt: Pork, Shrimp and young Jackfruit salad

Gỏi ngó sen: Lotus Rootlets Salad

Gỏi sứa tôm thịt: Pork, Shrimp & dried shredded Jelly fish salad

Gỏi Vịt: Steamed duck salad

Gỏi xoài: Green mango salad

Gỏi: Vietnamese Salad

Gừng bột: Ginger powder

Gừng củ: Ginger

Há Cảo nhân thịt gà: Chicken Dumpling

Há Cảo nhân thịt heo: Pork Dumpling

Há Cảo nhân tôm: Shrimp Dumpling

Hắc giới tử: Black Mustard

Hải Sâm: Sea Cucumber

Hải sản: Seafood

Hàn the: Borax

Hành hương: Shallot

Hành lá: Green onion, Scallion

Hạnh nhân: Almond

Hành phi: Fried Onion

Hành sấy: Dried Onion

Hành Tây chiên: Fried Onion rings

Hành Tây: Onion

Hào hấp tàu xì: Steamed Oyster with black bean sauce

Hào xào gừng hành: Sauteed Oyster with ginger and green onion (scallion)

Hạt Bồ Đào: Pecan

Hạt Dẻ: Chesnut

Hạt Điều: Cashew nut

Hạt Nhục đậu khấu: Nutmeg

Hạt Sen: Lotus Seed

Hẹ: Chive

Heo quay: Roasted Pork

Hoàng giới tử: Yellow Mustard

Hoành Thánh chiên: Fried Wontons

Hoành thánh: Wonton Soup

Hoành tinh: Arrowroot

Hồng hoa thảo, cây Rum: Safflower

Hột trân châu nấu chè: Tapioca pearl

Hủ tiếu bò kho: Beef stew served with rice noodle

Hủ Tiếu Bò Kho: Rice Noodle Soup with Beef Stew

Hủ Tiếu Bò Viên: Rice Noodle Soup with Beef Balls

Hủ tiếu bò: Beef chow fun

Hủ tiếu đồ biển: Seafood chow fun

Hủ tiếu gà: Chicken chow fun

Hủ tiếu Mỹ Tho: Mỹ Tho style rice noodle soup

Hủ tiếu Nam Vang: Nam Vang Rice noodle

Hủ Tiếu Tôm Cua Xá Xíu: Rice Noodle Soup with Shrimp, Crabmeat & Sliced Roasted Pork

Hủ tiếu tôm: Shrimp chow fun

Huyết heo: Pork blood

Kem chiên: Fried ice cream

Khổ qua, Mướp đắng: Bitter melon

Khoai lang: Sweet potato

Khoai mỡ, khoai sáp: Big-rooted taro

Khoai Môn: Taro

Khoai tây: Potato

Khoai Từ: Edible yam

Kim Châm: Dried Lily Flower

Lá chuối: Banana leaf

Lá dứa: Pandan leaf

Lá lốt: Pepper leaf, Wild Betel Leaf

Lá Nguyệt Quế: Bay Leaf

Lạc rang, Đậu phộng rang: Roasted Peanut

Lạc, Đậu phộng: Peanut

Lạp xưởng: Chinese sausage

Lẫu đồ biển: Seafood sour soup in fire-hot pot

Lẫu lươn: Eel sour soup in fire-hot pot

Lẫu thập cẩm: Combination sour soup in fire-hot pot

Lòng heo: Pork Intestines

Lưỡi bò: Beef tongue

Lưỡi heo: Pork tongue

Lươn xào lăn: Sauteed Eel with lemongrass & curry powder

Mắm nêm: Anchovy sauce, Anchovy paste

Mắm ruốc: Shrimp paste

Mắm tôm: Shrimp Sauce, Shrimp Preserves

Mận khô: Prune

Mãng Cầu: Custard Apple

Măng tây: Asparagus

Măng tươi: Bamboo shoots

Mật Ong: Honey

Mề Gà: Chicken Gizzard

Mề Vịt: Duck Gizzard

Mè, Vừng: Sesame seeds

Mì ăn liền: Instant noodle

Mì Bò Viên: Egg Noodle Soup with Beef Balls

Mì Căn: Braised gluten

Mì chính, Bột ngọt, vị tinh: Monosodium Glutamate (MSG)

