Xem Nhiều 12/2022 #️ Trại Nuôi Gà Đá Có Nên Dùng Thuốc Kháng Sinh Trong Quá Trình Chăm Sóc / 2023 # Top 12 Trend | Ruybangxanh.org

Xem Nhiều 12/2022 # Trại Nuôi Gà Đá Có Nên Dùng Thuốc Kháng Sinh Trong Quá Trình Chăm Sóc / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Trại Nuôi Gà Đá Có Nên Dùng Thuốc Kháng Sinh Trong Quá Trình Chăm Sóc / 2023 mới nhất trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trại nuôi gà đá – Trong quá trình nuôi thì ngoài thuốc gà đá, thuốc kháng sinh chỉ là một trong nhiều công cụ mà nông dân sử dụng để giữ cho đàn của chúng trẻ trung và tràn trề sức khỏe , nhằm góp phần cung ứng thực phẩm bảo mật an ninh và lành mạnh.

Da ga truc tuyen – Các nhà ban hành gà cam kết cách tân , và công việc mà nông dân và lương y thú y đang làm để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho đàn của họ – và do đó nguồn cung ứng thực phẩm của chúng tôi – tạo nên sự lựa chọn lớn cho người giá thành . Cho dù người tiêu pha chọn tiêu xài thực phẩm của họ cho gà truyền thống, hữu cơ hoặc gà được nuôi mà không có kháng sinh, họ có thể tự tin vào sự lành mạnh và an toàn và đáng tin cậy của nó. Khi xu hướng này liên tục cải cách và phát triển , người tiêu dùng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn bao giờ hết ở gà mà họ chọn mua. Trong, chúng tôi mong muốn sẽ cung ứng cho người ăn xài quyền truy cập trực tiếp vào thông tin mà họ đang tìm kiếm để được thông báo quyết định mua hàng.

Trại nuôi gà đá có nên dùng thuốc kháng sinh không?

Tôi đã đọc một thông báo rằng việc sử dụng kháng sinh tại các trang trại góp phần làm tăng tình trạng kháng kháng sinh và động vật được nuôi mà không sử dụng kháng sinh có chứa ít siêu vi hay không? Điều này có đúng không?

Exclusiveug là một từ đáng báo động, nhưng ngay cả FDA cũng có vấn đề với nó, nói rằng: không đúng mực và đáng báo động để xác định vi khuẩn kháng một, hoặc thậm chí một số ít, kháng sinh là ‘Siêu vi khuẩn’ nếu những vi khuẩn này vẫn có thể điều trị được Các loại kháng sinh thường được sử dụng.

Điều rất cần thiết nhất cần nhớ là bất kể vi khuẩn có thể, kháng kháng sinh hay không, không chịu được sức nóng của lò nướng hoặc vỉ nướng của gamer và bị giết bằng cách nấu đúng cách .

Điều gì về kháng sinh được sử dụng cho tăng trưởng?

nhiều phần các kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi gà không được sử dụng trong y học của bé gia đình . Tuy nhiên, kể từ tháng 12 năm 2016, thuốc kháng sinh được sử dụng trong y học của nhỏ người nhà sẽ chỉ được phép sử dụng để giải quyết bệnh và điều trị cho động vật bị bệnh – không thúc đẩy tăng trưởng – và thậm chí sau đó chúng sẽ được sử dụng độc quyền dưới sự giám sát và kê đơn của y sĩ thú y. Chúng tôi tin rằng chỉ nên sử dụng kháng sinh cần thiết về mặt y tế trong trang trại để điều trị và phòng ngừa bệnh – không được dùng để thúc đẩy tăng trưởng và vui lòng thông tin rằng nhiều nhà chăn nuôi gia nắm đã đi trước thời hạn.

Gà Thay Lông Bao Lâu? Chăm Sóc Gà Trong Quá Trình Ra Lông Lỡ! / 2023

Đặc điểm quá trình thay lông ở gà chọi

Lông gà sẽ được thay trước hết ở cổ rồi mới đến ức, mình và đuôi.

Thời gian thay lông nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng và sức khoẻ của từng chiến kê.

Các sư kê có thể điều chỉnh ánh sáng, dinh dưỡng…để làm thay đổi thời gian thay lông ở gà.

Thời điểm gà thay lông chủ yếu nằm trong khoảng từ tháng 6 đến tháng 7 âm lịch hàng năm. Một số con trống có thể là tháng 5 hoặc 6 âm lịch. Tức là thời điểm cuối mùa hè hoặc đầu mùa thu.

Một con gà thay lông trong khoảng từ 6-7 ngày tuổi và từ 2-3 tháng tuổi. Khi lớn lên, chúng vẫn sẽ tiếp tục quá trình này. Để nhận biết, dấu hiệu đơn giản nhất mà bạn có thể dựa vào là quan sát bằng mắt thường. Khi lông rụng là chúng sẽ bắt đầu thay lông. Nếu thường xuyên chú ý lúc ôm gà, bạn sẽ có thể thấy thời điểm các sợi lông ống nhú ra từ người con gà.

Thời gian thay lông thường sẽ vào dịp hè. Quá trình này sẽ kéo dài 2-3 tháng cho đến tháng 6-7 âm lịch.

Quá trình thay lông của gà tương ứng với hai độ tuổi. Đó là gà con thay lông tơ (duy nhất 1 lần trong đời) và gà trưởng thành thay lông theo quy luật (diễn ra hàng năm).

Đối với giai đoạn thay lông ở gà con

Quá trình này bắt đầu từ khi gà con được 6 – 8 ngày tuổi và hoàn thành trong 4 tuần tiếp theo. Gà sẽ rụng dần bộ lông tơ bông mềm như nhung ban đầu. Thay thế chúng là những chiếc lông cứng cáp, dày hơn giúp giữ nhiệt tốt hơn cho cơ thể.

Đối với giai đoạn thay lông ở gà trưởng thành

Cách chăm sóc để chiến kê nhanh mọc lông

Để chiến kê thay lông nhanh, bộ lông mượt và đẹp, các sư kê cần chăm sóc cẩn thận trong từng giai đoạn là thay lông, ra lông và khô lông. Cụ thể cần tiến hành như sau

Giai đoạn gà chọi thay lông

+ Giảm 1/3 khối lượng thóc so với trước khi thay lông.

+ Tăng cường giá đỗ và rau xanh.

+ Bổ sung các loại đồ tươi cho gà (3 ngày bổ sung 1 lần).

Giai đoạn gà chọi ra lông

Đây là giai đoạn quan trọng nhất, quyết định vẻ đẹp của bộ lông sau khi thay xong. Khẩu phần ăn cũng phải thay đổi, cụ thể như sau:

+ Khối lượng dinh dưỡng giảm bằng 2/3 so với trước đây.

+ Tăng cường rau xanh, lạc.

+ Cho ăn thêm 1 quả trứng cút/ 1 tuần, 1 miếng thịt nạc nhỏ/ 1 tuần.

+ Cho gà ăn 2 ngày 1 viên dầu cá.

Chú ý, không nên cho gà tắm nhiều mà chỉ nên 2 đến 3 ngày 1 lần, tránh cho lông xơ xác.

Giai đoạn gà chọi khô lông

Chế độ ăn của gà chọi lúc này như sau:

+ Không cần cho gà ăn thịt nạc, hoặc trứng cút.

+ 1 tuần cho gà tắm 1 lần để kích thích gà ra lông vào lúc trời nóng. Không nên tắm nhiều vì không có lợi cho sức khoẻ gà do gà thay lông xong vẫn chưa đạt được thể lực tốt nhất.

Sau giai đoạn này, tiến hành khâu cuối là cắt tỉa lông để bộ lông đẹp nhất có thể. Tiến hành vào nghệ, các bài tập thể lực để chiến kê lấy lại phong độ chiến đấu trước đây.