Mì con sò, mì cắt ngắn các loại: Macaroni, pasta

Mì Hoành Thánh: Egg Noodle & Wonton Soup

Mì sợi: Noodle

Mì Tôm Cua Xá Xíu: Egg Noodle Soup with Shrimp, Crabmeat & Sliced Roasted Pork

Mì Triều Châu: Triều Châu Egg noodle

Mì Vịt Tiềm: Egg Noodle Soup with Duck

Mì xào bò: Beef chow mein

Mì xào đồ biển: Seafood chow mein

Mì xào đồ biển: Soft Egg noodle with seafood

Mì xào gà: Chicken chow mein

Mì xào giòn đồ biển: Crispy Egg noodle with seafood

Mì xào giòn thập cẩm: Combination Crispy Egg noodle

Mì xào thập cẩm: Combination chow mein

Mì xào thập cẩm: Combination soft Egg noodle

Mì xào tôm: Shrimp chow mein

Mì Ý: Spaghetti

Miến gà: Shredded chicken and clear vermicelli soup

Món khai vị: Appetizer

Món tráng miệng: Dessert

Móng heo: Pork Feet

Mực Nang: Cuttle-fish

Mực Ống dồn thịt: Stuffed Squid

Mực Ống: Squid

Mực xào ớt chuông: Squid with Bell Pepper

Muối diêm: Curing salt, sodium nitrite

Muối hột: Coarse salt

Muối: Salt

Mướp đắng dồn thịt: Stuffed Bitter Melon

Mướp đắng, Khổ qua: Bitter melon

Mướp Hương: Sponge Luffa, Smooth Luffa, Sponge Gourd

Mướp Khía: Ridged Skin Luffa

Nấm (các loại): Mushroom

Nấm Đông cô: Shiitake mushroom

Nấm Mèo, mộc nhĩ: Dried Black Fungus

Nấm Rơm: Straw Mushroom

Ném củ: White pearl onion

Nếp: Glutinous rice, Sticky rice, Sweet rice

Nghệ bột: Turmeric powder

Nghêu xào gừng hành: Sauteed Clam with ginger & scallion

Nghêu xào tàu xì: Sauteed Clam with black bean sauce

Ngò gai: Saw-leaf herb

Ngò om: Rice paddy herb

Ngó Sen: Lotus Rootlets

Ngò Tây: Parsley

Ngò: Cilantro, Coriander

Ngư tinh thảo, Rau Diếp cá: Chameleon Plant

Ngũ vị hương: 5-spice seasoning

Nguyên vế gà: Chicken leg quarter

Nha đam, cây Lô hội, cây Long tu: Alovera

Nhãn nhục: Longan in syrup

Nhãn: Longan

Nho khô: Raisin

Nho tươi: Grape

Nhụy hoa nghệ tây: Saffron

Nước Cam tươi: Fresh squeezed orange juice

Nước cốt dừa: Coconut milk, Coconut cream

Nước dừa: Coconut juice

Nước đường thắng vàng: Caramel

Nước ép trái Nam Việt Quất: Cranberry juice

Nước mắm: Fish sauce

Nước nho: Grape juice

Nước Rau má: Pennywort drink

Nước Súp bò: Beef Broth

Nước Súp gà: Chicken Broth

Nước Súp rau quả: Vegetable Broth

Nước táo: Apple juice

Nước trái cây: Fruit juice

Ốc (các thứ): Snail, Eacargot

Óc bò: Beef Sweetbread

Óc heo: Pork Sweetbread

Ớt bột: Hot chilli powder

Ớt chuông dồn thịt: Stuffed Bell Pepper

Ớt Chuông: Bell Pepper

Ớt hiểm: Thai chilli pepper

Ớt trái: Hot pepper

Phẩm màu: Food color

Phèn chua: Alum

Phở áp chảo thập cẩm: Combination Pan-fried rice noodle 2

Phở áp chảo: Sauteed beef over pan-fried rice noodle