Video: Cách giúp gà thay lông nhanh nhất

Như vậy gà thay lông bao lâu, cách chăm sóc gà thay lông như thế nào. Tất cả đã được chúng tôi đề cập ở trên. Qua bài viết này, hy vọng các sư kê đã có thông tin hữu ích để chăm sóc cho gà chọi bộ lông được đẹp nhất. Cảm ơn đã quan tâm theo dõi và đồng hành cùng chúng tôi.

Quá Trình Sinh Sản Của Loài Chuột / 2023

Chuột thuộc loài động vật gặm nhấm và được biết đến như loài phá hoại mùa màng, tài sản, kết cấu tòa nhà vào hạng bậc nhât. Ngoài những ảnh hưởng lớn của chúng về mặt kinh tế, chuột còn là một trong những vẫn chủ trung gian lây nhiễm và truyền bệnh số 1. Đáng sợ hơn, chuột lại là một trong những loài có tốc độ sinh sản chóng mặt nhất. Quá trình sinh sản của chuột rất phức tạp trong đó phải kể đến là quá trình giao phối. Giữa chuột cái và chuột đực sẽ sử dụng một tín hiệu giao tiếp được gọi là trong quá trình giao phối này.

Chuột sinh sản không ngớt, bất kể mùa và khí hậu. Chuột bắt đầu sinh sản vào khoảng 50 ngày tuổi ở chuột đực lẫn chuột cái, mặc dù chuột cái có thể sinh sản khi 25 – 40 ngày tuổi. Vài cá thể có thể đẻ con khi đủ 6 tuần. Chuột thường sống được khoảng 1 năm. Chuột có rất nhiều kì sinh sản và xảy ra quanh năm, quá trình rụng trứng là tự phát. Trong suốt chu kì động dục 4 – 5 ngày và tự sinh sản khoảng 12 giờ xảy ra vào ban đêm. Các đốm âm đạo rất có ích trong thời gian giao phối để xác định giai đoạn của chu kì sinh sản. Giao phối thường diễn ra vào ban đêm và có thể xác nhận bởi sự xuất hiện của vách ngăn trong âm đạo trong vòng 24h sau khi giao phối. Sự có mặt của tinh trùng trên đốm âm đạo cũng là một chỉ số đáng tin cậy của giao phối.

Chuột cái ở cùng với nhau thường sẽ bước vào thời kì sinh sản và không theo chu kì. Nếu chúng tiếp xúc với chuột đực hoặc pheromones của chuột đực, hầu hết con cái bước vào thời kì sinh sản trong vòng 72h. Quá trình đồng bộ hóa thời kì sinh sản gọi là hiệu ứng Whitten. Sự tiếp xúc của chuột với pheromones của chuột đực lạ có thể ngăn cấy (hay thụ tinh thai giả), chất pheromones được biết đến với tên gọi hiệu hứng Bruce.

Thời gian mang thai trung bình khoảng 20 ngày. Chuột có khả năng sinh sản 14 – 24h sau khi sinh và đồng thời cho con bú, quá trình mang thai kéo dài 3 – 10 ngày do thụ tinh chậm trễ. Chuột cái có thể đẻ từ 5 đến 8 con sau khi giao phối. Mặc dù con cái có tập tính bảo vệ con mình nhưng chúng cũng có thể ăn con của mình nếu xảy ra vấn đề nghiêm trọng như nạn đói.

Thường thì cứ mỗi 3 tuần. Trung bình một con chuột cái sinh từ 4 đến 7 lứa mỗi năm, mỗi lứa chuột lớn có thể đẻ từ 8 đến 12 con, chuột nhắt là từ 4 đến 6 con và có thể nuôi sống từ 40 đến 60% tùy theo loài. Vì vậy trung bình một năm mỗi con chuột cái có thể đẻ 30 đến 40 con chuột con và nuôi trưởng thành khoảng 20 con (đối với loài chuột nhắt).

Thời kỳ sinh sản sung mãn nhất của chuột lớn thường là mùa xuân và mùa thu. Chuột nhắt thường không biểu hiện thời kì sinh đẻ sung mãn nhất, nhưng chúng đẻ liên tục không ngớt trong suốt năm. Vì những loài gặm nhấm nói chung, loài chuột nói riêng thường đạt đến độ trưởng thành trong khoảng khoảng 2 đến 3 tháng sau khi sinh nên số lượng cá thể gia tăng trong quần thể chuột từ một cặp riêng lẻ có thể lên đến 15,000 con trong vòng 1 năm.

Sinh sản của chuột chịu ảnh hưởg của rất nhiều nhân tố ngoại cảnh: thức ăn, nhiệt độ, độ ẩm, nơi ở, bệnh tật…, tất cả những yếu tố này đồng thời cùng tác động đến đời sống của chuột. Vì vậy sinh sản của chuột hoặc tăng cường hoặc bị hạn chế do điều kiện hoàn cảnh của thời gian đó quyết định.

Chuột đực vừa mới sinh được phân biệt với chuột cái qua khoảng các giữa hậu môn và cơ quan sinh dục lớn hơn và gai sinh dục lớn hơn ở con đực. Đây là cách tốt nhất có thể thực hiện bằng cách nâng đuôi của những con đẻ cùng lứa và so sánh đáy chậu.

Chuột nhắt là loài gặm nhấm sinh sản nhiều. Một con chuột cái trung bình có thể đẻ từ 30 đến 35 con một năm. Chuột có khả năng sinh sản từ rất sớm và có thể đẻ liên tục bất kể mùa nào. Chuột con sau khi sinh thường có hiện tượng mù, điếc và không có lông trong 3 ngày đầu tiên. Với chuột có màu sẫm, các nhiễm sắc tố trên da hình thành vào ngày thứ 3. Trong vòng 5 đến 7 ngày, lông bắt đầu mọc và tai đã bắt đầu nghe được. Mắt chuột mở vào khoảng ngày 10 đến 14 và tại thời điểm đó, chuột bắt đầu di chuyển và bắt đầu ăn những thức ăn cứng.

Quy Trình Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Gà Lạc Thủy Lấy Thịt / 2023

Hatthocvang Vietnam xin trân trọng giới thiệu bộ tài liệu về “Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà Lạc Thủy lấy thịt”, bộ tài liệu này được TS Vũ Ngọc Sơn chuyển giao cho Hatthocvang Vietnam với mục đích tuyên truyền và phổ biến kinh nghiệm, kiến thức và kỹ thuật giúp bà con cùng phát triển kinh tế chăn nuôi, làm giàu cho gia đình và quê hương. Kinh mời toàn thể bà con cùng tham khảo và áp dụng

Gà Lạc Thủy (hoặc có tên gọi khác là gà ri mận tía), là giống gà bản địa của Việt Nam, là giống gà đặc hữu quý hiếm có nguồn gốc từ huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình được nuôi trong các bản làng và truyền nối qua nhiều thế hệ. Gà Lạc Thủy có sức chịu đựng tốt, nhanh lớn, thịt thơm ngon, đặc biệt giống gà này mọc lông sớm chịu đựng tốt với khi hậu thời tiết lạnh. Giống gà này được Viện Chăn nuôi Quốc Gia phục dựng và bảo tồn thành công.

CEO Hatthocvang Vietnam (bên trái) chụp ảnh cùng TS Vũ Ngọc Sơn (bên phải) tại trại Bảo tồn gà Lạc Thủy.