Phở Bò viên: Rice noodle with beef balls soup

Phô mai: Cheese

Phổ tai: Dried Seaweed

Phù chúc, Tàu hũ ki: Beancurd sheet

Rau bó xôi, rau dền Mỹ: Spinach

Rau Cải xào: Sauteed Vegetables

Rau câu bột, Thạch trắng: Agar-Agar

Rau câu: Gracilaria

Rau dền Mỹ, Rau bó xôi: Spinach

Rau Dền: Amaranthus, Chinese Spinach, Wild Blite, Edible Amaranth

Rau Diếp cá, Ngư tinh thảo: Chameleon Plant

Rau Húng Quế của Ý: Sweet Basil

Rau húng: Spearmint

Rau kinh giới: Elsholtzia

Rau má: Centella, Pennywort

Rau Mồng Tơi: Ceylon Spinach, Slippery Vegetable, Vine Spinach

Rau muống: Water spinach, Onchoy

Rau quế: Basil

Rau răm: Laksa leaf, polygonum odoratum, Vietnamese hot mint

Rau thơm: Peppermint

Rau xà lách: Lettuce

Rong biển: Sea Weed

Rượu nấu ăn: Cooking wine

Sả bằm: Chopped Lemongrass

Sả cây: Lemongrass

Sâm Bổ Lượng: Assorted sweet steamed nuts beverage

Sầu Riêng: Durian

Sinh tố trái cây: Fruit shake

Sò huyết: Blood Cockle

Soda Chanh Đá Xí Muội: Iced Soda with fresh lemon and Salted plum

Soda Chanh Muối: Iced Soda with salted lemon

Soda Sữa Hột Gà: Eggnog mixed with soda

Su búp: Cabbage

Su hào: Kohlrabi

Sứa biển: Jelly fish

Sữa có chất béo: Whole Milk

Sữa Đặc(có đường): Condensed Milk

Sữa đậu nành: Soy bean milk

Sữa ít chất béo: Low-fat milk

Sữa không có chất béo: Skim/fat-free Milk

Sữa tươi: Fresh milk

Sườn bò nướng: Barbecued Beef rib

Sườn bò: Beef Rib

Sườn heo chua ngọt: Sweet & sour Pork ribs

Sườn heo non: Babyback Pork Rib

Sườn heo nướng: Barbecued Pork rib

Sườn heo: Pork Rib

Sườn heo: Pork sparerib

Sườn Rim Mặn: Simmered seasoned Pork Rib

Sương Sa Hạt Lựu: Agarin coconut milk with artificial pomegranate

Tai vị: Anise star

Tần Ô: TungHo, Edible Chrysanthemum

Táo Tàu: Asian Pear

Tàu hũ ki, Phù chúc: Beancurd sheet

Tàu hũ: Tofu, Beancurd

Thạch trắng, rau câu bột: Agar-Agar

Thận bò: Beef Kidney

Thận heo: Pork Kidney

Thì là Ai Cập: Cumin

Thì là: Dill

Thính: Roasted rice powder

Thịt ba rọi: Bacon

Thịt bê, Thịt bò non: Veal

Thịt Bò Bắp: Beef Shank

Thịt bò chiên trứng: Beef foo yung

Thịt bò non, thịt bê: Veal

Thịt bò ở phần ức: Brisket

Thịt bò xào cải làn: Sauteed Beef with Chinese broccoli

Thịt Bò Xào Đậu Hòa Lan: Stir-fried beef with snow peas

Thịt Bò Xào Nấm Rơm: Stir-fried beef with Straw mushrooms

Thịt bò xay: Ground Beef

Thịt Bò: Beef

Thịt Cốc lết: Pork Chop

Thịt cua: Crabmeat

Thịt cừu: Lamb

Thịt dê: Goat meat

Thịt gà chiên trứng: Chicken foo yung

Thịt gà tây xay: Ground Turkey

Thịt gà tây: Turkey

Thịt gà xào Măng Tây: Stir-fried Chicken with Asparagus

Thịt gà: Chicken