I. PHẠM VI ÁP DỤNG

Quy trình này được áp dụng cho các cơ sở trang trại và gia trại nuôi gà lấy thịt

II. CHỌN GIỐNG: Chọn giống gà con ngay từ 01 ngày tuổi

2.1 Cách thức chọn

– Dựa vào đặc điểm ngoại hình

– Bắt gà trên tay từng con, quan sát nhanh từ trên xuống dưới, từ trước ra sau toàn bộ cơ thể để phát hiện khuyết tật và những đặc điểm cần loại bỏ

2.2. Ngoại hình tiêu chuẩn cần chọn

– Gà con có màu lông toàn thân màu trắng đục, lông trên thân bông xốp

– Mỏ và da chân màu hồng, mỏ thẳng, chân mập và da chân bóng

– Mắt sáng mở to, đi lại nhanh nhẹn, rốn kín

2.3. Ngoại hình không đạt tiêu chuẩn

– Gà có khối lượng quá nhỏ

– Màu lông không đúng tiêu chuẩn giống

– Lông bết, chân khèo, mỏ vẹo, rốn hở, và đi lại chậm chạp

III. KHỬ TRÙNG CHUỒNG VÀ DỤNG CỤ TRƯỚC KHI NUÔI GÀ

3.1. Sau mỗi đợt nuôi cần dọn dẹp, vệ sinh tiêu độc sát trùng chuồng trại, sau khi làm sạch cẩn thận mới đưa gà vào nuôi lứa mới

3.2. Tám bước làm mới lại chuồng sau mỗi đợt nuôi gà

1. Dọn chất thải, độn lót chuồng đưa ra ngoài xa để ủ nhiệt sinh học

2. Tháo dỡ dụng cụ chăn nuôi đem ngâm và rửa kỹ bằng nước sạch

3. Quét mạng nhện trong chuồng và khu vực xung quanh chuồng

4. Rửa sạch nền chuồng vách ngăn, bạt che không được để cặn phân dính trên tường và trên nền

5. Sửa chữa nền chuồng những chỗ bị hỏng và để khô

6. Quét vôi toàn bộ nền chuồng, tường bao, lối đi hành lang

7. Phun sát trùng toàn bộ chuồng và dụng cụ chăn nuôi, bạt che

8. Đóng kín bạt che chuồng và cửa ra vào, ủ chuồng trong thời gian từ 10 ngày đến 30 ngày, sau đó mới được nuôi lứa mới

3.3. Trước khi nhận gà vào nuôi 1 ngày cần phun sát trùng tiêu độc lại toàn bộ khu nuôi gà con và các dụng cụ bằng hóa chất sát trùng như Haniodine, hoặc Chloramin, VikonS 1% (100g pha loãng với 10 lit nước để phun), sau đó mở bạt để thoáng chuồng cho bay hết mùi rồi mới đưa gà vào

3.4. Rửa sạch bể chứa nước và sát trùng, sau đó đóng kín nắp và cấp nước dự trữ dùng cho gà uống

3.5. Người nuôi gà phải có quần áo riêng và ủng sạch để thay khi vào cchuồng nuôi

IV. QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ CON, GÀ DÒ GIAI ĐOẠN 0-8 TUẦN TUỔI

4.1. Chuẩn bị các dụng cụ chăn nuôi

4.1.1 Rèm che: Rèm che bằng vải bạt hoặc bao tải dứa tận dụng may lại phù hợp với diện tích cần dùng

4.1.2. Chất độn chuồng: Dùng bằng trấu sạch và khô

4.1.3. Hố sát trùng được xây vỉa trước cửa ra vào. Có thể là khay sát trùng làm bằng tôn đựng thuốc sát trùng để nhúng ủng trước khi vào chuồng. Chất sát trùng là vôi bột hoặc các hóa chất sử dụng theo hướng dẫn của nơi sản xuất Một ngày trước khi nhận gà, chất sát trùng phải cho vào hố sát trùng hoặc khay sát trùng

4.1.4. Quây úm gà: Làm bằng cót ép cắt dọc có chiều cao 50cm, khi quây tròn lại có đường kính 2m có thể úm được 200 gà

4.1.5. Chụp sưởi: Làm bằng tôn đường kính rộng 80-100cm, bên trong lắp 3 bóng điện xen kẽ nhau. Những nơi không có điện hoặc nguồn điện thất thường có thể dùng bếp than nhưng khi sưởi cần thiết kế để đưa khí than ra ngoài

4.1.6. Máng uống:

– Sử dụng máng uống gallon chuyên dụng cho gà con định mức 50 con cho 1 máng. Máng uống khi đặt xen kẽ với khay ăn(hoặc máng ăn) theo hình rẻ quạt trong quây và cách đều giữa thành quây với chụp sưởi

4.1.7. Máng ăn: Trong 2 tuần đầu dùng khay ăn(khay bằng tôn hoặc bằng nhựa có kích thước 70 × 60cm) hoặc có thể dùng mẹt tre đường kính 60cm. Khay ăn được đặt trong quây xếp so le với máng uống. Các tuần sau dùng máng ăn P30 và P50

4.2. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà con, gà dò từ 0-8 tuần tuổi

4.2.1. Trước khi nhận gà vào quây phải

– Kéo rèm che kín chuồng

– Bật đèn sưởi ấm trong quây úm khoảng 2 giờ nếu thời tiết ngoài trời lạnh

– Cho nước vào máng uống. Trong nước uống cần pha thêm thuốc kháng sinh, Bcomplex, và đường Glucoz theo hướng dẫn. Nước uống phải là nước sạch, an toàn và có thể đun nước cho ấm nếu úm gà vào mùa lạnh. Nước uống được cho vào máng gallon loại 1,5-2lit, đáy máng uống được kê phẳng bằng gạch mỏng đặt trên đệm lót

4.2.2. Khi thả gà vào quây thực hiện tuần tự các công việc sau

– Kiểm tra lại số lượng con sống và con chết

– Loại bỏ những con chết và gà không đạt tiêu chuẩn ra khỏi chuồng

4.2.3. Nhận gà con vào quây

– Sau khi chuẩn bị xong chuồng trại mới đưa gà vào quây

– Mật độ nuôi từ tuần thứ nhất đến tuần thứ ba là 20con – 18 con/m 2 chuồng, từ tuần thứ tư đến tuần thứ sáu là 16con – 14 con/m 2 chuồng, từ tuần thứ bảy đến tuần thứ chín là 12con đến 10con/m 2 chuồng

4.2.4. Đưa ra khỏi chuồng úm các vỏ hộp đựng gà con, các chất lót vỏ hộp và gà con chết, gà loại để tiêu hủy

4.2.5. Cho gà uống nước ngay trước khi cho ăn.

4.2.6. Khung nhiệt sưởi ấm cho gà như sau

Trong hai tuần đầu úm gà thường xuyên quan sát gà và theo dõi nhiệt độ trong quây để điều chỉnh thiết bị sưởi nhằm cung cấp đủ nhiệt cho gà. Những dấu hiệu sau cần chú ý để điều chỉnh chụp sưởi hoặc thiết bị sưởi

– Nhiệt độ cao, đàn gà tản ra sát vành quây, kêu và thở

– Nhiệt độ thấp gà tập chung quanh chụp sưởi

– Nhiệt độ thích hợp đàn gà phân bố đều trong quây

Kiểm soát nhiệt độ trong giai đoạn nuôi.

4.2.7 Cho ăn

– Từ tuần thứ nhất đến tuần thứ ba dùng thức ăn gà con chủng loại 1-21. Từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6 dùng thức ăn gà dò chủng loại 21-42 ngày. Từ tuần thứ 7 trở đi dùng thức ăn gà vỗ béo chủng loại 43 ngày – xuất bán. Nếu tự chế biến phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng ghi trong bảng 1

– Tuần thứ nhất đến hết tuần thứ hai cho gà ăn bằng khay hoặc mẹt(100 gà đặt 1 khay ăn). Rải mỏng, đều thức ăn lên khay ăn hoặc mẹt độ dầy 1cm, sau đó từ 2-3 giờ cạo sạch thức ăn lẫn phân có trong khay đem sàng để gạt bỏ phân ra ngoài, tận thu thức ăn cũ và tiếp thêm lượt mỏng thức ăn mới