Thịt gia cầm: Poultry

Thịt heo chiên trứng: Pork foo yung

Thịt heo kho tộ: Simmered Pork in clay pot

Thịt heo xay: Ground Pork

Thịt heo: Pork

Thịt nai: Venison, Deer meat

Thịt vịt: Duck meat

Thuốc tiêu mặn: Baking soda

Tía Tô: Beefsteak Leaf, Perilla Leaf

Tiểu Hồi: Fennel

Tiêu hột: Black whole pepper

Tiêu xay: Black ground pepper

Tinh bột bắp: Corn starch

Tinh bột khoai: Potato starch

Tinh dầu cây Hương thảo: Rosemary Extract

Tổ yến sào: Swallow bird’s nest

Tỏi băm: Chopped garlic

Tỏi bột: Garlic powder

Tỏi phi: Fried Garlic

Tỏi sấy: Dried Garlic

Tỏi: Garlic

Tôm (các thứ nói chung): Shrimp

Tôm càng, tôm he: Prawn

Tôm chiên lăn bột: Fried Breaded shrimp/Prawn

Tôm chiên trứng: Shrimp foo yung

Tôm đồng, tôm sông: Crawfish

Tôm he, Tôm càng: Prawn

Tôm Hùm xào gừng hành: Lobster with ginger and scallion

Tôm hùm xào tàu xì: Lobster with black bean sauce

Tôm hùm: Lobster

Tôm luộc: Boiled Shrimps

Tôm nướng: Grilled Shrimps

Tôm rằn: Tiger Shrimp

Tôm rang muối: Salt pan-fried shrimps

Tôm tíc: Mantis prawn

Tôm xào Bông cải trắng: Stir-fried Shrimp with Cauliflower

Tôm xào Bông cải xanh: Stir-fried Shrimp with Broccoli

Tôm xào Hột Điều: Stir-fried Shrimp with Cashew nuts

Trà Đá: Iced tea

Trà Nóng: Hot tea

Trái (cây) Nam Việt quất: Cranberry

Trái (cây) Việt quất: Blueberry

Trái Anh Đào: Cherry

Trái bầu: Long Squash, Calabash Gourd, Opo

Trái bơ: Avocado

Trái bưởi: Grapefruit, Pomelo

Trái cam quất, trái tắc: Kumquat

Trái cam: Orange

Trái chanh dây: Passion Fruit

Trái chà là: Dates

Trái đào: Peach

Trái đu đủ: Papaya

Trái dứa, thơm, khóm: Pineapple, Ananas

Trái dừa: Coconut

Trái hồng: Persimmon

Trái khế: Starfruit, Carambola

Trái khóm, thơm, dứa: Pineapple, Ananas

Trái lê: Pear

Trái lựu: Pomegranate

Trái mâm xôi, dâu rừng: Raspberry

Trái mận tươi: Plum

Trái măng cụt: Mangosteen

Trái me: Tamarind

Trái mít: Jackfruit

Trái mơ xanh: Green Apricot

Trái mơ: Apricot

Trái na: Annona

Trái ổi: Guava

Trái quýt: Tangerine, Mandarin

Trái sa-bô-chê: Sapodilla

Trái su-su: Chayote

Trái táo: Apple

Trái thanh long: Dragon fruit

Trái thơm, khóm, dứa: Pineapple, Ananas

Trái vải: Lychee, Litchi

Trái Va-ni: Vanilla Bean

Trái vú sữa: Caimito

Trái xuân dào: Nectarine

Trứng cá muối (ướp): Caviar

Trứng Chim Cút: Quail Egg

Trứng gà luộc chín sơ: Soft-boiled chicken egg

Trứng gà luộc chín: Hard-boiled chicken egg

Trứng Gà: Chicken Egg

Trứng Vịt: Duck Egg

Tương ăn phở: Hoisin sauce

Tương Đậu: Bean Paste

Ức gà: Chicken breast

Vi cá: Shark fin

Vị tinh, Bột ngọt, Mì chính: Monosodium Glutamate (MSG)