– Khi gà được 3 tuần tuổi trở đi thay thế khay ăn bằng máng ăn cỡ trung bình P30 hoặc máng đại P50(40 -50con/máng), cần treo máng bằng dây, miệng máng đặt ngang với lưng gà

– Cho gà ăn tự do cả ngày đêm, bổ sung thêm thức ăn cho gà trong một ngày đêm từ 6-7 lần

4.2.8. Cho uống

– Dùng máng uống gallon, hai tuần đầu dùng máng cỡ 1,5-2,0lit, các tuần sau dùng máng cỡ 4,0lit

– Máng uống được rửa sạch hàng ngày và thay nước uống cho gà khoảng 4 lần(sáng, chiều, tối, và giữa đêm)

4.2.9. Chiếu sáng: Thời gian chiếu sáng đảm bảo 24/24 giờ đến tuần thứ 3 hoặc thứ 4, các tuần còn lại thắp sáng đến 22 giờ, cường độ chiếu sáng từ 5-10lux tương đương 2-4w/m 2 chuồng

4.2.10. Trong hai tuần đầu rèm che phải đóng kín cả ngày đêm, từ tuần thứ ba trở đi đóng rèm phía hướng gió và mở rèm phía không có gió. Tuy nhiên việc đóng và mở rèm còn tùy thuộc vào thời tiết và sức khỏe đàn gà

4.2.11. Độn lót chuồng: Hàng ngày kiểm tra và dọn rìa xung quanh máng uống độn chuồng bị ướt, xới đảo độn lót chuồng từ 7-10 ngày/lần và bổ sung thêm lượt mỏng độn lót. Không thay độn lót chuồng thương xuyên

4.2.12. Từ tuần thứ 2 trở đi bắt đầu nới rộng quây úm và đến tuần thứ tư trở đi tháo bỏ hoàn toàn quây úm

4.2.13. Hàng ngày kiểm tra gà chết và gà yếu để loại thải. Ghi chép đầy đủ số lượng gà có mặt hàng ngày, lượng thức ăn cho ăn vào biểu theo dõi

4.2.14: Phương thức nuôi: Theo phương thức bán chăn thả

– Từ 01 đến 6 tuần tuổi nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng

– Từ 7 đến 8 tuần tuổi có thể thả gà ra vườn. Mật độ thả 0,5m2/con. Vườn thả thiết kế bằng phẳng, có trồng cây hoặc dàn cây che mát. Chu vi vườn thả được rào lưới đảm bảo gà không thể bay qua hoặc chui ra ngoài. Chỉ thả gà khi thời tiết khô và ấm, thời tiết bất thuận(sau mưa, lạnh ẩm dài ngày phải nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng với mật độ 10 con/m2)

– Tuyệt đối không thả gà ngoài vườn trong đêm, đưa gà vào nuôi tại chuồng

V. QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ VỖ BÉO TỪ 9 TUẦN ĐẾN 16 TUẦN

5.1. Chuẩn bị dụng cụ và chuồng chăn nuôi

5.1.1.Rèm che: Dùng bằng vải bạt, hoặc vỏ bao tận dụng may lại

5.1.2. Hố sát trùng: Xây vỉa trước cửa ra vào kích thước 50 × 70 ×10cm

5.1.3. Máng uống: Dùng máng uống gallon loại 8 lít(100 gà có 2 máng) hoặc máng tôn dài 1,2m(100 gà có 1 máng)

5.1.4. Máng ăn: Dùng máng đại P50, nuôi gà giai đoạn từ 9-16 tuần tuổi bố trí 25 con đến 27con/máng.

5.1.5. Chuồng nuôi gà dò, gà vỗ béo có thể là chuồng chung hoặc chuồng riêng, trước khi đưa gà vào nuôi công tác vệ sinh sát trùng làm đúng như mục khử trùng chuồng nuôi

5.2. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà vỗ béo từ 9-16 tuần tuổi

5.2.1. Kéo rèm che mở hoàn toàn. Chỉ đóng rèm khi có gió to, trời giông bão, mưa to, quá lạnh và đàn gà bị bệnh đường hô hấp

5.2.2. Mật độ nuôi đảm bảo từ 10con đến 8con/ m 2 chuồng tùy theo lứa tuổi gà

5.2.3. Cho gà ăn theo cách sau

– Dùng thức ăn hỗn hợp viên gà vỗ béo chủng loại 43 ngày tuổi – xuất bán, nếu thức ăn tự chế biến phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của gà như ghi trong bảng 1 của quy trình

– Cho gà ăn bằng máng đại P50,. Máng được treo bằng dây, miệng máng cao ngang lưng gà. Mật độ máng ăn cho gà theo yêu cầu: 27con- 30 con/máng. Cho gà ăn tự do ban ngày, buổi tối không cho ăn

5.2.4. Cho gà uống theo cách sau

– Dùng máng uống gallon cỡ 8lit hoặc cho uống máng dài (loại máng dài 1,2m bằng tôn được đặt trên rãnh thoát nước), máng uống dài cần phải có chụp bằng song sắt để gà không nhảy vào máng

– Máng uống đặt số lượng 100 con cho 2 máng uống gallon và 100con cho 1 máng uống dài

– Máng uống rửa sạch hàng ngày thay nước uống 2 lần(sáng, chiều)

5.2.5. Độn lót chuồng: Hàng ngày kiểm tra và dọn rìa xung quanh máng uống độn chuồng bị ướt, xới đảo độn lót chuồng từ 7-10 ngày/lần và bổ sung thêm

5.3.6. Phương thức nuôi: Nuôi gà theo phương thức bán chăn thả

– Vườn thả thiết kế bằng phẳng, có trồng cây hoặc tạo dàn cây che mát. Chu vi vườn thả được rào lưới đảm bảo gà không thể bay qua hoặc chui ra ngoài. Chỉ thả gà khi thời tiết khô và ấm, thời tiết bất thuận (sau mưa, lạnh ẩm dài ngày) phải nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng với mật độ 8-10 con/m2.

– Mật độ thả tối đa 1,5m2/con

CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO GÀ

Bảng 1. Chế độ dinh dưỡng nuôi gà thịt

a. Cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp viên con cò

Bảng 2. Thành phần dinh dưỡng của từng loại thức ăn gà hỗn hợp Con cò

b. Cho ăn bằng khẩu phần dùng thức ăn đậm đặc con cò C20 trộn với ngô và DCP

Bảng 3. Khẩu phần ăn cho gà từ 01-21 ngày tuổi

Bảng 4. Khẩu phần ăn cho gà từ 21-42 ngày tuổi

Bảng 5. Khẩu phần ăn cho gà từ 43-112 ngày tuổi

CHƯƠNG TRÌNH VACXIN PHÒNG BỆNH Ở GÀ

Bảng 6. Chương trình sử dụng vacxin phòng bệnh ở gà được tóm tắt như bảng sau:

Mô hình nuôi gà Lạc Thủy (gà ri tía mận) thả vườn, canh tác kết hợp cùng trồng ngô (cây nông nghiệp), tại huyện Lạc Thủy.

Mô hình nuôi gà Lạc Thủy (gà ri tía mận) thả vườn rất hiệu quả, kết hợp với vùng trồng cây Keo lâm nghiệp tại huyện Lạc Thủy.

Chương trình được phổ biến trên VTV2 để bà con cùng hiểu về giá trị Bảo tồn gen quý các giống gà cổ Việt Nam.

QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG GÀ LẠC THỦY (GÀ RI TÍA MẬN) SINH SẢN.

QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG GÀ LẠC THỦY (GÀ RI TÍA MẬN) LẤY THỊT.

BBT Hatthocvang Vietnam.

Tags:

Bạn đang xem bài viết Trại Nuôi Gà Đá Có Nên Dùng Thuốc Kháng Sinh Trong Quá Trình Chăm Sóc / 2023 trên website Ruybangxanh.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!