Vịt Bắc Kinh: Peking Duck

Vịt quay: Roasted Duck

Vỏ mì Hoành thánh: Wonton wrappers

Vỏ quế: Cinnamon bark

Vừng, mè: Sesame seeds

Xà lách búp: Iceberg lettuce

Xà lách xoắn: Curly Enpe

Xà lách xoong: Watercress

Xì dầu: Soy sauce

Xoài: Mango

Xôi Chiên Thịt Nướng: Turnover fried sweet rice with charcoal broiled pork

Xôi lạp xưởng: Sweet rice with Chinese sausage

Xúp Măng Cua: Crabmeat and Asparagus Soup

Xúp mì Bò: Beef Noodle Soup

Xúp mì Gà: Chicken Noodle Soup

Xúp thập cẩm: Combination soup

Xúp Vi Cá: Shark Fin Soup

Ya-ua: Yogurt

Tên hoa:

Anh Thảo: Primrose

Anh đào: cherryblossom

Bách Hợp: Lilium Longiflorum

Bằng Lăng: Lagerstroemia

Báo Xuân: Gloxinia

Bìm Bìm: Morning Glory

Bồ Câu: Columbine

Bông sai:bonsai

Cẩm chướng: carnation

Cẩm Cù: Hoya

Cẩm Nhung: Nautilocalyx

Cẩm Tú Cầu: Hydrangea/ Hortensia

Cánh Tiên: Thanh Điệp: Blue butterfly

Cát đằng: Thunbergia grandiflora

Cúc vạn thọ:marrigold

Cúc: Chrysanthemum

Cúc: daisy

Dạ hương: nightlady

Dã Yên Thảo: Petunia

Đại: Bower of Beauty: Pandorea jasminoides

Dại: wildflowers

Dâm Bụt: Rosemallow- Hibiscus

Dành Dành: Ngọc Bút: Gardenia

Đào: Flowering peach: Prunus persica

Diên Vỹ: Iris

Đổ Quyên: Azalea

Đoạn Trường Thảo: Gelsemium

Đông Chí: Winter Rose/ Hellebore

Đông Mai: Witch Hazel

Dừa Cạn: Rose Periwinkle

Giáp Trúc Đào: Phlox paniculata ‘Fujiyama’

Giọt Nắng: Sun Drop Flower

Hài Tiên: Clock Vine

Hành Kiểng: Sierui: Ornamental onion:Allium aflatunense

Hoàng Điệp: Heliconia Firebird

Hoàng Độ Mai: Lệ Đường Hoa: Japanese Rose: Kerria japonica

Hoàng Thảo Trúc: Dendrobium hancockii

Hoàng Thiên Mai: Golden chain tree: Cassia fistula

Hồng Môn: Anthurium

Hồng: Rose

Huệ Móng Tay: Rain Lily

Huệ Torch: Torch lily/ Poker Plant

Huệ: tuberose

Hương Bergamot: Bergamot

Huyết Huệ: Belladonna Lily:Amaryllis

Huyết Tâm: Bleeding Heart Flower

Kiếm Tử Lan- Quân tử lan: Kaffir Lily

Kim Đồng: Gold Shower

Kim Ngân: Honeysuckle

Lạc Tiên: Passion Flower

Lài: Jasmine

Lan Beallara: Beallara Orchid/ Bllra. Marfitch ‘Howard’s Dream’

Lan Brassia: Brassidium

Lan Bướm Kalihi/ Mendenhall Gren valley: Oncidium Papilio x Kalihi

Lan Burtonii: Enpidendrum Burtonii

Lan Cattleya

Lan Dạ Nương: Brassavola nodosa

Lan Hài Tiên: Lady’s Slipper/ Paphiopedilum

Lan Hawaiian Sunset: Hawaiian Sunset Miltonidium

Lan Hồ Điệp:Phalaenopsis: Moth Orchid

Lan Hoàng thảo:Hồng Hoàng Thảo/ Dendrobium nobile

Lan Kiếm- Địa Lan: Sword Orchid: Cymbidium

Lan Kim Điệp: Dendrobium chrysotoxum

Lan Laelia: Laelia

Lan Nam Phi: freesia

Lan Neostylis: Lou Snearly

Lan Ngọc Điểm: Rhynchostylis gigantea

Lan Rô: Đăng Lan: Dendrobium

Lan rừng: wild orchid

Lan Sharry Baby: Oncidium Sharry Baby

Lan Thanh đạm tuyết ngọc: Coelogyne Mooreana

Lan Thanh Đam: Coelogyne pandurata

Lan Thủy Tiên: Dendrobium densiflorum

Lan Vanda: Vân Lan: Vanda Orchids

Lan Vũ Nử: Oncidium

Lan Zygosepalum: ‘Rhein Clown’ Zygosepalum

Lan: orchild

Layơn: galdious

Lê Lư: Hellebore

Loa Kèn: Arum Lily

Loa kèn: Lily

Long Đởm Sơn: Enzian

Lục Bình: Water hyacinth

Lưu Ly: Đừng Quên Tôi: Forget Me Not

Lựu: Pomegranate Flower

Mắc cỡ: Mimosa

Mai Chỉ Thiên: Wrightia

Mai Chiếu Thủy: Wondrous Wrightia

Màng màng: Beeplant: Spider flower

Mào gà: cookcomb

Mẫu Đơn: Peony

Mimosa Bán Nguyệt Diệp: Accadia: Half-moon Wattle

Mộc Lan: Magnolia

Mộc Trà: Quince:Chaenomeles japonica

Mõm chó: Snapdragon

Móng cọp: Jade Vine: Emerald Creeper

Mồng Gà: Cockscomb:Celosia

Móng Quỷ: Rampion

Móng tay: Impatiens

Montbretia: Copper Tip: Montbretia

Mua: Pink Lasiandra

Mười Giờ: Moss rose

Nghệ tây: Crocus

Nghinh Xuân: Forsythia

Ngoc Anh:Bông sứ ma/ Tabernaemontana

Ngọc Châu: Treasure Flower/ Gazania

Ngọc Nữ: Glorybower

Nhài: jasmine

Nở Ngày- Bách nhật: Amaranth

Phấn: Four O’Clock Marvel

Phù Dung:Confederate Rose/ Cotton Rose

Phượng Tím: Jacaranda obtusifolia

Phượng Vỹ: Flamboyant/ Peacock Flower

Quỷ Kiến Sầu: Jamaican feverplant: Puncture Vine

Quỳnh: Epihyllum: Orchid Cactus

Sala: Cannonball: Ayauma

Sao Tiên Nữ: Andromedas

Sen Cạn: Nasturtium

Sen: Lotus

Sim: Rose Myrthe

Sỏi: Succulent flower

Son Môi: Penstemon

Sống đời:Air plant: Clapper bush/ Kalanchoe mortagei Raym.

Sứ Đại: Frangipani: Plumeria Alba

Sứ Thái Lan: Desert Rose

Sữa: Milkwood pine

Súng/ Water Lily

Táo Dại: Crabapple: Malus Cardinal

Thạch Thảo: Italian aster

Thanh Giáp Diệp: Helwingia

Thất Diệp Nhất Chi Hoa: Paris polyphylla

Thiên Điểu: Bird of Paradise Flower/Strelitzia

Thu Hải Đường: Begonia

Thược Dược: Dahlia

Thuỵ Hương:Winter daphne/ Daphne Odora

Thủy Nứ: Súng Ma: Nymphoides

Thủy Tiên hoa vàng: Daffodil

Thủy Tiên:Chinese Sacred Lily: Narcissus

Tí Ngọ: Noon Flower/ Scarlet Mallow

Tigon: Coral Vine: Chain-of-love

Tigridia: Shellflower/ Tigridia

Tóc Tiên: Star Glory: Cypss vine

Trà My: Camellia

Trà: camelia

Trâm ổi: Lantana

Trạng Nguyên/ Poinsettia: Christmas Star

Trang: Ixora

Trinh Nữ: TickleMe Plant:Mimosa pudica

Trúc Đào: Oleander

Tử Đằng: Wisteria

Tuyết Sơn Phi Hồng: Texas Sage

Tường vi: Climbing rose

Uất Kim Hương:Tulip

Vân Anh/ Bông Lồng Đèn/ Fusia

Vạn thọ: Marigold

Xương Rồng Bát Tiên: Crown Of Thorns Flower

Xương Rồng: Cactus Flowers